chức năng sinh thái và quy luật phân bố địa lý phân biệt được với nhau, có thể địnhloại sắp xếp theo các hệ thống phân loại ở các bậc khác nhau, được gọi tên theo cácthuật ngữ nhất định.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Văn Cường
ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT
HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Văn Cường
ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT
HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
PGS.TS Trần Văn Thụy
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng đến PGS.TS Trần Văn Thụy, người thày đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình học tập
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các cán bộ của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cũng như Ủy ban nhân dân xã huyện Tiên Yên đã tạo điều kiện thuận lợi, dành những sự giúp đỡ nhiệt tình nhất trong thời gian em thực hiện
đề tài cũng như khi đi thực địa thực tế.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Khoa Môi trường, Bộ môn Sinh thái Môi trường, các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình đã quan tâm giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Do điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề nghiên cứu.
Hà Nội, năm 2015 Tác giả
Nguyễn Văn Cường
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ thực vật 3
1.1.1 Trên thế giới: 3
1.1.2 Ở Việt Nam: 4
1.2 Nghiên cứu đa dạng quần xã thực vật 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Ở Việt Nam 7
1.3 Các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn trên Thế giới và ở Việt Nam 8
1.3.1 Trên thế giới 8
1.3.2 Ở Việt Nam: 11
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 15
1.4.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 15
1.4.2 Điều kiện địa hình, địa mạo 15
1.4.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn, hải văn 16
1.4.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 19
1.4.5 Kinh tế xã hội 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Phương pháp kế thừa, thống kê, phân tích, tổng hợp và đánh giá 23
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 23
2.2.3 Phương pháp viễn thám, hệ thống thông tin địa lý 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Khái quát đánh giá nhân tố sinh thái hình thành đa dạng sinh học thực vật 28
3.1.1 Nhân tố sinh thái tự nhiên 28
3.1.2 Nhân tác 30
Trang 53.2 Đa dạng sinh học hệ thực vật hệ sinh thái rừng ngập mặn cửa sông ven
biển huyên Tiên Yên 31
3.2.1 Đa dạng loài thực vật 31
3.2.2 Đa dạng cấu trúc hệ thống hệ thực vật 32
3.2.3 Đa dạng dạng sống hệ thực vật 37
3.2.4 Đặc trưng các yếu tố địa lý hệ thực vật 38
3.2.5 Giá trị đa dạng sinh học thực vật hệ sinh thái ngập mặn huyên Tiên Yên 41
3.2.6 Đa dạng thảm thực vật 44
3.3 Định hướng sử dụng hợp lý và phát triển bền vững hệ sinh thái RNM huyện Tiên Yên 50
3.3.1 Xây dựng quy hoạch chi tiết và đồng bộ để phát huy những giá trị và chức năng đa dạng của rừng ngập mặn 50
3.3.2 Xây dựng kế hoạch giám sát và đánh giá hiện trạng rừng 50
3.3.3 Thực hiện các chương trình phục hồi rừng ngập mặn, phù hợp với điều kiện tự nhiên và diễn thế sinh thái 51
3.3.4 Giám sát tác động môi trường nước của hệ sinh thái 53
3.3.5 Các giải pháp về kinh tế – xã hội 54
3.3.6 Phát triển du lịch sinh thái 55
3.3.7 Bảo tồn giá trị đa dạng sinh học 56
3.3.8 Nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị HSTRNM cho các nhà quản lý ở cấp địa phương, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vùng RNM 56
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Nhiệt độ, tổng lượng mưa trung bình năm so với trung bình nhiều năm tại
huyện Tiên Yên (2000-2012) [Đinh Hồng Duyên và nnk 2013] 17
Hình 3.2 Biểu đồ tương quan tỷ lệ số chi, loài, họ trong các ngành thực vật vùng nghiên cứu 33
Hình 3.3 Tỷ lệ % dạng sống hệ thực vật vùng ngập mặnTiên Yên 38
Hình 3.4 Tương quan tỷ lệ đa dạng và giá trị sử dụng của các loài thực vật hệ sinh thái ngập mặn huyện Tiên Yên 41
Hình 3.5 Quần xã Mắm biển (Avicennia marina) vùng xa bờ 45
Hình 3.7 Quần xã Trang bên trong là Sú phân bố ở Đồng Rui 46
Hình 3.8 Quần xã Bần chua + Ô rô - Sú (Sonneratia caseolaris + Acanthus ilicifolius - Aegiceras corniculatum) 48
Hình 3.9 Quần xã thực vật trên đất nhiếm mặn ít chịu tác động của triều (trong ảnh là cây giá Excoecaria agallocha) 48
Hình 3.10 Quần xã Vẹt còn sót lại cây gỗ lớn là tiềm năng cho phục hồi rừng 51
Hình 3.11 Trồng rừng ngập mặn ở Tiên Yên……… 52
Hình 3.12 Vườn ươm cây ngập mặn ở Đồng Rui………52
Hình 3.13 Đâng trồng ở Đồng Rui 53
Hình 3.14 Cây Vẹt cho quả để nhân giống 54
Hình 3.15 Cảnh quan rừng ngập mặn ở Tiên Yên – thắng cảnh du lịch sinh thái 55
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đa dạng các taxon của hệ thực vật ngập mặn Tiên Yên 32
Bảng 3.2 Thành phần các loài thực vật ngập mặn thực thụ tại khu vực Tiên Yên .33 Bảng 3.3 Tỷ lệ % số loài của ngành Ngọc lan – Magnoliopsida so với lớp Hành -Liliopsida 35
Bảng 3.4 Tỷ lệ % mười họ giầu loài nhất hệ thực vật vùng nghiên cứu 36
Bảng 3.5 Tỷ lệ % mười họ giầu loài nhất hệ thực vật Việt Nam 36
Bảng 3.6 Tỷ lệ dạng sống các loài trong hệ thực vật vùng nghiên cứu 37
Bảng 3.7 Phổ yếu tố địa lý hệ thực vật ngập mặn ven biển huyện Tiên Yên 39
Bảng 3.8 Các nhóm công dụng chính của tài nguyên thực vật vùng nghiên cứu 41
Bảng 3.9 Các loài cây làm thuốc chính của hệ sinh thái ngập mặn huyện Tiên Yên 42
Trang 8UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9MỞ ĐẦU
Huyện Tiên Yên có vị trí địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội quan trọng trongtỉnh quảng Ninh và khu vực Bắc Việt Nam Tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xãhội nơi đây chứa đựng tiềm năng to lớn thúc đẩy cán cân phát triển kinh tế khôngnhững cho tỉnh mà còn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của cả khu vực Đặc biệt
hệ sinh thái rừng ngập mặn chiếm lĩnh toàn bộ đường bờ và dải ngập nước ven biểnkhông chỉ quyết định tới môi trường sống, chỉ thị các yếu tố đặc trưng của hệ sinhthái, mà còn là nguồn tài nguyên kinh tế đa lợi nhuận Nguồn lợi này, đã được nhândân vùng biển sử dụng rộng rãi, đa dạng với các trình độ canh tác khác nhau từnhiều thế kỷ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kỹ thuật canh tác lúa nước,rau màu trong hệ sinh thái nông nghiệp, các hướng khác nhau trong khai thác sửdụng hệ sinh thái ngập nước ven bờ (Nuôi trồng thuỷ hải sản, khai thác quảngcanh.vv…) cũng đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra các xu hướng tác động khác nhau tới
hệ sinh thái Những tác động này, dẫn tới sự ngăn cản tái tạo tập đoàn sinh vật hội
tụ cùng với sự tái tạo của các ổ sinh thái tự nhiên do quần xã thực vật tạo dựng.Theo quan điểm của IUCN – 1983 (Hiệp hội sinh thái ngập mặn của tổ chứcbảo vệ thiên nhiên và tài nguyên quốc tế) Những chỉ tiêu quan trọng, được coi làảnh hưởng đến nguồn lợi kinh tế xã hội là:
1 Chỉ tiêu bảo vệ của hệ sinh thái ngập mặn đối với bờ biển và những hệ sinhthái thuộc vùng đất ven bờ khác
2 Chỉ tiêu bảo vệ của hệ sinh thái ngập mặn đối với hệ sinh thái vùng cửasông phụ cận và hệ sinh thái biển cận bờ
3 Chỉ tiêu duy trì môi trường sống của nhiều loài động vật có ý nghĩa với đờisống con người (chim, tôm, cá, cua…)
4 Chỉ tiêu cân bằng các quá trình phục hồi tính đa dạng của quần xã động,thực vật trong hệ sinh thái, chỉ thị môi trường sống và sinh trưởng củanhiều loài động, thực vật có giá trị kinh tế, phục vụ nhu cầu thực phẩm
và du lịch
Trang 10Hệ sinh thái rừng ngập mặn chứa đựng những mối liên kết giữa các loài động,thực vật trong thời kỳ tiến hoá lâu dài mà những thành tựu nghiên cứu khoa học,mới chỉ biết đến một phần chưa đầy đủ Vì vậy, sử dụng hợp lý hệ sinh thái ngậpmặn, cần tiến hành thận trọng, có kế hoạch nhằm duy trì các liên kết bền vững của
hệ sinh thái, giải quyết các mâu thuẫn phá vỡ các liên kết hữu cơ của hệ sinh tháiđang tăng lên cùng với sự sử dụng của con người
Những hướng sử dụng trên cần được xem xét, gắn kết trong sử dụng đồng bộ các hệsinh thái khác của môi trường sinh học, mang tính hữu cơ, vừa đảm bảo phát triểnmạnh mẽ hệ sinh thái nông nghiệp trong lãnh thổ, vừa đảm bảo chức năng liên kếttác động tích cực của nó tới hệ sinh thái ven biển, nhằm duy trì và phát triển bềnvững các hệ sinh thái trong mối liên hệ chức năng thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển
ở trạng thái cân bằng Xuất phát từ những cơ sở trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật hệ sinh thái RNM huyện Tiên Yên,
`tỉnh Quảng Ninh làm cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý và phát triển bền vững”.
Mục tiêu của đề tài luận văn là:
- Nghiên cứu đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật của hệ sinh thái RNMhuyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh
- Nghiên cứu đánh giá giá trị đa dạng sinh học đối với sự phát triển kinh tế
xã hội địa phương của hệ sinh thái RNM Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý hệ sinh thái RNM Tiên Yên - tỉnh QuảngNinh
Chúng tôi hy vọng những nội dung nghiên cứu này là những tư liệu hữu ích góp phầngiúp các nhà hoạch định chính sách có các hoạt động ưu tiên cải thiện công tác quyhoạch phát triển, quản lý và sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên thiên nhiên cũng nhưbảo vệ nguồn lợi sinh vật, bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế - xã hội về nhiều mặt của cộng đồng địa phương huyện Tiên Yên
Trang 11hệ thực vật miền bắc và miền trung Liên Xô thuộc Châu Âu, hệ thực vật Việt Namv.v… cũng có thể gọi như vậy về thực vật Braxin, các hệ thực vật riêng rẽ của từngbang Rõ ràng những hệ thực vật này khác nhau về mặt vị trí địa lý, diện tích, sốlượng loài v.v… có thể so sánh chung (với nhau), nhưng đó là sự so sánh không
“ngang giá”, bởi vì các hệ thực vật được so sánh hoàn toàn không có sự đồng nhất
về điều kiện địa lý tự nhiên ở cùng cấp phân vị (ghi theo Lê Trần Chấn – 1990) [4]
Theo Tomachev A.I (1974) hệ thực vật cụ thể tức là: “hệ thực vật của một vùng hạn chế trên bề mặt trái đất, hoàn toàn đồng nhất về mặt địa lý, chỉ phân hóa
về các điều kiện sinh thái” (Tomachev A.I., 1974: 185) (ghi theo Lê Trần Chấn –
1990) [4]
Theo khái niệm hệ thực vật trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [25]
thì: Hệ thực vật (còn gọi khu hệ thực vật) là toàn bộ các chi, loài thực vật sốngtrong một khu vực địa lý, một thời kỳ lịch sử địa chất (vd: hệ thực vật Âu - Á, hệthực vật Hòn Gai tuổi Triat muộn) Hệ thực vật khác với thảm thực vật, hệ thực vậtmang hàm ý về thành phần giống loài, còn thảm thực vật chỉ sự tập hợp mọi thànhphần thực vật
Trong lịch sử nghiên cứu về hệ thực vật từ thế kỷ XIX (1855), De Candolle
đã phân tích mối quan hệ giữa số lượng loài và diện tích từ những dẫn liệu thu được
ở các hệ thực vật vùng ngoại ô Strasburg (hơn 100 km2 có 960 loài), hệ thực vậtDagico (1000km2 có 1362 loài), hệ thực vật miền trung Svealand (4000 km2 có
1114 loài) [4] (ghi theo Lê Trần Chấn – 1990)
Ở Liên Xô, từ năm 1928 đến năm 1932 được xem là giai đoạn mở đầu chothời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể Vào thời gian này, Tomachev A I được giao
Trang 12nhiệm vụ nghiên cứu hệ thực vật vùng Taimua nằm ở tọa độ địa lý 74o20’-25o độ vĩbắc và 102o 30’ độ kinh đông (ghi theo Lê Trần Chấn – 1990) [4].
Trong những năm gần đây hàng loạt các tổ chức, các hiệp hội bảo tồn, cáchội nghị quốc tế đã được thành lập, diễn ra các hoạt động vì mục đích cao cả đó.Nổi bật và đáng chú ý nhất là Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đadạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992, 150 nước đã
ký vào Công ước về đa dạng sinh vật [5, 8,9] Để phục vụ cho mục đích bảo tồn,
WWF (1990) đã cho xuất bản cuốn sách Tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity); IUCN, UNEP, WWF đưa ra Chiến lược bảo tồn toàn cầu (World conservation strategy, 1990), Hãy quan tâm tới trái đất (Caring for the earth, 1991); WCMC đã Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu (Global
biodiversity assessment, 1995)
Bên cạnh đó, hàng ngàn những công trình khoa học và các báo cáo khác lầnlượt được xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã được tổ chức nhằm thảoluận về quan điểm, về phương pháp luận cũng như thông báo các kết quả đã đạtđược trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới Các kết quảnghiên cứu được công bố trong các báo cáo và hội nghị hội thảo đã cơ bản thiết lậpnên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phầnnâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái,
hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia
1.1.2 Ở Việt Nam:
Về thành phần loài và đa dạng trong cấu trúc hệ thống hệ thực vật:
Đến nay đã thống kê được gần 12.000 loài thực vật [10, 32], nhiều nhóm cótính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn [66,67].Những công trình nghiên cứu về thực vật Việt Nam, trước hết phải kể đến những tácphẩm cổ điển như các công trình của Loureiro (1790), của Pierre (1879 - 1907) [27]
hay của Lecomte với bộ “Thực vật chí Đông Dương” [27] Sau đó, các nhà thực vật
học người Việt Nam cùng với các nhà thực vật học quốc tế khác đã tiếp tục kế thừa
và nghiên cứu bổ sung: Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có
7004 loài, 1850 chi và 289 họ [27], về sau Humbert đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn
Trang 13thiện việc đánh giá thành phần loài cho toàn vùng [27]; Bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam” do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1997) cùng với
nhiều tác giả khác đã công bố 29 tập gồm 74 họ cây có mạch Tiếp theo có thể kể đến
bộ “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên (1969 - 1976) [16] hay “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988, 7 tập) [16] của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, “1900 cây có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý và tập thể (1993) [16],
“Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (2012) [6].
Trong các công trình nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam, bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [10] xuất bản tại Canada và đã được tái
bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 - 2000) [10] là bộ danh sách đầy đủ và dễ sửdụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam
Những nghiên cứu về thành phần loài hệ thực vật cụ thể ở các miền và cụ thểhơn nữa là ở các địa phương (các VQG, KBT ) đã được tiến hành liên tục trongnhiều năm qua với sự tham gia của rất nhiều các nhà khoa học trong và ngoài nước
Có thể kể đến các công trình sau: Pócs Tamás (1965) đã thống kê được ở miền Bắc
có 5190 loài ( kể cả một số loài ở vùng giữa 120 và 170 độ vĩ Bắc và 155 loài câytrồng có nguồn gốc nhập nội [46]; Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở
miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ [18]; công trình “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật
bậc thấp và 20 loài Rêu còn lại 5.246 loài thực vật có mạch [10] Tư liệu về hệ thực
vật Việt Nam mới nhất phải kể đến bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” do
tập thể các nhà thực vật Việt Nam biên soạn, đã giới thiệu khái quát và đầy đủ nhất
về hệ thực vật Việt Nam, gồm 3 tập: trong đó tập I (2001) gồm Nấm, Thực vật bậcthấp, Rêu, Thực vật Hạt trần; tập II (2003) và tập II (2005) khái quát về Hạt kín,trong đó toàn bộ lớp Một lá mầm được trình bày trong tập III [32] Đây là những tàiliệu quan trọng, làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng thực vật Việt Nam
1.2 Nghiên cứu đa dạng quần xã thực vật:
1.2.1 Trên thế giới
Từ lâu, đối tượng nghiên cứu của khoa học về thảm thực vật đã được xácđịnh là tổ hợp các cá thể của các loài thực vật khác nhau, có cấu trúc ngoại mạo,
Trang 14chức năng sinh thái và quy luật phân bố địa lý phân biệt được với nhau, có thể địnhloại sắp xếp theo các hệ thống phân loại ở các bậc khác nhau, được gọi tên theo cácthuật ngữ nhất định.
Cho tới nay, có thể thống kê một số hệ thống phân loại thảm thực vật phổbiến trên thế giới như sau: Warming (1895) đã phân chia các quần xã thực vật thànhcác “nhóm sinh thái” theo tính chất của môi trường đất Schimper (1898), phân biệtcấu trúc và tính thích ứng sinh thái của các bậc phân loại lớn thành các quần hệ:quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng, quần hệ vùng núi
Trong quần hệ khí hậu, Schimper đã phân biệt sáu kiểu: rừng ưa mưa, rừnggió mùa (mưa rào), rừng savan (savane – forest), rừng cây có gai (thorn forest),trảng cỏ nhiệt đới (tropical grassland) và sa mạc nhiệt đới (tropical desert) Beard(1944) (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[27], đưa ra hệ thống phân loại ba cấp: quần
hệ, loạt quần hệ, và quần hợp Ông lấy cơ sở từ quần hệ rừng mưa nhiệt đới trongđiều kiện tối ưu, để phân chia thành năm loạt quần hệ: (1) loạt quần hệ xanh theomùa, (2) loạt quần hệ vùng núi, (3) loạt quần hệ khô thường xanh, (4) loạt quần hệngập nước theo mùa, (5) loạt quần hệ ngập nước quanh năm Từ đó, các đơn vị tiếptheo được phân chia
Champion (1936) lấy sự phân hóa đai cao và chế độ khô hạn vùng thấp theo
độ vĩ, phân chia theo chín kiểu thảm thực vật trên vùng thấp, cùng với ba kiểu thảmthực vật theo đai cao khác nhau Puri (1988) đã vận dụng nguyên tắc này củaChampion để phân loại các kiểu thảm thực vật ở Ấn Độ
Ngoài những hệ thống trên, một số các tác giả khác như Burt – Davy (1918),Aubréville, Fosberg (1958), Kuchler (1967), Dudley – Stamp (1952) cũng đã dựatrên các chỉ tiêu về địa mạo, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, hình thái thảm thực vật
và đưa ra các bảng phân loại[36]
Năm 1973, UNESCO [46] đã công bố bảng phân loại và thành lập bản đồthảm thực vật quốc tế Về cơ bản, bảng phân loại này được sự tham gia thỏa luận,
bổ sung nhiều lần bởi Schimidthusen và Ellenberg (1964), Poore và Ellenberg(1965) và hàng loạt các nhà khoa học khác như Gaussen (1966), Ellenberg vàMueller – Dombois (1967), Budơski, Franzle, Germain, Küchler, Lebrun và
Trang 15Sochava (UNESCO – 1973) Bảng phân loại này cơ bản dựa vào tiêu chuẩn cấu trúcngoại mạo, trên cơ sở so sánh và xác định bởi hình thái quần xã (tức là sự tập hợpcác cá thể ưu thế có cùng một dạng sống), mật độ tán che phủ, trạng thái sinh học…bởi nguyên tắc tổ hợp các tiêu chuẩn và so sánh ngang bằng
1.2.2 Ở Việt Nam:
Chevalier (1918) là người đầu tiên đưa ra bảng phân loại thảm thực vật Bắc
Bộ – Việt Nam Trong “Thống kê những lâm sản Bắc Bộ”, Chevalier chia rừng Bắc
Bộ thành mười kiểu Năm 1943, Maurand đã chia tám kiểu quần xã trong ba vùngchính của Đông Dương (vùng Bắc Đông Dương, vùng Nam Đông Dương và TrungBộ) Tiếp đó, năm 1953, Maurand trên cơ sở các công trình nghiên cứu của Rollet,
Lý Văn Hội, Neang Sam Oil có đưa ra bảng phân loại về các quần xã thực vật NamViệt Nam
Năm 1956, Giáo sư Dương Hàm Hi trong cuốn “Tài nguyên rừng Việt Nam”
có đưa ra bảng phân loại về thảm thực vật rừng Bắc Việt Nam
Năm 1958, Vidal trong Luận án tiến sỹ của mình đã đưa ra bảng phân loạithảm thực vật Lào dựa trên hệ thống phân loại thảm thực vật của Aubréville – đượcHội nghị Yangambi (Daia) công nhận năm 1956 [27]
Năm 1960, Vũ Văn Cường trong công bố của mình đã đưa ra các dẫn liệu vềcác quần hợp ngập nước quanh vùng Sài Gòn, Nam Việt Nam Một số quần hợpđược ông đặt tên khoa học theo Braun – Blanquet [27]
Năm 1970, Trần Ngũ Phương [19] sau khi đã quy định thuật ngữ dùng chocác bậc phân loại cũng đã đưa ra bảng phân loại rừng Bắc Việt Nam Bảng phânloại này đã đề cập tới sự phân hóa của thảm thực vật theo đai cao cùng với sự phânhóa của khí hậu, thổ nhưỡng… và điều kiện nhân tác
Các bậc phân loại này, về tiêu chuẩn xác định tương đương với bậc quần hệcủa UNESCO Trong các đai rừng khí hậu trên, Trần Ngũ Phương chia tiếp thànhcác kiểu rừng khí hậu, các loại hình khí hậu, các loại hình khí hậu – thổ nhưỡng, vàsau đó là các kiểu phụ khí hậu, kiểu phụ thổ nhưỡng và kiểu phụ thứ sinh nhân tác
Năm 1970 và 1978, Thái Văn Trừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinhtrình bày bảng phân loại thảm thực vật toàn lãnh thổ Việt Nam, từ bậc nhóm kiểu
Trang 16thảm thực vật tới bậc quần hợp Dựa vào sự phân hóa của khí hậu, mười bốn kiểuthảm thực vật khác nhau được phân chia tiếp từ hai nhóm kiểu thảm thực vật này,tên của mỗi kiểu thảm được gọi bằng chính tên của các kiểu khí hậu sinh vật do ôngxác định Năm 1985, Phan Kế Lộc vận dụng khung phân loại của UNESCO phânloại thảm thực vật Việt Nam [17] Việc vận dụng khung phân loại này cho phép xácđịnh rõ ràng các đơn vị hình thái cấu trúc thảm thực vật hiện tại, không phân biệttrạng thái ổn định tạm thời hay cao đỉnh, nguyên sinh hay thứ sinh, thuận lợi cho sựđịnh vị chúng trên bản cũng như nghiên cứu ngoài thực địa
1.3 Các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn trên Thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới:
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu rừng ngập mặn, trong cuốn
"Thư mục nghiên cứu về RNM“ (Chương trình Biển KT.03, 1991-1995) đã liệt kêhơn 420 công trình nghiên cứu của 12 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái BìnhDương từ năm 1600 đến năm 1975 [8, 11,12] Trong đó, phần lớn các nghiên cứunày đều có đề cập đến khu hệ động thực vật phân bố trong hệ sinh thái RNM mộttrong những định nghĩa và giá trị của hệ sinh thái này được khẳng định : Đất ngậpnước rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quantrên mọi miền của thế giới, ngày nay rừng ngập mặn đã và đang bị suy thoái và mất
đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng vàgiá trị to lớn của chúng [33,34,35]
Tài liệu đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống đầy đủ về vai trò của rừngngập mặn do Odum đưa ra đã phân tích vai trò to lớn của mùn bã phân hủy từ lá cây
đước đỏ (Rhizophora mangle) trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông ven biển Florida.
Từ đó, rừng ngập mặn trở thành đối tượng được nhiều nhà khoa học quan tâm.Nghiên cứu của Ball ở Florida (Mỹ) đã chỉ ra rằng “Cấu trúc mùn bã hữu cơ phụthuộc rất nhiều vào mắt xích thức ăn trong hệ sinh thái RNM RNM còn là nơi ươmnuôi ấu trùng cho nhiều loại cá, giáp xác và động vật thân mềm” Ngoài ra, tác giảcòn đưa ra được sơ đồ mối quan hệ giữa RNM với các thành phần sinh vật sống.Nghiên cứu của Robertson và Blaber (1992) đã nhận định “Hệ sinh thái RNM có
Trang 17vai trò trong việc duy trì chất lượng môi trường và năng suất đánh bắt trong nghề cáthương mại và thủ công trên thế giới” [33,34,35]
Theo V.J Chapman (1975) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh hưởng đến sựphát triển rừng ngập mặn là: Nhiệt độ, thế nền đất bùn, sự bảo vệ, độ mặn, thủytriều, dòng chảy hải lưu, biển nông [34] Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982)khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập mặn ở vùng châu Á Thái Bình Dương chorằng: Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêmtrọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việckhai thác tài nguyên rừng, đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêucực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia córừng và đất ngập mặn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tìnhtrạng này bằng các giải pháp như: xây dựng các hệ thống chính sách, văn bản phápluật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuậttrồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xây dựng các mô hình lâm ngư kếthợp [35, 36,39]
Một số công trình nghiên cứu về lượng mưa, nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinhtrưởng và phát triển của cây ngập mặn V.J Chapman (1975), P.B Tomlinson(1986) cho rằng nhiệt độ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng vàphân bố rừng ngập mặn Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ
ấm, nhiệt độ của tháng lạnh nhất không dưới 20oC, biên độ nhiệt theo mùa khôngvượt quá 10oC P Saenger và cộng sự (1983) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí,2006) [30] đã giải thích sự có mặt của rừng ngập mặn ở một vùng nào đó tùy thuộcnhiệt độ không khí và nhiệt độ nước
A.N Rao (1986) nhận định rằng trong các nhân tố khí hậu thì lượng mưa lànhân tố quan trọng với vai trò cung cấp nguồn nước ngọt cho cây ngập mặn tăngtrưởng và phát triển, rừng ngập mặn sinh trưởng tốt nhất ở nơi có lượng mưa đầy đủ[38] (ghi theo Mazda, Y et al (1997))
De Hann (1931) (Trích dẫn từ Aksornkoae, 1993) nêu ý kiến cho rằng rừngngập mặn tồn tại, phát triển ở nơi có độ mặn từ 10-30‰ và các tác giả đã chia thựcvật ngập mặn thành hai nhóm; nhómphát triển ở độ mặn từ 10-30‰vànhóm phát
Trang 18triển ở độ mặn từ 0-10‰ [35], Khi độ mặn càng cao thì sinh trưởng của cây càngkém, sinh khối của rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự,1983) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [27], [43]
Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân
bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn,1967; S Aksornkoae và cộng sự, 1985) (ghi theo Ramsar (2000))[43] Đất rừngngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O2, giàu H2S, rừng ngập mặnthấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèo chất dinh dưỡng A Karim vàcộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngập mặn liên quan đến số lượng phù salắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở nơi có lớp đất phù sa dày [35]
Năm 1983, [8] đề án “Chương trình nghiên cứu tổng hợp và đào tạo về hệsinh thái rừng ngập mặn Châu Á – Thái Bình Dương” của UNDP/UNESCO ra đờivới sự tham gia chính thức của 12 nước trong khu vực Công trình gồm tập hợp cácbáo cáo về tình hình rừng ngập mặn của 11 nước và một số vấn đề gây tình trạnggiảm sút rừng trong khu vực đã được in trong cuốn “Rừng ngập mặn Châu Á vàThái Bình Dương: Thực trạng và quản lý, 1996”
Nhiều công trình công bố kết quả nghiên cứu liên quan đến hệ sinh tháiRNM [44,45] đã được tổng hợp, thống kê và đăng tải trong tuyển tập các báo cáotại Hội thảo của các dự án thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Umali,1986) Trong đó có một số công trình công bố có liên quan đến các lĩnh vực: Cấutrúc quần xã và khu hệ động thực vật và các thảm thực vật phân bố trong vùngRNM; Năng suất mạng lưới thức ăn và dòng năng lượng, chu trình dinh dưỡngtrong hệ sinh thái RNM; Các đặc tính thuỷ lý, thuỷ hóa trong hệ sinh thái RNM;Mối liên quan giữa RNM và các hệ sinh thái, các quần xã động vật đáy, quần xãbiển khơi, quần xã sinh vật vùng triều và đề xuất phương hướng quản lý RNM ở cácquốc gia
Trong vài thập kỷ gần đây chúng ta đã chứng kiến sự biến đổi sâu sắc trong nhậnthức về ĐNN, đặc biệt là sự thay đổi trong cách nhìn nhận về tầm quan trọng của
vùng ĐNN của các cá nhân và tổ chức có liên quan Trong cuốn “Các chức năng và giá trị của đất ngập nước: thực trạng hiểu biết của chúng ta” của Oreeson (ghi theo
Trang 19Tateda, Y (2005)) [44] đã cho thấy 84% tổng số các trích dẫn là của các công trìnhnghiên cứu trong thập kỷ 70, 14% của các công trình thập kỷ 60 và chỉ có 2% là tríchdẫn từ các công trình trước năm 1960 Những nghiên cứu này tạo ra một bước độtphá trong hoạt động khoa học tại các trung tâm và viện nghiên cứu có liên quan.
Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới
Do mật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân cư nơiđây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN Vì thế, ĐNN của khu vực này đangphải đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng và một số vùng ĐNN có nguy cơ
bị xoá sổ Hiện nay, các nghiên cứu về ĐNN tại khu vực châu Á và Đông Nam Á chủyếu tập trung vào các lĩnh vực: Xác định loại hình và sự phân bố của ĐNN; Nghiêncứu các mối đe doạ, những ảnh hưởng, tác động hiện nay và yêu cầu về bảo vệ ĐNN,
đa dạng sinh học của các vùng ĐNN Hướng nghiên cứu này đã thu hút nhiều tổ chứcquốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union -IUCN), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang
dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO) Trong đó quan trọng nhất làvai trò của IUCN vì đây là tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợpkết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNNtrên Thế giới [45]
Công trình nghiên cứu có hệ thống về rừng ngập mặn đầu tiên ở Việt Nam làcủa Vũ Văn Cương (1964) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) [13,14,15,16] về cácquần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn –Vũng Tàu Tác giả đã chia thựcvật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước lợ Đưng
Trang 20phân bố ven sông Soài Rạp, Đông Tranh và một số cửa sông nhỏ; Cóc trắng gặp rảirác ở những nơi đất cao, Vẹt đen gặp ở vùng nước lợ.
Lê Công Khanh (1986) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) [13,14,15,16] mô tảcác đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong rừng ngập mặn Tácgiả đã xếp 57 loài cây ngập mặn vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độmặn của nước: Nhóm mọc trên đất bồi ngập nước mặn (độ mặn của nước từ 15-32‰) có 25 loài, trong đó có Đưng, Cóc trắng; nhóm sống trên đất bồi thường ngậpnước lợ (độ mặn 0,5 - 15‰) có 9 loài, trong đó có Vẹt đen và nhóm sống trên đấtbồi ít ngập nước lợ có 12 loài [12]
Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểu thảmthựcvật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừng Đước đơnthuần, rừng Dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừng Vẹt –Giá vùngđất cao, Rừng Chà là -Ráng đại và trảng thoái hóa (ghi theo Phan Nguyên Hồng)[13,14,15,16]
Nguyễn Hoàng Trí (1999), Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) (ghi theoPhan Nguyên Hồng) [13,14,15,16] cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam,chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ Quần xã Đưng tiên phong ở phía Tây bánđảo Cam Ranh, gặp ở phía trong quần xã Mấm trắng, Bần trắng trên đất ngập triềutrung bình Cóc trắng gặp cả ở ba miền, trên vùng đất cao ngập triều không thườngxuyên, nền đất tương đối chặt Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùng nước lợ ởmiền Nam Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệt khákhắc nghiệt, hiện được trồng nhiều ở miền Bắc.Đỗ Hữu Thư, Đào Mạnh Sơn, VũTrung Tạng ….[20,21,22,23,24], đã nghiên cứu tổng quan rừng ngập mặn ở ViệtNam đã xây dựng nên bản đồ phân bố rừng ngập mặn Việt Nam và định hướng quyhoạch cho một số vùng ở Việt Nam
Phan Nguyên Hồng (1999) [14] đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh
lý sinh khối rừng ngập mặn Việt Nam [10].-Số loài cây ngập mặn ở miền BắcViệt Nam ít hơn và có kích thước cây bé hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trongmùa đông.-Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây giảm.-Khiđiều kiện khíhậu và đất không có sự khác biệt nhau lớn thì vùng có chế độ bán nhật triều cây
Trang 21sinh trưởng tốt hơn vùng có chế độ nhật triều Độ mặn là một trong những nhân tốquan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân bốrừng ngập mặn Loại rừng này phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối trong nước từ10-25‰.-Trong các nhân tố sinh thái thì khí hậu, thủy triều, độ mặn và đất đóng vaitrò quyết định sự sinh trưởng và phân bố của thảm thực vật rừng ngập mặn Cácnhân tố khác góp phần tích cực trong việc phát triển hay hạn chế của kiểu thảm thựcvật này.
Theo Thái Văn Trừng có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh rừng ngập mặn:Thứ nhất là tính chất lý hóa của đất, thứ hai là cường độ và thời gian ngập của thủytriều, thứ ba là độ mặn của nước [27]
Một trong số những dự án đầu tiên có liên quan đến ĐNN ở Việt Nam là “Dự
án sông Mê Kông và đồng bằng sông Cửu Long” của Uỷ ban sông Mê Kông (1957)
do chính phủ 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thành lập Tiếp theo làmột loạt các đề tài, dự án, chương trình điều tra tổng hợp cũng như nghiên cứu cáchợp phần của ĐNN từ những năm 1980 cho đến nay Trong chương trình điều tra cơbản tài nguyên thiên nhiên toàn quốc, một chương trình cấp nhà nước do Uỷ bankhoa học kỹ thuật Nhà nước chủ trì 1984 - 1986 đã bước đầu đề xuất tới việc bảo vệthiên nhiên những vùng đất ngập nước Năm 1989, Việt Nam tham gia công ướcRamsar, trên cơ sở các văn bản Công ước, các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế
về những vấn đề có liên quan đến đất ngập nước đã được tập hợp lại, xác định nhữngnội dung “nghiên cứu về đất ngập nước” một cách chính thức ở Việt Nam [8]
Về kiểm kê và phân tích các chức năng, giá trị của ĐNN có các công trình của
Lê Diên Dực, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng Trong công trình nghiên cứu của
Lê Diên Dực (1989) [9] , đã kiểm kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọng, cần đượcbảo vệ của nước ta Trong các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch cácKhu bảo tồn ĐNN ở Việt Nam, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng đã thống kêtương đối đầy đủ các kiểu ĐNN là ao hồ (tự nhiên và nhân tạo), đầm phá cần quyhoạch thành các khu bảo tồn Sau đó là hàng loạt các công trình kiểm kê và phân loạiĐNN của Nguyễn Hoàng Trí (1995), Phan Nguyên Hồng (1989 - 1998), Vũ TrungTạng (1994), Mai Đình Yên (1993), Đặng Ngọc Thanh (1995 - 2000) … đã làm rõ
Trang 22nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của nghiên cứu ĐNN, đánh giá tổng quan các loạihình ĐNN, tiềm năng, tình hình quản lý, sử dụng, các áp lực, mối đe doạ, chiến lượcbảo vệ và phát triển bền vững ĐNN trên toàn lãnh thổ Việt Nam….[2,3,20,21,22,23,24, 28,29,31]
Chương trình khoa học bảo vệ đất ngập nước toàn cầu do WWF và IUCNđồng chủ trì và hỗ trợ thực hiện năm 1985 - 1987 đã có ảnh hưởng tới sự khởi độngnhận thức về lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta Cơ quan quản lý và chỉ đạo cấp Nhànước trong các chương trình nghiên cứu về ĐNN là Cục Bảo vệ môi trường thuộc BộTài nguyên và Môi trường đã thực sự tạo nên những định hướng và giải pháp pháttriển nghiên cứu, chương trình hành động quản lý và bảo vệ những vùng đất ngậpnước của Việt Nam[8]
Năm 2003, Việt Nam cũng đã có những cố gắng trong công tác nghiên cứu,quản lý và bảo tồn ĐNN như: “Chương trình bảo tồn đất ngập nước quốc gia”; Nghịđịnh 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN; “Chiến lượcquản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” (số 192/2003/QĐ-TTg), v.v [8]
Năm 2004, Phan Nguyên Hồng (2004) trong báo cáo về lịch sử nghiên cứuĐNN Việt Nam đã thống kê hơn 500 nghiên cứu về khí tượng thủy văn, địa chất, địamạo, ĐDSH, hệ cửa sông ven biển, hệ đầm phá, HST RNM, HST rạn san hô, thảm cỏbiển Các nghiên cứu này đã góp phần đóng góp vào bộ tư liệu nghiên cứu về ĐNNven biển Việt Nam [14,15,16]
Năm 2005, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Tổng quanhiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsamsar” [5]
Năm 2006, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Chương trìnhbảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước sông Mê Kông: Hệ thống phân loạiĐất ngập nước Việt Nam” do tác giả Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực thực hiện [5]
Năm 2015, Trần Văn Thụy, Pham Minh Dương, Nguyễn Thái Bình, NguyễnVăn Cường đã công bố các dẫn liệu về đa dạng sinh học hệ sinh thái bãi bồi trong
đó các nghiên cứu về các quần xã thực vật ngập mặn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Trang 23Bình [26] Công trình này là bước định hướng nghiên cứu quan trọng cho hướngnghiên cứu đề tài luận văn ở huyện Tiên Yên.
Những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về ĐNN ở Việt Nam chủ yếutập trung vào các vấn đề: Vai trò môi trường của các hệ sinh thái đất ngập nước ởViệt Nam đối với đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu (Tổng cục Môitrường, 2012) nhằm những định hướng chiến lược về bảo tồn, sử dụng, quản lý vàphát triển bền vững các vùng ĐNN trong tương lai
Nhìn chung những nghiên cứu trên là định hướng cơ bản cho mục tiêu nghiêncứu của đề tài nhằm tiến tới xây dựng các giải pháp cho phát triển bền vũng lãnh thổkhu vực nghiên cứu
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
Hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh được xác địnhtrong phạm vi các xã ven biển cụ thể như sau: các xã Hải Lạng, Tiên Lãng, ĐôngNgũ, Đông Hải, Đồng Rui, được giới hạn trong tọa độ địa lý từ 21°10’34” -21°21’34” vĩ độ Bắc và 107°21’19” – 107° 37’45” kinh độ Đông
1.4.2 Điều kiện địa hình, địa mạo
Phần đất liền của khu vực ven biển huyện Tiên Yên khá đặc trưng cho mộtvùng duyên hải hẹp (chỉ rộng khoảng 10-15 km), chủ yếu trên nền phù sa cổ, chạykhông liên tục vì bị ngăn cách bởi các đồi thấp, kéo dài ra biển, tiếp giáp với mộtvùng bãi triều rộng ở phía biển và tiếp giáp với một vùng núi trung du ở phía bắc vàtây bắc
Vùng núi tiếp giáp với khu vực nghiên cứu chủ yếu ở phía Tây Bắc huyệnTiên Yên Vùng gò đồi trung du ven biển có cao độ thoải dần hướng ra biển từ cao
độ 200m đến 20m Địa hình có hướng dốc từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnhtạo ra các sông suối và nhiều thung lũng hẹp nên mùa mưa áp lực của nước rất lớn
dễ xảy ra lũ gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, làm ngọt hoá đột ngột gây nênnhững tai biến cho RMN và khu nuôi trồng thủy sản trong khu vực
Nhìn chung, phần đất liền của khu vực Tiên Yên có độ cao chủ yếu từ 0,2đến 20m có chia gồm hai dạng địa mạo thổ nhưỡng chính
Trang 24- Phù sa cổ ở khu vực gò đồi và các dải đất hẹp, chạy dọc theo quốc lộ 18, có
độ cao trung bình 25m, có nơi cao trên 50m, là dạng phù sa cổ phủ trên nền đá biếnchất, sa thạch, diệp thạch Địa hình dốc thoải, lượn sóng, quá trình feralít mạnh tạothành kết vón đá ong Phù sa cổ càng gần núi càng lẫn nhiều cuội sỏi, đất chứanhiều sắt Lớp phù sa cổ có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, màu nâuvàng, vàng xám, đất chua
- Phù sa mới ở khu vực bồi tụ ven biển, có địa hình thấp thoải dần ra biển,
thường có độ cao từ 1,5 - 3 m Một số đã được cải tạo thành đất canh tác, đầm nuôi
trồng hải sản, còn lại là các bãi triều, RNM, cồn cát ven biển Diện tích của dạng địa
chất này khá rộng, ví dụ như ở huyện Tiên Yên có trên 13.000 ha, trong đó RNMkhoảng 10.000 ha, trương bãi cát trên 2.000 ha phân bố chủ yếu ở các xã Tiên Lãng,Đồng Rui, Hải Lạng, Đông Ngũ và thị trấn Tiên Yên
Ngoài ra còn có vùng đất phù sa sông là dải đất hẹp chạy dọc theo các consông như Tiên Yên, Phố Cũ, Ba Chẽ và một số nhánh sông khác, thành phần cơ giớichủ yếu là cát pha, bùn cát, cũng có diện tích tương đối (như ở huyện Tiên Yên làtrên 1100 ha)
1.4.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn, hải văn
a Đặc điểm khí hậu
Khu vực Tiên Yên thuộc chế độ khí hậu của vịnh Bắc Bộ và các vùng lâncận Khí hậu khu vực này thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng và ẩm (kéodài từ tháng 4 đến tháng 10), mùa đông khô và lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 nămsau) Theo số liệu đo được tại các trạm khí tượng thủy văn đặt tại khu vực này thìkhu vực Tiên Yên có những đặc điểm khí hậu như sau
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm từ 2000-2012 phần lớn có xu hướng tăng cao hơntrung bình nhiều năm của thời kỳ cơ sở, có 8/13 năm tăng cao hơn và 3/13 năm cónhiệt độ trung bình năm tương đương Sự gia tăng nhiệt độ trung bình năm dao động từ0,3oC (năm 2002, 2005) đến 0,8oC (năm 2008) [Đinh Hồng Duyên và nnk 2013]
Mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 10) có nhiệt độ khá cao, nhiệt độ không khítrung bình dao động từ 27°C - 29°C, nhiệt độ cao tuyệt đối có thể lên đến 38°C (đotại trạm KTTV Tiên Yên, tháng 7 năm 2010)
Trang 25Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau): Do ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc nên mùa đông ở khu vực này khá lạnh, nhiệt độ trung bình tháng lạnhnhất (tháng 1) dao động từ 14,2°C - 16,7°C, có nhiều ngày nhiệt độ < 10°C Nhiệt
độ thấp tuyệt đối đo từng đo được trạm KTTV Tiên Yên là 6,6°C
- Chế độ mưa
Khu vực Tiên Yên là một trong những nơi có nhiều mưa ở các tỉnh phía bắc,
là nơi có tổng lượng mưa tương đối lớn ở đồng bằng Bắc bộ Tổng lượng mưa trongnăm đo tại Bình Liêu (Tiên Yên) từ năm 2008-2010 là từ 1182.0-2645.4 mm Cókhoảng 130-160 ngày mưa/năm, có một số ngày mưa lớn trên 100 mm
Mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 5-9, chiếm đến 75% lượng mưa của cảnăm, với lượng mưa tháng từ 112.9 - 1035.3 mm, các tháng có mưa nhiều nhất là tháng7-9 Vào mùa đông, những tháng mưa ít nhất vào tháng 12 và tháng 1, 2 năm sau
Tổng lượng mưa hàng năm trong thời gian gần đây (2000-2012) có xu hướnggiảm so với lượng mưa trung bình nhiều năm thời kỳ cơ sở Có 11/13 năm tổnglượng mưa năm thấp hơn trung bình nhiều năm với trị số chênh lệch từ -1,7mm(năm 2012) đến -637,4 mm/năm (năm 2011) Chỉ có 2/13 năm có lượng mưa tổng
số cao hơn trung bình nhiều năm, trong đó năm 2001 có tổng lượng mưa năm làcao nhất (đạt 3159,3 mm/năm) [Đinh Hồng Duyên và nnk 2013]
Hình 3.1 Nhiệt độ, tổng lượng mưa trung bình năm so với trung bình nhiều năm tại
huyện Tiên Yên (2000-2012) [Đinh Hồng Duyên và nnk 2013]
b Chế độ thủy văn và hiện trạng môi trường nước
Khu vuc huyện Tiên Yên có một số con sông vừa và nhỏ, diện tích lưu vựckhông lớn, đổ vào khu vực vịnh Tiên Yên Trong đó, lớn nhất là sông Tiên Yên có
Trang 26chiều dài 82 km, lưu lượng thấp nhất 28 m3/s, lưu lượng nước lớn nhất vào mùa lũlên đến 2.090 m3/s Sông Ba Chẽ dài 80km, bắt nguồn từ độ cao 275 m, lòng sônghẹp và có lưu lượng nước không đáng kể, đổ ra khu vực cửa biển thuộc vùng đấtphía tây nam xã Đồng Rui Chế độ thuỷ văn không điều hoà trong năm, có sự chênhlệch lớn về lưu lượng giữa hai mùa Về mùa đông (mùa khô) mực nước ở các sôngthường thấp, lưu lượng nước nhỏ, nước mặn xâm nhập vào qua vùng cửa sông khá
xa Ngược lại, vào mùa mưa thường có lũ đơn, lên nhanh và cũng rút nhanh Do địahình dốc về phía Nam nên tạo ra nhiều khe suối nhỏ, chia cắt thành nhiều khu vực,đặc trưng của các suối này là có độ dốc từ 4 - 6%, thoát nước nhanh nhưng vì lòngsông suối hẹp nên sau những trận mưa lớn thường gây ngập lụt ở một số nơi, gâyđục nguồn nước do xói mòn, rửa trôi mạnh Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ởcác lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa vàđất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất
là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng
c Chế độ hải văn
- Chế độ thuỷ triều
Vùng nghiên cứu nằm trong vịnh Bắc bộ, có chế độ thuỷ triều là nhật triềuđiển hình, biên độ tới 3-4 m Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo hướngbắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhấtnước ta, nhiệt độ có khi xuống tới 13°C
Thuỷ triều ở Tiên Yên mạnh nhất vào các tháng 1, 6, 7 và 12 Trong nhữngtháng này mực nước thực tế lên đến hơn 4m Thuỷ triều yếu nhất vào các tháng 3, 4,
8 và 11 Số ngày trong năm có mực nước cao trên 3,5m là trên 100 ngày
- Chế độ sóng
Vùng biển Tiên Yên được che chắn bởi các hòn đảo ở phía Đông - Đông Namnên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ Do vậy, khu vực này ít có nhữngbiến động thời tiết lớn và nguy hiểm như bão, sóng không cao như ở ngoài khơi
Mùa đông: hướng sóng chủ yếu là hướng Bắc với tần suất khoảng 30 - 38%
Độ cao của sóng cao nhất chỉ ở mức 0,5 - 0,7m với tần suất rất thấp, xuất hiện vàotháng 12 Tần suất sóng lặng và sóng lăn tăn chiếm tới 97 - 99%
Trang 27Mùa hè: hướng sóng chủ yếu là Đông Nam với tần suất khoảng 20 - 40%,lặng sóng và sóng lăn tăn chiếm 88 -94% Cấp độ cao sóng từ 0,25 - 0,5m chiếm 4-9% Cấp độ cao của sóng, cao nhất lên đến 2,0 -2,5m vào tháng 7 và tháng 8 do ảnhhưởng trực tiếp của bão gây ra, đôi khi có thể gây thiệt hại đối với cơ sở hạ tầngnuôi trồng hải sản của khu vực này.
- Nhiệt độ nước biển và độ mặn
Mùa đông: nhiệt độ nước biển trung bình khoảng 20,5 - 21,5°C, cao nhất từ23,5 - 24,5°C, trung bình thấp nhất khoảng 18 - 19°C Thời kỳ này độ mặn có giá trịcao, cao nhất vào tháng 1 và tháng 2, nằm trong khoảng 31 - 32‰ Bởi vì thời kỳnày ít mưa nhất, lượng mưa nhỏ, nước biển ít bị pha loãng Biên độ dao động độmặn giữa các tháng trong mùa đông không lớn
Mùa hè: nhiệt độ nước biển đạt giá trị cao nhất trong năm, trung bình khoảng29,5 - 30°C, cao nhất đạt 31,5 - 32,5°C, trung bình thấp nhất trong khoảng 26 -27°C Nhiệt độ nước biển cao nhất rơi vào tháng 7 Mùa hè cũng là mùa mưa nhiều,lượng mưa lớn, đồng thời nước ngọt từ các sông suối từ đất liền đổ vào nhiều hơn,
do vậy nước biển bị pha loãng và độ mặn nước biển giảm xuống nhiều Độ mặnthấp nhất vào tháng 7, 8 giá trị trung bình từ 21 - 22‰, thậm chí xuống đến 5 -17‰ Ở khu vực các cửa sông đổ độ mặn thấp nhất có thể xuống tới 2 - 4‰
Trang 28Diện tích khá lớn và hiện chưa được khai thác và sử dụng nhiều cũng như sử dụngcòn manh mún và chưa đúng mục đích.
c Đất phù sa sông
Đây là những dải đất hẹp chạy dọc theo các triền sông Tiên Yên, sông BaChẽ và một số nhánh sông, suối khác Đây là loại đất được hình thành do sản phẩmcủa sông biển bồi tụ, bị nước biển xâm nhập nên bị mặn đồng thời trong lòng đất cóxác rễ sú vẹt thối mục thải ra các khí độc như CH3, H2S, axít hữu cơ làm cho đất bịnhiễm độc và chua
1.4.5 Kinh tế xã hội
Huyện Tiên Yên , tính đến thời điểm hiện nay có số dân 44.352 người, phân
bố không đồng đều, các xã ven biển có dân cư tập trung khá lớn Thành phần dântộc bao gồm người Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đến là dân tộc Dao, Tày, Hoa,Sán Chay, Sán Dìu, số còn lại là dân tộc Thái, Mường, Nùng, H’Mông và một sốdân tộc khác không đáng kể
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức tương đối cao trong khoảng 1,4 Nhữngnăm gần đây, tỷ lệ tăng dân số cơ học do hiện tượng di cư tự do ngày càng được hạnchế nhưng vẫn đang tiếp diễn với tốc độ chậm Chính những điều này tạo ra áp lựclớn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ diện tích RNM tại khu vựcnghiên cứu
Thu nhập của người dân chủ yếu từ các sản phẩm nông nghiệp và đánh bắt hảisản GDP bình quân đầu người còn thấp, không đều giữa các khu vực, cao nhất là
TX Móng Cái (1.416 USD/người/năm), các huyện khác thì thấp hơn (Hải Hà 455USD/người/năm, Đầm Hà 483 USD/người/năm ) …do thiếu vốn, thiếu công cụsản xuất tiên tiến; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng, do đó ảnh hưởng đến nền kinh tếhàng hoá, trình độ dân trí chưa cao dẫn đến đời sống xã hội gặp nhiều khó khăn Các cư dân địa phương quanh RNM Tiên Yên ngoài việc làm nông nghiệp thìmột bộ phận khá lớn sống nhờ vào đánh cá và nuôi trồng hải sản với đa số làphương pháp thủ công Nghề cá và nuôi trồng thuỷ, hải sản giữ một vai trò to lớntrong vùng, góp một phần không nhỏ trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
Trang 29Theo số liệu thống kê của huyện Tiên Yên, năm 2009, có trên 1200 lao độngcủa huyện tham gia khai thác và nuôi trồng hải sản, với khoảng 230 phương tiệnđánh bắt các loại Các phương tiện đánh bắt bao gồm các tàu thuyền nhỏ hoạt độngven bờ như giã tôm, te xiệp, lưới rê 3 lớp Trong đó, ở khu vực Tiên Yên - Hà Cối,nổi bật nhất là ngư trường Mỹ - Miều, là vùng biển bao quanh khu vực Hòn Mỹ -Hòn Miều Trong ngư trường này có luồng tàu vào cảng Dân Tiến và luồng tàu vàocảng Vạn Gia Ngư trường Mỹ - Miều là vùng biển nông, có độ sâu từ 1 - 8 m(trung bình 4 m), với diện tích khoảng 135 km2, nền đáy chủ yếu là bùn cát, trầmtích sinh vật.
Nhìn chung, sản lượng khai thác hải sản tại khu vực vịnh Tiên Yên - Hà Cối
là tương đối lớn, có xu hướng tăng cao lên năm do việc cải thiện năng lực đánh bắt,
về phương tiện cũng như số lao động tham gia khai thác
Bên cạnh đó, hoạt động nuôi thủy sản nước mặn, lợ diễn ra ở các khu vựckhác nhau, từ trong các đầm nuôi thông với vùng nước mặn qua hệ thống đê cống,đến các vùng triều và các vùng dưới triều
Khu vực Tiên Yên có nhiều diện tích RNM chạy dọc bờ biển, đặc biệt rộng
là ở khu vực Đồng Rui của huyện Tiên Yên Hệ sinh thái RNM nơi đây là nơi cư trúcủa nhiều loài hải sản, có tiềm năng lớn về thức ăn và nguồn giống cho việc pháttriển nuôi thủy sản trong các đầm nuôi có đê cống Các đầm nuôi được hình thànhmột phần do việc khai phá một phần diện tích RNM, một diện tích đất nằm ở tuyếncao triều cũng được sử dụng cải tạo thành các đầm nuôi với các đê cống thông ravùng triều Người dân địa phương ở đây vẫn chủ yếu khai thác hải sản trực tiếp trêncác bãi triều tự nhiên hoặc khoanh vùng để lưu giữ hải sản theo phương thức quảngcanh như điển hình ở Đồng Rui, chưa xây dựng được hệ thống nhân nuôi nhữngloài hải sản có giá trị ngay tại sinh cảnh tự nhiên của chúng
Theo quy hoạch đến năm 2015, Quảng Ninh sẽ có 7 khu công nghiệp venbiển, trong đó có khu công nghiệp cảng biển Hải Hà có diện tích lên tới 4.499ha.Toàn bộ diện tích các khu công nghiệp này đều là vùng đất ngập nước có giá trị về
đa dạng sinh học, là hệ thống màng lọc tự nhiên đối với các nguồn ô nhiễm ven bờ
ra biển Kết quả quan trắc hiện trạng môi trường hàng năm cho thấy, vùng dấu hiệu
Trang 30ô nhiễm môi trường cục bộ vùng ven biển đặc biệt là gần các khu đô thị và khucông nghiệp: váng dầu loang vượt giới hạn cho phép; hàm lượng chất thải lơ lửngkhu vực ven bờ cao, hàm lượng BOD, COD đều tăng Ngay tại dải nước biển ven
bờ khu vực Vân Đồn, chất thải lơ lửng mùa mưa cao hơn mùa khô và có hiện tượngváng dầu vượt tiêu chuẩn cho phép Để giải quyết vấn đề này chắc chắn các cơ quanchức năng cần có các giải pháp hợp lý nhằm ngăn chặn các hoạt động lấn biển,chấm dứt khai thác than lộ thiên tại vùng ven biển, phục hồi môi trường tại khu vựcnày Việc bảo vệ môi trường tại dải ven biển Quảng Ninh cần một tầm nhìn tổng thểmang tầm chiến lược mới có thể bảo vệ được vùng biển quan trọng này
Đánh giá chung: năng suất đánh bắt ở vùng ven biển cửa sông huyện TiênYên đang giảm qua từng năm, vẫn còn tình trạng khá phổ biến là ngư dân dùngnhiều cỗ lưới đáy ở khu vực cửa sông và sử dụng đăng với chiều dài từ 500-1500mquây lấy RNM để bắt tôm, cá con theo thủy triều rút ra biển Thêm vào đó, hiệntượng sử dụng xung điện, đèn cao áp, thuốc nổ để khai thác ở khu vực ven biển cửasông trong vùng đã gây tác hại lớn đến nguồn lợi thủy sản trong đó có cá, phươngtiện đánh bắt chủ yếu vẫn là những thuyền có công suất nhỏ, dẫn đến sản lượng cácloài cá tạp, chất lượng thấp ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong các mẻ lưới
Nuôi trồng thuỷ sản tại khu vực ở mức độ nào đó đã góp phần xoá đói giảmnghèo, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập ổn định đời sống của nhân dântrong khu vực Tuy nhiên sự phát triển nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản tại khuvực chưa thực sự ổn định và đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Cơ sở hạtầng và dịch vụ cho nghề nuôi trồng thuỷ sản biển và nước lợ nhìn chung còn rấtthiếu và chưa đồng bộ Hiện nay, việc khai thác và nuôi trồng thuỷ sản tại đây chủyếu mang tính tự phát, thiếu sự phối hợp đồng bộ với các giải pháp phương tiệnđánh bắt, về con giống, thức ăn, thị trường, bảo vệ môi trường, nguồn lợi, dẫn đếnviệc đánh bắt quá mức và làm suy giảm điều kiện sống của nhiều loài hải sản có giátrị, làm cạn kiệt nguồn lợi sinh vật
Trang 31Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ hệ thực vật và thảm thực vật thuộc hệ sinh thái RNM thuộc huyệnTiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp kế thừa, thống kê, phân tích, tổng hợp và đánh giá
Thu thập số liệu có liên quan về kinh tế xã hội của các cơ quan địa phương từcấp huyện đến cấp xã, thôn như: Thống kê, kế hoạch, quản lý ruộng đất, nông nghiệp,lâm nghiệp, thủy sản, giao thông, thủy lợi, du lịch, y tế, giáo dục, tại khu vực
nghiên cứu Bên cạnh đó, thu thập các số liệu, tài liệu sơ cấp và thứ cấp, tiến hành
tổng hợp, xử lý và đánh giá các thông tin, kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan
Các số liệu phỏng vấn chính quyền địa phương, người dân sau đó kiểm tra,phân tích so sánh, đối chiếu và kết hợp với các nguồn thông tin thứ cấp nhằm đánhgiá một cách thực tế về hiện trạng kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu Bên cạnh
đó đề tài tham vấn ý kiến chuyên gia và các cơ quan quản lý cấp trung ương về cơ chế chính sách phù hợp hỗ trợ thực hiện các hoạt động quản lý ở địa phương nhu cầu
và nguyện vọng của ngư dân và các vấn đề liên quan đến nguồn lợi thuỷ sản trong
các vùng RNM nghiên cứu.
Các tài liệu kế thừa bao gồm:
- Các tài liệu liên quan đến hiện trạng và phân bố của RNM huyệnTiên Yên
- Các tài liệu về hiện trạng đa dạng sinh học của RNM huyệnTiên Yên
- Số liệu về trạng thái và trữ lượng của RNM huyệnTiên Yên
Trên cơ sở những nguồn tài liệu thu thập được trong các báo cáo khoa học, đềtài ở địa phương và các cơ quan nghiên cứu từ trước đến nay, chúng tôi đã tiến hànhthống kê, phân tích, tổng hợp, đánh giá và xử lý các số liệu
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Từ năm 2014 đến 2015, nhiều đợt khảo sát thực địa trong ranh giới vùngnghiên cứu được tiến hành nhằm thu thập các tư liệu phân tích hệ sinh thái và là khóagiải đoán cho ảnh viễn thám Đáng chú ý là các đợt khảo sát Đồng Rui, Đông Hải,
Trang 32Đông Ngũ, Hải Lạng, Tiên Lãng Những đợt khảo sát trên được tiến hành bài bản vềcác phương pháp phân tích cấu trúc các quần xã thực vật, các dấu hiệu của quần xãtrên ảnh viễn thám, các điều kiện tự nhiên, nhân tác liên quan tới sự hình thành quần
xã thực vật, định loại các loài thực vật bằng phương pháp giúp đỡ của các chuyên giatại chỗ hoặc thông qua hình ảnh chụp tại thực địa về phân tích trong phòng thínghiệm Những số liệu này dùng để:
a/ Đánh giá tính đa dạng thảm thực vật:
Các phương pháp được sử dụng khác nhau cho nghiên cứu cấu trúc và thànhphần loài của quần xã Trong những nghiên cứu này sự cần thiết để so sánh về sốlượng về mức độ chi tiết của các điểm thu mẫu được lựa chọn được đánh giá trongnhững vùng nghiên cứu điểm và nó được xem là hình mẫu để có thể đưa ra nhữngnhận định chung trong một vùng rộng lớn Tất cả những đánh giá tổng hợp đềuphải nói lên được mối liên hệ giữa các quần xã với môi trường Chúng được tổnghợp từ các phương pháp sau:
1 Mô tả và phân tích cấu trúc: Những phương pháp được tiến hành dựa trên
công bố của các tác giả có uy tín Quan điểm nghiên cứu được dựa trên phương phápcủa Rollet (1974) và báo cáo của UNESCO về hệ sinh thái rừng nhiệt đới (1979)
2 Sử dụng tư liệu viễn thám – bản đồ, dùng bản đồ và ảnh vệ tinh để tăng
cường khả năng phân tích lập vùng điều tra chuẩn trên thực địa Các điểm khảo sát
và tuyến khảo sát được thiết lập trải rộng qua tất cả các đơn vị của các hệ sinh tháikhác nhau Các điểm khảo sát được định vị toạ độ bằng GPS trên bản đồ Từ đóthiết lập hệ thống tuyến khảo sát và các hệ thống điểm quan sát lấy mẫu Tuyếnkhảo sát của chúng tôi thiết lập qua tất cả hệ sinh thái
b/Đánh giá tính đa dạng thực vật :
+ Điều tra thành phần hệ thực vật theo quan niệm và phương pháp truyềnthống, định loại mẫu vật theo phương pháp chuyên gia và phương pháp so sánhhình thái Ngoài ra, báo cáo kế thừa các tư liệu khoa học đã công bố khác của cácnhà thực vật học có uy tín đã công bố (trong danh mục tài liệu tham khảo),từ đó lựachọn một số loài đã xác định hoặc có khu phân bố phủ lên vùng nghiên cứu
Trang 33+ Đánh giá tính đa dạng sinh học thành phần loài, đặc trưng cấu trúc thànhphần loài của hệ thực vật Tính đa dạng về các mối quan hệ giữa hệ thực vật vùngnghiên cứu với các hệ thực vật khác, nhằm khẳng định tính độc đáo của hệ thực vật
có hoặc không
+ Đánh giá tính đa dạng về yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật vùng nghiêncứu dựa trên sự phân tích nơi tập trung cao nhất ranh giới các khu phân bố của cáctaxon thực vật bậc loài Các phân tích của tác giả tiến hành theo qui luật khu phân
bố địa lý và phân vùng địa lý thực vật, các quan niệm này thống nhất với kết quảphân tích yếu tố địa lý hệ thực vật Bắc Việt Nam (kéo dài tới vĩ tuyến 12) của Pocs’
T (1965) Các dẫn liệu này góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ đa dạng và sự giaothoa phức tạp giữa hệ thực vật vùng nghiên cứu với các hệ thực vật khác
+ Đánh giá tính đa dạng bản chất sinh thái hệ thực vật Các nguyên tắc đánh giádựa trên sự phân chia dạng sống thực vật của Raunker (1937)
Người đầu tiên đưa ra cách phân loại dạng sống là C Raunkiaer, sau này đượcgọi là Raunkiær's plant life forms (phổ dạng sống của Raunkiaer – 1934) Sau nàydạng sống của C Raunkiaer được vận dụng cho nghiên cứu hệ thực vật và chi tiếthóa thêm như sau:
A.Phanerophytes (Ph): Là cây chồi trên, có chồi tái sinh cách mặt đất từ25cm trở lên
1 Megaphanerophytes: Là cây gỗ cao từ 25m trở lên
2 Mesophanerophytes: Là cây gỗ cao từ 8m – 25m
3 Microphanerophytes: Là cây gỗ dạng bụi và cây bụi cao từ 2m – 8m
4 Nanophanerophytes: Là cây bụi lùn, cây thảo hoá gỗ cao từ 25 cm – 2m
5 Epiphytes: Gồm các loài bì sinh sống lâu năm trên thân, cành cây và bám
trên đá
6 Liannes: Cây chồi trên dạng dây leo thân hoá gỗ hoặc thân thảo.
7 Herbaceous: Cây chồi trên thân thảo hóa gỗ
B Chamaephytes (Ch): Cây chồi thấp cách mặt đất dưới 25 cm
C Hemicryptophytes (He): Cây có chồi nằm sát mặt đất, được lá khô che phủ bảo vệ
D Cryptophytes (Cr): Chồi nằm dưới đất hay đất dưới nước
Trang 34E.Therophytes(Th): Cây sống một năm, tái sinh bằng hạt
+ Đánh giá tính đa dạng và mức độ giàu loài quý hiếm ( theo IUCN, trong sách
đỏ Việt Nam, 2007), loài có giá trị tài nguyên (theo”Tài nguyên thực vật ĐôngNam Á - Prosea, 1995”)
2.2.3 Phương pháp viễn thám, hệ thống thông tin địa lý
Phương pháp này được sử dụng trong việc thành lập bản đồ thảm thực vật.Phần mềm được sử dụng để thiết lập các lớp thông tin là Mapinfo 15.0 được hỗ trợ
và liên kết với các tính năng của Window 7 Tư liệu được dùng là bản đồ địa hình
số hóa dưới dạng shape files có thể truy xuất cho các phần mềm ARC GIS vàMapinfo, tỷ lệ gốc 1/50.000 và 1/ 25 000, định dạng trong hệ qui chiếu WGS – 84tích hợp với lưới chiếu UTM và lưới chiếu VN 2000 theo qui chuẩn Việt Nam Cáclớp thông tin được xử lý như là các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính, trongmột bộ cơ sở sữ liệu của GIS Về quy trình thành lập bản đồ, chúng tôi vận dụngquy trình Kuchler (1967) với những bước như sau:
Bước 1: Thu thập các tư liệu đã công bố liên quan khu vực nghiên cứu về địahình, khí hậu, thủy văn, thực vât… dựa vào các điều kiện tự nhiên trong vùng, kếthợp với việc giải đoán ảnh vệ tinh, tiến hành định loại và phân tích bước đầu cácđối tượng của lớp phủ thực vật Xây dựng khóa giải đoán sơ bộ và bản đồ phân tíchvùng khóa
Bước 2: Tiến hành thực địa khảo sát vùng nghiên cứu, lập tuyến khảo sát,kiểm tra các đối tượng đã được định loại bước đầu trên ảnh, tiến hành mô tả và thunhập số liệu về thành phần, đặc điểm, cấu trúc của đối tượng, hiệu chỉnh ranh giớicủa đối tượng trên ảnh viễn thám, lập khóa giải đoán
Bước 3: Hiệu chỉnh khóa giải đoán, kết hợp tư liệu thu thập trước và trong quátrình thực địa để thành lập bản đồ lớp phủ thực vật trên ảnh vệ tinh Đồng thời số hóacác lớp thông tin về giao thông, thủy văn, địa hình trên phần mềm Mapinfo 15.0
Những nội dung chính trong qui trình là:
+ Tổ chức thông tin theo các tập tin, phân tích và nhập số liệu từ raster ảnh vệ tinh+Tổ chức thông tin theo các lớp đối tượng
+Tạo lớp thông tin chuyên đề thảm thực vật theo bảng phân loại thích hợp
Trang 35+ Phân tích các thuộc tính trong bảng chú giải
+ Các thuộc tính cấu trúc từng quần xã
+ Liên kết thông tin thuộc tính với các đối tượng bản đồ, tạo cơ sở dữ liệuchồng ghép theo tiêu chí nhất định
+ Các phương pháp xử lý GIS: phân loại, nội suy, tích hợp các lớp thông tin,các thuật toán tạo mô hình thích ứng với mục đích nghiên cứu, trả lời các câu hỏiliên quan tới thảm thực vật và định hướng sử dụng hợp lý
+ Liên kết chồng xếp các lớp thông tin địa lý để xử lý GIS và tạo bản đồ tổnghợp cuối cùng
+ Biên tập, thiết kế trình bày cho in ấn
Trang 36Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Khái quát đánh giá nhân tố sinh thái hình thành đa dạng sinh học thực vật
3.1.1 Nhân tố sinh thái tự nhiên
Hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh được xác địnhtrong phạm vi vùng triều ít sóng, chịu sự bồi lắng mạnh của các sườn dốc vùng núiphía tây của huyện với vật chất bồi tụ thô, nhiều cuội sỏi nhỏ, tầng cát bùn nôngthuận lợi cho sự phát triển các loài thực vật ngập mặn với chiều cao tương đối thấp,chịu được độ mặn trung bình
Ngoài ra còn có vùng đất phù sa sông là dải đất hẹp chạy dọc theo các consông như Tiên Yên, Phố Cũ, Ba Chẽ và một số nhánh sông khác, thành phần cơ giớichủ yếu là cát pha, bùn cát, cũng có diện tích tương đối (như ở huyện Tiên Yên làtrên 1100 ha) Vùng đất phù sa sông cũng có về tiềm năng lớn cho phát triển rừngngập mặn, lợ, tạo sản phẩm có giá trị kinh tế cao
Khu vực Tiên Yên nằm trong vịnh Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độkhí hậu của lục địa, vịnh Bắc Bộ và các vùng lân cận Khí hậu khu vực này thuộckiểu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng và ẩm (kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10),mùa đông khô và lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)
Chế độ thuỷ triều chủ yếu là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4 m Trong vịnhBắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo hướng bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùađông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta, nhiệt độ có khi xuống tới 13°C
Nhiệt độ nước biển trung bình khoảng 20,5 21,5°C, cao nhất từ 23,5 24,5°C, trung bình thấp nhất khoảng 18 - 19°C Tất cả các điều kiện đó thuận lợicho các loại cây thường xanh chịu ngập mặn phát triển và hình thành các quần xãrừng ngập mặn thường xanh che phủ các diện tích vùng triều thích hợp
-Hệ sinh thái RNM chiếm diện tích khoảng 6400 ha, gồm các quần xã thựcvật ngập mặn phân bố ở 4 khu vực chính: khu vực ven các bờ đê và bờ đầm; khuvực trong các đầm nuôi thủy sản; khu vực các bãi triều; khu vực các bãi lầy thụt.Thảm thực vật RNM nguyên sinh ít bị tác động ở khu vực này cây cao nhất cũng
Trang 37chỉ 8 - 10 m như Vẹt dù, Đâng, Mắm biển Các bãi triều ở Mũi Chùa, cửa sông Tiên
Yên, cửa sông Ba Chẽ có RNM phát triển mạnh với các loài phổ biến như Đâng,Vẹt dù, Mắm biển, Trang…
Khu hệ động vật RNM rất đa dạng và phong phú, riêng tại RNM Đồng Rui
đã phát hiện: động vật phù du 14 loài, Thân mềm 76 loài và 34 họ, Cá 73 loài và 36
họ, Tôm 21 loài và 3 họ Trong đó, có rất nhiều loài có giá trị kinh tế cao như: tôm
sú Penaeus monodon, tôm he Nhật Bản Penaeus japonicus, tôm rảo Metapenaeus ensis, ốc mút Cerithidea spp., ốc ngọt Nerita spp., vạng Mactra spp., mực ống Loligo spp., mực nang Sepia spp, mực nang vân hổ Sepia pharaonis, mực ống Bê
ka Loligo beka, sò huyết Anadara granosa, sò lông Anadara subcrenata, ngao Meretrix meretrix, cá cơm thường - Stolephorus commersonii, cá lẹp quai (cá rớp) - Thryssa hamiltonii,
Trong các bãi triều, chủ yếu tồn tại các RNM với chiều cao thấp chủ yếu là
những loài như Sú - Aegiceras corniculatum (L.) Blanco, Trang - Kandelia obovata Sheue Liu &Yong, Đước - Rhizophora apiculata Blume, Vẹt dù - Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lam., Đâng - Rhizophora stylosa Griff., Mắm biển - Avicennia marina (Forsk.) Veirh,… Đại diện cho các loài thực vật phù du trong sinh cảnh này
là Rhizosolenia setigera Brightwell, Chaetoceros brevis Schiill, Chaetoceros compresus Lauder, Chaetoceros decipiens Cleve,…
Trong khu hệ động vật, các loài thường gặp: sò (Arca), ngao (Meretrix), vẹm(Mytilus), hàu (Ostrea), phi (Sanguinolaria), ngán (Cyclina), vạng (Mactra), don(Glaucomya), dắt (Aloidis), tu hài (Lutraria), ốc đĩa (Nerita)…
Trên các vùng cửa song, phổ biến các loài Ô rô (Acanthus ilicifolius), Sậy (Phragmitea karka), Bần chua (Sonneratia caseolaris) Phân tích thành phần các loài thực vật phù du trong thủy vực này cho thấy các loài ưu thế là: Cyclotella kuetzingina Thw., Melosira dubia Kutz, Melosira granulata (Erh.) Ralfs Melosira nummuloides (Dilw.) Agardh, Rhizosolenia longiseta Zacharias, Chaetoceros abnomis Lauder,…
Về khu hệ động vật, chiếm ưu thế vẫn là những loài thuộc bộ Copepoda,Cladocera, ngoài ra còn gặp ấu trùng các nhóm thân mềm Mollusca, giun nhiều tơ
Trang 38Polychaeta Các ĐVPD thường gặp ở cửa sông như:: Schmackeria bulbosa, S gordioides, Mesocyclops leuckarti, Microcyclops varicans, Diaphanosoma sarsi, D leuchtenbergianum, Moina dubia, Paracalanus aculeatus, Temora turbinata, Temora turbinata… Thường gặp các nhóm cá gần bờ như: cá trích, cá nục, cá lầm,
cá song, cá tráp, cá mối, cá chai, cá dìa, cá bơn…
Trước khi có sự tác động của con người, dưới ảnh hưởng của các điều kiện
tự nhiên ở trên, tất cả các khu vực nghiên cứu đều đã hình thành và bao phủ bởi cácquần xã rừng râm thường xanh ngập mặn, rừng râm trên các diện tích cửa sông, cácbãi triều và trên cát ven biển….Đây là một trong những trung tâm phong phú đadạng sinh học của đất ngập nước vùng Đông Bắc nước ta
3.1.2 Nhân tác
Khu vực Tiên Yên có nhiều diện tích RNM chạy dọc bờ biển, đặc biệt rộng
là ở khu vực Đồng Rui của huyện Tiên Yên Hệ sinh thái RNM nơi đây là nơi cư trúcủa nhiều loài hải sản, có tiềm năng lớn về thức ăn và nguồn giống cho việc pháttriển nuôi thủy sản trong các đầm nuôi có đê cống Các đầm nuôi được hình thànhmột phần do việc khai phá một phần diện tích RNM, một diện tích đất nằm ở tuyếncao triều cũng được sử dụng cải tạo thành các đầm nuôi với các đê cống thông ravùng triều Người dân địa phương ở đây vẫn chủ yếu khai thác hải sản trực tiếp trêncác bãi triều tự nhiên hoặc khoanh vùng để lưu giữ hải sản theo phương thức quảngcanh như điển hình ở Đồng Rui, chưa xây dựng được hệ thống nhân nuôi nhữngloài hải sản có giá trị ngay tại sinh cảnh tự nhiên của chúng
Theo quy hoạch đến năm 2015, Quảng Ninh sẽ có 7 khu công nghiệp venbiển, trong đó có khu công nghiệp cảng biển Hải Hà có diện tích lên tới 4.499ha.Toàn bộ diện tích các khu công nghiệp này đều là vùng đất ngập nước có giá trị về
đa dạng sinh học, là hệ thống màng lọc tự nhiên đối với các nguồn ô nhiễm ven bờ
ra biển Việc phát triển các khu công nghiệp sẽ làm mất đi hàng nghìn ha RNM, bãitriều, mất đi hệ sinh thái và đang đứng trước nguy cơ bồi lắng luồng lạch Bên cạnh
đó, việc các khu công nghiệp hoạt động kéo theo nguy cơ suy giảm chất lượng nướcven biển do chất thải, nước thải Kết quả quan trắc hiện trạng môi trường hàng nămcho thấy, vùng dấu hiệu ô nhiễm môi trường cục bộ vùng ven biển đặc biệt là gần
Trang 39các khu đô thị và khu công nghiệp: váng dầu loang vượt giới hạn cho phép; hàmlượng chất thải lơ lửng khu vực ven bờ cao, hàm lượng BOD, COD đều tăng
Hiện nay, việc khai thác và nuôi trồng thuỷ sản tại đây chủ yếu mang tính tựphát, thiếu sự phối hợp đồng bộ với các giải pháp phương tiện đánh bắt, về congiống, thức ăn, thị trường, bảo vệ môi trường, nguồn lợi, dẫn đến việc đánh bắt quámức và làm suy giảm điều kiện sống của nhiều loài hải sản có giá trị, làm cạn kiệtnguồn lợi sinh vật
Tất cả các hoạt động kinh tế xã hội của con người tại khu vực này đang tácđộng ngày càng mạnh vào hệ sinh thái tự nhiên của khu vực, nhiều dienj tích rừngngập mặn tự nhiên đã và đang bị thu hẹp diện tích, bị phá vỡ cấu trúc và đứng trước
sự suy giảm nhanh chóng đa dạng sinh học Đây là một trong những nhân tố cầnđược tính đến khi hoạch định phát triển kinh tế xã hội bền vững
3.2 Đa dạng sinh học hệ thực vật hệ sinh thái rừng ngập mặn cửa sông ven biển huyên Tiên Yên:
3.2.1 Đa dạng loài thực vật:
Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực nghiên cứu được giới hạn bởi cácquần xã thực vật từ vùng đất chịu ảnh hưởng của thủy triều bờ cát, dải đất ven biển,cửa sông đến các vùng đất ngập nước mặn ven biển Hệ thực vật tạo thành các quần
xã này là tập hợp tất cả các loài thực vật gặp trong vùng nghiên cứu nhất định, sốngtrong mọi sinh cảnh Theo qui ước truyền thống, hệ thực vật chỉ bao gồm các loàithực vật bậc cao có mạch bời vì:
- Những loài này đóng vai trò thống trị trong hầu hết các quần xã thực vậtkhác nhau của hệ sinh thái
- Mức độ nghiên cứu các loài thực vật bậc cao có mạch đầy đủ hơn, chi tiếthơn rất nhiều so với các loài thuộc các ngành thực vật bậc thấp và nấm.Theo quan niệm trên, kết quả khảo sát thực địa và kế thừa tài liệu của cáccông trình nghiên cứu trước đây (Phan Nguyên Hồng, 2005) cho thấy thành phầnloài thực vật nơi đây khá phong phú đa dạng với 386 loài 271 chi và 91 họ Nếu sosánh với hệ thực vật ngập mặn tỉnh Thái Bình (một hệ thực vật có điều kiện sốngtương tự) thì số loài nhiều gần gấp 1,5 lần (Trần Văn Thụy 2005) Điều này cho
Trang 40thấy hệ thực vật ở đây được hình thành bởi các điều kiện tự nhiên khá lâu đời và ổnđịnh trước khi chịu tác động bởi con người trong khi những điều kiện tương tự ởven biển đồng bằng sông Hồng có tuổi tự nhiên trẻ hơn nhiều do các hoạt động khaihoang lấn biển diễn ra liên tục.
Thành phần loài thực vật phong phú đa dạng không chỉ là nguồn gien tựnhiên quý, ổn định lâu dài mà còn là sự thành tạo các quần xã rừng khá vững chắcduy trì sự ổn định cho hệ sinh thái, giảm thiểu tai biến môi trường và tạo các sinhcảnh phong phú trong khu vực
3.2.2 Đa dạng cấu trúc hệ thống hệ thực vật
Hệ thống hệ thực vật ngập mặn ven biển cửa sông huyện Tiên Yên được tạothành bởi 386 loài thực vật bậc cao có mạch của 271 chi và 91 họ, chúng được phân
bố trong 3 ngành thực vật như trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Đa dạng các taxon của hệ thực vật ngập mặn Tiên Yên
TT
Tên ngành Họ Chi Loài Tên khoa học Tên Việt Nam
Số lượng Tỉ lệ
Số lượng Tỉ lệ
Số lượng
kiện trên cạn có các sinh cảnh phong phú hơn (Hình 3.2.).