1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy

70 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng chất bán dẫn làm xúc tác quang hóa, áp dụng vào xử lý môitrường đang được quan tâm nhiều hơn so với các phương pháp thông thường khác.Nguyên nhân là do bản thân chất xúc tác

Trang 1

MỞ ĐẦU

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay làtình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt củacon người gây ra Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triểnkinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai.Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triểnkinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế vớibảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Đối tượng gây ô nhiễm môi trườngchủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt độnglàng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn

Nhiều khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được nhữngtiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng đó làm cho môi trường sinhthái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng đặc biệt là các cộng đồng dân cưlân cận với các khu công nghiệp Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm côngnghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh

mẽ Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương Tuy nhiên, hậu quả về môi trường

do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng Hìnhthức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác xãhoặc doanh nghiệp Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệthủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệthống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái củangười dân làng nghề còn kém nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghềngày càng trầm trọng

Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHhiện nay là vấn đề cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp, là tráchnhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội Nó cũng đòi hỏi các nhà khoa

Trang 2

học và công nghệ phải nghiên cứu các phương pháp để xử lý các chất ô nhiễm môitrường.

Sử dụng quang xúc tác bán dẫn là một trong nhiều kĩ thuật hứa hẹn cung cấpnăng lượng sạch và phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ bền và loại bỏ các kim loạiđộc hại Đặc điểm của loại xúc tác này là, dưới tác dụng của ánh sáng, sẽ sinh ra cặpelectron (e-) và lỗ trống (h+) có khả năng phân hủy chất hữu cơ hoặc chuyển hóa cáckim loại độc hại thành những chất “sạch” với môi trường [32] Mặc dù có rất nhiềuhợp chất quang xúc tác bán dẫn, TiO2 vẫn là một trong các chất quang xúc tác phổbiến nhất vì giá thành rẻ và bền hóa học, không độc, dễ điều chế Do vậy TiO2 làchất thích hợp ứng dụng trong xử lí môi trường Ngoài việc sử dụng TiO2 làm chấtxúc tác quang hóa xử lí các chất hữu cơ độc hại, các kim loại nặng trong nước thảicông nghiệp (dệt, nhuộm,…), TiO2 còn được sử dụng để làm sạch không khí, chốngmốc, diệt khuẩn, hay phân hủy thuốc trừ sâu,… Vì TiO2 có năng lượng vùng cấm ~3,2 eV nên chỉ có một phần nhỏ ánh sáng mặt trời, khoảng 5% trong vùng tia UV

có thể được sử dụng [6,15] Do vậy, đã có nhiều nghiên cứu trong việc điều chếquang xúc tác TiO2 có khả năng sử dụng hiệu quả trong vùng ánh sáng khả kiến.Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu biến tính TiO2 bởi các cation kim loại chuyển tiếphay bởi các phi kim Trong số đó, TiO2 được biến tính bởi các cation kim loạichuyển tiếp đã cho thấy kết quả tốt, tăng cường tính chất quang xúc tác trong vùngánh sáng khả kiến Trong nhiều báo cáo, các hạt tinh thể nano TiO2 được biến tínhbởi cation sắt đã thể hiện hoạt tính quang xúc tác tốt hơn so với TiO2 tinh khiết dướiánh sáng nhìn thấy Ngoài ra, việc biến tính bởi các phi kim, chẳng hạn như N, C, S,

P và các halogen cũng tăng hoạt tính của TiO2 trong vùng ánh sáng nhìn thấy Trongnhiều phi kim, cacbon biến tính TiO2 đã cho kết quả nghiên cứu có nhiều triểnvọng

Gần đây, việc biến tính đồng thời cả kim loại và phi kim vào TiO2 đã thu hútnhiều sự quan tâm, vì nó có thể làm tăng mạnh hoạt tính quang xúc tác so với việcbiến tính chỉ bởi riêng kim loại hoặc phi kim [15]

Trang 3

Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu biến tính TiO 2 bằng cacbon

và sắt làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy”.

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 GIỚI THIỆU VỀ VẬT LIỆU BÁN DẪN VÀ XÚC TÁC QUANG HÓA

Xúc tác là sự làm làm thay đổi tốc độ của các phản ứng hóa học được thựchiện bởi một số chất mà ở cuối quá trình chất này vẫn còn nguyên vẹn Chất gây ra

sự xúc tác được gọi là chất xúc tác [1, 2] Nhiều loại xúc tác khác nhau đang được

sử dụng, trong đó xúc tác quang hiện đang thu hút nhiều sự quan tâm Trong hoáhọc nó dùng để nói đến những chất có hoạt tính xúc tác dưới tác dụng ánh sáng, haynói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứngxảy ra

Việc sử dụng chất bán dẫn làm xúc tác quang hóa, áp dụng vào xử lý môitrường đang được quan tâm nhiều hơn so với các phương pháp thông thường khác.Nguyên nhân là do bản thân chất xúc tác không bị biến đổi trong suốt quá trình,ngoài ra, phương pháp này còn có các ưu điểm như: có thể thực hiện trong nhiệt độ

và áp suất bình thường, có thể sử dụng nguồn UV nhân tạo hoặc thiên nhiên, chấtxúc tác rẻ tiền và không độc

Chất bán dẫn (Semiconductor) là vật liệu trung gian giữa chất dẫn điện và

chất cách điện Gọi là “bán dẫn” có nghĩa là có thể dẫn điện ở một điều kiện nào đó,hoặc ở một điều kiện khác sẽ không dẫn điện Khi giải thích cơ chế dẫn điện củachất bán dẫn người ta phân thành chất bán dẫn loại n (dẫn electron) và bán dẫn loại

p (dẫn lỗ trống dương) [7, 9]

Theo phương pháp obitan phân tử, chúng ta có thể hình dung sự tạo thànhcác vùng năng lượng trong mạng lưới tinh thể như sau: Ở các nguyên tử riêng lẻ(khi chúng ở xa nhau như trong pha khí), các electron chiếm các mức năng lượnghoàn toàn xác định Khi các nguyên tử dịch lại gần nhau như trong mạng lưới tinhthể thì các obitan nguyên tử sẽ bị phân tách ra Nếu tổ hợp n nguyên tử sẽ tạo thành

N mức năng lượng khác nhau của N obitan phân tử N mức năng lượng này tạothành một miền năng lượng liên tục Trong đó:

Trang 5

- Vùng năng lượng đã được lấp đầy electron, được gọi là vùng hóa trị(Valence band) Trong vùng này, điện tử bị liên kết mạnh với nguyên tử và khônglinh động, chúng giữ vai trò liên kết trong mạng lưới tinh thể.

- Vùng năng lượng còn để trống (cao hơn vùng hóa trị) gọi là vùng dẫn(Condution band) hay miền dẫn Trong vùng này, điện tử sẽ linh động (gần như cácđiện tử tự do) và điện tử ở vùng này sẽ là điện tử dẫn, có nghĩa là chất có khả năngdẫn điện khi có điện tử tồn tại trên vùng dẫn Tính chất dẫn điện tăng khi điện tửtrên vùng dẫn tăng

- Tùy thuộc vào cấu trúc nguyên tử và mức độ đối xứng của tinh thể mà vùnghóa trị và vùng dẫn có thể xen phủ hoặc không xen phủ nhau Trong trường hợpkhông xen phủ nhau thì vùng hóa trị và vùng dẫn cách nhau một khoảng năng lượnggọi là vùng cấm Eg (Forbidden band) Trong vùng cấm, điện tử không thể tồn tại.Khoảng cách giữa đáy vùng dẫn và đỉnh vùng hóa trị gọi là độ rộng vùng cấm, haynăng lượng vùng cấm (Band gap) [44]

Tùy theo giá trị vùng cấm mà người ta phân ra thành các chất cách điện (Eg

> 3,5 eV), chất bán dẫn (Eg < 3,5eV) Chất dẫn điện kim loại có Eg ≈ 0 Tính dẫncủa chất bán dẫn có thể thay đổi nhờ các kích thích năng lượng như nhiệt độ, ánhsáng Khi chiếu sáng, các điện tử sẽ hấp thụ năng lượng từ photon, và có thể nhảylên vùng dẫn nếu năng lượng đủ lớn Kết quả là trên vùng dẫn sẽ có các electron(e-) mang điện tích âm – được gọi là electron quang sinh (photogenerated electron)

và trên vùng hóa trị sẽ có những lỗ trống (h+) mang điện tích dương – được gọi là lỗtrống quang sinh (photogenerated hole) [16] Chính các electron và lỗ trống quangsinh này là nguyên nhân dẫn đến các quá trình hóa học xảy ra, bao gồm quá trìnhkhử electron quang sinh và quá trình oxi hóa các lỗ trống quang sinh Khả năng khử

và oxi hóa của các electron và lỗ trống quang sinh là rất cao (từ +0,5eV đến -1,5eVđối với các electron quang sinh và từ +1,0eV đến +3,5eV đối với các lỗ trống quangsinh) Các electron quang sinh và các lỗ trống quang sinh có thể di chuyển tới bềmặt của các hạt xúc tác và tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp với các chất bị hấp phụ

bề mặt Khi có sự kích thích của ánh sáng, trong chất bán dẫn sẽ tạo ra cặp điện tử

Trang 6

-lỗ trống và có sự trao đổi electron với các chất bị hấp phụ, thông qua cầu nối là chấtbán dẫn Thông thường, một chất cho electron (electron donor – D) như nước, sẽ bịhấp thụ và phản ứng với lỗ trống trong vùng hóa trị; một chất nhận electron(electron acceptor – A), như oxi hòa tan, sẽ bị hấp phụ và phản ứng với electrontrong vùng dẫn [16, 24]:

XT(h+) + D → XT + D+ (1.1)XT(e-) + A → XT + A- (1.2)Cũng theo nguyên tắc này, các chất hữu cơ độc hại trong nước sẽ bị phânhủy dần thành các chất vô cơ Quá trình xúc tác quang hóa được mô tả trong sơ đồ:

Hình 1.1 Cơ chế xúc tác quang của chất bán dẫn

Trong xúc tác quang, TiO2 là một xúc tác lý tưởng vì nó bền về mặt hóa học

và lỗ trống sinh ra trong TiO2 có tính oxi hóa cao Thế oxi hóa của lỗ trống sinh ratrên bề mặt TiO2 là +2,53eV so với thế điện cực chuẩn của điện cực hiđro, trongdung dịch nước có pH = 7 Lỗ trống này dễ dàng tác dụng với phân tử nước hoặcanion hiđroxyl trên bề mặt của TiO2 tạo thành gốc hiđroxyl tự do Thế của cặp HO

•/OH- chỉ nhỏ hơn so với thế oxi hóa của lỗ trống một chút nhưng vẫn lớn hơn thếoxi hóa của ozon (O3/O2) [16]

TiO2 + hν → e- + h+ (1.3)

h+ + H2O → OH• + H+ (1.4)

Trang 7

h+ + OH- → OH- (1.5)Thế oxi hóa khử của electron trên vùng dẫn sinh ra bởi TiO2 là -0,52V, đủ

âm để có thể khử phân tử oxi thành anion superoxit

e- + O2 → •O2- (1.6)

•O2- + H+ → HO2• (1.7)

HO2• + H2O → H2O2 + OH• (1.8)Tất cả các tiểu phân sinh ra trong quá trình quang hóa trên, bao gồm các lỗtrống, gốc OH•, •O2-, H2O2 và oxi, đóng vai trò quan trọng trong cơ chế phản ứngxúc tác quang Chúng là các tiểu phân hoạt động, dễ dàng tham gia vào phản ứngoxi hóa các hợp chất hữu cơ, sinh ra CO2 và H2O Chính vì tính chất oxi hóa mạnhnày, TiO2 được sử dụng làm chất diệt khuẩn, nấm , khử mùi, xử lý nước thải ônhiễm,…[16, 42]

1.2.1 Các dạng cấu trúc và tính chất vật lý của nano TiO 2

TiO2 là chất rắn màu trắng, khi đun nóng có màu vàng, khi làm lạnh thì trở lạimàu trắng Tinh thể TiO2 có độ cứng cao, khó nóng chảy (= 1870oC)

TiO2 tồn tại chủ yếu dưới ba dạng thù hình là dạng anatase, rutile và brookite Trong đó, dạng rutile, anatase có cấu trúc tetragonal, còn brookite có dạng ortho Bacấu trúc này khác nhau bởi sự biến dạng và bởi kiểu liên kết [25]

Rutile là dạng bền phổ biến nhất của TiO2, có mạng lưới tứ phương trong đómỗi ion Ti4+ được ion O2- bao quanh kiểu bát diện, đây là cấu trúc điển hình của hợpchất có công thức MX2 Anatase và brookite là các dạng giả bền và chuyển thànhrutile khi nung nóng

Tất cả các dạng tinh thể đó của TiO2 tồn tại trong tự nhiên như là các khoáng,nhưng chỉ có rutile và anatase ở dạng đơn tinh thể là được tổng hợp ở nhiệt độ thấp

Trang 8

Hai pha này cũng được sử dụng trong thực tế làm chất màu, chất độn, chất xúc tác Các pha khác (kể cả pha ở áp suất cao) chẳng hạn như brookite cũng quan trọng vềmặt ứng dụng, tuy vậy bị hạn chế bởi việc điều chế brookite sạch không lẫn rutilehoặc anatase là điều khó khăn

Dạng anatase Dạng rutile Dạng brookite

Hình 1.2 Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO 2

Trang 9

Bảng 1.1 Một số tính chất vật lý của tinh thể rutile và anatase

Cấu trúc mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite đều được xây dựng

từ các đa diện phối trí tám mặt (octahedra) TiO6 nối với nhau qua cạnh hoặc quađỉnh oxi chung Mỗi ion Ti4+ được bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O2-

Hình 1.3 Hình khối bát diện của TiO 2

Các mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite khác nhau bởi sự biếndạng của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết giữa các bát diện Hình tám mặt trongrutile không đồng đều hơi bị biến dạng thoi Các bát diện của anatase bị biến dạngmạnh hơn, vì vậy mức đối xứng của hệ là thấp hơn Khoảng cách Ti-Ti tronganatase lớn hơn trong rutile nhưng khoảng cách Ti-O trong anatase lại ngắn hơn so

Trang 10

với rutile Trong cả ba dạng thù hình của TiO2 các bát diện được nối với nhau quađỉnh hoặc qua cạnh (Hình 1.2 và hình 1.3).

1.2.2 Tính chất hóa học của TiO 2

TiO2 trơ về mặt hóa học (nhất là dạng đã nung), không phản ứng với cácdung dịch axit vô cơ loãng, kiềm, amoniac, các axit hữu cơ TiO2 không tan đáng kểtrong dung dịch kiềm [3] Chúng bị phân hủy ở 20000C, ở nhiệt độ cao phản ứngvới cabonat và oxit kim loại Do đó, TiO2 dễ pha tạp các chất khác vào mạng tinhthể, đặc biệt ở dạng anatase, từ đó tạo ra các tính chất điện, từ, quang hoàn toàn mới

so với cấu trúc ban đầu

2TiO 2 Ti 2 O 3 + 1/2O 2

TiO 2 + MCO 3 → (MTi)O 3 + CO 2 , M = Ca,Mg, Sr, Ba

TiO 2 + MO → (MTiO 3 ) , M = Pb, Mn, Fe, Co

Titan dioxit bị axit H2SO4 đặc nóng, HF phân hủy

Titan dioxit bị hiđrô, cacbon monoxit, titan kim loại khử ở nhiệt độ cao

1.2.3 Tính chất xúc tác quang hoá của TiO 2 ở dạng anatase

TiO2 ở dạng anatase có hoạt tính quang hóa cao hơn hẳn các dạng tinh thểkhác, điều này được giải thích dựa vào cấu trúc vùng năng lượng Như chúng ta đã

Trang 11

biết, trong cấu trúc của chất rắn có 3 miền năng lượng là vùng hóa trị, vùng cấm vàvùng dẫn Tất cả các hiện tượng hóa học xảy ra đều là do sự dịch chuyển electrongiữa các miền với nhau.

Anatase có năng lượng vùng cấm là 3,2 eV, tương đương với năng lượng củamột lượng tử ánh sáng có bước sóng 388 nm Rutile có năng lượng vùng cấm là 3,0

eV tương đương với năng lượng của một lượng tử ánh sáng có bước sóng 413 nm.Giản đồ năng lượng của Anatase và Rutile được chỉ ra như hình vẽ

Hình 1.4 Giản đồ năng lượng của anatase và rutile.

Vùng hóa trị của Anatase và Rutile như chỉ ra trên giản đồ là xấp xỉ bằngnhau và cũng rất dương, điều này có nghĩa là chúng có khả năng oxy hóa mạnh Khiđược kích thích bởi ánh sáng có bước sóng thích hợp, các electron hóa trị sẽ tách rakhỏi liên kết, chuyển lên vùng dẫn, tạo ra một lỗ trống (hole) mang điện tích dương

ở vùng hóa trị Các electron khác có thể nhảy vào vị trí này để bão hòa điện tích tại

Trang 12

đó, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi Như vậy lỗtrống mang điện tích dương có thể tự do chuyển động trong vùng hóa trị.

Các lỗ trống này mang tính oxy hóa mạnh và có khả năng oxy hóa nướcthành OH•, cũng như một số gốc hữu cơ khác:

Vùng dẫn của rutile có giá trị gần với thế khử nước thành khí hidro (Eo=0,00V), trong khi với anatase thì cao hơn mức này một chút, đồng nghĩa với một thếkhử mạnh hơn Theo như giản đồ thì anatase có khả năng khử O2 thành , như vậy là

ở anatase các electron chuyển lên vùng dẫn có khả năng khử O2 thành

Trang 13

Quá trình xúc tác quang trên bề mặt chất bán dẫn TiO2 được khơi mào bằng

sự hấp thụ một photon với năng lượng bằng hoặc lớn hơn năng lượng vùng cấm Ecủa chất bán dẫn (với TiO2 là 3,2eV) tạo ra cặp electron – lỗ trống [32, 49]

(e-/h+)TiO2 → e- (TiO2) + h+ (TiO2)

Tiếp sau sự bức xạ, hạt TiO2 có thể hoạt động vừa như một trung tâm cho,vừa như một trung tâm nhận electron cho các phần tử xung quanh Như đã biết, cácelectron quang sinh có tính khử rất mạnh còn các lỗ trống quang sinh có tính oxihóa rất mạnh Chúng sẽ tham gia phản ứng với các chất hấp phụ tại bề mặt chất xúctác như H2O, ion OH-, các hợp chất hữu cơ hoặc oxi hòa tan Sự oxi hóa nước hay

OH- bị hấp phụ trên bề mặt các hạt TiO2 sẽ sinh ra gốc tự do hoạt động OH•, tácnhân chính của các quá trình oxi hóa nâng cao

Trang 14

Cần chú ý rằng, các electron quang sinh (e-) và các lỗ trống quang sinh (h+)

có xu hướng kết hợp lại với nhau, kèm theo sự giải phóng năng lượng dưới dạngnhiệt hoặc ánh sáng:

e-(TiO2) + h+(TiO2) → TiO2 + (nhiệt/ánh sáng)

Như vậy, sự khác biệt là dạng anatase có khả năng khử O2 thành •O2- cònrutile thì không Do đó, dạng anatase có khả năng nhận đồng thời oxi và hơi nước từkhông khí cùng với ánh sáng tử ngoại để phân hủy các hợp chất hữu cơ Tinh thểanatase dưới tác dụng của ánh sáng tử ngoại đóng vai trò như một cầu nối trungchuyển điện tử từ H2O sang O2, chuyển hai chất nay thành dạng •O2- và OH• là haidạng có hoạt tính oxi hóa cao, có khả năng phân hủy chất hữu cơ thành H2O và CO2.

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH QUANG XÚC TÁC

1.3.1 Sự tái kết hợp lỗ trống và electron quang sinh.

Quá trình tái kết hợp electron và lỗ trống quang sinh sẽ làm giảm khả năngsinh ra gốc OH•, do đó, sẽ làm giảm hiệu quả của quá trình quang xúc tác trên TiO2.Xác suất của quá trình tái kết hợp này là rất lớn, khoảng 99,9% Vì vậy, để nâng caohiệu quả của quá trình quang xúc tác, phải tìm cách hạn chế quá trình tái kết hợpnày Người ta đã áp dụng các biện pháp sau:

Sử dụng TiO2 dạng vi tinh thể (microcrystalline) hoặc dạng nano tinh thể(nanocrystalline) vì đối với vật liệu bán dẫn dạng thù hình, các khuyết tật trong cấutrúc sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho sự tái hợp (e-) và (h+) Giảm kích thước hạt TiO2hoặc sử dụng dưới dạng màng mỏng dưới 0,1 μm nhằm rút ngắn quãng đường dichuyển của (h+) (vì thông thường, quá trình tái kết hợp xảy ra trong quãng đường dichuyển các h+ ra bề mặt; kích thước hạt TiO2 hoặc màng TiO2 phải ngắn hơn quãngđường di chuyển ≤ 0,1 μm) [17,45]

Sử dụng TiO2 dạng anatase với tỷ lệ anatase/rutile thích hợp TiO2 có 3 dạngtinh thể là anatase, rutile và brookite (trong đó, dạng brookite không bền và ít phổ

Trang 15

biến) Khi sử dụng cho quá trình xúc tác quang hóa, chủ yếu sử dụng dạng anatase

vì hoạt tính xúc tác cao hơn hai dạng tinh thể còn lại [27, 50]

Cấy một số ion kim loại kích thích (doping) vào mạng tinh thể TiO2 có khảnăng bẫy các electron quang sinh, ngăn không cho tái kết hợp với lỗ trống quangsinh Một số ion kim loại thường được nghiên cứu để cấy vào mạng tinh thể TiO2 là

V5+, Mn3+, Ru3+, Fe3+, Cr3+, Ni3+ với nồng độ nhất định

Gắn một số cluster kim loại (như Pt, Au) lên trên nền TiO2 có tác dụng như hốchôn giữ electron Các electron quang sinh sẽ tích tụ vào các cluster kim loại, hạnchế được quá trình tái kết hợp, làm tăng thời gian sống của các lỗ trống quang sinh

để tạo ra gốc hydroxyl

Tách xa các electron quang sinh và lỗ trống quang sinh bằng cách đặt vào mộtthế hiệu dịch (bias) dương trên màng TiO2 nano, phủ trên kim loại làm một photoanot Lỗ trống quang sinh (h+) sẽ di chuyển ra bề mặt để tạo thành gốc hydroxyl trênphoto anot, còn electron quang sinh nhờ hiệu thế dòng điện theo dây dẫn nối mạchngoài với catot platin di chuyển theo chiều ngược lại về catot, thực hiện quá trìnhkhử ở đây và như vậy h+ và e- đã được tách riêng ra Quá trình này dược gọi là quá trình xúc tác điện quang (photoelectrocatalysis).

Đưa vào hệ những chất thu nhận không thuận nghịch các e- (irreversibleelectron acceptor - IEA) nhằm ngăn chặn e- trở về các lỗ điện tích dương trên vùnghóa trị, không cho tái hợp lại, kéo dài thời gian sống của các lỗ điện tích dương Cácchất này thường là O2, O2, H2O2 hoặc peoxydisunfat S2O82- - được gọi là những chất đón bắt hay chất bắt giữ electron (electron scavenger) [18]

Khi đưa thêm các IEA vào hệ, chúng sẽ lấy electron trên vùng dẫn e- như sau:

Các gốc supeoxit được tạo ra lại có thể phản ứng tiếp với nước tạo ra H2O2:

+ 2H2O H2O2 + 2 + O2

Trang 16

Như vậy các chất đón bắt electron không chỉ có tác dụng kéo dài thời giansống của h+ mà còn có thể tạo thêm những gốc hydroxyl mới trên cơ sở các phản

ứng với các e

1.3.2 pH dung dịch

pH có ảnh hưởng tới tính chất bề mặt chất bán dẫn sử dụng làm xúc tác dị thể

Ví dụ như TiO2 tại pH lớn hơn 6, bề mặt của chúng trở nên tích điện âm và ngược

lại khi pH nhỏ hơn 6 thì bề mặt của nó tích điện dương Khi pH ở khoảng xấp xỉ 6

(the point of zero charge), bề mặt của xúc tác gần như không tích điện Tốc độ củaphản ứng xúc tác quang có thể thay đổi một cách đáng kể do sự hấp phụ của các iontrên bề mặt xúc tác tại những pH khác nhau [4, 23, 33, 41, 42]

1.3.3 Nhiệt độ

Như hầu hết các phản ứng quang hóa, phản ứng xúc tác quang không quá nhậycảm với sự biến đổi của nhiệt độ Do vậy, các bước có khả năng phụ thuộc vàonhiệt độ, như quá trình hấp phụ, giải hấp,…không phải là các giai đoạn quyết địnhtốc độ phản ứng

1.3.4 Các tinh thể kim loại gắn trên xúc tác

Các kim loại quý như Pt, Au, Pd, Rh, Ni, Cu và Ag đã được đề cập rất nhiềutrong các nghiên cứu gân đây với khả năng tăng cường hoạt tính quang xúc tác củaTiO2 Nguyên nhân là do mức Fermi của các kim loại quý này thấp hơn của TiO2.Các electron được kích thích bởi photon có thể di chuyển từ dải dẫn đến các phân tửkim loại trên bề mặt của TiO2 trong khi các lỗ trống được tạo nên sau khi e dichuyển vẫn còn trên TiO2 Đây chính là nguyên nhân làm giảm rất nhiều khả năngtái kết hợp e- lỗ trống, kết quả là khả năng xúc tác tăng lên rõ rệt [26, 34, 36, 37] Các tác giả Anpo và Takeuchi đã sử dụng các tín hiệu cộng hưởng spin -electron (ESR) để khảo sát việc di chuyển của các electron từ TiO2 sang các hạt Pttrên bề mặt TiO2 Họ thấy rằng, các tín hiệu của Ti3+ tăng lên theo thời gian và giảmkhi hàm lượng Pt tăng lên [26] Đây là một ví dụ chỉ rõ sự tồn tại của việc electron

Trang 17

di chuyển từ TiO2 sang Pt Vì các electron tích tụ tăng dần trên các kim loại quý,

mức Fermi của các kim loại quý thay đổi và gần hơn với giá trị của dải dẫn củaTiO2 dẫn đến việc hình thành nhiều mức năng lượng âm hơn

Quá trình kim loại hóa trên bề mặt xúc chất bán dẫn có thể được sử dụng nhưmột phương pháp thu hồi kim loại (như Au, Pt, Pd, Rh và Ag) trong nước thải côngnghiệp hoặc dung dịch loãng Ứng dụng của xúc tác quang hóa bán dẫn để thu hồivàng từ hỗn hợp chứa Au, Cu, Ni hoặc Zn đã được thực hiện trên TiO2 trong hỗnhợp HCl/HNO3 (PH = 3 - 6) chiếu xạ UV hoặc là trên WO3 chiếu ánh sáng nhìnthấy

1.3.5 Pha tạp (doping) ion kim loại vào tinh thể TiO 2

Việc doping ion kim loại vào mạng tinh thể của TiO2 đã được các nhà khoahọc nghiên cứu rất nhiều Năm 1994, Choi và các cộng sự đã làm việc trên 21 ionkim loại khác nhau nhằm nghiên cứu khả năng tăng cường hoạt tính quang xúc táccủa TiO2 Kết quả cho thấy rằng việc doping với ion kim loại có thể mở rộng vùnghoạt động của TiO2 đến vùng phổ khả kiến Nguyên nhân là do các ion kim loại cóthể xâm nhập vào cấu trúc mạng của TiO2 và hình thành nên các mức năng lượng phatạp ở vùng cấm của TiO2 Hơn nữa, electron (hoặc lỗ trống) hoán chuyển giữa ionkim loại và TiO2 có thể giúp cho quá trình kết hợp electron - lỗ trống bị chậm lại Cáckết quả nghiên cứu cho thấy Cr, Ag, Cu, Fe và Mn là các kim loại cho kết quả tốtnhất [19]

Tuy nhiên, hiệu ứng này khá nhạy cảm với hàm lượng các ion kim loại đượcpha tạp Một số ion kim loại chuyển tiếp ngăn cản sự tái hợp electron và lỗ trống

1.3.6 Các chất diệt gốc hydroxyl

Perclorat và nitrat có ảnh hưởng rất nhỏ đến tốc độ oxi hóa quang hóa, nhưngsulfat, clorit và phophat bị hấp phụ mạnh bởi xúc tác và giảm tốc độ oxi hóa từ 20%đến 70% Các anion vô cơ có thể cạnh tranh với các chất hữu cơ vào vị trí hoạt động

Trang 18

hoặc có thể hình thành môi trường phân cực cao gần bề mặt hạt, chúng có thể tìmdiệt các gốc OH

OH• + CO32- → •CO3- + OH- (k= 4,2.108M-1s-1)

OH• + HCO3- → •HCO3-+ OH- (k= 1,5.107M-1s-1)

Nhìn chung, trong tất cả các phương pháp oxi hóa nâng cao, đều phải tìm cáchloại bỏ các ion vô cơ có vai trò tìm diệt gốc hydroxyl [6, 18, 31, 41]

1.4.1.Các phương pháp điều chế nano [40]

Vật liệu nano được chế tạo bằng hai phương pháp chính là phương pháp từ

trên xuống (Top - down) và phương pháp từ dưới lên (Bottom - up) như mô phỏng

ở hình 1.6 Trong đó, phương pháp từ trên xuống (Top - down) là phương pháp tạokích thước hạt nano từ những hạt có kích thước lớn hơn còn phương pháp từ dướilên là phương pháp hình thành hạt nano từ các phân tử

- Phương pháp từ trên xuống (Top - down): có ưu điểm là đơn giản, rẻ tiền và

hiệu quả có thể chế tạo được một lượng lớn vật liệu nhưng tính đồng nhất của vật liệukhông cao Trong phương pháp này, việc nghiền hoặc phá vỡ vật liệu từ kích thước tođến kích thước nhỏ dần bằng máy nghiền cho đến kích thước nano và cuối cùng tathu được vật liệu nano không chiều (hạt nano) Ngoài ra, tuỳ theo các mục đích khácngười ta có thể sử dụng các phương pháp tương tự để tạo ra vật liệu ở dạng lớp hoặcdạng có kích thước nano

- Phương pháp Bottom - up: là phương pháp tạo thành vật liệu nano từ các

nguyên tử hoặc ion Đây là phương pháp được quan tâm phát triển rất mạnh mẽ vìtính linh động và chất lượng sản phẩm cuối cùng Phần lớn các vật liệu nano mà

chúng ta dùng hiện nay đều đi từ phương pháp này Phương pháp từ dưới lên có thể

là phương pháp vật lý, hóa học hoặc kết hợp cả hai phương pháp hóa - lý

Trang 19

Hình 1 6 Sơ đồ mô phỏng hai phương pháp điều chế vật liệu kích thước nano

+ Phương pháp vật lý tạo ra vật liệu nano từ nguyên tử hoặc quá trình chuyểnpha Nguyên tử để hình thành vật liệu nano được tạo ra từ quá trình vật lý như: bốcbay nhiệt (đốt, phóng điện hồ quang ) , quá trình chuyển pha: vật liệu được nungnóng rồi làm nguội với tốc độ nhanh để thu được trạng thái vô định hình, xử lý nhiệt

để xảy ra chuyển pha vô định hình thành tinh thể (kết tinh) có kích thước nano

Phương pháp vật lý thường để tạo ra các hạt nano , màng nano

+ Phương pháp hóa học: là phương pháp tạo vật liệu nano từ các nguyên tửhoặc ion Phương pháp này rất đa dạng, tùy thuộc vào vật liệu cụ thể mà người tathay đổi kỹ thuật chế tạo vật liệu cho phù hợp Trong phương pháp này có thể hìnhthành vật liệu từ pha lỏng (kết tủa, sol - gel) và từ pha khí (nhiệt phân), hoặc cũng

có thể tạo ra các hạt nano, dây nano, ống nano, màng nano, bột nano

- Phương pháp kết hợp là việc tạo vật liệu nano dựa trên các nguyên tắc vật lý

và hóa học như điện phân, ngưng tụ từ pha khí

1.4.2 Các phương pháp điều chế nano TiO 2 được sử dụng trong luận văn

Để tổng hợp các vật liệu TiO2 có kích thước nanomet, người ta có thể dùng cảcác phương pháp điều chế nano như đã trình bày ở trên Trong phần này, chúng tôichỉ trình bày cơ sở lý thuyết của hai phương pháp được chúng tôi sử dụng để điều chếnano TiO2 đó là phương pháp sol - gel và phương pháp thủy nhiệt Sol - gel làphương pháp đã được áp dụng nhiều nhất do có ưu điểm là dễ điều khiển kích thước

Trang 20

hạt, sản phẩm thu được có độ đồng nhất và độ tinh khiết cao, bề mặt riêng lớn, phân

bố kích thước hạt hẹp Tuy nhiên, để tổng hợp được nano TiO2 thì nguồn nguyên liệuthường được dùng là các alkoxide titanium, giá thành rất cao Để tổng hợp được TiO2giá thành rẻ, thì phương pháp thuỷ nhiệt đi từ nguồn nguyên liệu titan oxit anataseTiO2.nH2O hiện là phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất

- Phương pháp sol - gel

Phương pháp sol – gel hiện nay là phương pháp hữu hiệu nhất để điều chế tạonhiều loại vật liệu kích thước nanomet dạng bột hoặc màng mỏng với cấu trúc thànhphần mong muốn Trong đó sol là một hệ keo chứa các cấu tử có kích thước từ 1 –

100 nm tồn tại trong dung dịch, rất đồng thể về mặt hóa học Gel là một hệ rắn,

“bán cứng” chứa dung môi trong mạng lưới Sau khi gel hóa tức là ngưng tụ sol đếnkhi độ nhớt của hệ tăng lên một cách đột ngột

Sol được tạo thành bằng phương pháp phân tán các tiểu phân rắn trong dungmôi hoặc đi từ phản ứng hóa học giữa chất đầu và dung môi mang bản chất phảnứng thủy phân

-MOR + H2O → - MOH + ROHGel được hình thành tiếp theo bằng phản ứng ngưng tụ:

-MOH + ROM - → - MOM - + ROHTùy vào dạng khung không gian của gel mà nó có thể là gel keo hoặc gelpolime Thông thường, sol keo sẽ cho gel keo còn sol polime sẽ cho gel polime.Trong phương pháp sol – gel, để điều chế được các hạt TiO2 cỡ nanomet, cácankoxit của Titan hoặc các muối Titanat vô cơ thường được sử dụng làm tiền chất.Bằng phương pháp sol – gel không những tổng hợp được oxit siêu mịn có tính đồngnhất và độ tinh khiết cao mà còn có thể tổng hợp được các tinh thể có kích thước cỡnanomet Phương pháp sol – gel trong những năm gần đây phát triển rất đa dạng, cóthể quy tụ vào ba hướng chính:

+ Thủy phân các muối

+ Theo con đường tạo phức

+ Thủy phân các ankoxit

Trang 21

Các ankoxit của Titan có công thức tổng quát là Ti(OR)4 với gốc R thường làetyl (C2H5-), isopropyl (i-C3H7-), n – butyl (n-C4H9-) phản ứng rất mạnh với nước.

Ti(OR)4 + 4H2O → Ti(OH)4 + 4ROHThực tế phản ứng này xảy ra phức tạp hơn nhiều Nó bao gồm hai quá trìnhchính là thủy phân và ngưng tụ:

♦ Quá trình thủy phân xảy ra theo cơ chế ái nhân SN:

- Giai đoạn 1: Cộng ái nhân (AN), các tác nhân ái nhân (nucleophile) tấncông vào nhân Ti4+ của ankoxit

- Giai đoạn 2: Hình thành trạng thái chuyển tiếp

- Giai đoạn 3: Vận chuyển proton từ phân tử H2O sang nhóm OR

- Giai đoạn 4: Giai đoạn loại rượu ROH

♦ Quá trình ngưng tụ:

Quá trình này rất phức tạp, xảy ra ngay khi sinh ra nhóm hydroxo Tùythuộc vào điều kiện thực nghiệm có thể xảy ra 3 cơ chế cạnh tranh nhau(alkoxolation, oxolation và olation)

Alkolation: Phản ứng tạo thành cầu nối oxo bằng cách loại phân tử rượu Về

cơ bản, quá trình này giống quá trình thủy phân

Oxolation: Cơ chế này giống cơ chế alkolation nhưng khác ở chỗ là R thaythế bằng H

Olation: Cơ chế này xảy ra khi trong ankoxit, sự bão hòa phối trí chưa đượcthỏa mãn Cơ chế này hình thành những cầu nối hydroxo do loại phân tử dung môi.Dung môi có thể là H2O, ROH tùy thuộc vào nồng độ của H2O có trong môitrường Như vậy, bốn phản ứng thủy phân, alkoxolation, oxolation, olation tham giavào sự biến đổi ankoxit thành khung oxit do đó cấu trúc, hình thái học của các oxitthu được phụ thuộc rất nhiều vào sự đóng góp tương đối của mỗi phản ứng Sựđóng góp này có thể tối ưu hóa bằng các điều kiện thực nghiệm liên quan đến như:thông số nội (bản chất của kim loại và các nhóm alkyl, cấu trúc của ankoxit), thông

số ngoại (tỷ số thủy phân r= H2O/ankoxit, xúc tác, nồng độ, dung môi và nhiệt độ)

Các phản ứng thủy phân ankoxit có thể tiến hành theo các bước sau:

Trang 22

-Ti-O-R + H2O → -Ti-O-H + ROH-Ti-O-H + -Ti-O-H → -Ti-O-Ti- + H2O-Ti-O-R + -Ti-O-H → -Ti-O-Ti- + ROHThời gian phản ứng thường kéo dài trong khoảng 2 – 10 giờ Các nghiên cứuđều chỉ ra rằng sản phẩm trung gian thu được từ quá trình thủy phân các ankoxitthường ở dạng vô định hình hoặc các dạng bột ở pha anatase với kích thước hạt sơcấp trong khoảng 4 – 6 nm.

Trong số các ankoxit được sử dụng, Titan tetraisopropoxit (TiOT) được dùngnhiều nhất và cho sản phẩm tốt nhất

* Sơ đồ tổng quát điều chế bột TiO 2 từ các ankoxit bằng phương pháp sol – gel:

- Phương pháp thủy nhiệt (Hydrothermal treatment)

Phương pháp thuỷ nhiệt đi từ nguồn nguyên liệu titan oxit anatase TiO2.nH2O

là phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất đang được áp dụng hiện nay Phương phápthủy nhiệt tức là phương pháp dùng nước dưới áp suất cao và nhiệt độ cao hơn điểmsôi bình thường Lúc đó, nước thực hiện hai chức năng: thứ nhất vì nó ở trạng tháihơi nên đóng chức năng môi trường truyền áp suất, thứ hai nó đóng vai trò như mộtdung môi có thể hoà tan một phần chất phản ứng dưới áp suất cao, do đó phản ứngđược thực hiện trong pha lỏng hoặc có sự tham gia một phần của pha lỏng hoặc phahơi Thông thường, áp suất pha khí ở điểm tới hạn chưa đủ để thực hiện quá trìnhnày Vì vậy, người ta thường chọn áp suất cao hơn áp suất hơi cân bằng của nước đểtăng hiệu quả của quá trình điều chế Nhiệt độ, áp suất hơi nước và thời gian phảnứng là các nhân tố vô cùng quan trọng quyết định hiệu quả của phương pháp thủynhiệt, ngoài ra cũng có thể sử dụng các dung môi phân cực như NH3, dung dịch nướcchứa HF, các axit, bazơ khác để điều chỉnh pH hoặc các dung môi không phân cực để

mở rộng khả năng ứng dụng của phương pháp tổng hợp này Tuy nhiên, cách làm này

Trang 23

có một nhược điểm là dễ làm cho nồi phản ứng bị nhiễm độc và ăn mòn Thông thườngđối với mỗi loại tiền chất, người ta thường đặt sẵn các thông số vật lý và hóa học khácnhau trong suốt quá trình điều chế Điều này tương đối phức tạp do các thông số này bịảnh hưởng lẫn nhau và sự ảnh hưởng qua lại này vẫn chưa được giải quyết một cáchthoả đáng [8, 9].

Thủy nhiệt là một trong những phương pháp tốt để điều chế bột TiO2 tinhkhiết với kích thước nhỏ [12, 17, 20, 28, 33, 45] Phương pháp này có ưu điểm sovới các phương pháp khác ở chỗ:

- Là phương pháp tổng hợp ở nhiệt độ tương đối thấp, không gây hại môitrường vì phản ứng được tiến hành trong một hệ kín

- Bột sản phẩm được hình thành trực tiếp từ dung dịch, sản phẩm có thể thutheo từng mẻ hoặc trong các quá trình liên tục

- Có thể điều chỉnh được kích thước, hình dáng, thành phần hóa học của hạtbằng điều chỉnh nhiệt độ, hóa chất ban đầu, cách thức thực hiện phản ứng

1.5 BIẾN TÍNH NANO TiO 2

Trong các chất bán dẫn có thể nói TiO2 là một chất xúc tác quang hóa triển vọng,

đã và đang được nghiên cứu mạnh mẽ để ứng dụng vào những vấn đề quan trọng củamôi trường là phân hủy các hợp chất hữu cơ, diệt khuẩn, sơn chống mốc, bám bẩn,…dưới tác động của ánh sáng mặt trời Tuy nhiên, một yếu tố hạn chế của chất bán dẫnTiO2 là có năng lượng vùng cấm cao Năng lượng vùng cấm của rutile là 3,0 eV; củaanatase là 3,2 eV nên chỉ có tia UV với < 388 nm là có khả năng kích hoạt nano TiO2anatase để tạo ra các cặp e-

cb/h+

vb [30, 43, 44] Trong khi đó, ánh sáng mặt trời có hàmlượng tia UV chỉ chiếm 3-5% nên việc ứng dụng khả năng xúc tác quang hóa TiO2 sửdụng nguồn năng lượng sạch là ánh sáng mặt trời hiện vẫn chưa được ứng dụng rộngrãi

Một trong những giải pháp được đưa ra để mở rộng khả năng xúc tác quanghoá của TiO2 là việc sử dụng kỹ thuật doping, tức là đưa các kim loại chuyển tiếpnhư (Fe, Cr, Mn, Pt,…) hoặc phi kim (như N, C, S,…) vào trong mạng lưới tinh thể

Trang 24

dài ở vùng ánh sáng khả kiến (bước sóng 400-600 nm) Đây là phương pháp hiện

đang thu hút được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học [27].

Hình 1.7 Doping chất bán dẫn làm giảm năng lượng vùng cấm

Ashahi đã phát hiện hiện tượng chuyển dịch mạnh (tận 540 nm) của dải hấpthụ ánh sáng của TiO2 biến tính bởi N Các tác giả giải thích kết quả này có được là

do vùng cấm hẹp lại do có sự pha trộn các trạng thái p của nguyên tử N pha tạp vớitrạng thái 2p của nguyên tử O trong vùng hóa trị của TiO2.

Khi thực hiện doping các kim loại chuyển tiếp, một phần Ti4+ trong khungmạng được thay thế bởi cation kim loại chuyển tiếp và khi doping với các phi kim,một phần O2- được thế bởi các anion phi kim Đặc biệt khi doping với các phi kimngoài việc O2- được thay thế bởi các anion phi kim, còn có thể tạo ra các tâm khuyếttật (defect sites) có khả năng xúc tác quang hóa cao [10]

Thật vậy, khi doping TiO2 với kim loại chuyển tiếp (V, Cr, Fe ) và dopingTiO2 với á kim (N) ta có thể nhận thấy sự dịch chuyển bước sóng từ vùng ánh sáng

tử ngoại (bước sóng ~ 380 nm) sang vùng ánh sáng khả kiến (bước sóng 400 – 500nm) [10]

Để tăng cường hoạt tính quang xúc tác của TiO2 trong vùng ánh sáng trôngthấy, xúc tác quang hoá TiO2 nano được tổng hợp bằng các phương pháp mới nhưsol - gel thuỷ nhiệt trong môi trường axit, đồng thời biến tính nano TiO2 (doping)với kim loại chuyển tiếp và phi kim bằng phương pháp trực tiếp (đưa vào trong gel)

và gián tiếp (đưa vào sau tổng hợp) Biến tính nano TiO2 với các kim loại chuyểntiếp như Cr, V, Fe bằng phương pháp đưa các muối trực tiếp vào trong gel sau đókết tinh thủy nhiệt tạo ra vật liệu TiO2 nano biến tính [21, 22, 24, 38, 39, 46, 47]

Trang 25

Biến tính TiO2 nano với các kim loại chuyển tiếp bằng phương pháp sau tổng hợp:đưa kim loại chuyển tiếp (Fe) vào khung mạng TiO2 bằng phương pháp cấy nguyên

tử (atomic implantation) - FeCl3 được hoá hơi ở nhiệt độ cao và được cấy vàokhung mạng của TiO2 [22, 46, 50] Biến tính nano TiO2 bởi các phi kim như N, F,

S, Cl, P,…bằng phương pháp biến tính đưa vào gel sau tổng hợp (post synthesis),trộn cơ học nano TiO2 đã tổng hợp với các hợp chất chứa N, F, Cl, P và xử lý ởnhiệt độ cao khoảng 500oC [13-15, 28, 35, 47]

1.6 ỨNG DỤNG CỦA NANO TiO 2 VÀ NANO TiO 2 BIẾN TÍNH

TiO2 là một vật liệu bán dẫn vùng cấm rộng, trong suốt, chiết suất cao, từ lâu

đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp như xử lý các hợp chấtđộc hại trong pha khí (xử lý khí NOx, CO; xử lý các dung môi hữu cơ dễ bay hơi

độc hại như toluen, xylen,… trong các nhà máy sản xuất và sử dụng sơn), pha lỏng

(các hợp chất hữu cơ độc trong nước thải từ công nghiệp dệt nhuộm, giấy, mạ, in,

…) và trong pha rắn (các chất bảo quản thực vật, chất diệt sâu bọ như DDT trongđất) Ngoài ra nano TiO2 được áp dụng để đưa vào sơn tạo sản phẩm sơn cao cấp,

có khả năng chống mốc, diệt khuẩn,…[16]

Trên thế giới, công nghệ nano đang là một cuộc cách mạng sôi động trong đónano TiO2 là một hướng nghiên cứu rất triển vọng Nhiều sản phẩm nano TiO2 đãđược thương mại hoá như: Vật liệu nano TiO2 (Mỹ, Nhật Bản,…), máy làm sạchkhông khí khỏi nấm mốc, vi khuẩn, virus và khử mùi trong bệnh viện, văn phòng,nhà ở (Mỹ); khẩu trang nano phòng chống lây nhiễm qua đường hô hấp (Nhật Bản);vải tự làm sạch, giấy khử mùi diệt vi khuẩn (Đức, Úc), gạch lát đường phân huỷ khíthải xe hơi (Hà Lan); pin mặt trời (Thụy Sỹ, Mỹ,…) [48]

Ở Việt Nam, vật liệu nano TiO2 đã được nhiều nhà khoa học quan tâm với nhữngthành công đáng khích lệ: Nhiều công trình về vật liệu nano TiO2 đã được công bố trong

và ngoài nước Tuy nhiên, các kết quả này thiên về nghiên cứu cơ bản Việc đưa vàoứng dụng thực tiễn còn bị hạn chế do cần phải vượt qua rào cản về hiệu quả kinh tế,khoa học và công nghệ

Trang 26

Một trong những khó khăn gặp phải khi ứng dụng TiO2 làm chất quang xúc táctrong thực tế là việc tách chất xúc tác đưa khỏi môi trường phản ứng rất khó khăn(thường phải dùng biện pháp ly tâm) vì TiO2 ở dạng nano rất nhỏ không thể gạn lọcbình thường được Để khắc phục nhược điểm này, gần đây các nhà khoa học đã vàđang nghiên cứu đưa bột xúc tác TiO2 nano lên bề mặt của các chất mang khác nhaunhư SiO2, than hoạt tính, tro trấu, bề mặt thủy tinh, thép, vải,…Trong số các chấtmang đó thì than hoạt tính là một chất mang có ưu điểm vượt trội vì nó có diện tích

bề mặt lớn, đồng thời còn có khả năng hấp phụ lớn các tạp chất có trong môi trườngtạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang xúc tác của TiO2

1.7 THAN HOẠT TÍNH VÀ CẤU TRÚC XỐP CỦA BỀ MẶT THAN HOẠT TÍNH

1.7.1 Than hoạt tính [52,54]

Có rất nhiều định nghĩa về than hoạt tính, tuy nhiên có thể nói chung rằng,than hoạt tính là một dạng của cacbon đã được xử lý để mang lại một cấu trúc rấtxốp, do đó có diện tích bề mặt rất lớn

Than hoạt tính là chất hấp phụ quí và linh hoạt, được sử dụng rộng rãi chonhiều mục đích như loại bỏ màu, mùi, vị không mong muốn và các tạp chất hữu cơ,

vô cơ trong nước thải công nghiệp và sinh hoạt, thu hồi dung môi, làm sạch khôngkhí, trong kiểm soát ô nhiễm không khí từ khí thải công nghiệp và khí thải động cơ,trong làm sạch nhiều hóa chất, dược phẩm, sản phẩm thực phẩm và nhiều ứng dụngtrong pha khí Chúng được sử dụng ngày càng nhiều trong lĩnh vực luyện kim đểthu hồi vàng, bạc, và các kim loại khác, làm chất mang xúc tác Chúng cũng đượcbiết đến trong nhiều ứng dụng trong y học, được sử dụng để loại bỏ các độc tố và vikhuẩn của một số bệnh nhất định

Cacbon là thành phần chủ yếu của than hoạt tính với hàm lượng khoảng 85 –95% Bên cạnh đó than hoạt tính còn chứa các nguyên tố khác như hidro, nitơ, lưuhuỳnh và oxi Các nguyên tử khác loại này được tạo ra từ nguồn nguyên liệu banđầu hoặc liên kết với cacbon trong suốt quá trình hoạt hóa và các quá trình khác

Trang 27

Thành phần các nguyên tố trong than hoạt tính thường là 88% C, 0,5% H, 0,5% N,1%S, 6 – 7% O Than hoạt tính thường có diện tích bề mặt nằm trong khoảng 1000đến 2500m2/g

1.7.2 Cấu trúc xốp của bề mặt than hoạt tính

Than hoạt tính với sự sắp xếp ngẫu nhiên của các vi tinh thể và với liên kếtngang bền giữa chúng, làm cho than hoạt tính có một cấu trúc lỗ xốp khá phát triển.Chúng có tỷ trọng tương đối thấp (nhỏ hơn 2g/cm3) và mức độ graphit hóa thấp

Lỗ xốp của than hoạt tính có 3 loại bao gồm lỗ nhỏ, lỗ trung và lỗ lớn Mỗinhóm này thể hiện một vai trò nhất định trong quá trình hấp phụ Lỗ nhỏ chiếm diệntích bề mặt và thể tích lớn do đó đóng góp lớn vào khả năng hấp phụ của than hoạttính, miễn là kích thước phân tử của chất bị hấp phụ không quá lớn để đi vào lỗ nhỏ

Lỗ nhỏ được lấp đầy ở áp suất hơi tương đối thấp trước khi bắt đầu ngưng tụ maoquản Lỗ trung được lấp đầy ở áp suất hơi tương đối cao với sự xảy ra ngưng tụ maoquản Lỗ lớn có thể cho phân tử chất bị hấp phụ di chuyển nhanh tới lỗ nhỏ hơn

Trong luận văn này, tôi sử dụng than hoạt tính Trà Bắc của Việt Nam làmchất mang Than hoạt tính của công ty cổ phần Trà Bắc được sản xuất từ than sọdừa dạng hạt, theo phương pháp vật lý, hoạt hóa bằng hơi nước quá nhiệt từ 850oCđến 950 oC Chất lượng sản phẩm được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình hoạt hóa.Than hoạt tính sọ dừa được sử dụng chủ yếu để hấp phụ chất khí và chất lỏng trongcác ngành công nghiệp: Dầu mỏ, hóa chất, Y dược, luyện vàng, chế biến thực phẩm,lọc nước, xử lý khí bị ô nhiễm…;có tác dụng tinh chế, phân ly, khử mùi vị lạ, thuhồi các kim loại quý, làm chất xúc tác, mặt nạ phòng độc, đầu lọc thuốc lá…

Đặc tính kĩ thuật của tha hoạt tính Trà Bắc [53]:

Tỷ trọng: 520-550 kg/m3

Hình dạng: Dạng hạt màu đen, hạt không định hình, khô, rời, có góc cạnh

Cỡ hạt: 0,075 mm đến 4,75 mm

Trang 28

Bảng 1.2 Thông số kĩ thuật của than hoạt tính Trà Bắc

1.8.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

Kĩ thuật nhiễu xạ tia X cung cấp một số thông tin chủ yếu đối với mẫu vật liệunghiên cứu như: Sự tồn tại các pha, kích thước mạng tinh thể,…

Tia X dùng trong nghiên cứu cấu

trúc có bước sóng lAo-50Ao Khi chiếu

một chùm tia X đơn sắc lên hạt tinh thể,

ứng với một bước sóng, tia X sẽ phản xạ

Trang 29

Δ = 2AC= 2dsinθKhi các tia này giao thoa với nhau ta sẽ thu được cực đại nhiễu xạ thỏa mãnphương trình Vulf-Bragg: Δ = nλ = 2dsin

Trong đó :

d: Khoảng cách giữa hai mặt mạng song song

θ: Góc giữa tia X và mặt phẳng pháp tuyến

Bsize(radian): bề rộng tại một nửa chiều cao của pic cực đại

θB: là góc BraggPhương pháp XRD cũng có một số nhược điểm:

- Không phát hiện được các chất có hàm lượng nhỏ

- Tuỳ theo bản chất và mạng lưới không gian mà độ nhạy phân tíchđịnh tính dao động trong khoảng 1-30%

1.8.2 Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM)

Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua là một phương pháp nghiên cứu vi cấutrúc vật rắn, sử dụng chùm tia điện tử có năng lượng cao chiếu xuyên qua mẫu vậtrắn mỏng và sử dụng các thấu kính để tạo ảnh với độ phóng đại lớn (có thể lên tớihàng triệu lần)

Trang 30

Ảnh TEM vẫn được tạo theo các cơ chế quang học, nhưng tính chất ảnh phụthuộc vào từng chế độ ghi ảnh Điểm khác cơ bản của ảnh TEM so với ảnh quanghọc là độ tương phản khác so với ảnh trong kính hiển vi quang học và các loại kínhhiển vi khác Nếu như ảnh trong kính hiển vi quang học có độ tương phản chủ yếuđem lại do hiệu ứng hấp thụ ánh sáng thì độ tương phản của ảnh TEM lại chủ yếuxuất phát từ khả năng tán xạ điện tử

1.8.3 Phương pháp phổ hấp thụ tử ngoại và khả kiến (Ultra Violet - visible, Uv-vis).

Phương pháp phổ hấp thụ tử ngoại và khả kiến còn được gọi là phương phápquang phổ hấp thụ điện tử hay phổ phản xạ khuếch tán, là một trong những phươngpháp phân tích dựa trên sự hấp thụ điện từ

Phương pháp này dựa trên bước nhảy của electron từ obitan có mức nănglượng thấp lên obitan có mức năng lượng cao khi bị kích thích bằng các tia bức xạtrong vùng quang phổ tử ngoại và khả kiến có bước sóng nằm trong khoảng 200 –

800 nm

Phổ phản xạ khuếch tán là một phương pháp quan trọng dùng để xác định Ebgcủa vật liệu Sự chênh lệch về năng lượng giữa mức năng lượng thấp nhất của vùnghóa trị và năng lượng cao nhất của vùng dẫn được gọi là khe năng lượng vùng cấm(Ebg) Ebg của vật liệu cách điện thường lớn (>4 eV), đối với vật liệu bán dẫn Ebg nhỏhơn (<3 eV) Khi bị kích thích bởi một photon có năng lượng đủ lớn, electron sẽnhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn

Ebg được tính bằng công thức:

Ebg = 1240/λ (eV)Trong một số phân tử hay nguyên tử, các photon của ánh sáng UV - Vis có đủnăng lượng gây ra sự chuyển dịch của các electron giữa các mức năng lượng Bướcsóng của ánh sáng hấp thụ là bước sóng có đủ năng lượng đòi hỏi để tạo ra bướcnhảy của một điện tử từ mức năng lượng thấp đến mức năng lượng cao hơn Cácbước nhảy này tạo ra dải hấp thụ tại các bước sóng đặc trưng ở các mức năng lượngcủa các dạng hấp thụ

Trang 31

Đây là phương pháp dùng để xác định các chất khác nhau và trạng thái tồn tạicủa chúng.

1.8.4 Phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX- Energy-dispersive X-ray

spectroscopy)

Phổ tán sắc năng lượng tia X là kỹ thuật phân tích thành phần hóa học củavật rắn dựa vào việc ghi lại phổ tia X phát ra từ vật rắn do tương tác với các bức xạ(mà chủ yếu là chùm điện tử có năng lượng cao trong các kính hiển vi điện tử) Khichùm điện tử có năng lượng lớn được chiếu vào vật rắn, nó sẽ đâm xuyên vàonguyên tử vật rắn và tương tác với các lớp điện tử bên trong của nguyên tử Tươngtác này dẫn đến việc tạo ra các tia X có bước sóng đặc trưng tỷ lệ với nguyên tử số(Z) của nguyên tử theo định luật Mosley

Có nghĩa là tần số tia X phát ra đặc trưng với nguyên tử của mỗi chất có mặt trongchất rắn Việc ghi nhận phổ tia X phát ra từ vật rắn sẽ cho thông tin về nguyên tốhóa học có mặt trong mẫu đồng thời cho các thông tin về tỉ phần các nguyên tố này

Độ chính xác của EDX ở cấp độ một vài phần trăm (thông thường ghi nhận được sự

có mặt của các nguyên tố có tỉ phần cỡ 3-5% trở lên)

Trang 32

CHƯƠNG 2 - THỰC NGHIỆM 2.1 DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT

2.1.1 Dụng cụ

- Cốc thuỷ tinh 250 ml và 500 ml, bình nón, đũa thuỷ tinh, pipet, chày và cối sứ

- Máy khuấy từ

- Tủ sấy: Model 1430D, Đức

- Máy đo pH Metler: Model XT 1200C, Thụy Sỹ

- Cân phân tích: AdventurerTM OHAUS, Thụy Sỹ

- Máy đo quang : Visble spectrophotometer NOVA SpecđII

- Dung dịch A: 6 ml TIOT hòa tan vào 34 ml etanol khan;

- Dung dịch B: 17 ml etanol khan, 0,4 ml axit nitric đặc (68%), 1,6 ml nướccất;

- Sau đó, nhỏ từ từ từng giọt dung dịch A vào dung dịch B đồng thời khấymạnh ở nhiệt độ thường Hỗn hợp dung dịch tiếp tục được khuấy ở nhiệt độ phòngtrong 2 giờ cho đến khi thu được dạng sol trong suốt Sol sau đó được làm già đi ởnhiệt độ thường trong 2 ngày sẽ thu được gel Gel được sấy khô ở 800C trong 12

Trang 33

giờ, rồi chuyển sang nung trong 5 giờ ở 3000C Tiếp theo, mẫu được nghiền lại thậtmịn bằng cối mã não, ta thu được vật liệu TiO2.

% mol của Fe (III) so với titan theo lý thuyết)

- Sau đó, nhỏ từ từ từng giọt dung dịch A vào dung dịch B đồng thời khuấymạnh ở nhiệt độ thường Hỗn hợp thu được được khuấy ở nhiệt độ phòng trong 2giờ cho đến khi thu được dạng sol trong suốt Sol sau đó được làm già đi ở nhiệt độthường trong 2 ngày sẽ thu được gel Gel được chuyển vào bình teflon dung tích100ml và được giữ trong 10 giờ ở 1800C để kết tinh (áp suất trong bình teflonkhoảng 1.5MPa) Sau khi thủy nhiệt, chất rắn thu được được rửa sạch bằng nước cấtrồi sấy khô ở 1000C trong 24 giờ Cuối cùng, mẫu được nghiền lại thật mịn bằngcối mã não, ta thu được vật liệu xFe-C-TiO2

2.2.3 Vật liệu 0,57%Fe- TiO 2

- Dung dịch A: 6ml TIOT hòa tan vào 34ml etanol khan;

- Dung dịch B: 17 ml etanol khan, 0,4ml axit nitric đặc (68%), 1,6 ml nướccất và lượng Fe(NO3) 3.9H2O xác định (ứng với lượng Fe(III) chiếm 0,57% mol sovới Ti);

- Sau đó, nhỏ từ từ từng giọt dung dịch A vào dung dịch B đồng thời khuấymạnh ở nhiệt độ thường Hỗn hợp thu được được khuấy ở nhiệt độ phòng trong 2

Trang 34

giờ cho đến khi thu được dạng sol trong suốt Sol sau đó được làm già đi ở nhiệt độthường trong 2 ngày sẽ thu được gel Gel được sấy khô ở 800C trong 12 giờ, rồichuyển sang nung trong 5 giờ ở 3000C Tiếp theo, mẫu được nghiền lại thật mịnbằng cối mã não, ta thu được vật liệu 0,57%Fe - TiO2

2.2.4 Vật liệu C- TiO 2

- Dung dịch A: 6 ml TIOT hòa tan vào 34 ml etanol khan;

- Dung dịch B: 17 ml etanol khan, 0,4 ml axit nitric đặc (68%), 1,6 ml nướccất;

- Sau đó, nhỏ từ từ từng giọt dung dịch A vào dung dịch B đồng thời khuấymạnh ở nhiệt độ thường Hỗn hợp thu được được khuấy ở nhiệt độ phòng trong 2giờ cho đến khi thu được dạng sol trong suốt Sol sau đó được làm già đi ở nhiệt độthường trong 2 ngày sẽ thu được gel Gel được chuyển vào bình teflon dung tích

100 mL và được giữ trong 10 giờ ở 180oC để kết tinh (áp suất trong bình teflonkhoảng 1.5MPa) Sau khi thủy nhiệt, chất rắn thu được được rửa sạch bằng nước cấtrồi sấy khô ở 1000C trong 24 giờ Cuối cùng, mẫu được nghiền lại thật mịn bằngcối mã não, ta thu được vật liệu C - TiO2

2.2.5 Vật liệu 0,57%Fe-C-TiO 2 được mang trên than hoạt tính đã được hoạt hóa bởi HNO 3 (0,57%Fe-C-TiO 2 – AC)

a/ Quy trình hoạt hóa than hoạt tính bằng HNO 3

- Cho 10g than hoạt tính (AC) kích thước từ 0,5 đến 1,8 mm vào 100 mlnước cất, khuấy đều và đun sôi trong 2h để loại bỏ các khí như O2, CO2, SO2 khỏithan hoạt tính

- Sau đó gạn lấy than, cho vào 100 ml dung dịch HNO3 6M khuấy đều vàđun nóng nhẹ trong vòng 2h Việc dùng dung dịch HNO3 để oxi hóa than có thể làm

Trang 35

tăng số lượng nhóm chức chứa oxi, nhóm chức axit làm tăng khả năng hấp phụ củathan.

- Tiếp đó, than hoạt tính được rửa lại bằng nước đến khi thu được pH trungtính

- Cuối cùng, than hoạt tính đem sấy khô ở 1000C trong vòng 3h

b/ Quy trình đưa vật liệu 0,57%Fe-C-TiO 2 lên than hoạt tính đã được hoạt hóa

- Dung dịch A: 6 ml TIOT hòa tan vào 34 ml etanol khan;

- Dung dịch B: 17 ml etanol khan, 0,4 ml axit nitric đặc (68%), 1,6 ml nướccất, lượng Fe(NO3) 3.9H2O xác định (ứng với lượng Fe(III) chiếm 0,57% mol so vớiTi) và 5 gam than hoạt tính đã được hoạt hóa bề mặt bởi HNO3 6M;

- Sau đó, nhỏ từ từ từng giọt dung dịch A vào dung dịch B đồng thời khuấymạnh ở nhiệt độ thường Hỗn hợp thu được được khuấy ở nhiệt độ phòng trong 18giờ, thu được dạng sol trong suốt Sol sau đó được làm già đi ở nhiệt độ thườngtrong 2 ngày sẽ thu được gel Gel được chuyển vào bình teflon dung tích 100 mL vàđược giữ trong 10 giờ ở 180oC để kết tinh (áp suất trong bình teflon khoảng1.5MPa) Sau khi thủy nhiệt, chất rắn thu được được rửa sạch bằng nước cất rồi sấykhô ở 1000C trong 24 giờ

2.3 ĐẶC TRƯNG VẬT LIỆU

Vật liệu nano TiO2 và nano TiO2 được biến tính được đặc trưng bởi phươngpháp nhiễu xạ tia X (XRD) ghi trên máy AXS Brucker D8 Advanced, Germany, tiabức xạ CuKα bước sóng λ = 0,15404nm, điện áp 30kV, I = 25 mA, góc quét 2θ (từ0.5° đến 50°), tốc độ quét 0,2 độ/phút tại Khoa hóa học – Đại học khoa học tự nhiên– ĐHQGHN

Phổ UV-Vis rắn ghi trên máy Jasco, V670 tại Khoa vật lí – Đại học sư phạm

Hà Nội

Ngày đăng: 18/06/2016, 21:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Kim Long, Hoàng Nhuận dịch (2001), Tính chất vật lý, hóa học các chất vô cơ, R.A.Lidin, V.A. Molosco, L.L. Andreeva, NXBKH&amp;KT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất vật lý, hóa học các chấtvô cơ
Tác giả: Lê Kim Long, Hoàng Nhuận dịch
Nhà XB: NXBKH&KT Hà Nội
Năm: 2001
5. Nguyễn Hữu Phú (1999), Vật liệu vô cơ mao quản trong hấp phụ và xúc tác, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu vô cơ mao quản trong hấp phụ và xúc tác
Tác giả: Nguyễn Hữu Phú
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1999
6. Trần Mạnh Trí (2005), “Sử dụng năng lượng mặt trời thực hiện quá trình quang xúc tác trên TiO 2 để xử lý nước và nước thải công nghiệp”, Tạp chí khoa học và công nghệ, tập 43, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng năng lượng mặt trời thực hiện quá trìnhquang xúc tác trên TiO2 để xử lý nước và nước thải công nghiệp
Tác giả: Trần Mạnh Trí
Năm: 2005
7. Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Văn Hòa, Đặng Tuyết Phương (2007), “Tổng hợp và ứng dụng xúc tác quang hóa kích thước nanomet trong xử lý môi trường”, Báo cáo tổng kết đề tài độc lập nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp vàứng dụng xúc tác quang hóa kích thước nanomet trong xử lý môi trường
Tác giả: Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Văn Hòa, Đặng Tuyết Phương
Năm: 2007
10. Nghiêm Bá Xuân, Mai Tuyên (2006), “Nghiên cứu cơ chế và các điều kiện chế tạo vật liệu nano TiO 2 dạng anatase dùng làm xúc tác quang hóa”, Tạp chí khoa học và ứng dụng, Số 6 (54) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ chế và các điều kiệnchế tạo vật liệu nano TiO2 dạng anatase dùng làm xúc tác quang hóa
Tác giả: Nghiêm Bá Xuân, Mai Tuyên
Năm: 2006
11. TS. Nguyễn Thị Bích Lộc (2009), “Nghiên cứu chế tạo TiO 2 trên vật liệu mang”, Đề tài khoa học mã số QG.07.10, Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo TiO2 trên vật liệumang
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Bích Lộc
Năm: 2009
12. M. Anderson, L.Osterlund, S. Ljungstrom, A. Palmqvist (2002),“Preparation of nanosize anatase and rutile TiO 2 by hydrothermal treament of micro-emulsions and their activity for photocatalytic wet oxidation of phenol”, J. Phys. Chem. B, 106, pp. 10674-10679 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preparation of nanosize anatase and rutile TiO2 by hydrothermal treamentof micro-emulsions and their activity for photocatalytic wet oxidation ofphenol
Tác giả: M. Anderson, L.Osterlund, S. Ljungstrom, A. Palmqvist
Năm: 2002
13. Yanhui Ao, Jingjing Xu, Degang Fu, Chunwei Yuan (2008), “A simple method to prepare N-doped titania hollow spheres with high photocatalytic activity under visible light”, Journal of Hazardous Materials, Accepted Manuscript Sách, tạp chí
Tiêu đề: A simplemethod to prepare N-doped titania hollow spheres with high photocatalyticactivity under visible light
Tác giả: Yanhui Ao, Jingjing Xu, Degang Fu, Chunwei Yuan
Năm: 2008
14. Yanhui Ao, Jingjing Xu, Songhe Zhang, Degang Fu (2010), “A one-pot method to prepare N-doped titania hollow spheres with high photocatalytic activity under visible light”, Applied Surface Science, 256, pp. 2754-2758 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A one-potmethod to prepare N-doped titania hollow spheres with high photocatalyticactivity under visible light
Tác giả: Yanhui Ao, Jingjing Xu, Songhe Zhang, Degang Fu
Năm: 2010
15. U.G.Akpan, B.H.Hameed (2010), “The advancements in sol-gel method of doped-TiO 2 photocatalysts”, Applied Catalysis A: General, 375, pp. 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The advancements in sol-gel method ofdoped-TiO2 photocatalysts
Tác giả: U.G.Akpan, B.H.Hameed
Năm: 2010
16. Roland Benedix, Frank Dehn, Tana Quaas, Marko Orgass (2000),“Application of titanium dioxide photocatalysis to create self-cleaning building material”, Lacer, No, pp. 157-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of titanium dioxide photocatalysis to create self-cleaningbuilding material
Tác giả: Roland Benedix, Frank Dehn, Tana Quaas, Marko Orgass
Năm: 2000
17. P. Calza, E. Pelizzetti, K. Mogyorosi, R. Kun, I. Dekany (2007), “ Size dependent photocatalytic activity of hydrothermally crystallized titania nanoparticles on poorly adsorbing phenol in absence and presence of flouride ion”, Applied Catalysis B: Environmental, 72, pp. 314-321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sizedependent photocatalytic activity of hydrothermally crystallized titaniananoparticles on poorly adsorbing phenol in absence and presence of flourideion
Tác giả: P. Calza, E. Pelizzetti, K. Mogyorosi, R. Kun, I. Dekany
Năm: 2007
18. Chentharmarakshan C. R, Rajeshwar K., Wolfrum, E.J (2000),“Heterogeneous photocatalytic reduction of Cr(VI) in Uv-irradiated titania suspension effect of prorons, ammonium ions, and other interfacial aspects”, Langmiur, 16 pp. 2715-2721 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heterogeneous photocatalytic reduction of Cr(VI) in Uv-irradiated titaniasuspension effect of prorons, ammonium ions, and other interfacial aspects
Tác giả: Chentharmarakshan C. R, Rajeshwar K., Wolfrum, E.J
Năm: 2000
19. W.Y. Choi, A. Termin and M.R. Hoffmann (1994), “The role of metal ion dopants in quantum-sized TiO 2 : correlation between photoreactivity and charge carrier recombination dynamics”, J Phys Chem, 84, pp. 13669-13679 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of metal iondopants in quantum-sized TiO2: correlation between photoreactivity andcharge carrier recombination dynamics
Tác giả: W.Y. Choi, A. Termin and M.R. Hoffmann
Năm: 1994
20. Min Gyu Choi, Young-Gi Lee, Seung-Wan Song, Kwang Man Kim (2010),“Lithium-ion battery anode properties of TiO 2 nanotubes prepared by the hydrothermal synthesis of mixed (anatase and rutile) particles”, Electrochimica Acta, 55, pp. 5975-5983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lithium-ion battery anode properties of TiO2 nanotubes prepared by thehydrothermal synthesis of mixed (anatase and rutile) particles
Tác giả: Min Gyu Choi, Young-Gi Lee, Seung-Wan Song, Kwang Man Kim
Năm: 2010
21. Lifeng Cui, Yuasheng Wang, Mutong Niu, GuoxinChen, YaoCheng (2009),“Synthesis and visible light photocatalysis of Fe-doped TiO 2 mesoporous layers deposited on holowglass microbeads”, Journal of Solid State Chemistry, 182, pp. 2785-2790 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synthesis and visible light photocatalysis of Fe-doped TiO2 mesoporouslayers deposited on holowglass microbeads
Tác giả: Lifeng Cui, Yuasheng Wang, Mutong Niu, GuoxinChen, YaoCheng
Năm: 2009
22. Lifeng Cui, Feng Huang, Mutong Niu, Lingwei Zeng, Ju Xu, Yuansheng Wang (2010), “A visible light active photocatalyst: Nano-composite with Fe- doped anatase TiO 2 nanoparticles coupling with TiO 2 (B) nanobelts”, Journal of Molecular Catalysis A: Chemical, 326, pp. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A visible light active photocatalyst: Nano-composite with Fe-doped anatase TiO2 nanoparticles coupling with TiO2(B) nanobelts
Tác giả: Lifeng Cui, Feng Huang, Mutong Niu, Lingwei Zeng, Ju Xu, Yuansheng Wang
Năm: 2010
23. Deng B, Stone A. T (1996), “Surface –Catalyzed Chromium (VI) reduction:the TiO 2 -Cr(VI)-Mandelic Acid System”, Environmrntal Science and Technology, 30, pp. 463-472 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surface –Catalyzed Chromium (VI) reduction:the TiO2-Cr(VI)-Mandelic Acid System
Tác giả: Deng B, Stone A. T
Năm: 1996
24. Y.K. Đuan, J. Rabani (2003), “The measure of TiO 2 photocatalytic efficiency and comparison of different photocatalytic titania”, J. Phys. Chem. B, 107, pp 11970-11978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The measure of TiO2 photocatalytic efficiencyand comparison of different photocatalytic titania
Tác giả: Y.K. Đuan, J. Rabani
Năm: 2003
26. Fang Han, Venkata Subba Rao Kambala, Madapusi Srinivasan, Dharmarajan Rajarathnam, Ravi Naidu (2009), “Tailored titanium dioxide photocatalysts for the degradation of organic dyes in wastewater treatment: A review”, Applied Catalysis A: General, 359, pp 25-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tailored titanium dioxide photocatalystsfor the degradation of organic dyes in wastewater treatment: A review
Tác giả: Fang Han, Venkata Subba Rao Kambala, Madapusi Srinivasan, Dharmarajan Rajarathnam, Ravi Naidu
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cơ chế xúc tác quang của chất bán dẫn - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 1.1. Cơ chế xúc tác quang của chất bán dẫn (Trang 6)
Hình 1.2. Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO 2 - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 1.2. Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO 2 (Trang 8)
Hình 1.3. Hình khối bát diện của TiO 2 - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 1.3. Hình khối bát diện của TiO 2 (Trang 9)
Hình 1.4. Giản đồ năng lượng của anatase và rutile. - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 1.4. Giản đồ năng lượng của anatase và rutile (Trang 11)
Hình 1. 6. Sơ đồ mô phỏng hai phương pháp điều chế vật liệu kích thước nano - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 1. 6. Sơ đồ mô phỏng hai phương pháp điều chế vật liệu kích thước nano (Trang 19)
Bảng 1.2. Thông số kĩ thuật của than hoạt tính Trà Bắc - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Bảng 1.2. Thông số kĩ thuật của than hoạt tính Trà Bắc (Trang 28)
Hình Bragg. - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
nh Bragg (Trang 28)
Hình 2.1. Công thức hóa học của Rhodamin B - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 2.1. Công thức hóa học của Rhodamin B (Trang 37)
Hình 2.2. Đường chuẩn xác định nồng độ Rhodamin B - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 2.2. Đường chuẩn xác định nồng độ Rhodamin B (Trang 38)
Hình 3.1. Phổ XRD của các mẫu TiO 2 ; C-TiO 2 ; 0,57%Fe-TiO 2 ; 0,57%Fe-C-TiO 2 - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 3.1. Phổ XRD của các mẫu TiO 2 ; C-TiO 2 ; 0,57%Fe-TiO 2 ; 0,57%Fe-C-TiO 2 (Trang 40)
Hình 3.2. Phổ UV-Vis của các mẫu: TiO 2 , 0,57%Fe-TiO 2 , C-TiO 2 , 0,57%Fe-C-TiO 2 - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 3.2. Phổ UV-Vis của các mẫu: TiO 2 , 0,57%Fe-TiO 2 , C-TiO 2 , 0,57%Fe-C-TiO 2 (Trang 41)
Bảng 3.1. Độ chuyển hóa Rhodamin B theo thời gian xử lý của các mẫu vật liệu - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Bảng 3.1. Độ chuyển hóa Rhodamin B theo thời gian xử lý của các mẫu vật liệu (Trang 42)
Hình 3.3. Hoạt tính xúc tác của các mẫu vật liệu  0,57%Fe-TiO 2 , C-TiO 2 , ,0,57%Fe-C-TiO 2 - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 3.3. Hoạt tính xúc tác của các mẫu vật liệu 0,57%Fe-TiO 2 , C-TiO 2 , ,0,57%Fe-C-TiO 2 (Trang 43)
Hình 3.4. Phổ EDX của mẫu 0,57%Fe-TiO 2 - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 3.4. Phổ EDX của mẫu 0,57%Fe-TiO 2 (Trang 44)
Hình 3.5. Cơ chế ảnh hưởng tổng hợp của sắt và cacbon - Nghiên cứu biến tính tio2 bằng cacbon và sắt  làm chất xúc tác quang hóa trong vùng ánh sáng trông thấy
Hình 3.5. Cơ chế ảnh hưởng tổng hợp của sắt và cacbon (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w