ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ---Nguyễn Văn Hiếu NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH TH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Văn Hiếu
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Văn Hiếu
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Thuỷ sinh vật học
Mã số: 60.42.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
TS NGUYỄN HUY YẾT
Hà Nội, 2010
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Huy Yết, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thiện luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn đến PGS TS Nguyễn Xuân Quýnh và các thầy, cô giáo các cán bộ trong bộ môn Động vật không xương sống Khoa sinh học - Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc Gia – Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thiện luận văn này.
Trong thời gian làm luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban chủ nhiệm dự án “ Xây dựng Quy hoạch chi tiết khu bản tồn biển Phú Quý, tỉnh Bình Thuận”, toàn thể các đồng nghiệp phòng Nghiên cứu Bảo tồn Biển và Trung tâm Quan trắc Quốc gia Cảnh báo Môi trường biển - Viện nghiên cứu Hải Sản Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình tôi đã luôn ủng
hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
i
Trang 5Lời cảm ơn ……… i
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu rạn san hô trên thế giới 3
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam 4
1.2.1 Thành phần san hô cứng và san hô tạo rạn 6
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái rạn san hô 8
1.2.3 Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô 9
1.2.4 Hiện trạng rạn san hô Việt Nam 11
1.3 Tổng quan điều kiện tự nhiên và tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 14
1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 14
1.3.1.1 Vị trí địa lý 14
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất địa tầng 16
1.3.1.3 Điều kiện khí tượng, thuỷ văn 17
1.3.2 Tổng quan một số nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo Phú Quý 18
CHƯƠNG 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phương pháp thu mẫu và phân tích các yếu tố môi trường 22
2.2.2 Phương pháp điều tra và nghiên cứu san hô cứng và rạn san hô 22
2.2.2.1 Thiết kế điều tra, nghiên cứu 22
2.2.2.2 Phương pháp Manta - tow 23
2.2.2.3 Phương pháp xác định độ phủ san hô và các hợp phần đáy khác 24
2.2.2.4 Phương pháp xác định cấu trúc rạn 24
2.2.2.5 Phương pháp xác định diện tích rạn san hô 26
2.2.2.6 Phương pháp phân loại san hô cứng 27
2.2.3 Phân tích và xử lý số liệu 27
2.2.3.1 Hệ số tương đồng Sorensen (S) 27
2.2.3.2 Độ phủ san hô cứng sống và các hợp phần đáy khác 27
2.2.3.3 Xác định diện tích rạn san hô 28
2.2.3.4 Xử lý các yếu tố môi trường 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
ii
Trang 63.1 Kết quả khảo sát một số yếu tố môi trường biển ven đảo Phú Quý 30
3.1.1 Các thông số môi trường nước cơ bản 30
3.1.2 Hàm lượng dầu và xyanua (CN-) 32
3.1.3 Đánh giá tổng thể chất lượng môi trường nước biển ven đảo Phú Quý 33
3.2 Thành phần loài san hô cứng 34
3.2.1 Cấu trúc thành phần loài san hô cứng 34
3.2.2 Danh sách thành phần loài san hô cứng và phân bố mặt rộng 38
3.2.3 Sự tương đồng của tập hợp loài giữa các vùng rạn ven đảo Phú Quý 44
3.3 Đặc trưng phân bố của quần xã san hô cứng 45
3.3.1 Đặc trưng phân bố quần xã san hô cứng theo mặt rộng 45
3.3.2 Đặc trưng phân bố quần xã san hô cứng theo độ sâu 47
3.4 Đặc điểm hình thái và diện tích phân bố rạn san hô ven đảo Phú Quý 48
3.4.1 Đặc điểm hình thái rạn san hô ven đảo Phú Quý 48
3.4.2 Diện tích phân bố rạn san hô ven đảo Phú Quý 50
3.5 Hiện trạng phát triển của quần xã rạn san hô cứng 53
3.5.1.Hiện trạng độ phủ san hô trên các vùng rạn nghiên cứu 53
3.5.2 Đánh giá biến động độ phủ san hô sống theo thời gian 54
3.6 Hiện trạng hệ sinh thái rạn san hô và các yếu tố tác động 55
3.6.1 Các tác động từ tự nhiên 55
3.6.2 Các tác động của con người 56
3.7 Đề xuất việc bảo vệ quần xã san hô và nguồn lợi biển ven đảo Phú Quý 59
3.7.1 Đề xuất các giải pháp sử dụng, bảo vệ và phát triển hợp lý hệ sinh thái rạn san hô 59
3.7.2 Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng 60
3.7.3 Đề xuất phân vùng bảo tồn quần xã rạn san hô trong kế hoạch thiết lập khu bảo tồn biển Phú Quý 61
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 76
iii
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Số lượng loài san tạo rạn ở các vùng ven biển Việt Nam… …… 6
Bảng 2 Độ phủ san hô tại một số vùng chủ yếu ven biển Việt Nam 11
Bảng 3 Biến đổi độ phủ san hô cứng, san hô mềm và san hô chết ở một số địa điểm xung quanh quần đảo Côn Đảo quan sát trước và sau cơn bão Linda năm 1997 13
Bảng 4 Hàm lượng Cyanua trong môi trường nước xung quanh đảo Bạch Long Vĩ tháng 5/1998 13
Bảng 5 Toạ độ mặt cắt tại các vùng rạn nghiên cứu san hô ven đảo Phú Quý 23
Bảng 6 Giới hạn cho phép của một số thông số môi trường nước sử dụng đánh giá tổng thể môi trường 29
Bảng 7 Giá trị của một số thông số môi trường nước cơ bản ven đảo Phú Quý 31
Bảng 8 Hàm lượng COD, dầu và xyanua trong nước biển ven đảo Phú Quý 32
Bảng 9 Cấu trúc thành phần loài quần xã san hô cứng ven đảo Phú Quý 35
Bảng 10 Đa dạng thành phần loài san hô cứng vùng biển Đông Nam Bộ 37
Bảng 11 Danh sách thành phần loài san hô cứng và phân bố ven đảo Phú Quý 38
Bảng 12 Chỉ số Sorensen về sự tương đồng của loài giữa các vùng rạn khảo sát san hô ven đảo Phú Quý 44
Bảng 13 Giới hạn phân bố theo độ sâu của quần san hô ven đảo Phú Quý 47
Bảng 14 Phân bố diện tích tại các vùng rạn san hô chủ yếu ven đảo Phú Quý 51
Bảng15 Độ phủ trung bình san hô sống, hợp phần đáy tại 9 vùng rạn ven đảo Phú Quý 53
iv
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Bản đồ đảo Phú Quý ……….……… 15
Hình 2 Vị trí mặt cắt khảo sát tại các vùng rạn ven bờ đảo Phú Quý 21
Hình 3.Khảo sát tổng quan bằng phương pháp Manta tow 24
Hình 4 Nhiệt độ (0C), độ muối (‰) trung bình tháng nhiều năm khu vực biển ven đảo Phú Quý 30
Hình 5 Chỉ số RQtt tính theo GHCP của Việt Nam và tính theo ngưỡng ASEAN trong 2 đợt quan trắc chất lượng nước biển đảo Phú Quý (2010) 34
Hình 6 Phân bố số lượng thành phần giống, loài san hô cứng tại các 36
khu vực nghiên cứu 36
Hình 7 Phân bố số lượng loài san hô cứng trên các vùng rạn nghiên cứu 46
Hình 8 Sơ đồ cấu trúc mặt cắt ngang rạn san hô viền bờ điển hình gồm 48
5 đới cấu trúc 48
Hình 9 Đới bằng rộng với sự phát triển loài ưu thế thuộc vùng rạn Đông Bắc Phú Quý 49
Hình 10 Đới sườn dốc với tính đa dạng loài cao thuộc vùng rạn Nam Phú Quý 50
Hình 11 Phân bố rạn san hô theo hiện trạng độ phủ san hô ven đảo Phú Quý 52
Hình 12 Biến động độ phủ san hô sống, san hô chết ven đảo 55
Phú Quý theo thời gian 55
Hình 13 Hoạt động neo đậu tầu thuyền và sả thải chất ô nhiễm ven đảo Phú Quý 58 Hình 14 Hoạt động nuôi cá lồng bè tại các khu vực ven đảo Phú Quý 59
Hình 15 Phân bố rạn san hô theo hiện trạng độ phủ san hô ven đảo Phú Quý 63
Hình 16 Phân bố hệ sinh thái rong cỏ biển tại khu vực ven đảo Phú Quý 64
Hình 17 Bản đồ phân vùng chức năng khu bảo tồn biển Phú Quý 65
v
Trang 9vi
Trang 10MỞ ĐẦU
San hô cứng thuộc ngành động vật Ruột khoang (Coelenterata) chỉ sống ởbiển, có thành phần loài rất phong phú Cho tới nay trên thế giới có khoảng 2000loài thuộc 172 giống, 22 họ san hô hiện đại đã được công bố [49] Đa số các loàisan hô cứng đều sống thành tập đoàn ở vùng biển nông nhiệt đới, chỉ một số ít loàisống đơn độc Chúng có thể phân bố rộng, sống cả ở vùng nước lạnh, độ sâu lớn,không có ánh sáng Xét về vai trò tạo rạn, san hô cứng được chia thành hai nhóm:
nhóm san hô tạo rạn (Hermatypic) và nhóm san hô không tạo rạn (Ahermatypic).
Hai nhóm này có sự tương đồng về cấu trúc động vật, chỉ khác nhau cơ bản ở chỗ
san hô tạo rạn có tảo cộng sinh (Zooxanthellae) nằm trong mô thịt động vật, trong
khi đó nhóm san hô không tạo rạn không có Vì vậy hai nhóm có sự khác nhau vềsinh thái và động thái dinh dưỡng Nhóm thứ nhất vừa có khả năng dinh dưỡngbằng quang hợp, vừa ăn cả động vật, nhóm thứ hai chỉ ăn thịt, phân bố không phụthuộc vào ánh sáng
Về sinh thái, quần xã san hô là nhóm động vật sống bám đáy không dichuyển, tạo thành các tập đoàn (colony) rất đông đảo, còn để lại nhiều di tích hoáthạch được bảo tồn tại chỗ trong các lớp trầm tích trên khắp thế giới Vì thế chúngkhông chỉ có giá trị trong nghiên cứu địa tầng mà còn là đối tượng tốt cho nghiêncứu biến đổi khí hậu trong những năm gần đây
Ngoài ra hệ sinh thái rạn san hô có đặc tính đa dạng sinh học cao mà trướchết là sự thể hiện giàu có về thành phần loài sinh vật trên rạn Trên cùng một diệntích phân bố ở từng vùng, không một hệ sinh thái biển nào có thành phần loài nhiềuhơn rạn san hô [53] Rạn san hô là môi trường mà nhiều loài phụ thuộc vào đó Nềnđáy cứng trên rạn là nơi mà nhiều loài sinh vật đáy sinh sống và sinh trưởng Một sốlượng lớn các hang hốc trên rạn cung cấp nơi trú ẩn cho cá, đặc biệt là cá con và cácđộng vật không xương sống Nhiều loài còn coi rạn san hô là nơi duy trì tồn tại củachu trình sống và sử dụng rạn như là nơi kiếm ăn, đẻ trứng hoặc ương con và trú ẩn
Vì vậy từ những năm 1991 trở về đây những chương trình nghiên cứu biển trên cácrạn san hô ở Việt Nam tập trung vào những vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng
Trang 11sinh học, hiện trạng khai thác sử dụng và cơ sở khoa học cho việc thiết lập các khubảo tồn thiên nhiên biển.
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện trạng các rạn san
hô tại Việt Nam và có chung nhận định về sự suy giảm độ phủ san hô cũng như đadạng nguồn lợi sinh vật trong rạn và đưa ra các giải pháp bảo vệ nguồn lợi
Để góp phần nhỏ vào công tác bảo tồn biển Chúng tôi thực hiện đề tài “
Nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng và hình thái rạn san hô ven đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận” với các nội dung chính:
- Xác định thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng ven đảo Phú Quý, tỉnhBình Thuận
- Xác định đặc điểm hình thái, diện tích và phân bố rạn san hô cứng ven đảo PhúQuý, tỉnh Bình Thuận
Với những kết quả nghiên cứu này nhằm bổ sung tư liệu về đa dạng sinh họcquần xã rạn san hô nói riêng và đa dạng sinh học biển nói chung của vùng ven biểnđảo Phú Quý Từ đó kết hợp với các luận cứ khoa học cơ bản về điều kiện tự nhiên,
đa dạng sinh học, môi trường và xu hướng diễn thế của chúng trong mối tương quanmật thiết với điều kiện thực tiễn kinh tế-xã hội làm cơ sở cho việc thiết lập xâydựng và quản lý các khu bảo tồn biển mà trong đó hệ sinh thái rạn san hô đóng vaitrò đối tượng trung tâm
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu rạn san hô trên thế giới.
Cuối thế kỷ XVIII, rạn san hô trở thành mối quan tâm lớn trên thế giới bởi vìđây chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra các vụ đắm tàu Thật đáng ngạc nhiên khirạn san hô được quan tâm muộn như vậy vì một nửa đường bờ của Đại Tây Dươngnằm ở vùng nhiệt đới và 1/3 bờ biển nhiệt đới có san hô phân bố Trong cuốn sách
“Rạn san hô” xuất bản năm 1842, Charles Darwin đã chỉ ra những vùng phân bốchính của rạn san hô trên thế giới Bản đồ này được coi là khá tin cậy trong phạm vilớn Sau đó James Dana cũng có một công trình lớn vào năm 1872, tuy nhiên tácphẩm đó lại bị Darwin phê phán do quan điểm về sự hình thành các đảo san hôvòng Darwin đã đúng và được nhiều nhà khoa học cùng thời ủng hộ Tuy nhiên,mối quan tâm của giới khoa học về cuộc tranh luận này đã dừng lại với bản đồ phân
bố và lý thuyết hình thái rạn của Darwin Những quan tâm đối với san hô, một cáchtách biệt khỏi nghiên cứu về rạn, được thực hiện từ cuối thể kỷ thứ XVIII Mẫu vậtsan hô đã được thu thập trong nhiều chuyến khảo sát lớn và được định loại trưngbày ở các bảo tàng Châu Âu và Mỹ Trước khi có những tiến bộ về lặn có khí tài,những vùng nghiên cứu chủ yếu giới hạn ở Biển Đỏ, Nhật Bản, Palau, Philippines,Great Barrier Reef, Hawaii, đảo Marshall và vịnh Carribe Tính ra đã có tới 400công trình về phân loại san hô tạo rạn được xuất bản với 2000 tên gọi đã được đặt
và mô tả trước thời đại lặn có khí tài Rất tiếc là nhiều mô tả thời đó rất sơ sài và têngọi thì khá lộn xộn Về sau này, với các trang thiết bị hiện đại và qua nhiều chuyếnkhảo sát lớn, hiểu biết về rạn san hô và san hô tạo rạn đã được cải thiện [21]
Cho đến nay, khoảng 700 loài san hô tạo rạn đã được ghi nhận trên thế giới với tính
đa dạng loài khác nhau giữa các vùng biển thế giới Trong đó vùng đa dạng nhất lànhiệt đới Tây Thái Bình Dương Lý thuyết của Darwin cho rằng kiếu cấu trúc đảosan hô vòng “là hình ảnh của một hòn đảo bị chìm ngập” đã được chứng minh bằngcác dẫn liệu về khoan sâu Những nghiên cứu về rạn san hô trong thế kỷ hai mươi
đã tập trung đánh giá những tác động và hậu quả sinh thái do hoạt động của conngười gây nên đối với rạn và tìm kiếm các giải pháp nhằm bảo tồn rạn san hô cho
Trang 13thế hệ tương lai.
Hiện nay, cứ 4 năm một lần một hội thảo quốc tế về rạn san hô được tổ chức.Đây là cơ hội để hàng ngàn nhà nghiên cứu và quản lý trao đổi thông tin và cùngnhau hành động vì sự tồn tại bền vững của rạn san hô và nâng cao lợi ích mà conngười được hưởng lợi từ rạn san hô[21]
Kết quả của chuyến khảo sát Ramble có thể được coi là công trình nghiêncứu rạn san hô đầu tiên ở vùng Biển Đông trong đó đã nghi nhận 14 giống san hôcứng ở quần đảo Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia ( thuộc quần đảo TrườngSa) Ngoài ra có những thông tin không chính thức cho rằng Darwin cũng đã ghéqua các rạn san hô trong Biển Đông trên con đường nghiên cứu học thuyết về sựhình thành các đảo san hô vòng (atoll) [46]
Những nghiên cứu về phân bố rạn san hô thế giới ghi nhận có hàng ngàn rạnsan hô, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trải từkhoảng 30 độ vĩ tuyến Bắc đến 30 độ vĩ tuyến Nam nơi mà nhiệt độ nước biển hiếmkhi xuống dưới 180C Diện tích bao phủ rạn san hô lên đến 6 x 105 km2 [48] Sựkhác biệt về hình thái, thành phần sinh học, tính đa dạng và cấu trúc phản ánh đặctrưng địa-sinh học, tuổi, phân vùng địa động vật và điều kiện môi trường Tuynhiên, chúng không luôn luôn tồn tại như hiện nay mà đã trải qua một lịch sử thayđổi, biến động liên quan chặt chẽ đến những sự kiện lớn về địa chất và khí hậu toàncầu
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu về hệ sinh thái rạn san hô Việt Nam ghi nhận những kếtquả nghiên cứu của Ramble như những công trình nghiên cứu đầu tiên ở vùng BiểnĐông Trong đó Smith (1890) [46] đã ghi nhận 14 giống san hô cứng ở quần đảoMacclesfield và đảo san hô vòng Tigia (Trường Sa)
Trước những năm 1954 các chương trình nghiên cứu về san hô ở Biển Đôngnước ta phần lớn được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu người Pháp thuộc Viện HảiDương học Nha Trang Các công trình nghiên cứu sau đó được xuất bản bằng tiếngPháp, trong đó đáng kể nhất là tập hợp kết quả công trình nghiên cứu của Chevey P
Trang 14[3] và Krempf.A ([12] Những khảo sát tiếp theo của Serene , R [56] ; Dawydoff.C.N., (1952) [54] ở nhiều vùng biển ven bờ cũng cho phép nêu lên những nhận định
về thành phần san hô cứng, cấu trúc và phân bố của một số rạn san hô ở vịnh HạLong, vịnh Thái Lan, Côn Đảo và ven biển miền Trung
Từ năm 1955 đến năm 1975, nghiên cứu về rạn san hô được tiến hành khôngnhiều Đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên cứu ở vịnh Nha Trang của TrầnNgọc Lợi (1955) [56] mô tả các quần xã sinh vật rạn san hô ở vùng nước nông vàtài liệu phân loại san hô mềm của Tixier - Durivault (1970)[45]
Từ năm 1975 đến năm 1990 là thời kỳ có nhiều chương trình nghiên cứu lớn,tiêu biểu là các chương trình hợp tác với Liên Xô Những nghiên cứu cơ bản về rạnsan hô được quan tâm trong các công trình khoa học biển của Nhà nước và nhất làtrong các chuyến khảo sát liên hợp Việt Xô Các công trình xuất bản trong thời kỳnày đã cung cấp những dẫn liệu cơ bản về phân bố, quần xã sinh vật rạn, thành phầnloài san hô tạo rạn và hiện trạng của nhiều rạn san hô ở vùng biển ven bờ miềnTrung và quần đảo Trường Sa Những kết quả đáng chú ý của giai đoạn này đượcxuất bản vào những năm sau đó, bao gồm các công trình của Latypov [5,6,7,8];Nguyễn Huy Yết [26, 27, 28, 29,30, 31, 34]; Võ Sĩ Tuấn [17, 18, 19], [20]
Các nghiên cứu về san hô thực hiện sau năm 1990 chủ yếu tập trung vàonhững vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng sinh học, hiện trạng khai thác sửdụng và cơ sở khoa học cho việc thành lập các khu bảo tồn biển Trong đó, nhữngbáo cáo điều tra của các đội khảo sát Quỹ bảo vệ động vật hoang dã Quốc tế(WWF) và Viện Hải Dương học là cơ sở ban đầu để đề xuất hệ thống khu bảo tồnbiển Việt Nam Song song với vấn đề bảo tồn thiên nhiên, việc tổng kết và nghiêncứu cũng cho phép giải quyết một số vấn đề cơ bản như địa động vật, phân vùng đadạng sinh học dựa trên đặc tính khu hệ san hô tạo rạn [9] Từ năm 2000 đến nay,Viện Hải dương học Nha Trang phối hợp với một số tổ chức Quốc tế khác tiến hànhcác chương trình nghiên cứu cơ bản về hệ sinh thái rạn san hô, nhưng tiêu biểu là 2nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh học làm cơ sở khoa học cho việc phân vùng vàthiết lập khu bảo tồn biển ở vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) và Cù Lao Chàm (Quảng
Trang 15Nam) Từ kết quả khảo sát đó, 2 khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam đã được thiếtlập vào các năm 2001 và 2003 Đối với rạn san hô miền Bắc, từ năm 2003-2004Viện Nghiên cứu Hải sản phối hợp với Viện Tài nguyên Môi trường Biển HảiPhòng đã thực hiện chương trình nghiên cứu đa dạng sinh học tại 2 đảo Cát Bà và
Cô Tô làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng khu bảo tồn biển Gần đây 2 chươngtrình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản do Đỗ Văn Khương làm chủ nhiệm :
- Năm 2006-2008 Đề tài“Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số
vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao
ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”.
- Năm 2007-2009 Đề tài KC09 ”Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh
tế xã hội các khu bảo tồn biển trọng điểm phục vụ cho xây dựng và quản lý”.
Nội dung nghiên cứu bao gồm các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh họcbiển, kết hợp với các nghiên cứu đánh giá kinh tế xã hội tại mỗi khu vực là những
tư liệu có giá trị cao trong định hướng thiết lập mạng lưới khu bảo tồn biển ViệtNam trong thời gian tới
1.2.1 Thành phần san hô cứng và san hô tạo rạn
Những nghiên cứu từ năm 1982 - 2004 đã xác định khoảng 400 loài thuộc 79giống san hô cứng ở ven bờ biển Việt Nam Kết quả thống kê thể hiện sự tương đốigiàu có về thành phần loài của vùng biển phía Nam với số lượng hơn hẳn vùng biểnphía Bắc và gần tương đương với các vùng giàu có san hô của thế giới nhưPhilippines (441 loài), Nam Papua New Guinea (282 loài), Biển Coral Sea (239loài), Bắc Great Barrier Reef (324 loài), giữa Great Barrier Reef (343 loài) [50] vàĐông Indonesia (350 loài) [36] Tổng số loài ghi nhận ở ven biển Việt Nam cho tanhận định rằng: Vùng biển Việt Nam là một trong những vùng có thành phần loàisan hô khá đa dạng của thế giới
Trong 79 giống san hô cứng đã xác định ở Việt Nam, có 72 giống thuộcnhóm san hô tạo rạn Tuy nhiên, sự đa dạng loài san hô tạo rạn khá khác nhau giữacác vùng phân bố (bảng 1)
Trang 16Bảng 1 Số lượng loài san tạo rạn ở các vùng ven biển Việt Nam
Vùng biển
Số lượng giống san
hô cứng
Số lượng loài san hô cứng
Số lượng giống san
hô tạo rạn
Số lượng loài san hô tạo rạn
(Nguồn: theo Võ Sỹ Tuấn, 2005)[21]
Về cấu trúc thành phần loài, trong thành phần loài đã xác định ở biển ViệtNam, giống có số loài nhiều nhất là Acropora chiếm 16,8% tổng số loài đã ghinhận, sau đó là các giống Monipora (8,6%), Porites (4,5%), Fungia (3,7%),Goniopora (3,5%), Pavona (2,4%) So sánh các vùng phía nam Việt Nam với vịnhBắc Bộ và một số vùng biển khác ở tây Thái Bình Dương cho thấy tỷ lệ của số loàithuộc các giống này trên tổng số loài ít thay đổi hoặc thay đổi không có quy luậtngoại trừ đối với giống Favia – nhóm san hô dạng khối điển hình Điều cần chú ý làgiống này có tỷ lệ số lượng loài khá cao ở vùng biển xung quanh đảo Amacusa vàTanegashima – các vùng biển của Nhật Bản ít chịu ảnh hưởng của các dòng nước
ấm Kuroshio từ phía nam [50] và vịnh Bắc Bộ - Bắc Việt Nam Trong khi đó, sựkhác nhau của thông số này giữa vùng biển phía Nam Việt Nam và các vùng còn lại
kể cả ở Okinawa ( Nhật Bản) không đáng kể
Thống kê trên đây cho thấy, vịnh Bắc Bộ có thành phần loài nghèo hơn rõ rệt
so với các vùng biển ở phía Nam Việt Nam Hơn nữa, sự phổ biến của rạn san hô ởmột số vùng trong Vịnh – nơi có nhiệt độ khá thấp vào mùa đông, còn bất ngờ ngay
cả đối với giới nghiên cứu Vì vậy, liệu tính chất thành phần loài có sự khác biệtgiữa vịnh Bắc Bộ và các vùng biển phía Nam hay không
Trang 17Một số phân tích trên đây cho thấy, nếu không kể về số lượng, tính chấtthành phần loài san hô cứng của vùng biển ven bờ phía Nam Việt Nam không khácbiệt nhiều so với vịnh Bắc Bộ Trong khi đó luận điểm phân vùng địa động vật củaGurjanova, (1976) cho rằng khu hệ động vật vịnh Bắc Bộ thuộc phân vùng TrungHoa- Nhật Bản, còn vùng biển phía Nam từ 13 độ vĩ tuyến Bắc trở vào thuộc phânvùng Ấn Độ-Mã Lai.( trích Võ Sĩ Tuấn ctv, 2005) Dường như tính chất thành phầnloài san hô cứng không phù hợp với luận điểm này Đây cũng là cơ sở để một số tácgiả Maliautin & Latypov, 1991[9] phủ nhận phân chia vùng địa động vật ở BiểnĐông Vấn đề cần xem xét thêm là hầu hết san hô cứng tạo rạn mang tính chấtnhiệt đới rõ rệt và đều phát tán từ trung tâm ở vùng nhiệt đới thông qua vai trò củadòng chảy trên biển Yếu tố này thay đổi theo mùa rất phức tạp đối với các vùngbiển ven bờ và chi phối tính chất khu hệ san hô Ngay cả ở vùng biển vĩ độ cao phíaBắc như Okinawa cũng có khu hệ san hô cứng khá điển hình nhờ ảnh hưởng củadòng chảy Kuroshio San hô tạo rạn không có con đường phát tán ngược lại từ phíaBắc như nhiều nhóm sinh vật có nguồn gốc hình thành đa dạng khác Vì vậy, cầnphải thận trọng khi dựa vào tính chất thành phần loài san hô để xem xét phân vùngđịa động vật.
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái rạn san hô
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của vùng biển Việt Nam nói chung kháthuận lợi cho sự phát triển của san hô tạo rạn, trừ các vùng chịu ảnh hưởng của cáclưu vực sông với độ muối thấp và độ đục cao Rạn san hô phân bố hầu hết tại cácvùng nước nông ven bờ, ven đảo có nền đáy chắc, rất giàu có ở các quần đảoTrường Sa và Hoàng Sa Tuy nhiên tính chất phân bố và hình thái các rạn san hôtương đối khác nhau giữa các vùng địa lý.[21]
Vùng ven bờ thuộc bờ Tây vịnh Bắc Bộ có điều kiện tự nhiên ít thuận lợi nhấttrên phương diện sinh thái san hô tạo rạn Các yếu tố bất lợi là nhiệt độ thấp vàomùa đông và ảnh hưởng lớn của các dòng vật chất từ đất liền Vùng có rạn san hôphân bố thường chỉ ở phần ngoài của các vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Quần đảo Cô
Tô, Long Châu… Hầu hết vùng này đều có đáy biển nông , nhiều bùn Vì vậy, rạn
Trang 18san hô ở bờ Tây vịnh Bắc Bộ thường rất hẹp và chỉ phân bố đến độ sâu khoảng 7m, chỉ những nơi xa rạn mới có thể xuống đến 10m Tuy nhiên, với vị trí địa lý đảoBạch Long Vĩ là nơi thuận lợi nhất cho sự phát triển của rạn san hô vịnh Bắc Bộ.Vùng ven bờ miền Trung và các đảo Đông Nam Bộ rạn san hô phát triển thuậnlợi hơn so với vùng biển phía Bắc Đây là những vùng biển có nhiệt độ nước thườngxuyên cao trên 200C và chịu ảnh hưởng lớn của biển khơi Địa hình ven biển cũngtạo thành nhiều các vũng vịnh và đảo tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh Nhờ vậy, san
5-hô phân bố phổ biến ở dải ven bờ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, xung quanh hầu hếtcác đảo từ Cù Lao Chàm đến Côn Đảo Hình thái rạn cũng rất đa dạng có thể rộng
từ 50m đến 800m
Ở vùng biển Tây Nam Bộ, vùng ven bờ không thuận lợi cho san hô phát triển
do đáy biển có nhiều bùn, nước có độ trong thấp rạn phân bố xung quanh các đảo xa
bờ như Phú Quốc, Nam Du, Thổ Chu So với các vùng biển khác, chế độ thuỷ văn,động lực ít có những biến động lớn Do vậy, rạn san hô tương đối đồng nhất về hìnhthái Sự khác biệt chủ yếu do yếu tố nền đáy tạo nên Các rạn thường có chiều rộng
từ 50-100m và phân bố đến độ sâu 10-13m nước
Các Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa gồm hàng trăm đảo, bãi ngầm hình thành
do quá trình phát triển sinh - địa học của rạn san hô Rạn san hô hiện tại có thể phân
bố đến độ sâu 40-50m và có diện tích rất rộng Các đảo san hô vòng (atoll) điểnhình có thể kéo dài tới 50km và bao gồm các vành khuyên đảo nổi và bãi ngầm.Lagun bên trong đảo san hô vòng chỉ có độ sâu dưới 50m, trong khi thềm ngoài dốcđột ngột xuống hàng trăm mét Một dạng hình thái khác là các đảo hoặc bãi ngầmđơn độc chỉ rộng cỡ 2-3km với lagun nông ở bên trong chỉ sâu khoảng 5-7m [21]
1.2.3 Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô.
Ở vùng biển Việt Nam, chỉ mới ghi nhận hai kiểu cấu trúc là rạn riềm (fringingreef) và rạn dạng nền (plat-form reef) Ở vùng biển khơi xa, rạn san hô thuộc về mộtkiểu cấu trúc hoàn toàn khác – đó là các đảo san hô vòng Rạn dạng nền cũng tồn tạivới cấu trúc là các đảo hoặc bãi ngầm không liên kết thành dải hình vành khuyênrộng lớn Đây có thể coi là các “đảo san hô vòng giả” (pseudo-atoll)
Trang 19Theo quan sát tổng quan đặc điểm hình thái rạn san hô ven bờ Việt Nam, rạnriềm ven bờ chủ yếu tập trung từ Quảng Trị đến vịnh Cà Ná Các rạn riềm ven bờđều không xuất hiện dọc đường bờ vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và Tây Nam Bộ, nơi
mà các đường bờ biển và ảnh hưởng của sông đều không thuận lợi cho chúng Rạnriềm ven đảo phổ biến nhất ở vùng biển Việt Nam gồm: Các cụm đảo trên thềm lụcđịa như Hạ Long, Cát Bà, Cô Tô, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, các đảo nhỏ ở Khánh Hoà,Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du Các điều kiện chủ yếu thuận lợicho rạn tồn tại bao gồm nền đáy cứng xung quanh đảo, ảnh hưởng của sông ngòi từđất liền đến đảo không lớn
Về mặt hình thái các rạn san hô riềm nói chung thuộc vào hai dạng khác nhau:rạn riềm điển hình và rạn riềm không điển hình Rạn riềm điển hình là giai đoạnhoàn chỉnh của quá trình hình thành rạn san hô và các thành phần cấu trúc của rạnđược hình thành đầy đủ
Rạn dạng nền theo Veron J.E.N (1986), được gọi là rạn dạng đốm - thuậtngữ của Stoddard là rạn phát triển trên các bãi cạn, đồi ngầm Cùng với quá trìnhphát triển của địa chất, chúng có thể hình thành nên các đảo san hô Kiểu rạn này ởViệt Nam chưa được nghiên cứu nhiều Trong khi đó, sơ đồ địa hình thềm lục địaViệt Nam cho thấy vùng biển nước ta phân bố nhiều bãi cạn, đồi ngầm Những tưliệu tập hợp được chỉ cho phép nêu lên nhận xét về hình thái rạn ở một số bãi cạn[49]
Ví dụ: bãi cạn lớn (vịnh Nha Trang) được cấu thành bởi đá macma tuổi trước
Đệ Tam [16] Diện tích của nó khoảng 10 km2, nhô lên từ độ sâu khoảng 20m San
hô tạo rạn phát triển chủ yếu ở sườn dốc phía Đông Bắc và đạt độ phủ khá cao
Thành phần san hô chủ yếu gồm các loài Seriatopira histrix, Porites lutea, P rus,
Galaxea fascicularis, Lobophyllia corymbosa, Acropora valida Trên đỉnh bãi cạn
thành phần loài san hô nghèo và tập đoàn có kích thước nhỏ Rong mơ phát triểnmạnh ở vùng này và bao phủ gần hết diện tích nền đáy
Vùng biển bắc Bình Thuận có nhiều bãi cạn ở vùng có độ sâu nhỏ hơn 20m.Trong đó lớn nhất là bãi cạn Breda ( bắc Cù Lao Cau) có diện tích 22km2 và nhô
Trang 20nên từ độ sâu 10m đến cách mặt biển 4m Vật liệu tạo nên bãi cạn là các đá trầmtích giàu carbonat tuổi Đệ Tam, trên bề mặt thường có các trầm tích sinh lưu chuyển[18] Nền đáy trên bãi cạn chủ yếu được bao phủ bởi san hô mềm giốngSarcophyton Xen kẽ với chúng là một số san hô cứng dạng khối Goniastrea,Porites, Platygyra… Tuy nhiên, sự nghèo nàn của quần xã san hô cứng hiện nay vànền đáy lộ đá đã phủ nhận nhận xét trên Cấu trúc bãi cạn hoàn toàn do quá trình địachất hình thành [21].
Nhìn chung hầu hết các bãi cạn nghiên cứu, rạn san hô hiện đại kém pháttriển Điều đó còn đúng với quá khứ Chính sự kém phát triển suốt lịch sử phát triển
đã không cho phép hình thành các rạn nền điển hình với vật liệu tạo nên các bãi cạnhoàn toàn là san hô chết như các vùng biển khác Do vậy đến nay, rạn dạng nền trênthềm lục địa không hình thành bất cứ một rạn san hô nào
1.2.4 Hiện trạng rạn san hô Việt Nam
Trong những năm gần đây, gần 200 điểm rạn san hô đã được khảo sát ở dảiven biển Việt Nam Thông kê số liệu cho thấy hiện trạng độ phủ của san hô trên cácrạn không ở trạng thái tốt Số liệu thống kê còn thể hiện các rạn ở xa bờ hoặc xa cácvùng tập trung dân cư thường có độ phủ, chất lượng rạn tốt hơn các khu vực rạnvùng ven bờ [37] Tổng hợp dẫn liệu các công trình nghiên cứu cho thấy tình trạng
độ phủ san hô cứng sống tại một số khu vực chủ yếu vùng ven bờ Việt Nam.[21](bảng 2)
Bảng 2 Độ phủ san hô tại một số vùng chủ yếu ven biển Việt Nam
Stt Vùng nghiên cứu Số điểmkhảo sát Khoảng giao độngđộ phủ (%). Độ phủ trungbình (%). khảo sátNăm
Trang 21Ngoài ra, bằng phương pháp phân tích gián tiếp qua kỹ thuật bản đồ trongmối tương quan với các hoạt động kinh tế xã hội ở vùng ven biển, áp dụng mô hìnhReef at Risk, Bucke và ctv (2002)[37] đã chỉ ra mức độ bị đe dọa của các rạn san hôĐông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Theo đó, hầu hết các rạn san hô ven
bờ Việt Nam bị đe doạ bởi hoạt động của con người, với 50% số rạn bị xếp ở mức
độ đe dọa cao và 17% ở mức độ rất cao Đánh bắt huỷ diệt đươc đánh giá là rất phổbiến và trầm trọng với trên 85% số rạn bị đe doạ ở mức độ trung bình và cao Khaithác quá mức được đánh giá là mức đe dọa lớn cho khoảng một nửa số rạn Các mối
đe dọa được coi là thấp hơn gồm tiềm năng lắng đọng trầm tích (47% số rạn), pháttriển vùng ven biển (40% số rạn) và ô nhiễm trên biển (7%)
So sánh với tình trạng của các rạn san hô trong khu vực, mô hình tính toáncho thấy Việt Nam nằm trong nhóm có tỷ lệ các rạn bị đe doạ nhiều nhất (cùng vớiPhilippines, Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia) Chỉ có các rạn quần đảoAndaman (Ấn Độ), biển Myanmar và Thái Lan có trên 20% số rạn còn ở mức chịu
đe doạ ít [37]
Một số dẫn liệu nghiên cứu tại đảo Côn Đảo, Bà Rịa –Vũng Tầu và BạchLong Vĩ, Hải Phòng của tác giả Võ Sĩ Tuấn và Nguyễn Huy Yết là những nghiêncứu cho thấy sự tác động mạnh mẽ từ tự nhiên và con người đến môi trường và sựsinh thái rạn san hô Sự suy giảm độ phủ mạnh mẽ rạn san hô trước và sau bãoLinda tại Côn Đảo (bảng 3)
Trang 22Bảng 3 Biến đổi độ phủ san hô cứng, san hô mềm và san hô chết ở một số địa điểm xung
quanh quần đảo Côn Đảo quan sát trước và sau cơn bão Linda năm 1997
Bảng 4 Hàm lượng Cyanua trong môi trường nước xung quanh đảo Bạch Long Vĩ
Trầm tích đáy 2160-4190 mg/kg (2980 mg/kg)
Rong biển tươi 20,01-60,24 mg/kg (38,85 mg/kg)
Thịt bào ngư tươi 310,5-732,4 mg/kg (544,1 mg/kg)
Nguồn: (Võ Sĩ Tuấn và Nguyễn Huy Yết, 2001)
Trang 231.3 Tổng quan điều kiện tự nhiên và tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện đảo Phú Quý là một quần đảo xa bờ của tỉnh Bình Thuận với 10 đảolớn nhỏ Trong đó, đảo Phú Quý (bao gồm đảo Phú Quý và 5 hòn đảo nhỏ khác) códiện tích 16,4 km2, nằm ở Nam Biển Đông, có tọa độ địa lý 10029’ - 10033’N và
108055’ - 108058’E
Đảo Phú Quý còn có tên gọi khác là Cù Lao Thu, Cù Lao Khoai Xứ… cáchthành phố Phan Thiết 120km về hướng Đông Nam; cách quần đảo Trường Sa540km về phía Tây Bắc; cách thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 150km (về phíaNam); cách Côn Đảo 330km (về phía Đông Bắc); cách thành phố Vũng Tàu 200km(về phía Đông) [14],[15]
Phú Quý được xác định là đảo trọng điểm trong hệ thống đảo ven bờ, nằmgiữa trung tâm khai thác hải sản lớn nhất Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ vớivùng ngư trường rộng mở, có nguồn lợi hải sản dồi dào, phong phú, đa dạng TừPhú Quý ngư dân có thể vươn ra các ngư trường xa khơi
Trang 24Hình 1: Bản đồ đảo Phú Quý (tỷ lệ 1:40.000)
(Nguồn: Nguyễn Viết Thịnh và nnk, 2002)
Trang 251.3.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất địa tầng
* Địa hình, địa mạo
Huyện đảo Phú Quý với 10 đảo lớn nhỏ, bao gồm: nhóm đảo Phú Quý và nhómHòn Hải [14],[15]
Nhóm đảo Phú Quý: Gồm đảo Phú Quý và 5 hòn đảo nhỏ khác
Đảo Phú Quý: Đảo trung tâm
Hòn Tranh: Cách cảng Phú Quý 600m, nằm về phía Đông Nam đảo PhúQuý Hòn Tranh có dạng hình chữ S, nơi rộng nhất 400m, nơi dài nhất 1000m vớidiện tích gần 2,8km2 Hòn Tranh trước đây là một hoang đảo chủ yếu là cỏ tranh,được nhân dân phá trồng hoa màu và hiện nay đang được trồng rừng phục hồi môitrường Hòn Tranh không có dân cư sinh sống và hiện là nơi đặt trạm ra đa quan sátbiển của lực lượng hải quân nhân dân Việt Nam
Hòn Đen (Hòn Mực): Nằm về phía Đông Bắc, cách Phú Quý khoảng 100m,gồm toàn đá mẹ bazan chưa phong hóa
Hòn Trứng (Hòn Ngoài, Hòn Nghiên, Hòn Đá Cao, Hòn Đá Quý): Nằm ởphía Tây Bắc, cách Phú Quý 3km Hòn Trứng là điểm tựa của nhiều loại ghethuyền Mùa gió Nam thuyền có thể neo đậu ở phía Bắc, mùa gió Bắc có thể neođậu ở phía Nam
Hòn Giữa: Đây là một dãy ghềnh đá bén nhọn nằm cạnh Hòn Đen, nằm vắtngang như một nhịp cầu nối liền Hòn Đen và Hòn Đỏ
Hòn Đỏ: Nằm phía Đông Bắc đảo Phú Quý Sở dĩ có tên gọi là Hòn Đỏ vì ởđây toàn là đá màu đỏ
Đường bờ đảo Phú Quý cấu tạo phức tạp, cấu tạo đất đá chủ yếu là vành đai
đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san hô và xâm nhập Đường bờ là đường phân cắtgiữa bề mặt biển và lục địa Sự phân bố và vị trí đường bờ thường không cố định,phụ thuộc vào thủy triều, bồi tụ và xói lở
Các bãi triều ven đảo Phú Quý được chia làm 5 dạng chính [14],[15]
Bãi triều rạn đá gốc điển hình: Bãi triều được hình thành do các lớp đá gốcnằm chồng chất lên nhau
Trang 26Bãi triều rạn đá - cát: Là loại hình có cấu trúc phần cao triều là đá gốc điểnhình, phần giáp ranh là vùng trung - cao triều là cát và đá gốc.
Bãi đá tảng - cát: Gồm các tảng đá lớn nhỏ có nguồn gốc từ các bãi đá gốc.Bãi cát - san hô
Bãi cỏ biển - san hô
Đáy biển ven đảo: Vùng đáy có bề mặt tích tụ - mài mòn phân bố ở độ sâu từ
3-10m Phần lớn bề mặt là cát và cát hạt mịn lẫn mảnh vụn sinh vật Một số khu vực
bề mặt có các rạn san hô phát triển [14],[15]
* Địa chất địa tầng
Cấu trúc địa chất: Theo các nhà địa chất học, Phú Quý là dấu tích của một
hỏa diệm sơn (núi lửa) đã tắt qua nhiều lớp phún thạch của mỏm hỏa sơn chuỳ, núiCao Cát lộ khỏi mặt biển Địa tầng Phú Quý được xác định gồm 5 thềm nối tiếp,phản ánh những thời kì mực nước thay đổi (quá trình biển tiến và biển lùi) đã để lạinhững dấu ấn trầm tích trong giai đoạn lịch sử phát triển địa chất cách đây 3 triệunăm Đảo được bao quanh bằng một vành đai đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san
hô rộng và dày Chính vành đai này đã góp phần chắn những cơn sóng mạnh xâmthực giữ cho đảo tồn tại đến ngày nay
Cấu trúc địa tầng: Địa hình của đảo không bằng phẳng, nổi lên có 3 ngọn núi
chính là núi Cấm (108m), núi Cao Cát (85m) và núi Ông Đụn (44,9m) Trong sốnhững ngọn núi, núi Cấm với ngọn hải đăng được coi như một công trình thiênnhiên rất quan trọng để ngư dân “bắt” được đảo trong những cuộc hải trình Đất đaiPhú Quý phổ biến là loại đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá macma, bazơ đượcpha trộn với lượng cát trắng hàng năm từ biển đưa vào nên ngoài màu nâu đỏ còn cómàu vàng và xám đen [14],[15]
1.3.1.3 Điều kiện khí tượng, thuỷ văn
*Điều kiện khí tượng
- Hoàn lưu khí quyển và chế độ gió: Phú Quý có chế gió mùa với hai mùa rõ rệt:
mùa gió Nam bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9, mùa gió Bắc từ tháng 10 đến tháng 2
Trang 27năm sau So với nhiều vùng ở đất liền, khí hậu ở đây chịu ảnh hưởng trực tiếp củakhông khí biển nên quanh năm mát mẻ.
- Nhiệt độ và độ ẩm không khí: Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 28-290C.Nhiệt độ nước biển cũng khá ổn định, trung bình 270C Độ ẩm không khí trung bình
từ 82-84% [2]
- Mưa và bốc hơi nước: Khí hậu ở đảo Phú Quý có tính chất cận xích đạo, nóng
quanh năm, có một mùa mưa và một mùa khô khá kéo dài Mùa mưa kéo dài từtháng 5 đến tháng 11, lượng mưa năm thấp (1.170 mm/năm), tổng lượng bốc hơinăm xấp xỉ bằng tổng lượng mưa (1.059 mm) Mùa khô ở Phú Quý kéo dài từ tháng
12 đến tháng 4, sâu sắc nhất là vào tháng 1 và 2
- Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Vùng biển đảo Phú Quý ít bị bão (trung
bình 0,66 cơn bão/năm), nhưng gió mạnh nhất là vào mùa gió Tây Nam có thể gâysóng lớn làm phá hủy bờ biển, các công trình cảng, các đầm nuôi cũng như gây khókhăn cho việc nuôi lồng trên biển Ở phía Đông Bắc đảo thường chịu ảnh hưởngtrực tiếp của gió mùa Đông Bắc, lại chỉ có các đảo nhỏ chắn sóng, nên hiện tượngxói lở bờ đảo cũng diễn ra khá mạnh [2]
*Điều kiện thuỷ văn
Chế độ thuỷ triều mang tính chất chung của vùng biển Bình Thuận là nhật
triều không đều Độ cao mực nước triều cường ở đây tăng lên 2,0 - 3,5m Vùng
quanh đảo Phú Quý chịu ảnh hưởng của 2 dòng biển ven bờ giao nhau: Dòng biển
ấm từ vùng biển Đông Nam Bộ trong mùa gió Tây Nam mang theo nhiều chất dinhdưỡng gặp dòng chảy lạnh ven bờ có nhiệt độ thấp hơn và độ muối cao hơn, tạo ramôi trường thuận lợi Ngoài ra, nước biển quanh đảo Phú Quý còn chịu ảnh hưởngcủa vùng nước trồi vào thời kỳ gió mùa Tây Nam Vì vậy, môi trường nước quanhđảo Phú Quý có những nét đặc trưng riêng biệt, thể hiện rõ nhất là yếu tố nhiệt độnước thấp hơn so với các đảo khác trong cùng khu vực Trung Bộ [2]
1.3.2 Tổng quan một số nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo Phú Quý
Các kết quả khảo sát san hô vùng biển ven đảo Phú Quý của đoàn điều tra hợp tác Việt - Xô đã xác định được 134 loài thuộc 50 giống san hô cứng [8]
Trang 28Năm 1995, đề tài “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên vàkinh tế - xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội biển” mã số KT-03-12 do Lê Đức An [1] làm chủ nhiệm đã nghiên cứu, đánhgiá điều kiện tự nhiên và nguồn lợi tại một số đảo Việt Nam, trong đó có đảo PhúQuý
Trong khuôn khổ nhiệm vụ “Nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi, điều kiện môitrường và khả năng phát triển nghề cá của những đảo lớn, vùng gần bờ (Lý Sơn,Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc)” thuộc dự án Ven Bờ, [14,15] đã nghiên cứu đánhgiá điều kiện tự nhiên, môi trường và nguồn lợi tại khu bảo tồn biển Phú Quý
Đề tài cấp Bộ “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô tại một số vùng dự kiếnthiết lập khu bảo tồn biển và nguồn lợi hải sản vùng dốc thềm lục địa Việt Nam, đềxuất biện pháp sử dụng hợp lý”, Đỗ Văn Khương và ctv (2008)[11] đã nghiên cứu
về điều kiện môi trường, sinh vật phù du, hệ sinh thái rạn san hô và nguồn lợi cá rạnsan hô Có thể nói, đây là đề tài nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến thời điểm hiện nay
về hệ sinh thái rạn san hô tại Phú Quý
Ngoài ra, còn một số hoạt động nghiên cứu khác liên quan đến nguồn lợi tạikhu bảo tồn biển Phú Quý, song chỉ kết hợp với các chương trình nghiên cứu chungtrên vùng biển Việt Nam Tuy vậy, những nghiên cứu đó cũng có những kết quảnhất định về đa dạng sinh học và nguồn lợi tại khu bảo tồn biển Phú Quý
Trang 29CHƯƠNG 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Quá trình điều tra khảo sát và thu thập mẫu vật được tiến hành trong hai đợtkhảo sát trong năm 2010
- Thời gian thực hiện chuyến thứ nhất vào tháng 3 năm 2010, thời gian khảosát thực địa ven biển Phú Quý 15 ngày
- Thời gian thực hiện chuyến thứ hai vào tháng 7-8 năm 2010, thời gian khảosát thực địa ven biển Phú Quý 15 ngày
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu đề tài là khu vực biển ven đảo Phú Quý trong phạm viphân bố hệ sinh thái rạn san hô từ ven bờ đến độ sâu khoảng 25m nước Tổng số đãkhảo sát 9 mặt cắt (hình 1), trong đó tại mỗi mặt cắt tiến hành khảo sát ghi nhậnthành phần loài, độ phủ san hô sống và đặc tính phân bố Độ sâu khảo sát tùy thuộcvào rạn san hô phân bố tại mỗi khu vực nhưng thường dao động trong khoảng từ 1đến 25 mét nước (hình 2)
Trang 30Hình 2 Vị trí mặt cắt khảo sát tại các vùng rạn ven bờ đảo Phú Quý
Trang 312.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu mẫu và phân tích các yếu tố môi trường
+ Phương pháp quan trắc ngoài hiện trường: Tiến hành quan trắc, phân tích
các mẫu môi trường nước trên hệ thống các điểm quan trắc đại diện cho tính toán,xác định chất lượng môi trường theo Quy định về phương pháp quan trắc và phântích môi trường của Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2002,2004) và Quy phạm điều tra tổng hợp biển của Ủy ban Khoa học & Kỹ thuật Nhànước (1981) [4]
+ Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Tiến hành phân tích các
thông số môi trường nước theo các tài liệu hướng dẫn; Sổ tay hướng dẫn quan trắcphân tích môi trường (Cục bảo vệ Môi trường 2002) [4], các tiêu chuẩn Việt Nam
và tài liệu Standard Methods for the Examination of Water and Westewater, 19th ed.Washington của APHA - AWWA - WPCF, 1995 [35]
2.2.2 Phương pháp điều tra và nghiên cứu san hô cứng và rạn san hô
2.2.2.1 Thiết kế điều tra, nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu và nội dung nghiên cứu lựa chọn và áp dụng phương phápkhảo sát rạn san hô đang được phổ biến của Reefcheck, trên các dây mặt cắt 100m,đặt song song với đới ven bờ Ngoài ra, tham khảo các tài liệu nghiên cứu trước đâytại khu vực mà điển hình là nghiên cứu khảo sát của Latypov 1995 [8] tại đảo PhúQuý và các nghiên cứu của Đỗ Văn Khương, 2008 [11] là những tư liệu tham khảorất giá trị cho việc tiến hành lựa chọn khảo sát
Tại khu vực ven bờ đảo Phú Quý tiến hành phương pháp khảo sát Mantatow tổng quan, phân tích điều kiện tự nhiên và hiện trạng chung của mỗi khu vựcrạn để đặt mặt cắt khảo sát cố định Số lượng mặt cắt và vị trí các mặt cắt đại diệncho hiện trạng phát triển của rạn san hô và tính đa dạng thành phần loài quần xã, sốlượng các mặt cắt được cố định, khảo sát lặp lại hai lần trong hai chuyến củachương trình nghiên cứu (bảng 5)
Trang 32Bảng 5: Toạ độ mặt cắt tại các vùng rạn nghiên cứu san hô ven đảo Phú Quý
2.2.2.2 Phương pháp Manta - tow
Kỹ thuật Manta tow được sử dụng rộng rãi từ những năm 1970 Manta tow làphương pháp chuẩn dùng để đánh giá nhanh hiện trạng rạn san hô trong mạng lướigiám sát rạn san hô toàn cầu, phương pháp có thể đánh giá nhanh hiện trạng trênmột diện tích rộng lớn
Quá trình tiến hành được thực hiện nhờ xuồng kéo người quan sát đã đượcchuẩn bị sẵn sàng các thiết bị bao gồm: Bảng Manta, giấy viết dưới nước và đượckéo trên mặt nước, đường kéo song song với đới gờ rạn, sườn dốc Tốc độ kéo phùhợp giao động trong khoảng 3 - 5km/h, các thông số chủ yếu dùng để đánh giánhanh hiện trạng một rạn san hô bao gồm: Độ phủ san hô sống, san hô mềm và san
hô chết theo quy ước của phương pháp phân loại độ phủ như sau:
Các thông số thành phần độ phủ này được ghi lại và phân tích ngay trên thựcđịa giúp đánh giá tổng quan hiện trạng các khu vực rạn san hô Từ đó, giúp nhómkhảo sát lựa chọn địa điểm đặt những mặt cắt thích hợp mang tính đại diện cho tổngthể mỗi khu vực rạn để tiến hành khảo sát chi tiết Kenchington, 1984 [43]
Trang 33Hình 3.Khảo sát tổng quan bằng phương pháp Manta tow
2.2.2.3 Phương pháp xác định độ phủ san hô và các hợp phần đáy khác
Sau khi lựa chọn được những mặt cắt thích hợp, áp dụng phương phápReefcheck đã được tổ chức giám sát rạn san hô toàn cầu dùng để đánh giá chấtlượng rạn, với những ưu điểm là có thể đánh giá nhanh hiện trạng các rạn trong thờigian ngắn, hạn chế chi phí và thời gian nghiên cứu [40]
Tại mỗi trạm điều tra, dây mặt cắt 100m được dải song song với đới bờ, việcghi chép hợp phần đáy trên dây mặt cắt tại 4 phân đoạn cách nhau 5m: 0 - 20m, 25 -45m, 50 - 70m và 75 - 95m và tiến hành khảo sát theo trình tự quy định củaReefcheck Việc ghi chép các thành phần đáy được xác định ngay dưới các điểmcủa dây mặt cắt theo tần suất 0,5m bắt đầu từ điểm 0m lên các bảng nhựa chuyêndụng Công việc được lặp đi, lặp lại cho đến khi kết thúc cả 4 phân đoạn trên dâymặt cắt với tổng số điểm quan sát là 160 điểm=40 điểm/1 phân đoạn x 4 phân đoạn
10 danh mục hợp phần đáy theo Reefcheck bao gồm: San hô cứng sống (HC), san
hô mềm (SC), san hô chết (DC), rong tảo (FS), hải miên (SP), đá tảng (RC), cát(SD), bùn/sình (SI), các loại khác là (OT)
2.2.2.4 Phương pháp xác định cấu trúc rạn
Để xác định kiểu rạn, sự phân đới và các dạng sống chủ yếu của san hô trênmỗi đới, sử dụng các thiết bị lặn sâu SCUBA các chuyên gia san hô lặn chậm từđiểm có san hô phân bố sát bờ dần ra phía cuối chân rạn Trong quá trình lặn quan
Trang 34sát các thông số cần thiết như độ dốc, độ ghồ ghề, các dạng sống chính của san hôcứng, độ sâu của mỗi đới, độ phủ san hô sống tại các đới và các đặc điểm sinh vậtsống, cấu trúc nền đáy khác được ước lượng, xác định Người quan sát ghi chép tất
cả các thông số đó vào bảng nhựa và sau đó được ghi chép vào mẫu thu thập số liệu
Việc nhận biết, xác định các đới cấu trúc rạn dựa theo tài liệu hướng dẫn củaDBW (2008)[38] và tài liệu của Nguyễn Huy Yết 1996 [34]
* Đới dốc rạn và chân rạn
Đới dốc rạn thường có độ sâu dưới 20m, phổ ánh sáng phong phú, nhưngcường độ ánh sáng thấp hơn đới mặt bằng rạn San hô cứng phát triển mở rộng theochiều ngang để có thể sử dụng tốt ánh sáng mặt trời cho quang hợp Vì vậy, nhiềusan hô sống có dạng cành ở khu vực nước nông được thay thế bởi dạng đĩa ở đớinày Các san hô sừng dạng quạt (Gorgonacea), các loài huệ biển (Crinoidae) liênquan với san hô sừng thường phong phú ở khu vực này Các giống san hô phổ biếnlà: san hô cứng Echinopora, Porites, Turbinaria và Acropora, san hô sừngSubergorgia, san hô mềm Dendronephthya Tiếp theo là đới chân rạn là đáy mềmhoặc không còn san hô phân bố
* Đới gờ rạn
Đới gờ rạn là nơi có mức năng lượng cao nhất, có cường độ ánh sáng cao vàsóng lớn Một phần của đới gờ rạn có thể bị nhô lên khỏi mặt nước lúc thuỷ triềuthấp Thành phần san hô sống có mức độ đa dạng thấp với các dạng chính là dạngngón hoặc dạng khối để chịu đựng được các tác động mạnh của sóng và dễ dàngthích nghi với điều kiện ánh sáng Hầu hết bề mặt đới gờ rạn đều có xu hướng nhôcao vươn tới các khu vực có ánh sáng để các loài san hô khối, san hô ngón có thể sửdụng được nguồn ánh sáng và thích nghi với dòng chảy mạnh Thành phần loài sinhvật chủ yếu ở đới gờ rạn gồm san hô mềm Lobophytum, Sarcophyton và Sinularia;san hô cứng giống Acropora, Favites, Montipora và Pocillopora; hải quỳ Palythoa
* Đới mặt phẳng rạn
Đới mặt phẳng rạn nằm phía trong đới gờ rạn và có môi trường không thuậnlợi Các sinh vật sống ở khu vực này có khả năng chống chịu bức xạ tia cực tím
Trang 35mạnh, chịu khô, chịu độ muối cao và tăng cao của nhiệt độ Đới mặt phẳng rạnđược chia thành 2 khu vực phụ là khu vực phụ san hô cứng sống và khu vực phụcát Khu vực phụ có san hô sống có cấu trúc tương tự phần trên của đới dốc rạn Cátsan hô được tạo ra từ rong san hô, trùng lỗ, các loại rong khác và mảnh vụn san hô.Khu vực phụ cát thường có cấu trúc bị xói mòn thành cát san hô San hô cứng pháttriển thành những đám nhỏ trên nền cát Ở khu vực nước yên tĩnh hơn, san hô cànhmảnh phát triển tạo thành những dạng phức tạp Nhìn chung, cho toàn bộ đới mặtphẳng rạn, độ phủ san hô sống tăng từ trong ra ngoài, phía nông hơn thường có cátbao phủ Những nhóm loài phổ biến trên đới này bao gồm san hô cứng(Scleractinia), hải quì (Actiniarians), sao biển (Asteroids), hải sâm (Holothurioids),san hô mềm (Alcyonaceans) Các giống san hô cứng trên đới này bao gồmAcropora, Pocillopora, Goniopora, Platygyra, Seriatopora, Lobophyllia, Montipora,Fungia, Goniastrea, Favia, Favites và Porites.
* Đới lagun ven bờ
Đới lagun ven bờ có năng lượng cao, sinh vật sống ở khu vực này có khảnăng chống chịu tia cực tím mạnh, chịu khô và độ mặn cao Đới lagun ven bờ có xuhướng luôn ngập nước thậm chí cả lúc thuỷ triều thấp Một ít loài san hô có thểsống sót trong điều kiện khắc nghiệt khi nó bị nhô lên khỏi mặt nước Các loài sinhvật thuộc nhóm chân đầu thường phổ biến ở khu vực này
2.2.2.5 Phương pháp xác định diện tích rạn san hô
Diện tích rạn san hô được xác định bằng phương pháp kéo Manta-tow theoquy trình hướng dẫn của English & Baker (1994) [39] và Kenchington (1984)[43]
và kết hợp dùng máy định vị vệ tinh GPS để ghi tọa độ trong quá trình khảo sát
Tính toán diện tích rạn san hô: Các nguồn số liệu, tọa độ địa lý và thông tinghi nhận ngoài thực địa bằng máy định vị vệ tinh GPS là cơ sở dữ liệu đầu vào chophần mềm MapInfor 7.5 để ước tính diện tích rạn san hô Các điểm tọa độ được ghinhận ngoài thực địa trên máy GPS sẽ được nhập vào bản đồ nền số hóa MapInforkhu vực nghiên cứu, sử dụng các trình tiện ích của phần mềm MapInfor 7.5 để ướctính diện tích rạn san hô Diện tích rạn san hô ước tính bằng phương pháp bấm điểm
Trang 36GPS được kiểm chứng đo đạc đại diện ngoài thực địa nhằm giảm thiểu sai số trongquá trình tính toán
2.2.2.6 Phương pháp phân loại san hô cứng
Việc định danh các loài ngoài thực địa được xác định qua hình thái ngoài,màu sắc tập đoàn san hô sống và cấu trúc bộ xương dựa theo các tài liệu phân loạicủa Veron [48, 49, 50, 51]
Đối với những loài không thể tiến hành phân loại tại thực địa sẽ được thumẫu về và phân loại trong phòng thí nghiệm Ngoài ra, tất cả các loài san hô bắt gặptrên các mặt cắt khảo sát được chụp ảnh bằng máy kỹ thuật số chuyên dụng có độphân giải cao Tập hợp các thông tin dữ liệu này, giúp các nghiên cứu viên có tưliệu phân tích thành phần loài trong phòng thí nghiệm theo các tài liệu phân loạiVeron [48, 49, 50, 51]
B: Số loài ghi nhận được ở điểm b
2.2.3.2 Độ phủ san hô cứng sống và các hợp phần đáy khác
Độ phủ cho từng danh mục hợp phần đáy (san hô cứng, san hô mềm, san hôchết, cát, đá….) tại mỗi trạm khảo sát (DPij) được tính toán bằng cách lấy số lượngđiểm có loại hợp phần đáy đó quan sát được (nij) chia cho tổng số lượng các điểmquan sát được tại mỗi trạm (Nij) (công thức 2)
Trang 37Độ phủ trung bình cho mỗi danh mục hợp phần đáy toàn đảo khảo sát (DPj)được tính toán bằng cách, lấy tổng độ phủ trung bình của hợp phần đáy đó tại tất cảcác trạm khảo sát (DPij) chia cho số trạm khảo sát toàn đảo(m) (công thức 3).
(Công thức 2)
m
DPij DPj
i m
1 (Công thức 3)
m- số điểm (trạm) khảo sát tại đảo j
Việc đánh giá hiện trạng các rạn san hô theo độ phủ san hô cứng được ápdụng theo thang phân loại 4 bậc của Gomez và Alcala 1984 [42] đã được UNESCOcông nhận:
Rạn rất tốt: độ phủ san hô sống từ 75-100%
Rạn tốt: độ phủ san hô sống từ 50-74,9%
Rạn trung bình: độ phủ san hô sống từ 25-49,9%
Rạn nghèo: độ phủ san hô sống từ 0-24,9%
2.2.3.3 Xác định diện tích rạn san hô
* Nhập dữ liệu
Sử dụng bản đồ nền số hoá tại đảo nghiên cứu, tọa độ các điểm bao quanhrạn san hô thu thập từ thực địa bằng máy định vị GPS định dạng theo hệ toạ độWGS 84, dữ liệu được nhập vào cơ sở dữ liệu của bản đồ nền
* Chuẩn hoá và phân tích
Vị trí các RSH với dữ liệu toạ độ thực địa sau khi nhập vào cơ sở dữ liệu đãđồng nhất hệ tọa độ được chuẩn hoá, phân tích và hiển thị trong phần mềm MapInfo
Trang 38bằng các điểm Các điểm biểu thị trên bản đồ sau đó được nối lại với nhau tạo thànhđường bao mép ngoài của rạn, từ đó phạm vi và hình dạng của rạn san hô đã đượcxác định Việc xác định diện tích sau đó sẽ căn cứ vào khu vực khoanh vùng của rạnbiểu đạt trên bản đồ.
2.2.3.4 Xử lý các yếu tố môi trường
+ So sánh, đánh giá chất lượng môi trường: Sử dụng giới hạn cho phép(GHCP) theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 5943 - 1995 đối với nước biển ven bờphục vụ nuôi trồng thuỷ sản; tiêu chuẩn tạm tính của đề tài KT 03.07 và tiêu chuẩnASEAN để so sánh đánh giá chất lượng môi trường nước khu vực nghiên cứu (bảng6)
+ Sử dụng chỉ số RQ (Risk Quotient) và RQtt (RQ tổng thể ) để đánh giá hiệntrạng (mức) ô nhiễm tại điểm, khu vực quan trắc và tổng thể chất lượng môi trường Chỉ số RQ = Giá trị đo được/Giá trị giới hạn cho phép
- Nếu RQ 0,25: Rất an toàn về mặt môi trường
- Nếu 0,25 < RQ 0,75 : An toàn về mặt môi trường
- Nếu 0,75 < RQ 1 : Nguy cơ tai biến môi trường
- Nếu RQ > 1 : Ảnh hưởng tai biến môi trường
RQtt = x RQtt 0,75 thì chất lượng môi trường ở mức an toàn
Bảng 6 Giới hạn cho phép của một số thông số môi trường nước sử dụng
đánh giá tổng thể môi trường
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả khảo sát một số yếu tố môi trường biển ven đảo Phú Quý
Môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và phát triển của sinh vật.Quần xã rạn san hô cũng bị chi phối bởi quy luật phân bố của sinh vật và hiển nhiênchịu sự tác động của môi trường Một đặc điểm dễ thấy của sinh vật là tính thíchnghi, nó được thể hiện bằng khả năng phân bố và phát triển mạnh khi điều kiện môitrường thuận lợi và ngược lại, các quần thể sẽ suy giảm thậm chí tuyệt diệt khi môitrường sống chuyển dần sang bất lợi Khi đó, các cá thể trong quần thể có thể chếthoặc di cư đến vùng khác có điều kiện tốt hơn [44]
3.1.1 Các thông số môi trường nước cơ bản
Nhiệt độ: Kết quả quan trắc cho thấy nhiệt độ nước biển trung bình tháng
3/2010 (27,5oC) và tháng 7 - 8/2010 (28,1oC) Kết quả này không có sự khác biệtlớn so với nghiên cứu của nhiều năm trước đây (trung bình nhiều năm của tháng 3đạt 27,1oC và giai đoạn tháng 7 - 8 đạt 27,6oC) So với GHCP (giới hạn cho phép) ≤
30oC theo QCVN (quy chuẩn Việt Nam) 10 : 2008 đối với NTTS (nuôi trồng thủysản) và bảo tồn thuỷ sinh, các kết quả ghi nhận được giá trị nhiệt độ nước biển đềunằm trong phạm vi cho phép
(Nguồn: Nguyễn Văn Âu, 2002 )
Nhiệt độ (T) Độ muối (S)
Hình 4 Nhiệt độ ( 0 C), độ muối (‰) trung bình tháng nhiều năm khu vực biển
ven đảo Phú Quý
Trang 40 Độ muối (S‰): Độ muối nước biển ven đảo Phú Quý khá cao và ổn định, biến
động trung bình từ 31,0‰ đến 32,8‰ So sánh với xu thế biến động độ muối trungbình các tháng trong nhiều năm ở vùng ven đảo Phú Quý hình 4 cho thấy độ muốiquan trắc được trong tháng 7-8/2010 biến động ở khoảng giá trị thấp hơn tháng3/2010 Tuy nhiên, chênh lệch không lớn, các giá trị quan trắc được biến động từ 32,6
- 33,2‰, trung bình 32,8‰ (bảng 7)
Hàm lượng ôxy hoà tan DO, pH: Hàm lượng DO quan trắc được trong nước
biển ven đảo Phú Quý khá cao, giao động từ 5,76 - 6,92mg/l, trung bình cho cả haichuyến là 6,13mg/l Độ pH nước biển ven đảo Phú Quý khá cao và ổn định thể hiện
rõ tính chất kiềm yếu của vùng biển khơi trong cả hai mùa mưa và mùa khô Nhưvậy, các giá trị DO quan trắc được đều nằm trong phạm vi GHCP lớn hơn 5mg/l,kết quả quan trắc trị số pH đều trên 8 và nằm trong khoảng GHCP 6,5 - 8,5 theoQCVN 10:2008 đối với NTTS và bảo tồn thuỷ sinh (bảng 7)
Bảng 7 Giá trị của một số thông số môi trường nước cơ bản ven đảo Phú Quý
Trung bình
Khoảng biến động
Trung bình
Độ đục nước biển: Độ đục nước biển ven đảo Phú Quý khá thấp, dao động từ 1
-5NTU, trung bình 3,6NTU Các giá trị độ đục quan trắc được trong tháng 3/2010 vàtháng 7–8/2010 chênh lệch nhau không nhiều (bảng 7) Nước biển khu vực ven đảo