ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ---Phan Thị Thanh Nhàn ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG D
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Phan Thị Thanh Nhàn
ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG DẢI VEN
BIỂN TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN TÓM TẮT
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Phan Thị Thanh Nhàn
ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG DẢI VEN
BIỂN TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số : 60440301
LUẬN VĂN TÓM TẮT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS BÙI THỊ NGỌC DUNG
Hà Nội – 2013
Trang 3Tóm tắt luận văn
Họ và tên học viên: Phan Thị Thanh Nhàn
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tên đề tài: Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh
Chuyên ngành: Sinh thái Môi trường
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Dải ven biển miền Trung Việt Nam đang sở hữu một khu hệ sinh vật khá phong phú về chủng loại và đa dạng về hình thái, thích nghi cao độ với kiểu sinh thái khắc nghiệt tại đây Nhiều mô hình sinh thái tự nhiên dạng rú cát, rẻo cây chứa đựng trên dưới
100 loài cây thân gỗ có khả năng khoanh nuôi, các vùng rừng ngập mặn, cửa sông, thảm thực vật ven biển, là môi trường sống cho rất nhiều sinh vật mà nơi khác không có
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, là một địa bàn nhạy cảm với các biến đổi khí hậu,có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế - xã hội.Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi cho quá trình sản xuất và hoạt động sống của con người
Do dải ven biển là nơi sinh sống của hàng triệu cư dân nghèo, luôn chịu áp lực của sóng gió, cảnh sạt lở bờ nghiêm trọng hàng năm Nhiều khu dân cư phải di dời do mất đất sống, nhiều bãi biển du lịch vốn nổi tiếng đã mất đi, nhiều thất thoát nhà cửa, tài sản và
cả mạng sống đã xảy ra Mặc dù sự tàn phá hệ sinh thái đã xảy mãnh liệt và triền miên, nhưng vẫn còn những quần thể sinh vật như một minh chứng khoa học và thực tiễn cho những ai quan tâm đến môi trường sinh thái, đồng thời cũng là nơi cung cấp nguồn vật liệu để phục hồi hệ sinh thái ven bờ theo hướng phát triển bền vững
Chính vì vậy, đề tài:“ Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên - kinh tế xã
hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh”
Trang 4được thực hiện nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ tác động của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đến khai thác sử dụng dải ven biển cho phát triển nông nghiệplà đòi hỏi hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh đến phát triển nông nghiệp
- Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững ở dải ven biển Hà Tĩnh
3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại đất ven biển (số lượng, đặc điểm, tính chất, sự phân bố)
- Các loại sử dụng đất
- Các loại cây trồng, vật nuôi chính gắn với các loại sử dụng đất
- Kinh tế hộ nông dân và cơ sở sử dụng đất để sản xuất
- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan tới sử dụng dải ven biển cho phát triển nông nghiệp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu bao gồm 6 huyện và 1 thành phố ven biển của tỉnh Hà Tĩnh là:
TP Hà Tĩnh, huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Ranh giới vùng nghiên cứu được khoanh vẽ trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 đối với vùng
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường và tác động tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh
3.3.2 Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác hiện có ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh
Trang 53.3.3 Xác định khả năng khai thác, sử dụng dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh cho phát triển nông nghiệp bền vững
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp các thông tin, tư liệu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa để xác định loại sử dụng đất chính theo các lát cắt địa hình đại diện
- Phương pháp điều tra kinh tế hộ nông dân
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích hệ thống, được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các mô hình sử dụng đất
- Phương pháp GIS để xây dựng các loại bản đồ chuyên đề
- Phương pháp phân tích xử lý số liệu
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Dải ven biển
Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển,…)
là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa, Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về dải ven biển và phạm vi ranh giới của dải ven biển vẫn còn là những vấn đề chưa thống nhất, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và khoa học kinh tế [8] Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương thuật ngữ “dải ven biển” là:
- Nga: Vùng duyên hải
- Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte)
- Anh: Vùng ven biển (Coastal zone)
- Trung Quốc: Vùng diên hải hay Vùng duyên hải
Trang 61.1.2 Phát triển bền vững
Khái niệm “Phát triển bền vững” ra đời rất muộn, lần đầu tiên xuất hiện vào năm
1987 trong báo “Tương lai của chúng ta” của ủy ban Môi Trường và phát triển của ngân hàng thế giới (WB) Do đó, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thống nhất và hoàn chỉnh Một số khái niệm Khoa học Môi trường về “Phát triển bền vững”:
- Tại hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững (2002) tổ chức tại Johannesbug đã xác định:
“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và môi trường Hiện nay, khái niệm về “Phát triển bền vững” của WB được sử dụng rộng rãi hơn cả:
“Phát triển bền vững là một quá trình phát triển đáp ứng được những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ sau”
1.1.3 Nông nghiệp phát triển bền vững
Theo định nghĩa của TAC/CCIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công của tài nguyên thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên.[16]
Những vấn đề đặt ra trong sản xuất nông nghiệp bền vững là: bảo vệ môi trường đất, nước và khởi xướng một số hệ thống canh tác bền vững với mục đích kiến tạo một hệ thống bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường được thực hiện trên các mô hình canh tác tổng hợp, canh tác bền vững trên đất dốc, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp,…
1.2 Các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở dải ven biển Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên dải ven biển:
Dải ven biển là một hệ thống tự nhiên phức tạp có giá trị tài nguyên đặc thù khác hẳn với các vùng lục địa và các vùng biển lân cận Dải ven biển có các thuộc tính cơ bản sau:
Trang 7- Là một hệ tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập nhưng không cô lập.
- Có cấu trúc mang tính chuyển tiếp rõ rệt giữa lục địa và biển
- Có cấu trúc dị phân phức tạp, gồm nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như các hệ cửa sông, đầm phá, các hệ sinh thái,…
- Có mối tương tác và quan hệ hữu cơ giữa các hợp phần bên trong hệ (hay các quá trình nội tại của hệ)
- Có hệ sinh thái rất đa dạng và tài nguyên thiên nhiên phong phú, tạo điều kiện để phát triển đa ngành, nhưng cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa các ngành trong việc khai thác sử dụng tài nguyên
- Là khu vực tập trung dân cư đông đúc và có các hoạt động kinh tế - xã hội rất sôi động
- Có chức năng to lớn về môi trường và sinh thái nhưng rất nhạy cảm, dễ bị tác động
và tổn thương
1.2.2 Các nghiên cứu về điều kiện kinh tế - xã hội ở dải ven biển
Về mặt kinh tế, dải ven biển là nơi tập trung các hoạt động kinh tế rất đa dạng như: hoạt động cảng, hàng hải, du lịch giải trí, khai thác nuôi trồng thủy sản, nông lâm nghiệp, công nghiệp ven biển, khai khoáng, đô thị hóa,… đồng thời cũng là nơi tập trung dân số với mật độ rất cao Do vậy việc hoạch định các chính sách phát triển và xây dựng các kế hoạch,
mô hình phát triển hợp lý theo quan điểm phát triển bền vững là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với dải ven biển
1.3 Các nghiên cứu về sử dụng đất ở dải ven biển Việt Nam và Hà Tĩnh
Theo Nguyễn Tác An (Viện Hải Dương học), thành phần và chất lượng đất ven biển tuy không màu mỡ bằng những vùng khác nhưng có địa hình bằng phẳng, vị trí thuận lợi… nên đã được con người sử dụng làm nơi cư trú và phát triển kinh tế
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 82.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại đất dải ven biển (số lượng, đặc điểm, tính chất, sự phân bố)
- Các loại sử dụng đất
- Các loại cây trồng, vật nuôi chính gắn với các loại sử dụng đất
- Kinh tế hộ nông dân và cơ sở sử dụng đất để sản xuất
- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan tới sử dụng dải ven biển cho phát triển nông nghiệp
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu bao gồm 6 huyện và 1 thành phố ven biển của tỉnh Hà Tĩnh là:TP
Hà Tĩnh, huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Ranh giới vùng nghiên cứu được khoanh vẽ trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 đối với vùng
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường và tác động tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh.
2.2.1.1 Đánh giá các yếu tố về tự nhiên
2.2.1.2 Đánh giá các yếu tố về kinh tế - xã hội
2.2.1.3 Đánh giá các yếu tố về môi trường
2.2.2 Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác hiện có ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh.
2.2.2 1 Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất dải ven biển
2.2.2 2 Nghiên cứu về kinh tế hộ liên quan tới sử dụng dải ven biển
2.2.2 3 Nghiên cứu các giải pháp sử dụng hợp lý dải ven biển
2.2.3 Xác định khả năng khai thác, sử dụng dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh cho phát triển nông nghiệp bền vững.
Trang 92.3 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp kế thừa các thông tin, tư liệu đã có, trong đó có những tài liệu rất có giá trị như: các kết quả nghiên cứu về số lượng, chất lượng đất cát biển và bãi bồi ven biển của Viện QH&TKNN; các kết quả nghiên cứu về đất cát vùng TH - NA - HT; kết quả nghiên cứu của báo cáo phát triển kinh tế ven biển của Viện nghiên cứu chiến lược, niên giám thống kê Hà Tĩnh 2012…
2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa nghiên cứu về các loại hình sử dụng đất dải ven biển để xác định khả năng khai thác, sử dụng và cải tạo chúng được phân theo các đối tượng như sau:
- Các điểm đại diện cho các loại đất chính: nhóm đất cát biển, nhóm đất mặn, đất phèn, nhóm đất xám – bạc màu, nhóm đất lầy và đất than bùn, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá
- Loại sử dụng đất có hiệu quả bền vững, theo các công thức luân canh có quy mô lớn
về diện tích
- Các loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao và có triển vọng phát triển
3 Phương pháp điều tra kinh tế hộ nông dân theo phương pháp (PRA), để phân tích hiệu quả kinh tế của các hoạt động của hộ nông dân trên dải ven biển
4 Điều tra, đánh giá mức độ thích hợp các loại đất dải ven biển với các loại sử dụng đất được lựa chọn theo TCVN 8409: 2010
5 Phương pháp đánh giá sử dụng đất bền vững theo quan điểm của FAO:
* Hiệu quả kinh tế tập trung xác định các chỉ tiêu:
- Thu nhập thuần = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
- Hiệu quả một đồng chi phí = Tổng thu/tổng chi phí
Trong đó:
+ Tổng thu nhập/1ha = Sản lượng x giá bán
Trang 10+ Tổng chi phí/1ha = Giống + phân bón + thuốc BVTV + Công lao động.
* Hiệu quả xã hội:
Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập tới một số chỉ tiêu sau:
- Mức độ chấp nhận của người dân
- Khả năng đảm bảo an toàn lương thực
- Khả năng thu hút lao động
- Giá trị ngày công lao động
* Hiệu quả môi trường:
Đánh giá hiệu quả môi trường là xem xét trên cơ sở thực trạng và nguyên nhân gây
áp lực đến môi trường nhằm loại bỏ các loại sử dụng đất có khả năng gây tác động xấu đến môi trường sinh thái Các tác động đến môi trường cần phân tích ở vùng nghiên cứu là:
- Cải thiện và bảo vệ môi trường đất
- Duy trì ổn định môi trường đất
- Ô nhiễm nhẹ môi trường đất
- Ô nhiễm nặng môi trường đất
6 Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích hệ thống, được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các mô hình sử dụng đất và dự báo khả năng sử dụng đất
Các phương pháp được áp dụng linh hoạt, đan xen, tuỳ thuộc vào các nội dung nghiên cứu của đề tài
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Những thuận lợi và khó khăn
*) Thuận lợi:
Trang 11+ Dải ven biển được xác định là vùng có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp
đặc biệt là nuôi trồng thủy hải sản
+ Điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng đất đai đa dạng phong phú là cơ sở cho phát triển nông nghiệp toàn diện từ trồng trọt đến chăn nuôi và thủy sản
+ Do dân số gia tăng, kinh tế phát triển nên thị trường các sản phẩm nông nghiệp trong nước và thế giới tiếp tục mở rộng, sản phẩm nông nghiệp ngày càng chiếm lĩnh thị trường thực phẩm Mặc dù bị ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới, nhưng nông sản vẫn được ưa chuộng, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển; giá cả nông sản luôn ổn định ở mức cao
+ Công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học phát triển nhanh
và mạnh, đã và đang tạo cơ hội cho việc áp dụng vào hoạt động nghiên cứu và sản xuất nông nghiệp nói chung và dải ven biển nói riêng
+ Nguồn nhân lực dồi dào, có kinh nghiệm thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trong tương lai
+ Việt Nam đã ra nhập WTO, đây là cơ hội lớn để mở rộng thị trường và cạnh tranh bình đẳng với các nước xuất khẩu cùng mặt hàng nông sản
*) Khó khăn và thách thức
+ Đến nay, tình hình sử dụng tiềm năng tự nhiên chưa hiệu quả, thiếu bền vững do phát triển tự phát, thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích ở dải ven biển
+ Môi trường bị biến đổi theo chiều hướng xấu: ngày càng nhiều chất thải không
qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển, một số khu biển ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều với quy mô rộng,…Các hệ sinh thái biển quan trọng (rừng ngập mặn, thảm cỏ biển) bị suy thoái, bị mất môi trường sống và bị thu hẹp diện tích (rừng ngập mặn mất khoảng 15ha/năm) Tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với hệ sinh thái thảm cỏ biển Điều đó dẫn đến môi trường sống của các
Trang 12loài thủy sinh ở một số khu vực bị xâm hại và chất lượng có xu hướng ngày càng suy giảm
+ Nước ta là một trong 5 nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu
và dâng cao mực nước biển, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ Các hệ sinh thái ven biển, các giá trị dịch vụ của chúng, người dân ven biển và trên các đảo là những đối tượng dễ bị tổn thương và bị tác động mạnh mẽ nhất, nhưng đến nay còn thiếu những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, cũng như chưa có giải pháp lồng ghép và mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển
+ Đa dạng sinh học biển giảm sút: năng suất nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn bị giảm sút từ khoảng 200kg/ha/vụ (năm 1980) đến nay chỉ còn 80 kg/ha/vụ, và 1ha rừng ngập mặn trước đây có thể khai thác được 800 kg thủy sản, nhưng hiện nay chỉ thu được 1/20 so với trước đây
+ Diện tích mặt nước ngọt, lợ đưa vào nuôi trồng thủy sản đã tăng đến mức giới hạn; xuất hiện dấu hiệu thoái hóa, xuống cấp ở một số vùng nuôi nước lợ; rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng ngày càng tăng do ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và thiên tai
+ Tình trạng sản xuất manh mún, tự phát, phân tán đang còn phổ biến; ý thức tôn trọng kỷ cương, pháp luật của những người tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp chưa cao
+ Sự cạnh tranh trong xuất nhập khẩu nông sản trên thị trường thế giới ngày càng khốc liệt, đặc biệt về yêu cầu chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái, thương hiệu sản phẩm đòi hỏi ngày càng cao và chặt chẽ hơn
+ Trình độ công nghệ, kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp của một số nước trong khu vực đã đạt được ở mức cao, do đó chúng ta sẽ gặp phải khó khăn trong việc cạnh tranh về giá và thị trường tiêu thụ sản phẩm