Vì yậy, chọn đề tài Văn hóa nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của Đào Thẳng, chúng tôi có mong muốn phần nào khám phá những nét văn hó
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
HÀ NỘI, 2015
VŨ THỊ THANH
VĂN HÓA NÔNG THÔN TRONG
MẢNH ĐẤT LẢM NGƯỜI NHIỀU MA
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ DÒNG SÔNG MÍA CỦA ĐÀO THẮNG
LUẬN VÃN THẠC sĩ
NGÔN NGỮ VÀ VÃN HổA VIỆT NAM
Trang 2VĂN HÓA NÔNG THÔN TRONG
MẢNH ĐẤT LẨM NGƯỜI NHIỀU MA
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ DÒNG SÔNG MÍA CỦA ĐÀO THẮNG
Chuyền ngành: Lí luận văn học Mã sổ : 60 22 01 20 ’
LUẬN VĂN THẠC sĩ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HổA VIÊT NAM
Ngưòi hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS TS Nguyễn Đăng Điệp - người đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn với tinh thần khoa học, nghiêm túc
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Tổ Lý luận văn học, Phòng sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin cảm ơn thầy cô, bạn bè và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Hoc viền *
Vũ Thi Thanh
i
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DƯNG 12
Chương 1 ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 12
1.1 Giới thuyết khái niệm 12
1.1.1 Văn hóa nông thôn 12
1.1.2 Văn hóa nông thôn trong văn học 16
1.2
Đề tài nông thôn trong văn học Việt Nam hiện đại 18
1.2.1 Nông thôn trong văn học Việt Nam trước 1945 18
1.2.2 Nông thôn trong văn học giai đoạn 1945 - 1985 24
1.2.3 Nông thôn trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay 30
Chương 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ SỐ PHẬN NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG MẢNH ĐẤT LẤM NGƯỜI NHIÊU MA CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG VÀ DÒNG SÔNG MỈA củA ĐÀO THẮNG 36
2.1 Những mối quan hệ cơ bản trong đời sống văn hóa nông thôn 36
2.1.1 Quan hệ dòng họ 36
2.1.2 Đời sổng văn hóa qua phong tục, lệ tục 41
Trang 52.1.2.1 Đời sổng văn hóa qua phong tục
2.1.2.2 Đời sổng văn hóa qua lệ tục 47
2.2 Nông thôn trước những biến động của lịch sử 49
2.2.1 Cải cách ruộng đất 49
2.2.2 Thời kì chuyển đổi mô hình xã hội 57
2.3 Số phận người nông dân Việt Nam trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dỏng sông Mía của Đào Thắng 59
2.3.1 Người nông dân bị ràng buộc bởi định kiến và hủ tục 59
2.3.2 số phận người phụ nữ 61
2.3.3 Con người tha hóa 71
Chương 3 NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ VĂN HÓA NÔNG THÔN TRONG MẢNH ĐẤT LẤM NGƯỜI NHIỀU MA CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG VÀ DÒNG SÔNG MỈA CỦA ĐÀO THẮNG 78
3.1 Nghệ thuật miêu tả tính cách và tâm lí nhân yật 78
3.1.1
Nghệ thuật miêu tả tỉnh cách 78
3.1.2
Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật 87
3.2 Văn hóa nông thôn được miêu tả qua ngôn ngữ, giọng điệu 92
3.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 92
3.2.2 Giọng điệu nghệ thuật 104
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6Đặc biệt từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới với tinh thần tự do - dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật đã thổi vào văn chương một luồng sinh khí mới Nó cổ vũ mạnh mẽ sức sáng tạo của các nhà văn làm cho nhiều mảng đề tài mới được mở ra, nhiều bức màn bí ẩn đã được vén lên và nhiều góc khuất đã được chiếu rọi Tuy vậy, như sức hấp dẫn vốn có đầy bí ẩn của những làng quê Việt, văn học viết về nông thôn vẫn được đặc biệt quan tâm
và góp phần làm nên sự phong phú của văn chương thời kì đổi mới
Trong văn học viết về nông thôn, vấn đề thu hút sự chú ý của các nhà văn, được họ quan tâm và đi sâu vào khám phá chính là văn hóa nông thôn, là những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy và gìn giữ hàng ngàn đời nay nơi những làng quê ẩn mình sau lũy tre xanh yên ả Đặc biệt với các nhà văn
Trang 7hiện đại, bằng tình yêu với mảnh đất còn nhiều nghèo khó nhưng chan chứa tình người này, họ đã chắt lọc những gì tinh túy nhất, tìm lấy những gì cốt lõi nhất trong văn hóa nơi đây làm tư liệu cho những sáng tác của mình Cũng bởi yậy mà tất cả những nét văn hóa truyền thống, những phong tục tốt đẹp, những
lệ tục còn tồn tại hay sự thay đổi của đời sống và biến động của lịch sử được các nhà văn khắc họa phong phú, sinh động Từ đó số phận người nông dân được miêu tả tỉ mỉ và chân thực từ đời sống sinh hoạt bình dị gắn với ruộng đồng đến đời sống tinh thần đa dạng nhiều chiều và ngay cả những góc khuất trong số phận của họ cũng được tái hiện Làm được điều đó không có lí do nào khác là tất cả đều được bắt nguồn từ tình yêu với mảnh đất và con người nơi đây của những người cầm bút
Từ thực tế trên có thể nhận thấy dù được nói lên một cách trực tiếp hay gián tiếp thì văn hóa nông thôn vẫn luôn thấp thoáng ẩn hiện trong những trang viết của các nhà văn và thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc
Vì yậy, chọn đề tài Văn hóa nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều
ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của Đào Thẳng, chúng tôi có
mong muốn phần nào khám phá những nét văn hóa tiêu biểu, độc đáo và đặc sắc của một vùng đất là cái nôi của hầu hết những người con nước Việt này Qua đó phần nào giải mã được sức hấp dẫn của một mảng đề tài vốn đã rất quen thuộc nhưng luôn có sức quyến rũ khó chối từ
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những nhận định chung về văn học và văn hóa nông thôn
Đe tài văn hóa nông thôn là một mảng đề tài lớn của văn học Việt Nam hiện đại, vì vậy xung quanh đề tài này có khá nhiều công trình nghiên cứu, tiểu luận khác nhau Tuy mỗi bài viết đề cập đến những vấn đề, khía cạnh khác nhau
Trang 8nhưng hầu hết các tác giả đều thống nhất với nhận định là văn xuôi viết về nôngthôn thời đổi mới cần và đã có sự thay đổi vượt bậc.
Tác giả Trần Cương trong bài viết “Ta« xuôi viết về nông thôn nửa sau
những năm 80” (Tạp chỉ văn học số 4, năm 1995) đã nhận định về sự chuyển
biến của văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm 1986 so với trước đó
là: “Đã có hai sự chuyển biển trong văn xuôi viết về nông thôn những năm sau
1986 so với trước đó là sự chuyển biển trong chủ đề và sự chuyển biển trong
phạm vi bao quát hiện thực, về chủ đề lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc
về con người mà trước kia chưa có Đó là chủ đề về sổ phận con người và hạnh phúc cá nhân ” Còn về phạm vi phản ánh hiện thực, các nhân vật như đã nhìn
nhận và phản ánh hiện thực nông thôn kĩ càng, họ thấy những gì ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn Qua đó có thể thấy trong văn học viết về nông thôn thời hiện đại các tác giả đã đi sâu khám phá một nông thôn đa dạng nhiều tầng, khám phá mặt nổi và những mặt chìm trong đời sống nơi đây
Trong Báo cáo tổng kểt đợt 1 cuộc thỉ viết về nông thôn nhà nghiên cứu Hoàng Châu đã đưa ra nhận định: ‘‘‘'Chỉnh những tư tưởng dãn chủ của thời
đại đã tạo ra thành công cho các tác phẩm viết về nông thôn trong cuộc thi này
” Như vậy bằng hiểu biết và sự tìm tòi, nghiên cứu của mình nhà nghiên cứu
này đã chỉ ra những ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử, xã hội đến những sáng tác về nông thôn của các nhà văn hiện đại
Tác giả Phạm Ngọc Tiến đã có cái nhìn lạc quan khi khẳng định nông thôn dù đứng trước những tác động mạnh mẽ của lịch sử nhưng thẳm sâu trong
nó vẫn là sức hấp dẫn, là nơi tìm về cho mọi thế hệ con người sinh ra và lớn lên
từ mảnh đất này với bài viết Đe tài nông thôn không bao giờ mòn (nguồn:
tuoitre.vn.2/12/2007).
Cùng quan điểm, trong một bài trả lời phỏng vẫn báo nông nghiệp Việt
Trang 9Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã đưa ra những đánh giá vô cùng
xác đáng “Văn học về người nông dân và nông thôn tuy ít người theo đuổi
nhưng vẫn chưa đển mức đoản mệnh”, ‘‘sổ lượng người viết về nông thôn nhiều hay ít không phải quá quan trọng mà quan trọng hơn nhiều là làm sao để
có được nhiều tác phẩm hay”.
Bên cạnh đó còn rất nhiều những công trình, tiểu luận viết về văn hóa nông thôn xin được điểm qua như:
+ Văn xuôi viết về nông thôn - Tiến trình và đổi mới - Lã Duy Lan (Nxb,
khoa học xã hội Hà Nội, 2001)
+ Tìm kiểm những trang viết về nông thôn - Tác giả Đỗ Kim Cuông
(nguồn Vietbao.vn, 15/10/2003)
+ Bức tranh làng quê và những sổ phận - Tác giả Nguyễn Văn Long
(Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường, Nxb Giáo
Trang 10tôi sưu tập được một số bài viết phê bình, bình luận, nghiên cứu về các sáng tác của hai nhà văn như sau:
Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma ra mắt năm 1990 và đoạt giải
thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Tác phẩm không chỉ trở thành một dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp viết văn của Nguyễn Khắc Trường mà còn nhận được sự quan tâm, đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình qua nhiều công trình nghiên cứu và bài viết
Trước hết, sự thành công của cuốn tiểu thuyết đã đưa đến cuộc thảo luận
do báo Văn nghệ tổ chức ngày 25-1-1991, sau đó được tập trung in trên tờ báo
Văn nghệ số 11, ngày 16-03-1991
Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận thấy nông thôn được Nguyễn Khắc
Trường nói đến là: “"Nông thôn với cách nhìn chân thực và chủ động”, với
‘‘‘'nhiều chuyển động, xáo trộn, đẩu tranh giữa cái tốt với cái xẩu, tranh chấp nhau giữa các thể lực” Nông thôn “không cuộn lên trong các phong trào đẩu tranh yêu nước, cải cách, hợp tác mà sôi lên từ những nguyên nhân bên trong, những chuyện làng xóm ” Đó là một nông thôn hết sức bình dị với cuộc sống
thường ngày của người nông dân, một nông thôn được xem xét trên khía cạnh văn hóa và lối sống, một nông thôn với những đợt sóng ngầm mâu thuẫn từ những gì tưởng chừng gần gũi và giản đơn nhất
Giáo sư Phong Lê trong cuộc hội thảo này cũng đã nói: “vẩn đề trọng
yểu gây ẩn tượng sâu đậm là các vẩn đề chìm và nổi, ở bề mặt và bề sâu trong
sự đan xen đỏ Không chỉ là chất thơ, mà còn là bi kịch, và là những bi kịch Không chỉ là những con người nhân danh đủ dạng trong bài trừ tiêu diệt lẫn nhau mà còn là đủ dạng “dị dạng” bị đẩy ra hoặc bị vướng vào những cuộc giao tranh quyết liệt đó Như vậy nông thôn ở đây không chỉ được xem xét trên
bề mặt nữa mà đã được các nhà văn “đào sâu tìm tòi” nhằm khám phá ra tất cả
Trang 11những gì xấu xa đang được che khuất như mặt sau của tảng băng trôi
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Thành công của tác giả
là tạo được một không khí riêng cho tác phẩm, một không khí âm dương lẫn lộn, có nhân vật thật khó tách bạch đâu là phần quỷ, đâu là phần người ” Qua
đó có thể thấy thành công xuất sắc của tác giả là đã xây dựng được hình ảnhnhững người nông dân tha hóa sau những Chí Phèo, Bá Kiến, Binh Chức
Giáo sư Trần Đình Sử thì nhận thấy “Một hiện tượng xã hội nghiêm
trọng, đáng quan tâm trong cuộc sống hiện nay là ý thức dỏng họ, gia tộc đang gây trở ngại cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội công dân ở nông thôn
” Và ý thức dòng họ đã được tác giả khắc họa như một tượng chìm sâu, ngấm
ngầm, dai dẳng nhưng có vai trò rất lớn Bằng cái nhìn rất sâu sắc và tinh tế ông
đã nhận ra và chỉ ra được một trong những mặt hạn chế trong văn hóa tộc họ ở nông thôn- nơi người dân bị ảnh hưởng và ràng buộc sâu sắc bởi mối quan hệ khăng khít trong dòng họ
Bên cạnh đó là các ý kiến của một số cây bút xuất hiện trên một số các bài báo, chuyên luận khác
Tác giả Ngọc Anh trong bài viết “Thể giới nhãn vật trong tiểu thuyết
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường” (báo Giảo dục và thời đại, ngày 27/05/1991) đã đi sâu vào nghiên cứu những đặc trưng bút pháp
của Nguyễn Khắc Trường trong cuốn tiểu thuyết và đưa ra nhận định: “Nguyễn
Khắc Trường tỏ ra vững vàng, từ việc xây dựng truyện, xây dựng nhân vật đến
sử dụng ngôn ngữ Trong tác phẩm của anh, sự việc nọ nổi tiếp sự việc kia, bi kịch này kéo theo bi kịch khác, nhiều sự kiện rối rẳm phức tạp, nhưng tác giả
đã nhìn vào bản chất của sự việc, giải quyết thấu đáo cứ như sự việc đủng như
nó đã xảy ra như thể phải công nhận rằng tác giả Nguyễn Khắc Trường am hiểu nông thôn và có vốn ngôn ngữ rất phong phú ”.
Trang 12Trong bài viết “Đọc Mảnh đất lẳm người nhiều ma” (Tác phẩm mới, Hà
Nội, số 8, tháng 8, 1999) tác giả Lê Thành Nghị đã nhận ra vấn đề bao quát của
tác phẩm là: “vẩn đề nhận dạng bộ mặt tinh thần nông thôn, thực chẩt bộ mặt
nông thôn hôm nay và từ ngàn xưa là sự chỉ phổi khá triệt để về ỷ thức các dòng họ ” Cũng cùng quan điểm với nhà nghiên cứu Trần Đình Sử tác giả bài
viết đã chỉ ra vấn đề mấu chốt trong cộng đồng người dân nông thôn chính là ý
thức tộc họ, là sự chi phối của quan niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lã”,
cũng như sự ganh đua, mối hiềm khích và mất đoàn kết trong nội bộ nông thôn đều bắt nguồn từ họ tộc
Bài viết của Trần Đăng Khoa về ‘‘‘'Nguyễn Khắc Trường và Mảnh đất
lắm người nhiều ma” (Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh niên, 1999) đã nhận
định: “Điều đáng ghi nhận ở cuốn tiểu thuyết này là nhà văn đã có vốn sống,
sự am hiểu sầu sẳc về đời sổng nông thôn ở nghệ thuật miêu tả tâm li nhân vật
và ngôn ngữ của nó Nhược điểm dễ nhận thấy là kểt cẩu truyện lỏng lẻo, bổ trí
sự xuất hiện của nhãn vật cỏ phần gượng ép ”.
Cũng như Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mỉa của Đào
Thắng thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu
Trên Tạp chỉ Nhà văn (số 7/2005), Trần Mạnh Hảo có đăng bài “Dòng
sông Mỉa của Đào Thẳng hay tiếng nấc của sông Chầu Giang” trong bài viết
này tác giả nói: “Đọc xong cuốn tiểu thuyết viết về sự hoành tráng của cái ngọt
ngào mà rất đẳng đót này của Đào Thẳng, tôi ngờ rằng phù sa của sông Châu Giang - linh hồn đất Hà Nam- chảy qua văn anh, chảy qua tâm hồn anh e rằng cũng là thứ phù sa đẳng Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết này của Đào Thẳng trong
ba ngày và nhược cả người, mệt đến rã rời vì tác giả đã đẩy tôi vào cái làng Mía, bẳt tôi nhập hồn vào tất cả các nhân vật: sống chết, điên cuồng, gian dâm, loạn luân, ức hiếp, ác nhân, mưu ma chước quỷ, nhảy sông tự tử, khóc
Trang 13than, thù hận, giết nhau, giả nhân giả nghĩa mà làm điều that đức ” Với nhìn
nhận sâu sắc và khách quan của mình Trần Mạnh Hảo đã chỉ ra được cái hồncốt của tác phẩm, đã chỉ ra cái dũng cảm và tài năng của Đào Thắng khi tác giả
dám viết về một làng Mía “rất đẳng”.
Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Trên đất nước có bao nhiêu làng Mỉa”
(Tạp chí sông Hương - số 196, tháng 6/2008) đã đưa ra nhận định về sức sống
của tác phẩm, về những thực tại nhức nhối còn tồn tại nơi làng quê rằng: “Có
những tác phẩm văn học giống như những hạt sạn ngoan cổ trong đôi giày của những người đương tiến bước, chúng thường trực nhắc họ những thực tại nhức nhổỉ của đất nước mà vì mải vui hoặc quá “hăng say” họ đã quên tịt như chưa bao giờ có Làng Mỉa của Đào Thẳng là một hạt sạn ngang ngạnh”.
Cũng theo Hoàng Ngọc Hiến, trong xã hội làng Mía: “Những câu
chuyện loạn luân, cưỡng hiếp, thông dâm, chọc ghẹo, trẫm mình, đẩu tổ xảy
ra như cơm bữa ” Ở đây bài viết muốn nhấn mạnh Đào Thắng không chỉ miêu
tả chân thực cuộc sống mà còn mạnh dạn đưa vào văn học những yếu tố mà cácnhà văn truyền thống ít đề cập đến: con người bản năng, đời sống tính dục, cái dâm, sex qua đó tác phẩm đặt ra những vấn đề gay gắt của hiện thực đời sống,thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Tác giả Nguyễn Trọng Tạo với “Dỏng sông Mỉa - bất ngờ một tài văn ” lại nhận định: “Có thể nói theo ỷ kiến của riêng tôi rằng, khá lầu rồi, tôi chưa
thấy một cuốn tiểu thuyết nào của Việt Nam viết về nông thôn lại hấp dẫn và góc cạnh như tiểu thuyết Dòng sông Mỉa của Đào Thẳng Những chi tiết độc đáo, những tỉnh cách mạnh mẽ và riêng lẻ của các nhẫn vật xuất hiện trong tiểu thuyết tưởng như huyền thoại mà lại vô cùng chân thật, sổng động ”.
Trên đây là những ý kiến khác nhau bàn về hai tác phẩm Mảnh đất lẳm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của Đào Thắng
Trang 14của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà văn Tuy còn có nhiều ý kiến khen chê trái chiều nhau nhưng điều đó không làm giảm giá trị tác phẩm mà càng khẳng định hơn nữa tài năng tác giả và sức sống của tác phẩm trong lòng người đọc nhiều thế hệ.
Trên cơ sở kế thừa ý kiến người đi trước chúng tôi tiếp tục đi vào nghiêncứu hai tác phẩm trên nhưng trên một phương diện mới đó là khám phá nét Văn
hóa nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường
và Dòng sông Mỉa của Đào Thắng hi vọng sẽ có được cái nhìn khái quát chung
về nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiền cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông Mỉa chúng
tôi hướng tới khám phá văn hóa nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới trong các mối quan hệ đa dạng, phức tạp, nhiều chiều, số phận người nông dân trước những biến động lịch sử xã hội
- Từ đó khẳng định đây là hai cuốn tiểu thuyết có những đóng góp xuất sắc cho dòng văn học nông thôn ở nước ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích hai tác phẩm để chỉ ra những biến đổi đời sống văn hóa nông thôn thời kì đổi mới
- Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của nhà văn trong việc miêu tả vănhóa nông thôn thời kì đổi mới, đồng thời khẳng định đóng góp của hai nhà văn trong việc mở ra một hướng đi mới trong việc khám phá văn hóa nông thôn trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới
4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1 Đổi tượng nghiên cứu
Trang 151 0
Văn hóa nông thôn Việt Nam trong hai tác phẩm Mảnh đất lẳm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của Đào Thắng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu khảo sát hai tác phẩm Mảnh đất lẳm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của Đào Thắng.
Đồng thời để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu chúng tôi có sự so sánh với các tác phẩm khác cùng viết về đề tài này
5 Phương pháp nghiền cứu
Để thực hiện nhiệm yụ nêu trên, trong qua trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng kết họp các phuơng pháp sau:
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình có tính chuyên sâu nghiên cứu về văn hóa nông thôn
trong hai tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Truờng và
Dòng sông Mỉa của Đào Thắng nhằm chỉ ra những nét đặc trung tiêu biểu và
độc đáo của văn hóa nông thôn thời kì đổi mới
Khẳng định cái nhìn và cách tiếp cận mới của hai tác giả với đề tài “cũ” Thông qua đó khẳng định tài năng và đóng góp của hai nhà văn này
Hi vọng, luận văn này sẽ đem lại cho độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Khắc Truông và Đào Thắng cái nhìn toàn diện hơn về tác giả, đồng thời luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinh viên, học sinh khi nghiên cứu về hai tác giả này
Trang 167 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi đuợc triển khai thành ba chuơng nhu sau:
Chuơng 1: Đe tài nông thôn trong văn học Việt Nam hiện đại
Chương 2: Đời sống văn hóa và số phận người nông dân
trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của Đào Thắng
Chương 3: Nghệ thuật miêu tả văn hóa nông thôn trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của Đào Thắng
Trang 17NỘI DUNG Chương 1
ĐÈ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1 Văn hóa nông thôn
Là một đất nước nông nghiệp với phần lớn dân số là nông dân vì thế văn hóa nông thôn luôn thể hiện đậm nét trong văn học Cuộc sống của người nông dân vất vả một nắng hai sương bán mặt cho đất bán lưng cho trời với bao cơ cực, nghèo khó, nhọc nhằn ấy được nhân dân lao động gửi gắm trong những bài
ca dao, những câu dân ca những lời hát ru thấm đẫm tình người Để rồi mỗi người khi đi xa nghĩ về quê hương, về nơi đã nuôi dưỡng sinh thành lại bồi hồi xúc động
Việt Nam từ ngàn đời nay tự hào là cái nôi của nền văn minh lúa nước vì vậy nông thôn luôn là môi trường sống bền bỉ của người dân Nhắc tới nông thôn là nhắc tới ngô, khoai, lúa, mạ - những sản phẩm đặc trưng của nông nghiệp, những thứ bình dị, gần gũi nhưng đã nuôi dưỡng biết bao thế hệ người dân đất Việt Cũng vì lí do đó mà văn hóa nông thôn luôn là đề tài chính, đề tài truyền thống trong văn học Việt
Nói đến văn hóa thì đã có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm này
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1998), (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa - thông tin) thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người
sảng tạo ra trong lịch sử”.
Trong Từ điển tiếng Việt (2004), (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nằng và
Trung tâm Từ điển học) đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa:
+ Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tỉnh thần do
Trang 18con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
+ Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mẫn nhu cầu đời sổng tỉnh thần (nói tổng quát)
+ Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học
+ Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh.
Cuốn Xã hội học văn hóa của tác giả Đoàn Văn Chúc, (1997) (Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin), cho rằng: “ Văn hóa - vô sở bất tại
(văn hóa không nơi nào không có) điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thể giới tự nhiên là văn hóa ”.
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong “Tìm về bản sẳc văn hóa Việt
Nam ”(2012)( Nxb Tổng họp Tp Hồ Chí Minh), cho rằng: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình ”
Theo tổ chức Giáo dục và Khoa học của liên hiệp quốc UNESSCO:
“Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia ”
Còn Trần Quốc Vượng trong cuốn sách “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (2004), (Nxb Giáo dục) đã nhận định: “Vẫn hóa được xem là sản phẩm do con người
sảng tạo, có từ thủa bình minh của xã hội loài người ”
Đồng chí Phạm Văn Đồng trong một bài nói chuyện khẳng định: “Văn
hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sổng mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác
Trang 19gềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng lớn mạnh và phát triển
Như yậy từ những khái niệm trên có thể thấy văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trưng chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp, xấu, đạo đức, vô luân ) theo cộng đồng ấy Nói đến văn hóa là nói đến nét riêng về yật chất tinh thần của từng quốc gia, dân tộc Văn hóa mỗi dân tộc có thể được biểu hiện rất cụ thể qua những giá trị vật chất như kiến trúc, trang phục, thiên nhiên, ngôn ngữ, phong tục nhưng cũng có thể rất trìu tượng như đời sống tinh thần, suy nghĩ, ứng xử Văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu Nó được duy trì bằng truyền thống văn hóa, tức là cơ chế tích lũy và truyềnđạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian Nó là những giá trị tương đối ổn định thể hiện dưới những khuân mẫu xã hội được tích lũy và táitạo trong cộng đồng người và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,tập quán, nghi lễ, dư luận
Ở Việt Nam, nông thôn là danh từ để chỉ những vùng đất mà ở đó người dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp Nông thôn là nơi cư trú của phần đông dân số nước ta (tính đến 2009 có đến 70,4%), bên cạnh đó nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội Người dân nông thôn cũng tích lũy cho mình một bề sâu văn hóa có tầm ảnh hưởng rộng rãi Khi nghiên cứu về văn hóa nông thôn thì một số nhà nghiên cứu văn hóa như Trần Ngọc
Thêm, Trần Quốc Vượng đã có chung một nhận xét rằng: Đặc trưng nổi bật
nhất của vần hóa người nông dân Việt Nam là luôn có chữ tình trong quan hệ
Trang 20nông thôn truyền thống đã tổng họp các đặc trưng cơ bản sau:
1 Xã hội nông thôn truyền thống lẩy nông nghiệp làm gốc, trọng nông
ức thương, coi trọng tước vị và lãnh nghiệm.
2 Đề cao tỉnh thần cộng đồng, không đề cao sự khác biệt, đa dạng, cá nhân chịu sự khổng chế và giám sát của cộng đồng.
3 Tư tưởng cào bằng không chấp nhận sự nổi trội về mức sổng và lổi sổng.
4 Những giá trị chung được xã hội khuyến khích là gìn giữ tình làng nghĩa xóm, trọng cội nguồn, tổ tiên, lòng biết ơn công lao của các bậc tiền nhãn, phát huy tinh thần tương thần tương ái.
Phan Đại Doãn trong cuốn ‘‘‘'Làng xã Việt Nam - một sổ vẩn đề kỉnh tể,
văn hóa, xã hội” (2004), (Nhà xuất bản chính trị quốc gia) đưa ra hai đặc điểm
chính của văn hóa truyền thống làng xã Việt, đó là:
Nền văn hóa của xã hội nông nghiệp thể hiện rõ ở tỉnh thần trọng nông
và rất thực tiễn (dĩ nông lập quốc).
Một nền văn hóa hướng nội, tuy có chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, xong về cơ bản văn hóa Việt Nam vẫn lẩy quốc gia, lẩy làng - xã,
họ hàng và gia đình làm trung tâm.
Như vậy có thể tổng kết một số đặc điểm của văn hóa nông thôn là: Trọng nông, trọng kinh nghiệm dân gian, trọng lão, trọng tình, trọng nghĩa, trọng cộng đồng, trọng lệ làng, trọng cội nguồn, trọng giản dị Ngoài ra, cũng phải nhận thấy mặt hạn chế như: thái độ tự thỏa mãn, chấp nhận số phận, địa phương cục bộ, che giấu thông tin, nghi kị những yếu tố đổi mới, e ngại sự giaolưu kết nối với bên ngoài, đặt lệ làng cao hơn phép nước, đưa các mối quan hệ
Trang 21dòng tộc vào việc chung Văn hóa Việt Nam truyền thống có bản chất là một nền văn hóa nông nghiệp, chính vì thế, vai trò của gia đình, họ hàng và cộng đồng xóm làng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống người dân nông thôn Những quan hệ này được xây dựng và gìn giữ qua các thế hệ bằng nhiều hình thức (hôn nhân, tín ngưỡng, đoàn kết xã hội ), nó gắn bó các thành viên qua các sinh hoạt làng xã và tạo nên một thứ keo gắn bó các thành viên với nhau để cùng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống thường ngày hay trước những biến cố lớn về giặc giã, thiên tai Nó là cái gốc của tình làng nghĩa xóm,
là yếu tố gợi lên mối tình quê hương trong lòng người dân đi xa làng Trong truyền thống người dân nông thôn đã xây dựng cho mình những quy tắc ứng xử trong dòng họ, cộng đồng được quy định rõ ràng trong tộc ước hay hương ước
Trong làng xã Việt Nam truyền thống tồn tại nhiều mối dây liên hệ gắn chặt các cá nhân trong cộng đồng với nhau Nông thôn Việt Nam dày đặc những mối quan hệ chặt chẽ về nghề nghiệp, dân cư, tổ chức, quan hệ xã hội, người dân nông thôn Việt Nam luôn chịu sự chi phối mạnh của ít nhất một tổ chức nào đó trong suốt cuộc đời mình, họ có vô vàn mối liên kết không thể và không dám gỡ bỏ: phải phục tùng lệ làng, lệ họ, lệ phường, lệ hội xét về ý nghĩa xã hội thì những ràng buộc chặt chẽ của cộng đồng là chỗ dựa cho cá nhân khi có sự cố, nó cũng tạo nên sức kiềm chế có hiệu quả đối với hành vi sailệch của cá nhân, xong các liên kết này cũng tạo nên tính thụ động, ỷ lại ăn sâu bám rễ trong tính cách người dân nông thôn truyền thống
1.1.2 Văn hóa nông thôn trong văn học
Với phần lớn dân số Việt Nam có xuất thân từ nông thôn nên văn học dù viết về chốn thôn dã hay thành thị đều ít nhiều mang dấu ấn cảm thức về nông thôn Bắt đầu từ văn học dân gian - chiếc cầu nối chuyển tải những tâm tư tình cảm của con người, ngợi ca cuộc sống của nhân dân, thì đề tài nông thôn đã trở
Trang 22“Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trầu đi bừa”
Ca daoHay cuộc sống bần hàn của những con người có nghị lực vượt khó khăn chông gai, trở ngại của cuộc sống:
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày ”
Ca daoHoặc những câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm đời sống nông nghiệp
“Thưa ao tốt cá
“Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa ”.
“Đất thiểu trồng dừa, đất thừa trồng cau ”.
“Con trầu là đầu cơ nghiệp ”.
“Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phần ”
Tục ngữTrong các câu chuyện từ thần thoại, sử thi, đến truyện cổ tích, truyện cười thì hình ảnh người nông dân lao động và cuộc sống của họ cũng đi vào
trong văn học một cách tự nhiên và hồn hậu Đó là cô Tấm (Tẩm Cám), Lang Liêu (Bánh chưng bánh giày), Mai An Tiêm trong (Sự tích dưa hấu),
Sang đến văn học trung đại đề tài nông thôn hiện lên qua cuộc sống ẩn dật của những nhà nho nhàn tản, bỏ chốn phồn hoa, cửa quyền nhiều ganh đua
để tìm về với thôn dã như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến
Đó là:
“Thu ăn măng trúc đông ăn giả
Trang 23Xuân tẳm hồ sen, hạ tẳm ao”
(Chốn quê Nguyễn Khuyến)
Đó cũng có thể là một nông thôn nghèo đói, lạc hậu và tăm tối trong sáng tác của những nhà văn hiện thực như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng Nhưng cũng có thể là một nông thôn thanh bình yên ả, tuy nghèo đói nhưng chan chứa tình người trong những trang viết của Thạch Lam
Như yậy có thể thấy, một cách rất tự nhiên và hồn hậu, văn hóa và con người nông thôn đã đi vào văn học, đã là nguồn cảm hứng, là đề tài cho những áng văn thơ, những câu chuyện cổ hay những tác phẩm của các nhà văn hiện đại Mảnh đất nông thôn và những nét văn hóa nơi đây như sợi chỉ xanh lấp lánh cứ ẩn hiện đâu đây và không bao giờ đứt trong suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc Chừng nào người Việt Nam còn sống bằng ngô, khoai, lúa, gạo thì chừng đó văn hóa nông thôn còn tồn tại trong những tác phẩm văn chương
1.2 Đề tài nông thôn trong văn học Việt Nam hiện đại
Trang 24Thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa dẫn đến đờisống của nhân dân và đặc biệt là người dân nông thôn ngày càng bần cùng, đen tối Làng quê bao đời thanh bình yên ả nay li tán tiêu điều Cùng với đó, trước những biến động chính trị xã hội sâu sắc, trước xu thế tư sản hóa đa dạng, nhà nho dần mất yị trí của mình trên vũ đài lịch sử Do sự ngoại nhập của văn hóa phương Tây, dẫn đến sự ra đời của các thể loại văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ đã làm thay đổi căn bản quan niệm và diện mạo văn học truyền thống từ văn học giáo huấn sang văn học hiện thực Một trong những vấn đề nóng được nhiều tác giả quan tâm và phản ánh là đề tài nông thôn và cuộc sống của người nông dân trước những biến chuyển đổi thay của xã hội Các tác giả tiêu biểu của thời kì này có thể kể đến như: Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố.
Phạm Duy Tốn (1881 - 1947) với các truyện ngắn tiêu biểu: Nước đời
lắm nỗi, Con người Sở Khanh, sổng chết mặc bay đã phản ánh thực trạng xã
hội bất công, thối nát đương thời bằng việc miêu tả hình ảnh người nông dân đói khát, chết chóc vì lũ lụt và phải tha phương tìm kế sinh nhai trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ Hoặc miêu tả sự đối lập gay gắt giữa một bên là hàng ngàn dân phu đang phải vật lộn với mưa lũ trong cảnh đất trời tối tăm đầy tai họa và một bên là viên quan huyện đang đánh tổ tôm cùng đám nha lại có lính tráng phục vụ giữa làng Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, tác giả đã làm xúc động biết bao thế hệ người đọc
Bên cạnh đó, Hồ Biểu Chánh (1900 - 1930) - nhà văn tiêu biểu của văn học Nam Bộ nói riêng, văn học Việt Nam nói chung được đánh giá là tác giả được nhiều người ưa thích, nhà viết tiểu thuyết đáng chú ý nhất của thời kì này
Trang 25Tác phẩm của ông với lối viết bình dị, ngôn ngữ gần gũi với lời nói hàng ngày
và vốn sống phong phú đã đề cập đến hiện thực rất nhiều mặt ở nông thôn Nam
Bộ Ở đó, hình ảnh những tên địa chủ gian ác, tham lam, ức hiếp bóc lột dân lành và dưới chúng là cả một lực lượng từ bọn hương chức, hội đồng Đối lập với chúng là những người nông dân nghèo khổ quanh năm bị bóc lột dù làm lụng vất vả cực nhọc vẫn không thoát khỏi cái nghèo đói tăm tối nhưng ở họ tácgiả còn nhìn thấy những phẩm chất tốt đẹp như: tính cách nghĩa hiệp, trọng tìnhnghĩa, chất phác, đôn hậu
Có thể nói văn xuôi giai đoạn giao thời tuy còn rất sơ khai nhưng các nhàvăn đã đi vào phản ánh hiện thực một cách xác thực hơn cốt truyện và nhân yậtnông dân trong tác phẩm chân thật gần gũi hơn Hình ảnh người nông dân hiện lên bần cùng, khốn khổ bởi sự bóc lột của những thế lực đen tối trong xã hội Các nhà văn tôn trọng hiện thực khách quan, trên cái nhìn đầy tính nhân văn đã cho thấy những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân
Đen những năm 30 của thế kỉ XX, trong sự phát triển mạnh mẽ của lịch
sử xã hội, văn học viết về đề tài nông thôn giai đoạn này đã phát triển vượt bậc, đạt nhiều thành tựu số phận người nông dân bị áp bức bóc lột và sự vùng lên đấu tranh tự phát được các nhà văn đi sâu miêu tả, khám phá
Nguyễn Công Hoan (1903- 1977) với con mắt chế giễu và tấm lòng cảm thông sâu sắc với người lao động nghèo khổ đã đả kích sâu cay vào thành trì của xã hội cũ với những điển hình sống động về hình ảnh bọn cường hào địa
chủ, quan lại trong tiểu thuyết Bước đường cùng, và hàng loạt những truyện ngắn trào phúng: Đồng hào có ma, Tinh thần thể dục, Chiếc quan tài nhà văn
đã thể hiện cái nhìn sắc sảo và sâu sắc hơn khi phản ánh cuộc sống của người nông dân cùng với đó là tấm lòng cảm thương, trân trọng trước hoàn cảnh sống của họ