HST đảo biển cónhiều lợi thế cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, song cũng có những thách thức,diện tích đảo có hạn, nguồn nước ngọt không phong phú, môi trường dễ bị tổnthương, HST kém
Trang 1-Lê Thị Hoa
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
SINH THÁI TẠI ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 2Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành Sinh thái môi trường “Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” đã được hoàn thành vào tháng 12/2012 Để hoàn thành được luận văn, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Đức Tố, giáo viên hướng dẫn trực tiếp, người đã tận tình chỉ bảo cho việc định hướng cũng như hoàn thiện luận văn và đồng thời tạo mọi điều kiện để tôi được tiếp cận với những phương pháp nghiên cứu, tài liệu mới nhất phục vụ cho luận văn đạt được kết quả tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Môi trường nói chung và các thầy cô trong bộ môn Sinh thái Môi trường nói riêng, đặc biệt là PGS.TS Trần Văn Thụy đã kịp thời giải đáp và tháo gỡ những khó khăn cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là các bạn lớp K18 Cao học Khoa học Môi trường đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi hoàn thành tốt mọi công việc.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Hoa
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Kinh tế sinh thái 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Mục tiêu 4
1.1.3 Cách tiếp cận 4
1.1.4 Những lưu ý trong phát triển đảo biển 4
1.1.5 Ý nghĩa và vai trò của kinh tế sinh thái đối với đảo biển 4
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 5
1.3 Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 6
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 6
2.2 Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu 6
2.2.1 Tiếp cận hệ thống 6
2.2.2 Tiếp cận phát triển bền vững 6
2.2.3 Tiếp cận tổng hợp và liên ngành 6
2.2.4 Tiếp cận sinh thái học 6
2.3 Phương pháp nghiên cứu 6
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc tài liệu 6
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực tế 6
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 6
2.3.4 Phương pháp phân tích hệ thống 6
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên 7
3.1.1 Thuận lợi 7
3.1.2 Thách thức 8
3.2 Định hướng phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn 9
3.2.1 Xây dựng khu bảo tồn biển 9
3.2.2 Định hướng phát triển trong khu bảo tồn biển 15
3.2.3 Định hướng phát triển ngoài khu bảo tồn biển 19
3.2.4 Giải pháp thực hiện 20
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24
Trang 5MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia ven biển, có vùng thềm lục địa đặc quyền kinh tế rộnglớn, hơn một triệu kilomet vuông, với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, hai quần đảo lớnngoài khơi là Hoàng Sa thuộc Thành phố Đà Nẵng và quần đảo Trường Sa thuộctỉnh Khánh Hòa, là tiềm năng to lớn cho phát triển đất nước Ngày nay, thời đạikinh tế hội nhập toàn cầu, Biển Đông Việt Nam là cửa mở lớn giao lưu với cácnước khu vực và quốc tế
Hàng trăm năm nay, nhân dân Việt Nam đã gắn bó với biển, khai thác tiềmnăng biển Biển, không chỉ nuôi sống cộng đồng dân cư ven biển mà còn cung cấpcác sản phẩm của biển cho cả dân tộc Việt Nam Trong thời kỳ kinh tế hội nhậpquốc tế, lợi thế về biển là điều kiện, là thời cơ Việt Nam làm giầu từ biển, mạnh lên
từ biển Phát triển kinh tế biển phải có chiến lược Khoa học và công nghệ phải thực
sự là động lực phát triển của lĩnh vực liên quan đến biển
Hệ thống đảo ven bờ có vị trí là tiền đồn của đất nước, là cầu nối để vươn rabiển xa Mỗi đảo là những hệ sinh thái (HST) biển đa dạng học cao, phong phú vềnguồn lợi biển, đồng thời là các trung tâm nuôi dưỡng, phát triển nguồn gen sinh vậtcho cả vùng biển Khí hậu hải dương trong lành, môi trường sạch và yên tĩnh,không hoặc ít chịu tác động của lục địa là một ưu thế của đảo biển HST đảo biển cónhiều lợi thế cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, song cũng có những thách thức,diện tích đảo có hạn, nguồn nước ngọt không phong phú, môi trường dễ bị tổnthương, HST kém bền vững, cần nghiên cứu phát triển bền vững và phát triển kinh
tế sinh thái là một hướng đi phù hợp Trong những năm cuối của thế kỷ 20, kinh tế
du lịch sinh thái (DLST) biển đảo nổi lên như một điểm nhấn của kinh tế hội nhập
đã đem lại phồn vinh cho các quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam
Lý Sơn hay còn gọi là Cù Lao Ré là đảo ven bờ nằm ở miền Trung ViệtNam, cùng với đảo Cù Lao Chàm là 2 đảo có tầm quan trọng chiến lược của miềnTrung Việt Nam, nằm trên con đường biển từ Bắc vào Nam, ngay cửa ngõ khu kinh
tế Dung Quất, khu kinh tế trọng điểm miền Trung Đảo Lý Sơn là một HST nhiệtđới rất đặc trưng, phát triển trên nền đá bazan và có hệ động thực vật biển phongphú, tính đa dạng sinh học cao, cảnh quan hùng vĩ, giàu tài nguyên
Với diện tích khoảng 10km2 nhưng đảo Lý Sơn có tới 21 nghìn dân là đảo có
số dân đông nhất trong các đảo ven bờ của Việt Nam Dân số tập trung đông đúc
Trang 6trên một diện tích đất đang ngày bị thu hẹp là một sức ép lớn đối với môi trường.Dân cư đa số có thu thập thấp, trình độ dân trí chưa cao, ý thức bảo vệ môi trườngcòn kém Rác thải sinh hoạt từ dân cư chưa được thu gom và xử lý Canh tác nôngnghiệp trên đảo vẫn là canh tác lạc hậu Tình hình khai thác, đánh bắt nguồn lợithủy hải sản bằng phương pháp hủy diệt vẫn diễn ra chưa có chiều hướng giảm Sựcân bằng của HST san hô và cỏ biển và tính đa dạng sinh học của các HST này đang
bị đe dọa nghiêm trọng do tình trạng hút cát để trồng tỏi, đánh bắt thủy sẳn bằngthuốc nổ và chất độc Tất cả điều này đi ngược lại với chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội theo hướng mở rộng ra biển đã được Chính phủ xác định (đến 2050, kinh tếbiển chiếm 53% GDP) và phát triển theo hướng bền vững với môi trường
Dù điều kiện tự nhiên có ưu thế nhưng tiềm năng là có giới hạn Muốn duytrì sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của huyện đảo Lý Sơn, cần phải có ngaynhững hành động điều chỉnh phát triển của huyện đảo Cần xem xét mối quan HSTcủa HST trên đảo và HST của vùng nước xung quanh đảo Đồng thời, cần xem xétmối quan hệ kinh tế - xã hội của Lý Sơn với kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
Để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Lý Sơn, kinh tế sinh thái chính
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu chính của đề tài:
Nhiệm vụ 2: Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên đảo
Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiện trạng môi trường
Nhiệm vụ 4: Đưa ra được những kết luận sau
Trang 7- Những thuận lợi và thách thức, chọn con đường hủy diện hay tồn tại vàphát triển;
- Xu thế thời đại và con đường phải chọn để vươn lên làm giầu đó chính làkinh tế sinh thái;
- Thành lập khu bảo tồn biển nhằm bảo tồn các HST trên biển và trên đảo;phân khu chức năng trong khu bảo tồn; phát triển kinh tế sinh thái - dịch vụ cao cấp;
- Giải pháp cụ thể
Bố cục của luận văn không kể mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo
và phụ lục gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan;
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Sau đây là chi tiết của luận văn
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Kinh tế sinh thái
1.1.1 Khái niệm
Kinh tế sinh thái học (KTST) là một lĩnh vực nghiên cứu giải quyết mối quan
hệ giữa các HST và các hệ thống kinh tế (Constaza và nnk, 1991) và bước đầu tậptrung vào việc đưa kinh tế học và các nguyên lý sinh thái lại gần nhau [9]
1.1.2 Mục tiêu
- Duy trì đa dạng sinh học;
- Đảm bảo phát triển bền vững các HST tại khu vực và có sức lan tỏa;
- Đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trườngsinh thái
1.1.3 Cách tiếp cận
- Ứng dụng công nghệ cao trong khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm giảmchi phí, đảm bảo lợi ích kinh tế cao và bền vững
- Tiếp cận sinh thái, tổng hợp
1.1.4 Những lưu ý trong phát triển đảo biển
- Nghiêm cấm phát triển công nghiệp sử dụng nhiều nước sạch
- Bảo vệ và duy trì các HST trên đảo;
- Các tác động động lực đến bờ biển đảo luôn luôn phải có các công trìnhbảo vệ đảo, chống đỡ các tác động của thiên;
- Khai thác nước ngầm quá mức sẽ gây ra hiện tượng nhiễm mặn, gây sạt lở
và sụt lún
1.1.5 Ý nghĩa và vai trò của kinh tế sinh thái đối với đảo biển
Đảo biển là một HST kém bền vững vì có những đặc trưng riêng khác vớiđất liền, chịu tác động trực tiếp từ những điều kiện tự nhiên xung quanh là biển vàđại dương KTST với quan điểm chủ đạo là phát triển bền vững sẽ là một giải pháphữu ích và là duy nhất cho phát triển kinh tế xã hội ở đảo biển KTST giúp cải tạo
Trang 9các HST nhạy cảm, kém bền vững ở đảo biển thành các HST bền vững hơn, giảmmức độ suy thoái môi trường, đồng thời nâng cao được đời sống cho người dân.
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
a Mô hình kinh tế sinh thái ven biển tại Cộng hòa Liên bang Đức
b Mô hình du lịch biển đảo tại các quốc gia ven biển
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
a Mô hình kinh tế mới ở đảo Ngọc Vừng, Quảng Ninh
b Mô hình làng kinh tế sinh thái vùng cát ven biển Hải Thủy, Quảng Bình
c Mô hình phát triển kinh tế sinh thái và du lịch thung lũng Đồng Chùa, đảo Cù Lao Chàm
1.3 Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu
Lý Sơn là một huyện ở phía Đông của tỉnh Quảng Ngãi có tọa độ địa lý như sau:
- Từ 15o32’04’’ đến 15o38’14’’ vĩ độ Bắc
- Từ 109o05’04’’ đến 109o14’12’’ kinh độ Đông
Lý Sơn có khí hậu mang đặc trưng đảo biển trong lành ôn hòa, nhiệt độ và độ
ẩm cao, lượng mưa khá lớn (trung bình năm > 2000mm) do đó có điều kiện tích trữnguồn nước ngọt dồi dào, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với những ngọn núi lửa,hang động Bên cạnh đó, Lý Sơn có một bề dày lịch sử với nhiều di tích Đảo LýSơn có trên 21.000 dân trên tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 10km2
, mật độ dân sốcao Với ưu thế như trên, Lý Sơn có vị trí chiến lược trong công tác bảo đảm quốcphòng an ninh, có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Lý Sơn hiện đang đối mặt với mất sựcân bằng sinh thái, và nguy cơ hủy diệt các HST, ô nhiễm môi trường Vì vậy, cầnthiết và nhanh chóng phải định hướng phát triển kinh tế xã hội Lý Sơn theo hướngbền vững nhằm phục hồi và bảo vệ các HST biển và HST trên đảo, giúp cân bằngđược giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Đó chính là kinh tế sinhthái
Trang 10CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình kinh tế sinh thái Đảo Lý Sơn
2.2.4 Tiếp cận sinh thái học
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc tài liệu
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực tế
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
2.3.4 Phương pháp phân tích hệ thống
Trang 11CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên
3.1.1 Thuận lợi
- Vị trí địa lý: Lý Sơn có một vị trí chiến lược, cách đất liền 18 hải lý, nằm
án ngữ về phía Đông miền Trung Trung Bộ, nằm trên con đường ra biển Đông củakhu vực kinh tế trọng điểm miền Trung qua cửa ngõ Dung Quất, bao quát toàn bộtuyến đường giao thông trên biển Đông từ Bắc vào Nam và ngược lại, có thể là cầunối và đóng một vai trò quan trọng trong dịch vụ dầu khí đối với quá trình khai thácdầu khí ở hai bồn trũng Phú Khánh và Hoàng Sa trong tương lai
- Địa hình, địa mạo: đặc điểm của địa hình đáy biển phân bậc rõ ràng, có thể
sử dụng làm cầu cảng và tổ chức các hoạt động thể thao mạo hiểm trên biển Cùngvới đó là địa hình bờ biển có các hạng động đẹp và địa hình núi lửa tạo nên các gócnhìn hùng vĩ có giá trị về tham quan khám phá thiên nhiên trong phát triển du lịch
- Thổ nhưỡng: đất nâu đỏ trên đá bazan chiếm phần lớn diện tích đất của đảo845ha, khoảng trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn huyện đảo, đây là nguồn tàinguyên quan trọng của huyện đảo, vì đa số diện tích (khoảng 558ha) đất nâu đỏ trên
đá bazan có tầng dày trên 1m và độ dốc dưới 8o, khá màu mỡ, hàm lượng các chấtdinh dưỡng từ trung bình trở lên, thích hợp cho nhiều loại cây công nghiệp
- Khí tượng thủy văn: nhiệt độ cao quanh năm, độ ẩm không khí cao, lượngmưa ẩm cao, gió quanh năm từ 3m/s đến 6,5m/s tạo điều kiện thuận lợi cho thảmthực vật phát triển, tích tục nước ngầm đáp ứng nhu cầu dân sinh Đồng thời đâycũng là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch quanh năm
- Hải văn: Đảo Lý Sơn là nơi chuyển tiếp hệ thống hoàn lưu bề mặt biển thời
kỳ gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc tạo ra thời gian dừng khi chuyển tiếp từgió Đông Bắc sang gió Tây Nam tạo nên sự ”dừng” của vật chất Thành phần vậtchất, các chất dinh dưỡng, các chất lơ lửng ”dừng” lại xung quanh đảo tạo ra điềukiện cho các HST phát triển Một lý do khác, khi dòng chảy Đông Bắc theo gió mùaĐông Bắc dịch chuyển xuống phía Nam, nước ấm đưa dần xuống phía Nam, sinhvật sẽ chạy theo dòng chảy 25oC, và mùa cá ở miền Trung sẽ lùi dần về phía Namvào mùa đông tạo ra sự phong phú các giống loài tại đây
Trang 12- Tài nguyên nước: Lượng mưa trung bình năm trên đảo Lý Sơn là trên2000mm, đó là một lượng mưa khá lớn, những tháng trong năm có lượng mưa lớn
là tháng 8 đến tháng 12, tạo điều kiện tích nước trên công trình hồ chứa nước núiThới Lới với tổng dung tích sử dụng 2700m3 Dân cư trên đảo Lý Sơn phân bố trênmột diện tích nhỏ nên Lý Sơn hoàn toàn có khả năng cung cấp nước sinh hoạt chotoàn huyện bằng nguồn nước mưa dự trữ
- Tài nguyên đất: đất chưa sử dụng còn khoảng 239ha, chiếm 24% tổng diệntích đất tự nhiên của toàn huyện, chủ yếu là đất đồi núi trọc, có khả năng phát triểnrừng, xây dựng một số công trình thủy lợi và mở rộng các công trình công cộng,phúc lợi
- Đa dạng sinh học: bao gồm đa dạng về loài, đa dạng về gen và đa dạng vềcác HST Vùng biển Lý Sơn là khu vực có điều kiện tự nhiên rất đặc thù và có độ đadạng sinh học cao với trên 700 loài động thực vật biển có giá trị nguồn lợi là rất lớnnếu khai thác phù hợp
- Tài nguyên nhân văn: Lý Sơn có nhiều di chỉ văn hóa, di tích lịch sử có mộtkhông hai gắn với bề dày lịch sử của huyện đảo
- Nguồn nhân lực: Với số dân trên 21.000 người, trong đó, lực lượng laođộng của huyện là 10.448 nguời, chiếm khoảng 50% tổng dân số toàn huyện Đây làmột yếu tố thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện bởi vấn đềlao động tại chỗ cơ bản được giải quyết
3.1.2 Thách thức
Có bốn thách thức mà Lý Sơn phải đối mặt hiện nay, đó là:
- Nước ngọt trên đảo vốn dĩ khan hiếm đang ngày càng bị nhiễm mặn và cạnkiệt do sự khai thác quá mức nước ngầm để tưới tiêu, sự lãng phí nước do kỹ thuậtcanh tác truyền thống lạc hậu;
- HST biển (HST san hô và thảm cỏ biển) đang bị tàn phá tới mức có nguy
cơ hủy diệt do các hoạt động phát triển kinh tế của người dân đảo Lý Sơn HST bịmất đi đồng nghĩa với việc nơi cư trú, bãi đẻ, nguồn phát tán thức ăn của các loàisinh vật bị mất đi Nguồn lợi sinh vật biển ngày càng suy giảm
- HST trên đảo (HST rừng và HST nông nghiệp) đang bị suy thoái Rừngtrên đảo không còn, những ngọn núi trơ sỏi đá, hoặc chỉ có những cây bụi nhỏ
Trang 13Không có rừng, đất không có thảm thực vật che phủ đồng nghĩa với việc đất sẽ bịxói mòn, rửa trôi và bạc màu bởi mưa, gió Không có rừng, không tích trữ đượcnước mưa Không có rừng, lớp thổ nhưỡng giàu dinh dưỡng hình thành trên nền đábazan sẽ thoái hóa, rửa trôi xuống các thủy vực xung quanh, ảnh hưởng không nhỏđến các HST biển Không có rừng, điều kiện vi khí hậu cũng bị ảnh hưởng, cảnhquan sinh thái kém hấp dẫn với khách du lịch Bên cạnh đó, canh tác nông nghiệplạc hậu, sử dụng nhiều nước và phân bón hóa học làm cho HST nông nghiệp vốn dĩkhông bền vững càng trở nên suy thoái.
- Dân số đông trong khi diện tích có hạn gây áp lực lên môi trường sinh tháiđảo Nhu cầu về chổ ở, vấn đề ăn, mặc…ngày càng tăng Các nguồn tài nguyên venbiển ngày bị khai thác một cách triệt để Bên cạnh đó, dân số tăng, kéo theo vấn đềtăng lượng rác thải, chất thải ra môi trường
Như vậy, mặc dù có các điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhưng tiềm năng đó là
có giới hạn Nếu coi đảo Lý Sơn như một hệ thống thu nhỏ với những mối quan hệ
và rằng buộc lẫn nhau, với đầy đủ các thành phần tự nhiên – xã hội trong nó và mọibiến động của một hay nhiều thành phần (tự nhiên và nhân sinh) trong hệ thốngcũng sẽ làm thay đổi (tiêu cực hay tích cực) đến các thành phần khác trong hệ, thìhiện nay, không những mối quan hệ giữa HST trên đảo và HST biển bị phá vỡ màngay bản thân các HST cũng đang bị phá hủy, mất cân bằng và cạn kiệt nguồn lợi.Đảo Lý Sơn đang đứng trước bờ vực hủy diệt Vì vậy, điều cần làm là phục hồi, bảotồn và phát triển các HST biển, HST trên đảo cũng như sử dụng hợp lý nguồn lợitiến đến mục tiêu lâu dài là phát triển bền vững Và giải pháp duy nhất để thực hiệnđiều đó chính là phát triển kinh tế sinh thái
3.2 Định hướng phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn
3.2.1 Xây dựng khu bảo tồn biển
Việc thành lập khu bảo tồn biển ở Lý Sơn (bao gồm diện tích mặt nước vàdiện tích trên đảo) là cần thiết để phục hồi, bảo tồn và phát triển các HST biển vàHST trên đảo
3.2.1.1 Quan điểm xây dựng khu bảo tồn
Trang 14- Quy hoạch chi tiết khu bảo tồn biển (BTB) Lý Sơn phải gắn kết và hài hòavới phát triển của các ngành kinh tế khác trong vùng, để bảo vệ môi trường, nguồnlợi và phát triển bền vững;
- Đảm bảo đưa vùng lõi khu BTB về cơ bản bao trùm hết diện tích của vùng
có độ đa dạng sinh học cao nhất
- Phù hợp nhất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đãđược phê duyệt, song không thể không có sự đánh giá một cách khoa học cái được
và chưa được của các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã có
- Dễ tạo được sự đồng thuận cao ở các cấp quản lý và cộng đồng dân cư sốngtrên đảo
- Tạo không gian cho các hoạt động dân sinh ngay trên đảo mà không bị ảnhhưởng đến vùng bảo vệ nghiêm ngặt
- Tạo ra sinh kế cho người dân địa phương
3.2.1.2 Mục tiêu
Khu BTB Lý Sơn nhằm mục tiêu bảo vệ các HST, bảo vệ các loài sinh vậtbiển có giá trị kinh tế, khoa học, bảo vệ môi trường một cách bền vững, lấy pháttriển kinh tế DLST, duy trì cải thiện sinh kế, quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi
hải sản.
3.2.1.3 Phân vùng chức năng khu bảo tồn
Theo nội dung hướng dẫn của Nghị định số 57/2008/NĐ-CP ngày 02 tháng
05 năm 2008 về việc Ban hành Quy chế quản lý các Khu bảo tồn biển Việt Nam cótầm quan trọng quốc gia và quốc tế, thì khu BTB Lý Sơn có thể được phân chiathành ba phân khu chức năng sau đây:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là vùng biển được bảo toàn nguyên vẹn,được quản lý và bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của các loài động,thực vật, các HST thủy sinh tiêu biểu, tính ĐDSH sẽ được bảo tồn
- Phân khu phục hồi sinh thái: Là vùng biển được quản lý, bảo vệ để phụchồi, tạo điều kiện cho các loài thủy sinh vật, các HST tự tái tạo tự nhiên Trongvùng phục hồi sinh thái, đơn vị tư vấn chia ra thành khu vực phục hồi sinh thái rạn