3 Địa danh chỉ các đơn vị hành chính4 Địa danh chỉ vùng Theo quan điểm của học viên về địa danh trên quan điểm bản đồ thì mỗiđịa danh tương ứng với một đối tượng địa lý trên bề mặt Trái
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Địa danh nói chung và địa danh bản đồ nói riêng là một trong nhữngthành phần quan trọng phản ánh đời sống văn hóa của con người qua các thời kỳlịch sử, tuy nhiên địa danh thể hiện trên các loại bản đồ địa hình còn có nhiềuđiểm chưa thống nhất
Địa danh bản đồ là một thành phần của ngôn ngữ bản đồ, giúp cho người
sử dụng bản đồ có cái nhìn tổng quát về khu vực cần nghiên cứu, đồng thời cũng
là thành phần cơ sở của nền địa lý để các ngành quy hoạch, giao thông, thủyđiện, du lịch, …sử dụng trong thực tiễn
Địa danh trên bản đồ, đặc biệt là bản đồ địa hình hiện sử dụng khôngthống nhất với địa danh thực tế, ví dụ như địa danh Khuổi Bốc thể hiện trên bản
đồ địa hình có phiên hiệu F48-56-B-a ở xã Thanh Bình, huyện Chợ Mới, tỉnhBắc Kạn nhưng trên thực tế địa danh này không tồn tại mà nguyên nhân có thế
do trong quá trình thành lập bản đồ đã có sự nhầm lẫn, mặt khác địa danh giữacác bản đồ địa hình thành lập ở các thời điểm khác nhau cũng có những khácnhau, ví dụ như địa danh Tục Mục ở xã Đông Ngũ, huyện Tiên Yên, tỉnh QuảngNinh thì trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100.000 lưới chiếu Bonne được ghi là HàGian nhưng trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 lưới chiếu Gauss thì lại ghi làTục Mục Chính vì vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh phục vụ công táclập bản đồ để sử dụng thống nhất trong cả nước là một yêu cầu cấp thiết
Hiện nay, thông tin về địa danh hầu như còn phân tán ở các cơ quan khácnhau như thông tin địa danh quốc tế được lưu trữ ở Bộ Tài nguyên và Môitrường, địa danh biển đảo được lưu trữ ở Bộ Nội vụ, địa danh hành chính được
Bộ Nội vụ và Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng lưu trữ, địa danh dân cư, sơnvăn, thủy văn, hiện nay đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiệnchuẩn hóa trên toàn quốc (đã thực hiện được ở 15 tỉnh khu vực miền núi phíaBắc) Trước thực trạng lưu trữ dữ liệu địa danh hiện nay như vậy, việc thốngnhất dữ liệu địa danh về một mối là công việc cần làm và phải làm để phục vụcác mục đích khác nhau, đặc biệt phục vụ công tác lập bản đồ, bảo về chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ Để thực hiện việc đó thì việc xây dựng cấu trúc cơ sở dữliệu địa danh cần phải được nghiên cứu và thực hiện
Trang 2Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh bản đồ làm tăng tính chính xáccủa bản đồ, làm cơ sở để xây dựng các loại bản đồ và xây dựng CSDL nền thôngtin địa lý Quốc gia thống nhất về địa danh, làm căn cứ thống nhất để các ngành
sử dụng địa danh thống nhất
Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh bản đồ để xây dựng cơ sở dữliệu địa danh thống nhất phục vụ nghiên cứu và phát triển văn hóa, lịch sử cácvùng miền trong cả nước
Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh bản đồ góp phần xây dụngchuẩn cơ sở dữ liệu địa danh thống nhất hướng tới hội nhập, giao lưu với cácnước trên thế giới, tiến tới việc xây dựng Ủy ban địa danh quốc gia
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu, thiết kế cấu trúc CSDL địa danh Việt Nam trên bản đồ địahình
- Ứng dụng cụ thể để xây dựng cấu trúc CSDL địa danh trên một đơn vịhành chính
3 Mục tiêu của đề tài
- Tổng hợp lý thuyết về địa danh học, địa danh bản đồ, cơ sở dữ liệu
- Xây dựng cấu trúc CSDL địa danh phục vụ công tác lập bản đồ
- Xây dựng thử nghiệm cơ sở dữ liệu địa danh trên một đơn vị hành chínhtheo cấu trúc cơ sở dữ liệu đã xây dựng, làm căn cứ để tiến hành nghiên cứuchuẩn quốc gia về địa danh sau này
4 Nhiệm vụ của đề tài
Thu thập, phân tích các đề án, dự án về địa danh bản đồ đã được thực hiệntrong nước
Thu thập, nghiên cứu các chuẩn Quốc gia về CSDL nền thông tin địa lý GIS
Thu thập, đánh giá hiện trạng địa danh bản đồ (dự kiến ở bản đồ địa hình
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu thực hiện đề tài
- Phương pháp thống kê và điều tra thực địa
- Phương pháp chuyên gia kết hợp thực nghiệm
- Phương pháp chồng xếp bản đồ đa thời gian
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, cấu trúc luận văn gồm 3 chương:Chương 1 Tổng quan về địa danh và các phương pháp nghiên cứu
Chương 2 Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh
Chương 3 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh tỉnh Lai Châu
Trang 4CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA DANH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỊA DANH
1.1 Tổng quan về địa danh
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về địa danh
Địa danh gắn liền với các công cuộc tìm kiếm, khám phá những vùng đấtcủa loài người, nó là yếu tố động, liên quan đến sự xuất hiện hay mất đi của cácđối tượng địa lý, sự thay đổi tên gọi của các đối tượng địa lý Chúng ta vẫnthường sử dụng địa danh trong đời sống hàng ngày nhưng có lẽ ít người để ý đếnkhái niệm địa danh là gì?
Theo Lê Trung Hoa trong tác phẩm ”Địa danh học Việt Nam” có địnhnghĩa: Địa danh là tên gọi của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất bao gồm
cả đối tượng địa lý tự nhiên, đối tượng địa lý nhân tạo được con người sử dụngtrong quá trình sinh sống, là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống xãhội
Theo định nghĩa trong Đại Từ điển tiếng Việt: Địa danh là tên các vùngmiền, tên địa phương
Trong bài ”Địa danh nước ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuậtngữ và phương thức nhập nội địa danh” của GS.TS Hoàng Thị Châu trênwebsite http//ngonngu.net có đưa ra định nghĩa: Địa danh hay là tên địa lí(toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đốitượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính,… được con người đặtra
Địa danh có được định nghĩa như thế nào thì mỗi địa danh ra đời tronghoàn cảnh nhất định phản ánh thời điểm lịch sử xã hội chung quanh địa danh đóvới rất nhiều biến cố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ,… được lưutrữ trong địa danh như Điện Biên Phủ, Quảng Trị Từ đó cho thấy , địa danh làtên gọi của các đối tượng trên bề mặt Trái Đất do con người đặt và sử dụngtrong quá trình sinh sống và phát triển Do địa danh được hình thành theo quátrình sinh sống của con người nên địa danh cũng có quá trình hình thành, pháttriển và biến đổi theo trong cuộc sống của con người, phản ánh các thời điểmcủa xã hội loài người Từ đó hình thành bộ môn khoa học nghiên cứu địa danh,được gọi là địa danh học Địa danh học là một bộ môn nghiên cứu về địa danh,
Trang 5phân loại địa danh, các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, phânvùng địa danh, phương pháp đặt địa danh, cấu tạo của địa danh, vòng đời củađịa danh.
Địa danh được thể hiện trên bản đồ được gọi là địa danh bản đồ, địa danhbản đồ có đặc điểm khác với địa danh trong ngôn ngữ là được xác định trong môhình không gian thu nhỏ của thế giới thực theo quy định của bản đồ về tỷ lệ, về
mô hình, ký hiệu
1.1.2 Dưới góc độ xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh
Địa danh thể hiện trên bản đồ là tên các đối tượng địa lý thể hiện trên bản
đồ, bao gồm danh từ chung chỉ loại và tên gọi của đối tượng địa lý đó
Danh từ chung có thể được ghi trên bản đồ như xóm, thôn, … hoặc cũng
có thể được thể hiện qua cách biểu diễn đối tượng trên bản đồ như kiểu chữ,màu chữ hoặc ký hiệu viết tắt nhưng bất kỳ đối tượng nào được thể hiện trên bản
đồ thì cũng được xếp loại vào một chuyên đề nhất định, gắn với một danh từchung hoặc được ký hiệu theo một danh từ chung (có thể danh từ chung khôngđược ghi cụ thể mà chỉ thể hiện qua màu chữ, kiểu chữ, )
Tên của đối tượng địa lý chính là thành phần quan trọng nhất của địa danh
để phân biệt đối tượng này với đối tượng khác mặc dù có thể là cùng có tên gọigiống nhau như địa danh Cầu Giấy có thể có Quận Cầu Giấy và Cầu Giấy,…
Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng một địa danh nói chung sẽ bao gồm haithành phần cơ bản là danh từ chung chỉ loại đối tượng và địa danh Khi các danh
từ chung trở thành một bộ phận cấu thành của địa danh thì viết hoa chữ cái đầucủa danh từ chung như sau:
Quận Cầu Giấy: danh từ chung + địa danh
Cầu Giấy: danh từ chung + địa danh trong đó chữ “Cầu” là danh từ chung
đã trở thành một bộ phận cấu thành của địa danh và được viết hoa chữ ”C”, tuynhiên đây là trường hợp rất khó xác định khi nào thì danh từ chung trở thànhmột bộ phần của địa danh, khi nào thì không trở thành một bộ phận của địadanh Thông thường thì địa danh có một âm tiết thì danh từ chung của chúngthường đi kèm và trở thành một bộ phận của địa danh
Việc nghiên cứu địa danh giúp ta xác định thế nào là địa danh, có baonhiêu loại địa danh ở Việt Nam, người Việt có mấy phương thức đặt địa danh,cấu tạo của địa danh,… tuy nhiên trong đề tài này, học viên không đi sâu vào
Trang 6nghiên cứu địa danh theo hướng cách đặt địa danh, âm tiết của địa danh, màhọc viên chỉ giới thiệu sơ qua về địa danh học ở khía cạch ngôn ngữ học để cómột cái nhìn tổng thể về địa danh.
1.2 Cấu tạo của địa danh Việt Nam
Cấu tạo địa danh dưới góc độ địa danh học và ngôn ngữ học có hai kiểucấu tạo chủ yếu là cấu tạo đơn và cấu tạo phức
1.2.1 Địa danh có cấu tạo đơn
Địa danh có cấu tạo đơn là địa danh gồm có một từ đơn đơn âm tiết hoặcmột từ đơn đa tiết thuộc loại cấu tạo đơn Các địa danh có thể là danh từ, động
từ, hoặc số từ nhưng đã chuyển thành danh từ như Nghĩa Tân, Rạch Lở, ChợMới, Phường 8, …
1.2.2 Địa danh có cấu tạo phức
Là các địa danh gồm hai thành tố có nghĩa (từ, ngữ) trở lên thuộc loại cấutạo phức Loại này có thể chia ra như sau:
a Loại gồm các thành tố có quan hệ đẳng lập:
Loại này gồm các thành tố thuộc cùng từ và có cùng chức năng
+ Với địa danh thuần Việt: Loại địa danh thuần Việt có cấu tạo đẳng lậpkhông nhiều như vùng Gò Môn (Gò Vấp + Hóc Môn), …
+ Với địa danh Hán Việt: Loại địa danh Hán Việt thường có cách cấu tạonày và thành tố thường là tính từ hoặc danh từ như Tân Phú, An Lạc, … Đôi khihai, ba địa danh Hán Việt sát nhập thành một như Phú Khánh (Phú Yên + KhánhHòa) Hà Sơn Bình (Hà Đông + Sơn Tây + Hòa Bình), …
Trang 7+ Địa danh hỗn hợp: Đa số có cấu tạo danh từ + danh từ, một số ít có cấutạo danh từ + danh ngữ/ số từ / tính từ như huyện Hàm Tân, huyện Hàm ThuậnBắc, ….
1.3 Phân loại địa danh
Tùy theo từng hướng nghiên cứu, cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứuđịa danh đã phân loại địa danh theo cách nghiên cứu của mỗi người, cụ thể nhưsau:
- Các nhà địa danh học Liên Xô cũ đã chia địa danh theo đối tượng mà địadanh thể hiện, tức là dựa vào nội dung của nó Trong cuốn sách ToponimijaMoskvy, G.L Smolisnaja và M.V Gorbanevskij đã chia địa danh làm 4 loại:
1) Phương danh (tên các địa phương)
2) Sơn danh (tên núi, gò, đồi, …)
3) Thủy danh (tên các dòng chảy, hồ, …)
4) Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
Còn A.V Superanskaja trong Chto takoe toponimika chia địa danh làm 7loại như sau:
1) Phương danh (tên các địa phương)
2) Thủy danh (tên các sông, suối, hồ, …)
3) Sơn danh (tên núi, gò, đồi, …)
4) Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
5) Viên danh (tên các quảng trường, công viên)
6) Lộ danh (tên các phố)
7) Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, trên nước, trên không)
- Trong các bài viết của Trần Thanh Tâm “Thử bàn về địa danh ViệtNam” có chia địa danh Việt Nam làm 6 loại:
1) Loại đặt theo địa hình và đặc điểm
2) Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian
3) Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử
4) Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu
5) Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
6) Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
Trang 8- Trong hai cuốn sách “ Địa danh Việt Nam” và “Một số vấn đề về địadanh Việt Nam”, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh theo ba cấp: loại, kiểu
và dạng
1) Loại địa danh
1.1) Địa danh tự nhiên: sông Hồng, núi Trường Sơn, …
1.2) Địa danh kinh tế - xã hội: làng Thượng Cát, huyện Sa Pa, …
2) Kiểu địa danh
2.1) Thủy danh: sông Hồng, hồ Núi Cốc,…
2.2) Sơn danh: núi Thằn Lằn, núi Bà Đen,…
2.3) Lâm danh: rừng Cúc Phương, rừng Tánh Linh, …
2.4) Làng xã: làng Trại, xã Hải Bối, …
2.5) Huyện thị: huyện Sa Pa, huyện Từ Liêm,…
3.3) Đồi núi: Trường Sơn, Tây Côn Lĩnh
3.4) Hải đảo: Côn Đảo, Trường Sa, …
3.12) Quốc gia: Việt Nam, Ấn Độ, …
- Trong cuốn sách “Địa danh học Việt Nam”, Lê Trung Hoa đã chia địadanh ra làm 4 loại như sau:
1) Địa danh chỉ địa hình tự nhiên
2) Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều
Trang 93) Địa danh chỉ các đơn vị hành chính
4) Địa danh chỉ vùng
Theo quan điểm của học viên về địa danh trên quan điểm bản đồ thì mỗiđịa danh tương ứng với một đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất, được biểudiễn trên bản đồ nên việc phân loại địa danh theo nhóm đối tượng thể hiện trênbản đồ là phù hợp với cách thể hiện bản đồ Mặt khác, việc xây dựng cơ sở dữliệu địa danh được thể hiện trên bản đồ trên cơ sở phân loại địa danh theo cácnhóm đối tượng thể hiện trên bản đồ tạo điều kiện thuận lợi trong việc tra cứu,lưu trữ và sử dụng địa danh trong công tác thành lập bản đồ và các mục đíchkhác Từ những quan điểm như vậy học viên tạm phân loại địa danh theo cáchphân loại nhóm đối tượng trên bản đồ như sau:
1) Địa danh hành chính (tên các tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường, xã)2) Địa danh dân cư (tên các điểm dân cư như thôn, xóm, bản, làng, )3) Địa danh sơn văn (tên các dãy núi, núi, đỉnh núi, )
4) Địa danh thủy văn (tên sông, suối, hồ, )
5) Địa danh giao thông (tên các đường giao thông quốc gia, tỉnh, )
6) Địa danh văn hóa lịch sử (tên các điểm văn hóa lịch sử như bảo tàng, )7) Địa danh kinh tế xã hội (tên các điểm kinh tế xã hội như khu côngnghiệp, công viên, )
8) Địa danh biển đảo (tên các biển, các đảo, quần đảo, bãi ngầm, )
Ta có sơ đồ như sau:
Địa danh Việt Nam
Địa danh hành
chính Địa danh dân cư Địa danh sơn văn Địa danh thủy văn
Địa danh giao thông
Địa danh văn hóa lịch sử Địa danh kinh tế xã hội
Trang 101.4 Các phương pháp nghiên cứu địa danh
1.4.1 Các nguyên tắc nghiên cứu địa danh
Trong quá trình nghiên cứu địa danh, các nhà địa danh học đã đưa các nguyên tắc nghiên cứu địa danh như sau:
1) Phải am hiểu lịch sử địa bàn nghiên cứu:
Lịch sử một vùng đất bao gồm các biến cố chính trị, quá trình sinh sốngcủa các dân tộc, … do đó việc nghiên cứu địa danh cần sử dụng tư liệu của cácngành sử học, dân tộc học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, địa lý lịch sử, …
2) Phải am hiểu địa hình của địa bàn nghiên cứu:
Địa hình có hai loại chính là địa hình cao và địa hình thấp Địa hình caogồm núi, đồi, gò, …Địa hình thấp gồm sông, rạch, biển, hồ, … Cần biết địa hình
để hiểu vì sao ở chỗ này, chỗ kia có nhiều địa danh mang các từ chỉ địa hình
3) Phải tìm những hình thức cổ của địa danh:
Là một từ ngữ như các từ ngữ khác, địa danh chịu sự tác động của các quyluật ngữ âm Do đó, một số địa danh đã biến đổi qua nhiều hình thức ngữ âm
4) Phải nắm vững các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp củaphương ngữ tại địa bàn:
Superanskaja đã viết “Nhiều địa danh được sinh ra trong các phương ngữ,
từ chất liệu phương ngữ” Bởi vậy, nếu không có những kiến thức về phươngngữ tạo ra địa danh, ta không hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh.Chẳng hạn nếu không hiểu sự phát âm lẫn lộn giữa hai âm đầu S và X trongphương ngữ Nam Bộ thì ta không thể hiểu nguồn gốc của địa danh Hàng Xanh(vốn là Hàng Sanh)
5) Phải thận trọng trong việc vận dụng các phương pháp ngôn ngữ học khiphân tích địa danh:
Địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngôn ngữ, mặt khác các phươngpháp của ngôn ngữ học thường mang đến những kết quả có độ chính xác caonên rất có giá trị khoa học
1.4.2 Các phương pháp nghiên cứu địa danh
Trên cơ sở các nguyên tắc nghiên cứu địa danh, các nhà địa danh họccũng đưa ra các phương pháp nghiên cứu địa danh như sau:
1) Phương pháp thống kê phân loại
Trang 11Trước khi bắt tay nghiên cứu địa danh ở vùng nào, chúng ta phải thống
kê, phân loại toàn bộ địa danh vùng đó Qua bảng thống kê, phân loại địa danhnày, ta có thể thấy rõ số lượng từng loại địa danh, từ đó rút ra đặc điểm của từngloại nói riêng và đặc điểm địa danh toàn vùng nói chung
2) Phương pháp điền dã
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh một cách có phương pháp và hệthống mới khởi sự từ hai mươi năm trở lại đây Việc ghi chép thời điểm ra đờicủa các địa danh ít được quan tâm Do đó, địa danh ở bất cứ vùng nào, số lượngchưa rõ thời điểm địa danh ra đời cũng chiếm số lượng cao hơn rất nhiều so với
số lượng đã rõ Thực trạng này đòi hỏi người nghiên cứu phải mất công sức đểtìm kiếm lời giải đáp mà một trong những hướng tìm là đi điền dã Phải đi vềnơi xuất phát của địa danh mới có hy vọng tìm ra thời điểm xuất hiện địa danh,
lý do đặt tên cho đối tượng
3) Phương pháp so sách, đối chiếu
Để thấy rõ tính đặc thù của một vùng, ta cần so sánh, đối chiếu địa danhvùng đó với địa danh vùng khác để thấy những tương đồng và dị biệt của địadanh các vùng Đây là phương pháp so sánh, đối chiếu đồng đại Ngoài ra, đểxác định nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của địa danh, ta phải sử dụng phươngpháp so sánh, đối chiếu lịch đại
Khi sử dụng phương pháp đối chiếu lịch đại, ta phải hiểu rõ những quyluật biến đổi ngữ âm trong lịch sử Khi xác định dạng gốc của một địa danh, takhông những quan tâm đến mặt ngữ nghĩa mà còn đặc biệt quan tâm tới mặt ngữ
âm Về mặt này, ta phải lưu ý tới cấu trúc âm tiết tiếng Việt, các nhà Việt ngữhọc thường tách âm tiết thành ba yếu tố là âm đầu, vần và thanh điệu
4) Phương pháp khảo sát bản đồ
Ta có thể khảo sát các bản đồ theo diện đồng đại để phát hiện những loạiđịa danh nào xuất hiện nhiều ở địa bàn nào để tập trung tìm hiểu rõ nguồn gốc, ýnghĩa của từng nhóm địa danh đó Ngoài ra ta cũng có thể khảo sát, đối chiếucác bản đồ theo diện lịch đại, đối chiếu các bản đồ theo trình tự trước sau ta sẽthấy một số địa danh cũ đã biến mất, một số địa danh mới xuất hiện, những thayđổi về ngữ âm, chữ viết
5) Tham khảo địa danh và các tài liệu địa danh của các nước láng giềng
Trang 12Là phương pháp sử dụng các tài liệu về địa danh của các nước khác trênthế giới để làm rõ và phong phú về quan điểm khoa học, phương pháp nghiêncứu, đối tượng nghiên cứu, kinh nghiệm nghiên cứu Từ đó đưa ra phương phápnghiên cứu địa danh sát thực, tiệm cận theo sự phát triển của địa danh học ở cácnước phát triển đã có quá trình nghiên cứu địa danh lâu dài, tạo điều kiện giảmbớt thời gian, chi phí cho công tác nghiên cứu địa danh trong nước Đồng thờitrên cơ sở tài liệu địa danh của các nước, ta cũng có thể thấy được các địa danh
đã từng được sử dụng và đang được sử dụng trên lãnh thổ nước ta
1.5 Công tác địa danh của các nước trên thế giới
Công tác địa danh ở các nước trên thế giới hiện nay theo định hướng củaLiên hợp quốc áp dụng cho tình hình thực tế của mỗi quốc gia khác nhau, vớimục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh chuẩn, thống nhất phục vụ các nhu cầu
xã hội
1.5.1 Liên hợp quốc với công tác địa danh
Liên Hiệp Quốc viết tắt là LHQ, là một tổ chức quốc tế tuyên bố hỗ trợ sựcộng tác của các quốc gia thành viên trong các lĩnh vực luật pháp quốc tế, anninh quốc tế, phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và nhân quyền Liên Hiệp Quốcđược thành lập năm 1945 để thay thế Hội Quốc Liên với mục đích ban đầu làchấm dứt chiến tranh giữa các quốc gia, gìn giữ hòa bình và thúc đẩy đối thoại
Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên HiệpQuốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành vàluật lệ Tổ chức này được chia thành các cơ quan hành chính, chủ yếu gồm: Đạihội đồng, Hội đồng Bảo An, Hội đồng kinh tế và xã hội, Ban thư kí, Tòa ánQuốc tế vì Công lý Ngoài ra, một số tổ chức tiến hành quản lý các cơ quan của
Hệ thống Liên Hiệp Quốc, ví dụ như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhiđồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)
+ Nghị quyết số 4 của Hội nghị Liên hợp quốc về chuẩn hóa địa danh
Nghị quyết bao gồm những kiến nghị cụ thể dưới đây
Kiến nghị A: Các cơ quan quốc gia về địa danh
Chuẩn bị cho bước đi đầu tiên của việc chuẩn hoá quốc tế về địa danh,mỗi nước đều phải có cơ quan quốc gia về địa danh với cơ cấu tổ chức và chứcnăng, nhiệm vụ sau:
Trang 13a Cơ quan quốc gia về địa danh bao gồm một thành viên hoặc một nhómcác thành viên phối hợp có quyền hạn rõ ràng, có những quy phạm cho việcchuẩn hoá địa danh và có chính sách cho việc chuẩn hoá địa danh cho quốc giamình.
b Cơ quan quốc gia về địa danh có tình trạng pháp lý, hợp phần, chứcnăng và thủ tục sau:
- Là một tổ chức bền vững trong cấu trúc nhà nước;
- Tạo cơ hội lớn nhất cho sự thành công của chương trình chuẩn hoá địadanh quốc gia;
- Trong khuôn khổ của nó có thể thành lập các uỷ ban địa danh theo vùnghoặc khu vực tương ứng với khu vực địa lý hoặc ngôn ngữ;
- Tạo điều kiện cho các cơ quan chính phủ, các tổ chức tư nhân và các tổchức khác xem xét về hiệu quả hoạt động của nó, qua đó tạo nên một sự quantâm chung của cả nước;
- Tạo khả năng sử dụng đầy đủ các dịch vụ của các nhà trắc địa, các nhàbản đồ, các nhà ngôn ngữ cũng như của bất kỳ những chuyên gia nào để có thểgiúp cho cơ quan địa danh quốc gia tiến hành công việc của mình một cách cóhiệu quả;
- Cho phép ghi chép, lưu trữ và xuất bản, phổ biến rộng rãi và mau chóngcác địa danh đã được chuẩn hoá trong nước và trên thế giới
Về mặt tổ chức, những quốc gia chưa bắt đầu tiến hành việc chuẩn hoáđịa danh trên cơ sở quốc gia cần bắt đầu thành lập cơ quan quốc gia về địa danhcủa mình và thông báo cho Liên hợp quốc về cơ cấu tổ chức, chức năng và địachỉ liên lạc của nó
Kiến nghị B: Thu thập địa danh
Để chuẩn hoá địa danh trước hết cần thu thập các địa danh Yêu cầu củaviệc thu thập địa danh cụ thể như sau:
a Tiến hành cả ở trong phòng và ngoài thực địa nhằm thu thập đầy đủ cácthông tin sau:
- Dạng phát âm và viết của địa danh cũng như nghĩa của nó theo dân cưđịa phương;
- Cách viết trong các tài liệu địa chính và quản lý đất đai;
Trang 14- Cách viết trên các bản đồ cũ và mới, trong các nguồn tài liệu lịch sửkhác;
- Cách viết trong các báo cáo thống kê, danh mục và trong các tài liệukhác có giá trị tương đương;
- Cách viết trong các dịch vụ hành chính và kỹ thuật khác
b dạng phát âm địa phương của địa danh được ghi lại trên băng từ vàđược viết bằng ký hiệu ngữ âm của cơ quan địa danh quốc gia
c Xác định đặc điểm, phạm vi, vị trí của đối tượng được đặt tên (về mặtnày ảnh máy bay là một công cụ đắc lực), đồng thời cũng cần xác định các thuậtngữ địa lý chung được sử dụng tại địa phương
d Nếu có thể, ít nhất cần tham khảo hai nguồn tư liệu độc lập tại địaphương cho mỗi địa danh được điều tra Những người có nhiệm vụ thu thập địadanh cần phải được đào tạo đầy đủ để nhận biết và giải quyết những vấn đề vềngôn ngữ (Hệ thống ngữ âm, cấu trúc ngữ pháp và chính tả) về đối tượng địa lý
và thuật ngữ địa lý
Kiến nghị C: Những nguyên tắc xử lý địa danh trong phòng
Mỗi cơ quan địa danh lập ra, chấp nhận và quy định những nguyên tắcđịnh hướng cũng như những thao tác để áp dụng trong quá trình tác nghiệp.Những nguyên tắc và thao tác phải bao hàm:
a Những thủ tục buộc phải tuân theo trong việc đệ trình cơ quan địa danhnhững đề nghị đặt tên mới hoặc thay đổi tên cũ
b Những nhân tố mà cơ quan địa danh cần tính đến khi xem xét các đềnghị về địa danh, như:
- Cách sử dụng hiện tại;
- Thông tin cơ bản về lịch sử;
- Việc xử lý địa danh các vùng đa ngôn ngữ và ngôn ngữ không có chữviết;
- Phạm vi mà những địa danh ngoại lai cần phải tránh;
- Tránh sự lặp lại của địa danh;
- Tránh việc một đối tượng có nhiều hơn một tên gọi;
- Làm rõ phạm vi chính xác của mỗi địa danh riêng biệt, bao gồm việc đặttên cho toàn bộ hoặc một số phần của các đối tượng chính;
Trang 15- Loại bỏ những địa danh không ai ưa thích.
c Các quy tắc viết địa danh
d Những trình tự để các tổ chức có quan tâm có thể thể hiện quan điểmcủa họ về một kiến nghị về địa danh để cơ quan địa danh tham khảo, quyết định
e Những trình tự hình thức cho việc công bố các quyết định của cơ quanđịa danh và để đảm bảo các địa danh đã được chuẩn hoá sẽ xuất hiện trên cácbản đồ quốc gia
Ngoài các nguyên tắc này cần thêm những đề nghị sau:
1) Tránh những thay đổi địa danh không cần thiết;
2) Cách viết địa danh phù hợp nhất với qui tắc chính tả hiện hành của đấtnước đồng thời lưu ý đến các dạng thổ ngữ;
3) Việc xử lý địa danh một cách hệ thống không làm mất đi những thànhphần quan trọng;
4) Xem xét và chọn ra một địa danh chuẩn khi mà tồn tại nhiều tên gọicho một đối tượng;
5) Đối với các nước mà ngôn ngữ của họ đưa phần mạo từ xác định vàođịa danh thì cơ quan địa danh phải xác định những địa danh nào bao gồm mạo từxác định và chuẩn hoá chúng một cách phù hợp Trường hợp các ngôn ngữ có cảdạng xác định và không xác định đối với tất cả hoặc hầu hết địa danh thì cầnchuẩn hoá trên cơ sở một dạng nào đó;
6) Tất cả các nước đặt ra các tiêu chuẩn cho việc sử dụng chữ viết tắt cácthành phần trong địa danh;
7) Mỗi nước sẽ đề xuất một hệ thống riêng cho việc xử lý các địa danhghép
Kiến nghị D: Những khu vực đa ngôn ngữ
Đối với những nước có nhiều hơn một ngôn ngữ, cơ quan địa danh cần:
a Xác định các địa danh trong từng ngôn ngữ chính thống và trong cácngôn ngữ khác một cách thích hợp;
b Cho một chỉ định rõ ràng về sự bình đẳng hoặc quyền ưu tiên của cácđịa danh đã được thừa nhận một cách chính thức;
c Công bố các tên đã được thừa nhận chính thức trên bản đồ và danhmục địa danh
Trang 16Kiến nghị E: Danh mục địa danh quốc gia
Mỗi cơ quan địa danh quốc gia lập ra và thường xuyên tái bản các danhmục địa danh phù hợp cho tất cả các địa danh đã được chuẩn hoá
Trong danh mục, ngoài bản thân địa danh còn cần thêm một số thông tincần thiết về vị trí và sự nhận biết các đối tượng được đặt tên Cụ thể như sau:
a Loại đối tượng;
b Mô tả chính xác về vị trí và phạm vi cho mỗi đối tượng Nếu được nên
có một điểm có toạ độ để tham khảo;
c Đối với các đối tượng tự nhiên có phân bố dài, rộng cần có thêm thôngtin tham khảo về các hợp phần của chúng;
d Những thông tin về hành chính hoặc vùng là cần thiết và nếu có thể cầnchỉ ra vị trí của đối tượng trên bản đồ;
e Tất cả các địa danh (nếu nhiều hơn một) đã được chuẩn hoá chính thứccho một đối tượng; các địa danh đã dùng trước đây cho đối tượng
Nếu điều kiện kỹ thuật và kinh tế cho phép có thể bổ xung thêm nhữngthông tin khác về địa danh như giống, số, dạng xác định hay không xác định, vịtrí của đường phố, tông (giọng) và ngữ âm trong hệ thống của Hội ngữ âm Quốc
tế Những thông tin này sẽ giúp cho việc hiểu biết tốt hơn và sử dụng địa danh
cả trong nước và quốc tế
+ Nhóm chuyên gia Liên hợp quốc về địa danh (UNGEGN)
UNGEGN được thành lập theo Nghị quyết 715 A (XXVII) ngày 23 tháng
4 năm 1959 và 1314 (XLIV) ngày 31 tháng 5 năm 1968 và quyết định của Hộiđồng Kinh tế Xã hội Liên hợp quốc tại cuộc họp lần thứ 1854 ngày 4 tháng 5năm 1973 để đẩy mạnh việc chuẩn hoá địa danh trên cả hai mức độ quốc gia vàquốc tế
a) Mục đích
Những mục đích chính của UNGEGN là:
- Nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn hoá địa danh trên cảhai mức độ quốc gia và quốc tế và để chứng minh những lợi ích phát sinh từviệc chuẩn hoá này;
- Thu thập những kết quả làm việc của các thành viên quốc gia và quốc tếliên quan đến việc chuẩn hoá địa danh và để làm thuận tiện cho việc phổ biếnnhững kết quả đó đến các quốc gia thành viên Liên hợp quốc;
Trang 17- Nghiên cứu và đưa ra các nguyên tắc, chính sách và phương pháp phùhợp cho việc giải quyết vấn đề chuẩn hoá ở từng quốc gia và quốc tế;
- Đóng góp vai trò tích cực trong việc làm dễ dàng sự trợ giúp khoa học
và kỹ thuật, nói riêng cho các nước đang phát triển, nhằm tạo ra cơ chế để chuẩnhoá địa danh ở từng quốc gia và quốc tế;
- Cung cấp phương tiện liên hệ và phối hợp giữa các quốc gia thành viên
và các cơ quan quốc tế trên các công việc liên quan đến chuẩn hoá địa danh;
- Thực hiện các nhiệm vụ mà nghị quyết của các Hội nghị của Liên Hợpquốc về chuẩn hoá địa danh giao cho
b) Các nguyên tắc
- Nhóm chuyên gia sẽ hoạt động như một đoàn thể, mang tính tư vấn và vìvậy những thoả thuận về những vấn đề không mang tính thủ tục sẽ đạt đượcbằng sự đồng thuận chứ không phải bằng biểu quyết;
- Những quyết định của nhóm chuyên gia sẽ được đệ trình như những đềnghị lên các Hội nghị Liên hợp quốc về chuẩn hoá địa danh, và nếu được chấpthuận, sẽ được đệ trình lên Hội đồng kinh tế và Xã hội dưới dạng nghị quyết đểxác nhận cuối cùng, với kiến nghị rằng tất cả các quốc gia thành viên sẽ tìmcách tốt nhất để phổ biến và trưng bày qua các phương tiện và các kênh thíchhợp như các tổ chức chuyên môn, các viện nghiên cứu, các viện đào tạo Nhữngquyết định của nhóm chuyên gia sẽ mang tính đề nghị;
- Các câu hỏi liên quan đến chủ quyền quốc gia sẽ không được nhómchuyên gia thảo luận;
- Nhóm chuyên gia trong các hoạt động của mình sẽ trung thành vớinhững nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc và với những điều khoảnsau:
+ Việc chuẩn hoá địa danh sẽ được dựa trên những thành tựu khoa họcliên quan đến cả ngôn ngữ và các phương tiện kỹ thuật của việc gia công và tạo
ra cơ sở dữ liệu địa danh học;
+ Việc chuẩn hoá quốc tế về địa danh phải dựa trên cơ sở sự chuẩn hoáquốc gia
c) Các chức năng
Nhóm chuyên gia có các chức năng sau:
Trang 18- Phát triển các thủ tục và thiết lập cơ chế chuẩn hoá địa danh nhằm đápứng yêu cầu quốc gia và các yêu cầu riêng;
- Tiến hành công việc chuẩn bị cho các Hội nghị thường kỳ của Liên hợpquốc về chuẩn hoá địa danh, tạo sự hoạt động liên tục giữa các kỳ hội nghị, lập
ra bộ phận lãnh đạo thực hiện các nghị quyết do các hội nghị ban hành;
- Khuyến khích việc thảo luận và nghiên cứu các bước đi lý thuyết vàthực tiễn hướng đến việc chuẩn hoá;
- Phối hợp hoạt động giữa các phân ban ngôn ngữ/ địa lý đã được thànhlập nhằm mở rộng tầm công việc vượt trên mức quốc gia, khuyến khích sự thamgia tích cực của các quốc gia và các phân ban, và đẩy mạnh mức độ thống nhấttrong các công việc đã tiến hành;
- Tạo ra một cơ cấu cần thiết để phục vụ công việc của các phân ban vàphân phát các xuất bản phẩm theo các lĩnh vực của các phân ban;
- Phát triển các chương trình đào tạo phù hợp cho các quốc gia riêng rẽhoặc nhóm các quốc gia để phục vụ việc chuẩn hoá;
- Giúp cho các tổ chức sản xuất bản đồ nhận thức được tầm quan trọngcủa việc sử dụng các địa danh đã được chuẩn hoá;
- Duy trì quan hệ với các tổ chức quốc tế có liên quan nhằm khuyến khíchcác phân ban của UNGEGN tham gia vào các hội nghị vùng của Liên hợp quốc
và các hội nghị bản đồ khác;
- Tạo mức độ làm việc ở cấp quốc gia và quốc tế cao nhất có thể nhằmlàm gắn bó giữa địa danh học và bản đồ học;
- Biến các nguyên tắc chuẩn hoá và các địa danh đã được chuẩn hoá sẵn
có thành thông tin thực tiễn để sử dụng rộng rãi nhất thông qua tất cả cácphương tiện phù hợp
d) Các thành phần
* Các phân ban ngôn ngữ/địa lý
- Nhóm chuyên gia sẽ bao gồm các chuyên gia từ các phân ban ngôn ngữ/địa lý do các quốc gia cử Nhóm chuyên gia sẽ bầu ra người đứng đầu để dẫn dắtcác hoạt động của nhóm trong và giữa các phiên họp;
- Các phân ban ngôn ngữ/địa lý sẽ hỗ trợ hoạt động của nhóm chuyên gia;
- Số lượng các phân ban ngôn ngữ/địa lý và thành phần của chúng có thểthay đổi nếu thấy cần;
Trang 19- Mỗi nước tự quyết định việc tham gia vào phân ban nào Một nước cóthể là thành viên của một phân ban khác nếu sự tham gia của nước đó không làmthay đổi đặc tính ngôn ngữ/địa lý của phân ban đó Một chuyên gia có thể đượcmời tham dự các buổi gặp gỡ của các phân ban khác như một quan sát viên hoặc
cố vấn;
- Mỗi phân ban nếu có hơn một quốc gia sẽ bầu ra, theo cách riêng củamình, một chuyên gia đại diện cho phân ban ( chủ tịch phân ban) tại tất cả cáccuộc họp nhóm chuyên gia;
- Để bảo đảm sự hoạt động liên tục, mỗi phân ban nếu có hơn một quốcgia sẽ bầu thêm một quyền đại diện; đại diện phân ban sẽ hoạt động chặt chẽ vớiquyền đại diện;
- Đại diện phân ban sẽ khuyến khích các hoạt động về chuẩn hoá địa danhtrong nội bộ phân ban bằng tất cả các phương tiện phù hợp (thư từ với các đạidiện quốc gia về chuẩn hoá địa danh và các cơ quan đo đạc bản đồ quốc gia; tổchức các buổi gặp mặt của các chuyên gia phân ban);
- Đại diện phân ban có trách nhiệm làm cho công việc của nhóm chuyêngia và tiềm năng của nó đối với việc hỗ trợ kỹ thuật sẽ khiến các quốc gia trongphân ban của mình quan tâm, đồng thời có trách nhiệm báo cáo lên Liên hợpquốc mọi vấn đề đặc biệt của phân ban;
- Để thảo luận các vấn đề kỹ thuật và thủ tục, một phân ban có thể tổ chứccác cuộc họp vùng trong thời gian các hội nghị Liên hợp quốc về chuẩn hoá địadanh cũng như trong thời gian các cuộc họp nhóm các chuyên gia, hoặc vào bất
kỳ thời gian thích hợp nào khác
Trang 20- Trưởng nhóm làm việc sẽ do nhóm làm việc bầu chọn.
1.5.2 Công tác địa danh của một số nước trên thế giới
+ Công tác địa danh ở Mỹ:
Ủy ban địa danh Hoa Kỳ là một cơ quan Liên Bang thành lập vào năm
1890, hoạt động theo Luật Công (1947) để duy trì việc sử dụng địa danh thốngnhất trong cả Liên Bang, thành phần của Ủy ban bao gồm đại diện của các cơquan liên quan như thông tin địa lý, dân số, sinh thái và quản lý đất đai côngcộng
Việc chuẩn hóa địa danh được đặt ra khi nảy sinh các vấn đề phức tạp liênquan đến địa danh trong quá trình thăm dò, khai thác và giải quyết các tranhchấp ở vùng lãnh thổ phía Tây, sau nội chiến ở Hoa Kỳ Mâu thuẫn trong cách
sử dụng địa danh đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng cho các nhà khảo sát,các nhà sản xuất bản đồ và các nhà khoa học đã đặt ra yêu cầu thống nhất,không mâu thuẫn nhau trong quá trình sử dụng địa danh
Tổng thống Benjamin Harrison thành lập Ban địa danh, Ban địa danh cónhiệm vụ giải quyết các câu hỏi về địa danh Các quyết định của Hội đồng Ủyban được tất cả các phòng ban và các cơ quan chính phủ chấp nhận Ban địadanh từng bước mở rộng các phạm vi hoạt động trong Thế chiến thứ II bao gồmđịa danh nước ngoài và các khu vực khác mà Hoa Kỳ quan tâm Năm 1947, BanĐịa danh được Quốc hội Hoa Kỳ thành lập theo Luật Công 80-242 mà tính hữuích của việc chuẩn hóa địa danh đã được chứng minh thời gian
Ngày nay, hơn 50 quốc gia có loại hình cơ quan địa danh quốc gia, Liênhợp quốc cho rằng "phương pháp tốt nhất để đạt được tiêu chuẩn hóa quốc tế làqua các chương trình chuẩn quốc gia." Nhiều quốc gia thành lập các chính sáchliên quan đến địa danh ở các quốc gia của họ
Trong thời đại bùng nổ các hệ thống thông tin địa lý, Internet, và đất quốcphòng hiện nay thì dữ liệu địa danh ngày càng quan trọng hơn và khó khăn hơntrong quá trình sử dụng Với việc áp dụng công nghệ mới nhất, Ban địa danhtiếp tục sứ mạng phục vụ Chính phủ Liên bang và công chúng như là một tổchức cao nhất giải quyết các vấn đề về địa danh như yêu cầu đặt tên, thay đổi tên
và đề xuất tên mới Hợp tác với Liên bang, nhà nước và các cơ quan địa phương,Ban địa danh cung cấp một quy chuẩn thống nhất sử dụng địa danh mà qua đóđược áp dụng hiện nay
Trang 21+ Công tác địa danh ở Hungari:
Uỷ ban địa danh Hungari được thành lập vào năm 1989, trực thuộc BộNông nghiệp và Phát triển Vùng Mỗi địa danh mới hay thay đổi đều phải thôngqua Uỷ ban địa danh Công tác địa danh Hungari được bắt đầu từ năm 2005 như
là một phần của nhóm nghiên cứu bản đồ và địa tin học MTA-ELTE Công tácđịa danh Hungari với mục tiêu định nghĩa cách dùng địa danh thông thường vàgiải quyết các vấn đề liên quan đến địa danh trên bản đồ, cách biểu thị địa danh.Một trong các mục đích của công tác địa danh Hungari là hoàn thiện cơ sở dữliệu địa danh trong môi trường GIS Dự án chính của công tác địa danh Hungari
là tạo lập và xây dựng hình ảnh của cơ sở dữ liệu địa danh Hungari từ một bản
đồ phối cảnh Hệ thống cơ sở dữ liệu địa danh Hungari sẽ được xây dựng thành
hệ thống thông tin địa lý, trong đó địa danh Hungari của toàn bộ CarpathianBasin thì được lựa chọn và phân tích Có một số lớn địa danh Hungari gốc cổ ởtrong khu vực này và hầu hết được sử dụng hiện nay, khu vực bao trùm bởi địadanh của người Hungari thì lớn hơn gấp 3.5 đến 4 lần diện tích hiện tại Có cácdanh sách tên riêng rẽ và nguồn dữ liệu số khác của chúng nhưng một từ điểnđịa lý của các địa danh thì vẫn bị lỗi
1.6 Quá trình phát triển và sử dụng địa danh ở Việt Nam
1.6.1 Quá trình hình thành chữ Việt và Việt hóa địa danh
Địa danh do con người đặt ra và đầu tiên được con người trao đổi vớinhau bằng ngôn ngữ nói, sau đó khi có chữ viết, địa danh được viết bằng bộ chữcủa mỗi dân tộc
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của tiếng Việt và chữ Việt, địadanh trên các văn liệu nói chung và bản đồ nói riêng cũng thay đổi theo
Chữ Việt xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XVII do hai giáo sĩ người Italia và
Bồ Đào Nha là ông Gaspa d’ amaral và Antonio de Barbosa Cả hai ông đều làmcuốn từ vựng là Annammitacium - Lutanium (Bồ - Việt); Lutanium -Annammitacium (Việt - Bồ) Alexandre de Rhodes, giáo sĩ người Pháp là ngườitổng kết và hoàn thiện thêm cách phát âm
- Trước năm 1651, chữ chưa có dấu, chưa phân biệt a, ă, o, ô, u, ư, e, ê
- Giữa thế kỷ XVII đã có dấu hỏi, dấu nặng, dấu ngã, đã phân biệt a, ă, o,
ô, u, ư, e, ê
- Thế kỷ XVIII - XX có nhiều công trình nghiên cứu về chữ Việt
Trang 22- Từ thế kỷ thứ XX chữ Việt trở thành công cụ giao tiếp thuận lợi trong xãhội Việt Nam, ta quen gọi là chữ Quốc ngữ.
Có thể nói chữ Việt hiện nay là hệ thống chữ ghi âm tiếng nói Việt bằngcác ký tự Latinh và các dấu phụ để thể hiện các thanh điệu tiếng Việt Chữ Việthiện nay còn có một số các nhược điểm sau:
- Chưa hoàn toàn tuân theo các nguyên tắc ngữ âm học, đó là một ký tựchỉ được biểu hiện bằng một âm vị nhất định và mỗi âm chỉ được ghi bằng một
ký tự nhất định Ví dụ như âm /k/ được ghi bằng cả ba ký tự c, k, q hoặc một ký
tự như g có lúc ghi âm /g/ trong gay, go, ga… và âm /z/ trong gia, gio…
- Không có các phụ âm kép, phụ âm câm và không có các phụ âm b, d, l,
Ha, Cống, Ngái, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Sán Dìu, Hà Nhì, Xinh Mun
28 dân tộc đã có chữ viết, đó là các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Hoa,Khơme, H’rê, Cơ Ho, Ra Glai, H’Mông, M’Nông, Bru-Vân Kiều, Cơ Tu, Lô
Lô, Giẻ-Triêng, Tả Ôi, Mạ, Co, Chơ Ro, Chu Ru, Lào, Dao, Cao Lan, Gia Lai, Ê
Đê, Ba Na, Xơ Đăng, Chăm, X’tiêng
Trong đó chữ có tự dạng Latinh là: Gia Lai, Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, H’rê,
Cơ Ho, Ra Glai, Cơ Tu, Giẻ-Triêng, Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Co, Chơ Ro, Chu Ru,M’Nông, X’tiêng
Các nhóm chữ còn lại có tự dạng cổ hoặc tượng hình
Cũng có các nhóm chữ tồn tại song song hai dạng như Nôm Tày, NômNùng và Tày - Nùng Latinh hoá
Ngoài chữ Việt, nhóm chữ các dân tộc Tây Nguyên đọc phát triển sớmhơn, phát triển hoàn thiện hơn và được sử dụng rộng rãi hơn Chữ Ba Na xuấthiện năm 1861, chữ Gia Rai năm 1918, chữ Ê Đê năm 1923, chữ Cơ Ho năm
1949 và chữ Xơ Đăng sau đó
Trang 23Như vậy, đầu tiên các địa danh ở Việt Nam xuất hiện dưới tự dạng Hán vàNôm (như trong “Đại Nam Nhất thống toàn đồ” của Phan Huy Chú, “Dư địachí” của Nguyễn Trãi…) trong một thời gian dài Bắt đầu từ thế kỷ XVII, địadanh ở Việt Nam được viết bằng bộ chữ Việt do Alexandre de Rhodes đặt ra.
Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XIX, công việc làm bản đồ đượctiến hành rất sớm để phục vụ cho các hoạt động quân sự và khai thác thuộc địa.Qua đó, các địa danh đã được Latinh hoá (Pháp ngữ hoá) và đưa lên bản đồ ngay
từ khi tiếng Việt còn đang trong giai đoạn chuyển sang hệ chữ Latinh Hệ thốngbản đồ địa hình trên lưới chiếu Bone tỷ lệ 1/100.000 phủ trùm toàn Đông Dương
là kết quả của quá trình này và ảnh hưởng rõ rệt đến các loại bản đồ tỷ lệ1/50.000 cũng như các tỷ lệ lớn hơn được làm sau đó tại miền Bắc (do Cục Đođạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng và Phòng Bản đồ - Bộ Tổng Tham mưu Quân độiNhân dân Việt Nam làm) và tại miền Nam (do Nha Địa dư Đà Lạt và quân đội
Với địa danh Việt Nam, do quá trình Việt hoá thông qua Pháp ngữ và bộchữ các dân tộc có chữ viết tự dạng Latinh (Êđê, Giarai, X’tiêng…) nên chúng
ta đã từng viết Lao Kay, Yên Báy, Hòn Gay, Bắc Kạn… và vẫn viết Cư Jút, EaWer, Ea Wy,… tuy trong bộ chữ Việt không có các chữ cái W, F, J, Z Cũngkhông ai chắc chắn lắm khi viết Đắclắc (hay Daclac, Dăk lăk, Dăklăk, Dac_lac,Đăc lắc ), Plâycu (hay Plêy cu, Pleiku, Plei ku )…
Với địa danh nước ngoài thì lại càng rõ ràng hơn, chúng ta vẫn viết nướcNga (mà thủ đô lại là Maxcơva), nước Đức (mà thủ đô là Beclin)… Chúng ta đãtừng viết Á Căn Đình/Acgiăngtin/Achentina; Úc đại lợi/Úc/Oxtrâylia Với địadanh Trung Quốc thì cho đến nay chúng ta vẫn hoàn toàn sử dụng địa danh Hán
- Việt không phải là phiên âm, chuyển tự mà là dịch âm Hán qua nghĩa Việt, vìvậy mà chỉ có người Việt hiểu được (Nam Ninh thay vì Nanning, Bắc Kinh thay
vì Beijing, Thượng Hải thay vì Shanghai…) Địa danh nước ngoài thuần Việt rất
Trang 24ít so với tên Hán Việt và thường là tiểu địa danh Với địa danh ngoại lai (địadanh do người nước ngoài đặt cho nước ta do quá trình thám hiểm và xâmchiếm) cũng có những cách viết khác nhau Ví dụ Grôttơ hoặc đảo Hang,Xơmen hay hòn Đế giày, hòn Hài, hòn Guốc…
+ Tình hình sử dụng địa danh ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam trừ địa danh hành chính (tên tỉnh, thành phố, thị xã,quận huyện, thị trấn, xã, phường) được sử dụng thống nhất trong cả nước theoNghị quyết của Quốc hội và Nghị định của Chính phủ về việc thành lập các đơn
vị hành chính, địa danh được sử dụng rất không thống nhất, kể cả với các địadanh Việt Nam, địa danh nước ngoài (Foreign geographical name) và địa danhngoại lai (exonyms) Sự không thống nhất này thể hiện qua cách viết địa danh(viết hoa / viết thường; viết liền / viết rời; có gạch nối / không có gạch nối; chínhtả), cách sử dụng thuật ngữ địa lý (danh pháp), giữa các cơ quan thông tin đạichúng (báo viết, báo nói, báo hình), giữa các cơ quan trung ương và địa phương,giữa các bộ, ngành
1.6.2 Tình hình tổ chức nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Hiện nay nước ta chưa có Uỷ ban Quốc gia về địa danh mà mỗi bộ, ngànhđều làm công tác địa danh riêng để phục vụ cho mục đích của mình, vì vậy nên mỗi bộ, ngành đều có những quy định riêng Ví dụ như Bộ Giáo dục và Đào tạo
có quy định về cách viết chính tả tiếng Việt hay như Quốc hội có quy định về cách viết tên nước ngoài,
Theo Nghị định 12/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chínhphủ về hoạt động đo đạc và bản đồ đã quy định cụ thể về “Hệ thống địa danhtrên bản đồ như sau:
1) Địa danh các đơn vị hành chính theo quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
2) Địa danh các đối tượng địa lý tự nhiên và xã hội chưa sử dụng thốngnhất thì quyết định trên cơ sở thống nhất ý kiến với uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
3) Địa danh quốc tế chưa được sử dụng thống nhất thì quyết định trên cơ
sở thống nhất ý kiến với Bộ Ngoại giao”
Trước tình hình đó, Bộ Tài Nguyên và Môi trường cho phép Cục Đo đạc
và Bản đồ Việt Nam thành lập Phòng Địa danh bản đồ tại Trung tâm Thông tin
dữ liệu đo đạc và bản đồ nhằm mục đích phục vụ công tác quản lý, cập nhật,
Trang 25cung cấp và nghiên cứu địa danh, đặc biệt là địa danh phục vụ công tác thànhlập bản đồ Đây là đơn vị duy nhất trên cả nước có chức năng quản lý, cập nhật,cung cấp địa danh bản đồ
1.7 Cơ sở khoa học của công tác xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh
1.7.1 Cơ sở địa lí học
Địa lý học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về quy luật phân bốkhông gian của địa hình, thủy văn, khí hậu, cư dân, các hiện tượng tự nhiên vàkinh tế, văn hóa xã hội khác Các quá trình hình thành, phát triển của các đốitượng địa lý như hình thành cao nguyên, dòng chảy nước mặt, nước ngầm, những hiện tượng tự nhiên này đều được ngành địa lý ghi lại, lý giải, dự báo trên
cơ sở đó giúp con người hiểu được tự nhiên hơn, biết được đối tượng địa lý nàomới được hình thành, đối tượng nào đã mất đi, khu vực nào con người có thểsống, có thể trồng cây gì,
Địa lý học giúp xác định phạm vi phân bố, định vị địa danh, phân loại vànhững thông tin cần thiết để xác định địa danh trên cơ sở toán học với sự trợgiúp và sử dụng các ký hiệu qui ước để phản ánh sự phân bố, trạng thái và mốiquan hệ tương quan của các hiện tượng thiên nhiên và xã hội được lựa chọn vàkhái quát hoá để phù hợp với mục đích sử dụng của bản đồ và đặc trưng cho khuvực nghiên cứu Địa danh gắn liền với các yếu tố, đối tượng địa lý Mỗi địa danhđều được cấu thành bởi hai bộ phận là danh từ chung chỉ đối tượng địa lý (sông,suối, núi,…) và danh từ riêng chỉ tên gọi của các đối tượng địa lý
Mỗi địa danh đều được gắn liền với không gian địa lý, không gian địa lýcho con người biết được các thông tin thuộc tính của đối tượng địa lý mà địadanh thể hiện như cấu tạo, thành phần,
1.7.2 Cơ sở ngôn ngữ học
Địa danh được đặt ra bằng thứ ngôn ngữ mà con người sử dụng Địa danh
là một bộ phận đặc biệt của từ vựng, được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm (âm
vị, âm tiết), chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm nên địa danh còn là tàiliệu nghiên cứu của ngữ âm học Địa danh là những danh từ, danh ngữ,… tuântheo những phương thức cấu tạo từ, cấu tạo ngữ của tiếng Việt nên địa danhcũng là tài liệu khảo cứu của Ngữ pháp học Địa danh còn là sản phẩm do ngườibản địa tạo ra, gắn chặt với ngôn ngữ của một địa phương nhất định nên địadanh cũng là tài liệu nghiên cứu của Phương ngữ học Địa danh ra đời trong một
Trang 26thời đại nhất định nên nó cũng là tài liệu của ngành Ngôn ngữ học lịch sử Do
đó, các kết quả của nghiên cứu địa danh học sẽ góp phần soi sáng nhiều mặt chocác chuyên ngành khác nhau của Ngôn ngữ học
Địa danh có cấu tạo theo những nguyên tắc nhất định của ngôn ngữ nhưđịa danh có cấu tạo đơn hoặc có cấu tạo phức, đồng thời địa danh cũng có sựphân loại theo cách nó thể hiện, nội dung nó thể hiện
1.7.3 Cơ sở lịch sử và dân tộc học
Địa danh – nhất là địa danh hành chính là một sản phẩm của một chế độchính trị nhất định Nó được ban hành bởi những nghị định của nhà nước đươngthời Địa danh thường mang tên người, cây cỏ, cầm thú,…Trong hoàn cảnh cónhiều dân tộc nối tiếp nhau hoặc cùng sinh sống trên một địa bàn, địa danh sẽmang từ vựng của nhiều ngôn ngữ Mỗi địa danh ra đời đều gắn với một sự kiệnhoặc một biến cố lịch sử, địa danh luôn biến đổi theo quá trình phát triển của xãhội, của đời sống con người
Mặt khác, địa danh tại mỗi vùng miền đều là sản phẩm của văn hóa củadân tộc ở vùng miền đó Mỗi dân tộc có một cách gọi các đối tượng địa lý khácnhau, thể hiện các nền văn hóa khác nhau mà cụ thể như cùng là “núi” nhưng ởkhu vực miền núi phía Bắc của nước ta gọi là phia, phja (dân tộc Tày, Nùng)như Phia Khao, Phia Đén hoặc Pu, Pù (dân tộc Tày, Thái) như Pu Đen Đinh, PuSam Sao Trên cơ sở đó cho thấy địa danh phản ánh quá trình lịch sử cũng nhưphản ánh từng dân tộc sinh sống theo không gian và theo thời gian
1.7.4 Cơ sở bản đồ học
Bản đồ là hình ảnh thu nhỏ của bề mặt Trái Đất lên mặt phằng theo mộtphương pháp toán học và theo lệ nhất định, trên đó địa danh được trình bày làtên gọi của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất được thể hiện trên bản đồ,chúng là những hình ảnh, ký hiệu hay hình tượng mô tả các thực thể và các hiệntượng, đối tượng địa lý trong thế giới thực (đường giao thông, sông suối, ao
hồ, ) hoặc mô tả các đối tượng trừu tượng, có tính ước lệ, nhưng có ý nghĩa vàvai trò quan trọng trong nghiên cứu, quản lý lãnh thổ Địa danh thể hiện trên bản
đồ là tên gọi của các đối tượng địa lý ở dạng điểm, dạng đường và dạng vùng.Cách thể hiện cụ thể như sau:
Đối với địa danh dạng điểm: thể hiện các đối tượng địa lý có dạng điểmnhư đỉnh núi, điểm dân cư, cầu giao thông, … Tương ứng với mỗi địa danh
Trang 27dạng điểm sẽ có tọa độ của địa danh để xác định vị trí của địa danh đó trên bản
đồ và trên thực tế, cụ thể theo Hình 1
Hình 1 Địa danh thể hiện ở dạng điểm
Đối với địa danh dạng đường: thể hiện các đối tượng địa lý có dạng tuyếnnhư đường giao thông, sông, suối, kênh, mương, … Tương ứng với mỗi địadanh dạng tuyến sẽ có tọa độ của địa danh để xác định vị trí của địa danh đó trênbản đồ và trên thực tế, cụ thể theo Hình 2
Hình 2 Địa danh thể hiện ở dạng tuyến
Đối với địa danh dạng vùng: thể hiện các đối tượng địa lý có dạng vùngnhư vùng dân cư, hồ, ao,khu công nghiệp, … Tương ứng với mỗi địa danh dạngvùng sẽ có tọa độ của địa danh để xác định vị trí của địa danh đó trên bản đồ vàtrên thực tế, cụ thể theo Hình 3
Trang 28Hình 2 Địa danh thể hiện ở dạng vùng
Từ các cơ sở khoa học về các mặt địa lý, ngôn ngữ, lịch sử, dân tộc và bản
đồ cho thấy địa danh là tên gọi của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất, sửdụng các đơn vị ngôn ngữ để biểu thị đối tượng địa lý, qua các quá trình lịch sử,các dân tộc sinh sống và được thể hiện trên bản đồ theo những nguyên tắc nhấtđịnh Việc xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh dựa trên các cơ sở khoa học
Trang 29CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG CẤU TRÚC CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH
Trong đề tài này, học viên đi theo hướng xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệuđịa danh trên cơ sở cấu trúc cơ sở dữ liệu nền địa lý để khi thành lập bản đồ địahình từ dữ liệu nền địa lý thì có thể sử sụng được dữ liệu địa danh Nếu xâydựng cơ sở dữ liệu địa danh tách rời với cơ sở dữ liệu nền địa lý thì có thể ứngdụng theo cấu trúc này để sau này có thể sử dụng tích hợp vào các cơ sở dữ liệucác ngành khác, đáp ứng được các yêu cầu về tận dụng dữ liệu, đồng thời tiếtkiệm được các chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng cũng như hiệu quảkinh tế
2.1 Khái niệm cơ sở dữ liệu địa danh
2.1.1 Khái niệm
Cơ sở dữ liệu địa danh là tập hợp các dữ liệu địa danh được sắp xếp, lưutrữ theo một cấu trúc nhất định phục vụ công tác tra cứu, tìm kiếm, cập nhật và
sử dụng địa danh theo các mục đích khác nhau
Cơ sở dữ liệu địa danh được xây dựng theo các chuyên đề địa danh đãđược phân loại như hành chính, dân cư, sơn văn, thủy văn, văn hóa lịch sử, kinh
tế xã hội, biển đảo theo hình vẽ như sau:
CSDL DIADANH
HanhChinh DanCu SonVan ThuyVan GiaoThong VanhoaLichsu KinhteXahoi BienDao
Cơ sở dữ liệu địa danh sẽ được xây dựng trên nguyên tắc thể hiện các đốitượng địa lý của bản đồ, đó là các đối tượng được thể hiện ở ba dạng là dạngđiểm, dạng đường, dạng vùng Tuy nhiên, tùy từng tỷ lệ bản đồ mà cách thể hiện
sẽ có những thay đổi khác nhau, chẳng hạn như ở bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000,thôn Phố Mới sẽ có dạng vùng nhưng ở bản đồ địa hình tỷ lệ 1:250 000 thì thônPhố Mới sẽ có dạng điểm Chính vì vậy, khi xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địadanh, học viên sẽ chia ra 4 nhóm tỷ lệ bản đồ địa hình cơ bản để thể hiện dữ liệukhông gian của địa danh như sau:
- Nhóm tỷ lệ 1:5 000; 1:10 000;
- Nhóm tỷ lệ 1:25 000; 1:50 000;
Trang 30- Nhóm tỷ lệ 1:100 000; 1:250 000;
- Tỷ lệ 1:1000 000
Ở mỗi nhóm tỷ lệ bản đồ địa hình, địa danh có thể có cách biểu hiện trênbản đồ khác nhau, tuy nhiên dưới góc độ địa danh thì các thông tin thuộc tínhđịa danh sẽ có những thông tin cơ bản là như nhau như tên gọi, lịch sử, nguồngốc, ý nghĩa, dân tộc, nguyên ngữ (nếu có), phiên âm (nếu có), …
2.1.2 Cấu tạo dữ liệu địa danh
Dữ liệu địa danh bao gồm hai thành phần là dữ liệu không gian và dữ liệuthuộc tính, có thể mô tả cấu tạo dữ liệu địa danh theo hình vẽ như sau:
Hình 1: Dữ liệu địa danh
2.1.2.1 Khái niệm về địa danh hành chính
Địa danh hành chính là tên gọi của các đơn vị hành chính các cấp theoquy định của Nhà nước như địa danh hành chính cấp tỉnh, địa danh hành chínhcấp huyện, địa danh hành chính cấp xã Ở nước ta hiện nay có 63 đơn vị hànhchính cấp tỉnh, 692 đơn vị hành chính cấp huyện, 11059 đơn vị hành chính cấpxã
Địa danh hành chính thường có các thông tin như sau: mã đơn vị hànhchính, tên đơn vị hành chính, loại đơn vị hành chính, diện tích, dân số, tọa độ,
DỮ LIỆU KHÔNG GIAN
DỮ LIỆU ĐỊA DANH
DỮ LIỆU THUỘC TÍNH
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cư
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
- Địa danh biển đảo
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cư
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
- Địa danh biển đảo
Trang 31lịch sử, các thông tin khác như GDP, GNP, thành phần dân tộc, tình hình kinh tế
xã hội, …
Địa danh hành chính bao giờ cũng có hai thành phần là danh từ chung chỉloại đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã + tên của đơn vị hành chính nhưHưng Yên, Gia Lâm, Quốc Tuấn
2.1.2.2 Khái niệm về địa danh dân cư
Địa danh dân cư là tên gọi của các điểm quần cư như thôn, xóm, làng,bản, tổ dân phố, … Địa danh dân cư bao giờ cũng thuộc một đơn vị hành chínhcấp xã quản lý
Địa danh dân cư thường có các thông tin như sau: tên điểm dân cư, loạiđiểm dân cư, tọa độ điểm dân cư, tên gọi trước đây (nếu có), thông tin khác (nếucó)
Địa danh dân cư được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là danh từ chung(loại điểm dân cư) + tên của điểm dân cư như thôn Phố Mới, Bản Tùy,…
2.1.2.3 Khái niệm về địa danh sơn văn
Địa danh sơn văn là tên gọi các đối tượng địa hình tự nhiên như núi, dãynúi, cao nguyên, …
Địa danh sơn văn thường có các thông tin cơ bản như sau: tên của đốitượng, tọa độ của đối tượng, diện tích (nếu có), chiều dài (nếu có), chiều rộng(nếu có), …
Địa danh sơn văn được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là danh từ chung(loại đối tượng sơn văn) + tên của đối tượng sơn văn như núi Thằn Lằn, dãy núiHoàng Liên Sơn, …
2.1.2.4 Khái niệm địa danh thủy văn
Địa danh thủy văn là tên gọi các đối tượng như sông, suối, hồ, …
Địa danh thủy văn có các thông tin cơ bản như tên của đối tượng, loại đốitượng, diện tích (nếu có), chiều dài (nếu có), chiều rộng (nếu có), ý nghĩa (nếucó)
2.1.2.5 Khái niệm địa danh giao thông
Là tên của các tuyến đường giao thông, tên của các đối tượng gắn vớiđường giao thông như cầu, cống, … như đường Hồ Chí Minh, đường NguyễnTrãi
Trang 32Địa danh giao thông có các thông tin cơ bản như tên đường giao thông,loại đường giao thông, chiều dài, chiều rộng, …
Địa danh giao thông được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là loại đốitượng giao thông + tên của đối tượng giao thông như Quốc lộ 5, đường BắcThăng Long,…
2.1.2.6 Khái niệm địa danh văn hóa lịch sử
Là tên của các điểm văn hóa, di tích lịch sử như chùa Một Cột, thành cổ
2.1.2.7 Khái niệm địa danh kinh tế xã hội
Là tên của các điểm kinh tế xã hội như cụm công nghiệp, khu kinh tế, …như khu công nghiệp Bắc Thăng Long, khu kinh tế mở Chu Lai
Địa danh kinh tế xã hội có các thông tin cơ bản như tên đối tượng, loại đốitượng, …
Địa danh kinh tế xã hội được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là loại đốitượng kinh tế xã hội + tên của đối tượng kinh tế xã hội như khu công nghiệp NộiBài, Khu công nghiệp Quang Minh,…
2.1.2.8 Khái niệm địa danh biển đảo
Là tên của các vùng biển, các đảo, quần đảo như đảo Song Tử Tây, quầnđảo Hoàng Sa,…
Địa danh biển đảo có các thông tin cơ bản như tên đối tượng, loại đốitượng, lịch sử, địa phương quản lý, …
Địa danh biển đảo được cấu thành từ hai thành phần cơ bản là loại đốitượng biển đảo + tên của đối tượng biển đảo như đảo Cồn Cỏ, quần đảo Hoàng
Sa, …
2.2 Hiện trạng dữ liệu địa danh
Dữ liệu địa danh hành chính, dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH được xâydựng trên cơ sở Đề án ”Xây dựng hệ thống thông tin địa danh Việt Nam và quốc
Trang 33tế phục vụ công tác lập bản đồ” do Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, baogồm địa danh hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và địa danh dân cư, sơnvăn, thủy văn, KTXH Riêng địa danh Biển Đảo được xây dựng trên cơ sở Dự
án ”Thống nhất tên gọi các địa danh biển đảo Việt Nam” do Bộ Nội vụ chủ trì.2.2.1 Dữ liệu địa danh hành chính
Dữ liệu địa danh hành chính Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Dự án
”Xây dựng hệ thống thông tin địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam”, baogồm địa danh hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Hiện trạng cấu trúc dữ liệu địa danh hành chính được xây dựng hệ quản trị cơ sở dữ liệu Access, được trình bày cụ thể ở Phụ lục 1
2.2.2 Dữ liệu địa danh biển đảo
Cơ sở dữ liệu địa danh biển đảo được xây dựng trên ngôn ngữ lập trìnhDelphi, sử dụng nền raster có số hóa một phần dữ liệu để thể hiện dữ liệu đồ họađịa danh biển đảo, cơ sở dữ liệu thông tin thuộc tính địa danh biển đảo được xâydựng trên hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server, cấu trúc bảng dữ liệu được trìnhbày cụ thể ở Phụ lục 1
2.2.3 Dữ liệu địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH
Dữ liệu địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH được xây dựng theocác TKKT-DT trên từng khu vực cụ thể, hiện nay đã triển khai thi công xong 02TKKT-DT ở khu vực 15 tỉnh vùng vúi phía Bắc
Dữ liệu địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH là dữ liệu thuộc tính, không có dữ liệu đồ họa kèm theo, thiết kế cụ thể được trình bày ở Phụ lục 1
2.3 Cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh
Cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh trên bản đồ địa hình gồm thông tin khônggian và thông tin thuộc tính
33
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH THUỘC TÍNH
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cư
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cư
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH
KHÔNG GIAN
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH
Trang 34Nội dung cơ sở dữ liệu địa danh
Cơ sở dữ liệu địa danh bao gồm các chủ đề (Feature datatset) như sau:1) Địa danh hành chính 5) Địa danh giao thông
2) Địa danh dân cư 6) Địa danh văn hóa lịch sử
3) Địa danh sơn văn 7) Địa danh kinh tế xã hội
4) Địa danh thủy văn 8) Địa danh biển đảo
Bản Làng Thôn
.
Động Dãy núi Núi
.
Hồ Suối Sông
.
Cầu Đường sắt Đường bộ
.
Công viên Khu KT Cụm CN
.
Di tích LS Chùa Đình
.
Quần đảo Đảo Biển
Trang 35Nội dung cơ sở dữ liệu địa danh bao gồm địa danh dạng điểm, địa danhdạng đường và địa danh dạng vùng Tùy thuộc vào tỷ lệ thể hiện mà địa danhtrên thực tế có thể là dạng vùng ở tỷ lệ này nhưng sẽ là dạng điểm ở tỷ lệ khác,đồng thời mỗi tỷ lệ bản đồ địa hình có biểu thị số lượng địa danh khác nhau, tùy
Trang 36thuộc vào quy định thể hiện đối tượng địa lý của tỷ lệ bản đồ đó Do đó để phục
vụ công tác nghiên cứu, xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh Học viên tiếnhành khảo sát, thống kê số lượng địa danh trên một số dãy tỷ lệ bản đồ địa hình
Ở nhóm bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 5 000; 1:10 000, các chuyên đề địa danh
có thường thể hiện đối tượng theo các đặc trưng như sau:
- Địa danh hành chính được thể hiện dưới dạng vùng (Polygon);
- Địa danh dân cư được thể hiện dưới dạng vùng (Polygon);
- Địa danh sơn văn được thể hiện dưới dạng vùng (polygon);
- Địa danh thủy văn được thể hiện dưới dạng đường (polyline) và dạngvùng (polygon);
- Địa danh giao thông được thể hiện dưới dạng đường (polyline) và dạngvùng (polygon);
- Địa danh kinh tế xã hội được thể hiện dưới dạng vùng (polygon);
- Địa danh biển đảo được thể hiện dưới dạng vùng (polygon)
Nội dung cụ thể của các chuyên đề địa danh ở nhóm tỷ lệ 1:5.000;1:10.000 bản đồ địa hình được trình bày cụ thể ở Phụ lục 2
2.3.2 Nhóm tỷ lệ 1:25 000; 1:50 000
Địa danh trên bản đồ địa hình 1:25 000; 1:50 000 bao gồm các chuyên đềđịa danh dân cư, chuyên đề địa danh sơn văn, chuyên đề địa danh thủy văn,chuyên đề địa danh giao thông, chuyên đề địa danh kinh tế xã hội
Ở bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 25 000; 1:50 000, các chuyên đề địa danh đượcthể hiện theo các đặc trưng như sau:
Trang 37- Địa danh hành chính được thể hiện dưới dạng vùng (Polygon);
- Địa danh dân cư được thể hiện dưới dạng vùng (Polygon);
- Địa danh sơn văn được thể hiện dưới dạng điểm (point), đường(polyline) và dạng vùng (polygon);
- Địa danh thủy văn được thể hiện dưới dạng đường (polyline) và dạngvùng (polygon);
- Địa danh giao thông được thể hiện dưới dạng đường (polyline);
- Địa danh kinh tế xã hội được thể hiện dưới dạng điểm (point) và dạngvùng (polygon);
- Địa danh biển đảo được thể hiện dưới dạng điểm (point) và dạng vùng(polygon)
Nội dung cụ thể của các chuyên đề địa danh ở bản đồ địa hình tỷ lệ :25000; 1:50 000 được trình bày cụ thể ở Phụ lục 2
2.3.3 Nhóm tỷ lệ 1:100 000; 1:250 000
Ở bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 100 000; 1:250 000, các chuyên đề địa danh cóthường thể hiện đối tượng theo các đặc trưng như sau:
- Địa danh hành chính được thể hiện dưới dạng vùng (Polygon);
- Địa danh dân cư được thể hiện dưới dạng vùng (Polygon);
- Địa danh sơn văn được thể hiện dưới dạng điểm (point), đường(polyline) và dạng vùng (polygon);
- Địa danh thủy văn được thể hiện dưới dạng đường (polyline) và dạngvùng (polygon);
- Địa danh giao thông được thể hiện dưới dạng đường (polyline);
- Địa danh kinh tế xã hội được thể hiện dưới dạng điểm (point) và dạngvùng (polygon);
- Địa danh biển đảo được thể hiện dưới dạng điểm (point) và dạng vùng(polygon)
Nội dung cụ thể của các chuyên đề địa danh ở bản đồ địa hình tỷ lệ1:100.000; 1:250.000 được trình bày ở Phụ lục 2
2.3.4 Nhóm tỷ lệ 1:500.000; 1:1000 000
Trang 38Ở bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 1000 000, các chuyên đề địa danh thể hiện theocác đặc trưng như sau:
- Địa danh hành chính được thể hiện dưới dạng vùng (Polygon) và chỉ thểhiện được ở cấp huyện, cấp tỉnh ở tỷ lệ này địa danh hành chính cấp xã sẽ códạng điểm (point);
- Địa danh dân cư được thể hiện dưới dạng điểm (Point);
- Địa danh sơn văn được thể hiện dưới dạng điểm (point), đường(polyline) và dạng vùng (polygon);
- Địa danh thủy văn được thể hiện dưới dạng đường (polyline) và dạngvùng (polygon);
- Địa danh giao thông được thể hiện dưới dạng đường (polyline);
- Địa danh kinh tế xã hội được thể hiện dưới dạng điểm (point);
- Địa danh biển đảo được thể hiện dưới dạng điểm (point) và dạng vùng(polygon)
Nội dung cụ thể của các chuyên đề địa danh ở bản đồ địa hình tỷ lệ1:500.000; 1:1.000.000 được trình bày ở Phụ lục 2
Sự thay đổi của các đối tượng địa lý được thể hiện trong bảng khái quát các chuyên đề địa danh sẽ thể hiện trên các dãy bản đồ ở dạng điểm, dạng đường, dạng vùng theo các dãy tỷ lệ bản đồ như sau:
Chuyên đề địa
danh
Tỷ lệ bản đồ địa hình
Ghi chú 5.000;
Ở tỷ lệ nhỏ thì địa danh dân
cư chỉ có dạng điểm (không
Điểm không có có có Ở tỷ lệ nhỏ thì địa danh sơn văn sẽ có ở dạng điểm,
đường, vùng (đỉnh núi, dãy
Đườn g
Trang 39núi, cao nguyên)
Thủy văn
Điểm không không không không
Ở tỷ lệ nhỏ, địa danh thủy văn vẫn thể hiện ở dạng vùng, dạng đường
Điểm không có có không Ở tỷ lệ nhỏ, địa danh kinh tế
xã hội không thể hiện được, trừ các địa danh kinh tế xã hội đặc biệt
Điểm không có có không Ở tỷ lệ nhỏ, địa danh văn
hóa lịch sử không thể hiện được, trừ các địa danh kinh
Điểm không có có có Ở tỷ lệ nhỏ, địa danh biển
đảo vẫn thể hiện được ở dạng điểm (đảo), dạng vùng (quần đảo, bãi ngầm,…)
2.4 Quy định mã địa danh
Để có thể tích hợp với các cơ sở dữ liệu không gian khác, đặc biệt là cơ sở
dữ liệu nền địa lý đang được xây dựng thì việc cần thiết phải có mã địa danh phùhợp với các đối tượng trong cơ sở dữ liệu nền địa lý
Mã địa danh được quy định như sau phù hợp với quy định gán mã đốitượng địa lý của cơ sở dữ liệu nền địa lý, đảm bảo nguyên tắc phân loại đối
Trang 40tượng địa lý đồng thời thuận lợi trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa danhnhư sau:
Trong một chuyên đề địa danh thành phần (trên một đơn vị hành chínhnào đó) đối tượng địa lý được quản lý thông qua mã địa danh Mã địa danh gồm
4 thành phần đại diện cho chuyên đề địa danh, lớp địa danh, số thứ tự của địa
danh ( chỉ số ID) và mã mở rộng của địa danh.
2.4.1 Quy định về gán mã theo chuyên đề:
Số lượng chuyên đề địa danh trong CSDL được quy định như sau:
- Địa danh hành chính: DA03
- Địa danh dân cư: DA01
- Địa danh sơn văn: DA05
- Địa danh thủy văn: DA06
- Địa danh giao thông: DA07
- Địa danh văn hóa lịch sử: DA08
- Địa danh kinh tế xã hội: DA04
- Địa danh biển đảo: DA02
2.4.2 Quy định về gán mã đối tượng theo từng chuyên đề:
Trong một nhóm chuyên đề, Quy ước sử dụng 3 ký tự số tự nhiên từ 100đến 999 để mã hoá cho thành phần đại diện cho lớp các đối tượng địa lý trongcác nhóm chuyên đề địa danh Các địa danh trong từng chủ đề sẽ được quy định
cụ thể như sau:
- Địa danh hành chính: DA03
+ Hành chính tỉnh: DA031 + Hành chính huyện: DA032 + Hành chính xã: DA033
- Địa danh dân cư: DA01
+ Thôn: DA011+ Xóm: DA012+ Bản: DA013
- Địa danh sơn văn: DA05
+ Núi: DA051