TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ MÃ SỐ: T2012-63 TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GIEO ƯƠM LOÀI CÂY MÓC CARYOTA MITIS LOUR TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: T2012-63
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GIEO ƯƠM LOÀI CÂY MÓC (CARYOTA MITIS LOUR) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI
NGUYÊN
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: LƯƠNG THỊ ANH
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: T2012-63
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GIEO ƯƠM LOÀI
CÂY MÓC (CARYOTA MITIS LOUR) TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
Chủ trì đề tài: Lương Thị Anh Những người tham gia: Lê Sỹ Hồng
Thời gian thực hiện: 2012
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 3TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm cây Móc (Caryota mitis Lour) tại Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Mã số: T2012-63
Chủ nhiệm đề tài: Lương Thị Anh Tel: 02803851427
Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Lê Sỹ Hồng - Đại học Nông Lâm Thái
- Thu hái và chế biến hạt giống
- Nghiên cứu phương pháp xử lý kích thích hạt giống theo các công thức nước có nhiệt độ khác nhau
- Nghiên cứu ảnh hưởng hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây móc (Hvn, số lá)
- Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm loài cây Móc
3 Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế - xã hội, v.v…)
Quả Móc được thu hái từ cây sinh trưởng tốt, không sâu bệnh khi quả chuyển từ màu xanh sang màu đỏ và tím thẫm, hạt mầu đem-cứng Tách hạt ra khỏi quả bằng cách chà xát, rồi đãi sạch phần thịt quả bằng nước Tỷ lệ chế biến: 1,5kg quả/1kg hạt (500 - 600 hạt) Độ thuần > 95%
Xử lý kích thích hạt nẩy mầm bằng nước có nhiệt độ khác nhau: Công thức 1, dùng nước 1000C cho tỷ lệ nẩy mầm là 74 %; Công thức 2, dùng nước 800C cho tỷ
lệ nẩy mầm là 88%; Công thức 3, dùng nước 600C cho tỷ lệ nẩy mầm là 80%; Công thức 4, dùng nước 400C cho tỷ lệ nẩy mầm là 68%
Hỗn hợp ruột bầu ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao (Hvn), số lá của cây Móc ở giai đoạn vườn ươm:Công thức 1 (Đất tầng A, không có phân), chiều cao đạt 8,95cm,
có 5 lá; Công thức 2 (95% đất tầng A+ 5% Phân NPK tỷ lệ 5:10:3) chiều cao đạt 6,17cm, có 3 lá; Công thức 3 (95% đất tầng A +5% phân vi sinh) chiều cao đạt 7,28cm, có 4 lá; Công thức 4 (95% đất tầng A + 5% phân chuồng hoai) chiều cao
đạt 10,18cm, có 6 lá
Hướng dẫn kỹ thuật bao gỗm kỹ thuật về thu hái, chế biến/tách hạt ra khỏi quả, xử
lý kích thích hạt nẩy mầm và gieo ươm loài cây Móc
Trang 4SUMMARY OF FINDINGS FROM THE SCIENCTIFIC AND TECHNOLOGICAL RESEARCH AT
GRASSROOT LEVEL
Research: “Study technologies to produce seedlings of Moc (Caryota mitis Lour)
at Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry”
- Collect and initially process seeds of Caryota mitis Lour
- Use hot water to treat and stimulate seeds of Caryota mitis Lour to germinate at
diffirent temperature levels
- Study the combination of diffirent contents in the nursery bags that affects the growth of seedlings, particularly the heigh and number of leaves
- Propose technical guidline for producing Moc (Caryota mitis Lour)
3 Findings (Science, Application, Training, Economics, Society )
Fruits are collected from well-grown Caryota mitis Lour trees without sign of
diseases and damages These fruits are monitored during their growth until getting matured and harvested when their color transfer from green to red and then dark- violet In this time, the seeds thus must be hard and in black color These seeds are then collected and cleaned The study showed that that every 1.5 kilograms of
Caryota mitis Lour fruits there collected 1 kilogram of it’s seeds, from 500 to 600
seeds, with the purity level around 95 percentage
To stimulate germination of Caryota mitis Lour seeds, researchers have used hot
water at diffirent temperature levels Accordingly, at the level 1 of 1000C, hot water ensure germination rate of the seeds is 74 % that followed by the level 2 of 800C At this temperature level the germination rate of the seeds is highest, standing at 88% The level 3 of 600C brings out 80% of germination rate Finally, the level 4 of 400C ensures the only 68% of germination rate
Trang 5The combination of diffirent contents within the nersery bags affect the growth of
seedlings, particularly the heigh and the number of leaves of Caryota mitis Lour
seedlings There also studied 4 such combination types The type 1: soil from level A (within soil profile) without fertilizer, the heigh and number of leaves can reach 8,95cm and 5 leaves, respectively In contrast, the type 2 of 95% of soil level A with 5% of fertilizer NPK (proportion of Nitrogen, Photphorus, and Potassium is 5:10:3) can produce seedlings with average heigh of 6,17cm and average munber of leaves of
3 The type 3 of 95% soil level A with 5% oganic fertilizer can produce seedlings with average heigh of 7,28cm and average munber of leaves of 4 Finally, at type 4 of 95% soil level A with 5% manure, the seedlings can grow better than other types Their heigh can reach 10,18cm and the number of leaves is 6
The techincal guidline will cover technologies in collecting and processing seeds from fruits, in stimulating germination of seeds, in sowing and caring seedlings
Trang 6PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là một hệ sinh thái, là nguồn tài nguyên có giá trị to lớn không chỉ
về mặt kinh tế mà còn về xã hội, khoa học, môi trường và quốc phòng Thế nhưng, hiện nay tài nguyên rừng nước ta đã bị suy giảm đáng kể cả về số lượng
và chất lượng Nguyên nhân là do cháy rừng, đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản, chuyển đất rừng sang những mục đích sử dụng khác…Kết quả đã làm cho nhiều loài cây gỗ quí hiếm, cây bản địa, cây có giá trị cao về kinh tế bị đe dọa nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng
Cây Móc (Caryota mitis Lour), Họ Cau (Arecaceae) là loài cây đã được
du nhập vào Việt Nam từ rất lâu, thường thấy loài cây này ở vùng rừng núi của nhiều tỉnh từ Tây Bắc cho đến khu vực miền Trung Việt Nam như, Điện Biên, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn….Và một số tỉnh ở Miền Tây, Nam Bộ Cây Móc có thể thích nghi ở nhiều loại đất ẩm Nguồn gốc chính của nó là từ
Ấn Độ, Myanma, Malaysia, Đông Dương
Cây Móc là loài sinh trưởng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện tự nhiên khắc nhiệt cao Do là cây gỗ không có mấy giá trị trong công nghiệp chế biến gỗ Cây chỉ sử dụng trong làm cảnh và có ý nghĩa rất lớn về môi trường sinh thái ở những nơi công cộng, đô thị, đường phố
Do hiện hữu rộng khắp nên Móc cũng tạo nên một mối quan hệ khá đặc sắc với cuộc sống đời thường của cộng đồng dân cư người Việt nhiều nơi Nó
đã góp phần vào các hoạt động đời thường, dần dần hình thành nét văn hóa dân gian cho một số nơi Lá Móc thường được dùng để trang trí trong các dịp lễ hội
ở nhiều vùng nông thôn như: Làm cổng đám cưới; Dựng một cổng chào, người
ta dùng thân tre làm sườn và dùng lá Móc để kết lợp trang trí Lá Móc cũng được sử dụng làm chổi quét nhà, sân vườn…
Cây Móc có buồng quả thõng dài tới 2-3 m, khi quả rụng hết để lại xương buồng màu trắng xám Do có dáng đẹp nên được dùng làm cây cảnh
Ở nhiều gia đình có khuôn viên sân vườn rộng, họ thường chọn trồng một vài cây Móc để vừa làm đẹp cảnh quan, nơi cộng cộng, cơ quan loài cây Móc cũng được lựa chọn trồng để làm đẹp cảnh quan, cải thiện môi trường
Trang 7Mặt khác quả cuả cây Móc là nguồn cung cấp thức ăn cho loài Vượn Cao Vít thuộc khu bảo tồn Vượn huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu kỹ thuật gieo ươm cây Móc (Caryota mitis Lour) tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Có được bản hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm loài cây Móc từ hạt
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở để đề xuất phương pháp thu hái, chế biến hạt cũng như việc chăm sóc cây Móc ở giai đoạn vườn ươm
Đề tài thực hiện giúp chúng ta đi sâu vào công tác tạo giống cây Móc nhằm cung cấp cây con giống cho công tác gây trồng loài cây này
Trang 8PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Nhân giống bằng hạt là phương pháp nhân giống đem lại hiệu quả cao và
đã được áp dụng phổ biến trong suốt thời gian qua
Trong gieo ươm, việc xử lý hạt giống là một khâu quan trọng, tùy vào đặc điểm sinh lý, cấu tạo vỏ hạt của mỗi hạt giống khác nhau thì việc xử lý hạt cũng khác nhau Xử lý kích thích hạt giống là tác động đồng loạt lên lượng hạt giống cần gieo nhằm diệt mấm mống sâu bệnh hại, đồng thời kích thích hạt nảy mầm nhanh và đều Có nhiều phương pháp xử lý kích thích hạt giống khác nhau như: phương pháp vật lý, hóa học, cơ giới,… Nhưng hiện nay phương pháp vật lý (dùng nước có nhiệt độ khác nhau để kích thích hạt nảy mầm) thường được sử dụng nhiều hơn Phương pháp này vừa đơn giản dễ làm mà lại
an toàn có hiệu quả cao, áp dụng cho rất nhiều loại hạt
Quá trình nảy mầm của hạt giống chia ra làm 3 giai đoạn gối nhau:
+ Giai đoạn vật lý: Hạt hút nước và trương lên làm cho vỏ hạt nứt ra, dấu hiệu đầu tiên của nẩy mầm (tất cả các hạt lép, hạt chết đều hút nước)
+ Giai đoạn sinh hóa: Dưới tác dụng của nhiệt và ẩm hoạt tính men, hô hấp và đồng hóa tăng lên, các chất dự trữ được sử dụng và chuyển đến vùng sinh trưởng
+ Giai đoạn sinh lý: Sự phân chia và lớn lên của các tế bào làm cho rễ mầm và chồi mầm đâm ra ngoài hạt thành cây mầm (Lương Thị Anh - Mai Quang Trường, 2007) [ 1]
Loại hạt khác nhau thì phương pháp xử lý kích thích khác nhau căn cứ vào độ dày của vỏ hạt, tinh dầu trong hạt để lựa chọn phương pháp xử lý
Hạt của cây Móc là loại có vỏ hạt cứng do vậy nước và không khí rất khó thấm vào trong nên khi xử lý hạt cần có phương pháp xử lý thích hợp
Kích thích được hạt giống nảy mầm tốt không có nghĩa đã có được cây con tốt, mà cần nuôi dưỡng cây trong môi trường tốt Với cây con nuôi trong bầu, hỗn hợp ruột bầu phù hợp cây mới sinh trưởng tốt, đảm bảo được về mặt
số lượng, chất lượng đáp ứng cho trồng rừng
Theo Nguyễn Văn Sở (2004)[11], thành phần hỗn hợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng cây con trong
Trang 9vườn ươm Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo những điều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khoẻ mạnh và nhanh Một hỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí, khả năng giữ nước cao nhưng nghèo chất khoáng cũng không giúp cây phát triển tốt Ngược lại, một hỗn hợp ruột bầu chứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm nước và thoát nước cũng ảnh hưởng xấu đến cây con
Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ)
và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu Đất được chọn làm ruột bầu là đất tốt, có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, pH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại
Theo Nguyễn Xuân Quát (1985)[10], để giúp cây con sinh trưởng và phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết Trong giai đoạn vườn ươm, những yếu
tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia
Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng nitơ lại có vai trò quan trọng bậc nhất Thiếu nitơ cây không thể tồn tại Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất cả các axit amin và từ các axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein trong cơ thể thực vật Vai trò của protein đối với sự sống của cơ thể thực vật là không thể thay thế được
Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyril,
là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật Nói chung, nitơ là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành phần chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như amino axit, men, nhiều loại vitamin trong cây như B1, B2, B6…Nitơ thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp mạnh Nếu thiếu đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây
Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây dễ
đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [15]; Viện thổ nhưỡng nông hóa,1998 [14]; Ekta Khurana and J.S Singh, 2000 [16]; Thomas D Landis,1985[18]
Trang 10Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng Lân có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả Cây được cung cấp đầy đủ lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua và kiềm
Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng,
lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng xuất chất khô giảm Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm Một vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ Ở những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm Khi thừa lân không thấy tác hại nghiêm trọng như thừa nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [15]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [14]; Ekta Khurana and J.S Singh, 2000[16]; Thomas D Landis, 1985[18]
Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quá trình
sử dụng đạm ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít đổ ngã, chống sâu bệnh, chịu hạn và rét Do vậy, nếu thiếu kali, thì cây có biểu hiện về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lục tối, sau chuyển sang vàng, xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủ xuống (Trịnh Xuân
Vũ, 1975 [15]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [14]
Các chất phụ gia thường được sử dụng là xơ dừa, tro trấu…Chúng có tác dụng làm xốp đất, giữ ẩm, thoáng khí…
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Theo Thomas (1985)[18], chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất
để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
Gallardo và đồng nghiệp đã bắt đầu một phân tích proteomic của quá
trình nảy mầm hạt giống cây Arabidopsis bằng cách sử dụng ecotype
Landsberg erecta
Nghiên cứu về số lượng và kích cỡ hạt trái cây nảy mầm bằng gỗ tếch
(Tectona grandis L.) được tổ chức tại Mae Tha vườn giống, Mae Tha quận, của
Trang 11Lampang tỉnh và phòng thí nghiệm hạt giống, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia, Bangkok
Nghiên cứu về ảnh hưởng của presowing phương pháp điều trị hạt giống nảy mầm của 10 loài cây lâm nghiệp, sau khi lưu trữ cho 1 năm, được thực hiện nhằm tăng tỷ lệ nảy mầm của những hạt giống bằng cách xem xét giá trị nảy mầm Năm presowing phương pháp điều trị khác nhau được sử dụng, bao gồm
cả cắt hạt giống vào cuối đối diện để rể nhỏ, ngâm hạt giống trong conc Axit sulfuric trong 15 phút, ngâm hạt trong nước sôi ở 98 C và để lại cho họ mát trong 24 giờ và kiểm soát
Bên cạnh đó trên thế giới nhiều nhà khoa học cũng công nhận phân bón giúp cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được với hạn hán, sâu bệnh Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha Do đó tính ưu việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chể phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện đại [3]
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về gieo ươm Nhìn chung, khi nghiên cứu gieo ươm cây gỗ, một mặt các nhà nghiên cứu hướng vào xác định những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng của cây con Những nhân tố được quan tâm nhiều là ánh sáng, đất, hỗn hợp ruột bầu, chế độ nước và kích thước bầu Mặt khác, nhiều nghiên cứu còn hướng vào việc làm rõ tiêu chuẩn cây con đem trồng
Khi nghiên cứu gieo ươm thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn Xuân
Quát (1985)[10] cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát (1985)[10] và Hoàng Công Đãng (2000) [6] đã bón lót super lân, kali clorua, sulphat amôn với tỷ lệ từ 0- 6% so với trọng lượng ruột bầu Đối với phân hữu
cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng hoai (phân trâu, phân bò và phân heo) với liều lượng từ 0 - 25% so với trọng lượng bầu Một số nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phản ứng của cây gỗ non với nước Tuy vậy, đây là một
Trang 12vấn đề khó, bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện nghiên cứu cần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985)[10]
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước bầu đến sinh trưởng của cây gỗ non cũng đã được nhiều tác giả quan tâm Theo Nguyễn Tuấn Bình (2002)[2], kích thước bầu thích hợp cho gieo ươm Dầu song nàng là 20*30 cm, đục 8 - 10 lỗ
Theo Nguyễn Văn Sở (2004)[11,12], sự phát triển của cây con phụ thuộc không chỉ vào tính chất di truyền của cây, mà còn vào môi trường sinh trưởng của nó (tính chất lý hóa tính của ruột bầu) Tuy nhiên không phải tất cả các loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau, mà chúng thay đổi tùy thuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây
Theo Nguyễn Thị Mừng (1997)[8], thành phần ruột bầu được cấu tạo từ 79% đất + 18% phân chuồng + 0,5%N + 2%P + 0,5%K hoặc 80% đất + 15%
phân chuồng + 1%N + 3%P + 1%K sẽ đảm bảo cho cây Cẩm lai (Dalbergia bariaensis Pierre) sinh trưởng tốt trong giai đoạn vườn ươm
Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyerii),
Nguyễn Tuấn Bình (2002)[2] cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng của cây con Theo tác giả, đất feralit đỏ vàng trên phiến thạch sét và đất xám trên granit có tác dụng nâng cao sức sinh trưởng của cây con Dầu song nàng Hàm lượng phân super phốt phát (Long Thành) thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng là 2% - 3%, còn phân NPK là 3% so với trọng lượng bầu
Theo Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004)[13], bón lót cho
Chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai) trong giai đoạn 6 tháng tuổi ở
vườn ươm là việc làm cần thiết Nếu bón lót phân tổng hợp NPK (16:16:8) cho Chiêu liêu nước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruột bầu Tương tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15% - 20% so với trọng lượng ruột bầu Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006)[9], khi gieo
ươm cây Huỷnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp
bao gồm đất, phân chuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2:2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5% super lân và 0,1% vôi
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lí
Trang 13Đề tài được tiến hành tại vườn ươm trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau:
- Phía Bắc giáp với phường Quán Triều
- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường ĐHNL Thái Nguyên
* Địa hình
Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao Độ dốc trung bình10-150, độ cao trung bình 50-70m, địa hình thấp dần từ Tây bắc xuống Đông Nam
Vườn ươm khoa lâm nghiệp thuộc trung tâm thực hành thực nghiệm của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất
ở đây là loại đất Feralit phát triển trên đá Sa thạch Do vườn ươm mới chuyển đến về đây nên đất lấy để hoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở đồi tương đối tốt Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì chúng ta có thể nhận thấy:
- Độ pH của đất thấp chứng tỏ đất ở đây chua
- Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp Chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
Độ sâu tầng
đất (cm)
Chỉ tiêu Chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất
Mùn N P2O5 K2O N P2O5 K2O pH 1-10 1.776 0.024 0.241 0.035 3.64 456 0.90 3.5 10-30 0.670 0.058 0.211 0.060 3.06 12 0.44 3.9 30-60 0.711 0.034 0.131 0.107 0.107 3.04 3.05 3.7
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên)
* Đặc điểm khí hậu
Do vườn ươm nằm trong khu vực của thành phố Thái Nguyên nên nó mang đầy đủ tính chất chung của khí hậu thành phố
Trang 14Ẩm độ không khí trung bình (%): 84,6
Nhiệt độ trung bình (0C): 24,4
(Nguồn: Theo trung tâm khí tượng thủy văn thành phố Thái Nguyên năm 2012)
2.5 Những thông tin về đối tượng nghiên cứu
Cây Móc có tên khoa học (Caryota Mitis), Họ cau (Arecaceae), loài
Móc còn có tên gọi khác là cây Đủng đỉnh hay là cây Đuôi cá vì lá có dạng đuôi cá
Cây sống ở khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, cận nhiệt đới và nhiệt đới
Cây phân bố ở khu vực Đông Nam Á như Lào, Việt Nam, Campuchia và Indonesia cây thường mọc dưới tán rừng mưa nhiệt đới
Quả: Có dạng quả thịt tròn khi chín có mầu đỏ hoặc đen, đường kính 2cm, hạt to cứng khi chín có mầu nâu hoặc đen có thể ăn được, quả có chứa hoạt chất acid Oxalic(H2C2O4) có thể ăn mòn da
1-Gây trồng: Cây được trồng bằng hạt hoặc bằng nuôi cấy mô tế bào
Giá trị sử dụng: Lá Móc có hình dạng, mầu sắc đẹp đặc trưng, có giá trị trong trồng làm cảnh, trang trí khuôn viên đường phố, làm thức ăn cho một số loài động vật như loài Vượn Cao Vít- Trùng Khánh - Cao Bằng [7] Ngoài ra tại Ấn Độ người ta còn chiết xuất tinh bột, nhựa từ thân cây, lá được dùng để lợp nhà, thân cây dùng để xây nhà, sợi từ bẹ lá được dùng làm dây thừng [17]
Trang 15PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Cây móc trong giai đoạn vườn ươm
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Thu hái chế biến hạt giống; Phương pháp
kích thích hạt cây Móc nẩy mầm; thành phần hỗn hợp ruột bầu
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2.2.Thời gian tiến hành nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 02/02/2012 đến 30/12/2012
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu đề tài thực hiện một số nội dung sau:
- Thu hái và chế biến hạt giống
- Nghiên cứu phương pháp xử lý kích thích hạt giống theo các công thức nước có nhiệt độ khác nhau
- Nghiên cứu ảnh hưởng hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây móc (Hvn, số lá)
Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm loài cây Móc
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu:
- Kế thừa có chọn lọc những kết quả, tài liệu có liên quan
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, so sánh ảnh hưởng của các công thức đến hạt nẩy mầm
và sinh trưởng của cây Móc bằng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố
3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp
- Chuẩn bị dụng cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu
- Hạt giống
- Dụng cụ bao gồm:
Trang 16Cuốc, xẻng, dao, sàng đất, túi bầu, đất đóng bầu, khay đựng hạt, bình tưới nước, cây làm dàn che, lưới che, thước đo
- Vật tư nông nghiệp: Phân bón, các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm
Theo dõi số hạt nảy mầm, định kỳ theo dõi 5 ngày 1 lần vào buổi sáng
kết quả theo dõi ghi chép số hạt đã nảy mầm vào mẫu bảng 3.1:
Bảng 3.1: Theo dõi số hạt nảy mầm của cây Móc
Ngày theo dõi thứ
Công thức 4 (CT4) : 95% đất tầng A + 5% phân chuồng hoai
Trang 17Thí nghiệm gồm 4 công thức và 3 lần lặp lại, vậy mỗi lần lặp là 30 cây, 1 công thức là 90 cây, tổng số thí nghiệm của 4 công thức là 360 cây
Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm ảnh hưởng của hỗn hợp
ruột bầu đến sinh trưởng của cây Móc
Số lần nhắc lại Công thức thí nghiệm
1 CT1 CT2 CT3 CT4
2 CT2 CT4 CT1 CT3
3 CT3 CT1 CT4 CT2
Chăm sóc thí nghiệm và thu thập số liệu
Thời gian theo dõi sinh trưởng được sắp xếp như sau:
- Lần 1 cây được điều tra vào ngày 10/06/2012
- Lần 2 cây được điều tra vào ngày 10/09/2012
- Lần 3 cây được điều tra vào ngày 10/12/2012
* Các chỉ tiêu theo dõi:
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây: Đo từ mặt bầu tới đỉnh ngọn
- Đếm số lá
Các chỉ tiêu đo đếm được ghi vào mẫu bảng 3.3:
Bảng 3.3: Bảng theo dõi sinh trưởng chiều cao
và động thái ra lá của cây Móc
3.4.2 Phương pháp nội nghiệp
- Bước 1 Tổng hợp rồi nhập số liệu vào máy vi tính
- Bước 2 Phân tính và xử lý số liệu:
Tính tỷ lệ nảy mầm và thế nảy mầm tính theo tỷ lệ phần trăm
Tỷ lệ nảy mầm: Là tỷ số phần trăm giữa số hạt nẩy mầm bình thường so với số hạt đem kiểm tra, được biểu thị bằng công thức[2]:
Tổng số hạt nảy mầm
- Tỷ lệ nảy mầm: G(%) = ––––––––––––––––––––––– x 100
Tổng số hạt kiểm nghiệm
Trang 18Thế nảy mầm: là tỷ số phần trăm giữa số hạt nẩy mầm bình thường trong 1/3 thời gian đầu của quá trình nẩy mầm so với hạt đem kiểm tra, được biểu thị bằng công thức.[2]
Số hạt nảy mầm trong 1/3 thời gian đầu của thời kỳ nẩy mầm
- Thế nảy mầm: GE (%) = ––––––––––––––––––––––––––––– x 100 Tổng số hạt kiểm nghiệm
+ Các chỉ số thống kê như chỉ số trung bình HVn, Số lá, được thực hiện bằng phần mềm Excel với hàm sum(), hàm average()…
+ Để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của mỗi công thức xử lý kích thích hạt nảy mầm đến khả năng nảy mầm và công thức hỗn hợp ruột bầu tới sinh trưởng của cây Móc như thế nào tôi dùng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố [5], để kiểm tra kết quả thí nghiệm và được sắp xếp như trình tự trong mẫu bảng 3.4
Mẫu bảng 3.4 Bảng sắp xếp các trị số quan sát
phân tích phương sai 1 nhân tố
A
Các trị số quan sát Kết quả trung bình của các lần nhắc lại SiA XiA
Trong đó tôi coi:
- Nhân tố A là công thức thí nghiệm (CTTN)
- Giả sử nhân tố A được chia làm a (a công thức thí nghiêm) cấp khác nhau, mỗi cấp các trị số quan sát lập lại (bi) lần
- Cột 1: Các cấp của nhân tố A
- Cột 2: Các trị số quan sát (số lần nhắc lại cho mỗi công thức của nhân
tố A)
Trang 19- Cột 3: Tổng giá trị quan sát trong mỗi cấp
- Cột 4: Số trung bình chung của n trị số quan sát
- X số trung bình chung của n trị số quan sát
Đặt giả thuyết H0: µ1 = µ2 = µ3 = µ Nhân tố A tác động đồng đều lên kết quả thí nghiệm
Đối thuyết H1: µ1 ≠ µ2 ≠ µ3 ≠ µ Nhân tố A tác động không đồng đều đến kết quả thí nghiệm, nghĩa là có ít nhất 1 số trung bình tổng thể µi khác với số trung bình tổng thể còn lại
- Tính biến động tổng số:
VT là biến động của n (ab) trị số quan sát trong trường hợp số lần nhắc lại bi bằng nhau được xác định bằng công thức:
C x
V
a i b j
a
x C
a i b j
là không ngẫu nhiên Nó ngẫu nhiên nếu nhân tố tác động không rõ đến kết quả thí nghiệm ở tất cả các cấp Nó không ngẫu nhiên nếu nhân tố A tác động khác nhau lên kết quả thí nghiệm Được tính theo công thức:
Do số lần nhắc lại ở các công thức là như nhau: b1 =b2…… =bi= b
( )
b a
S A Si b V
a i A
1
(3.2)
Biến động ngẫu nhiên: VN là biến động giữa các trị số quan sát trong cùng một mẫu (trong cùng một cấp nhân tố A), biến động này gọi là biến động ngẫu nhiên, do các giá trị quan sát của các phần tử trong cùng 1 cấp được chọn một cách ngẫu nhiên
Do tính chất cộng của biến động của n trị số quan sát được xác định bằng công thức:
Trang 20Người ta đã chứng minh được rằng, nếu giả thuyết Ho là đúng thì biến ngẫu nhiên VN có nhân tố χ 2 với df = a(b-1) độ tự do và VA có nhân tố χ 2 với:
df = a - 1 độ tự do Vì vậy biến ngẫu nhiên có phương sai:
Do số lần nhắc lại ở các công thức là như nhau: b1 = b2…….= bi = b:
V S
• So sánh và tìm ra công thức trội nhất
Số lần lặp lại ở các công thức là bằng nhau: b1 = b2…….= bi = b
Ta sử dụng chỉ tiêu sai dị bảo đảm nhỏ nhất LSD (Least significant diference), được tính theo công thức sau:
- Ta lập bảng hiệu sai các số trung bình xi−xj và so sánh với LSD:
- Nếu xi−xj ≤LSD ta kí hiệu dấu -, nghĩa là 2 công thức không có sự khác nhau
-Nếu xi−xj >LSD ta kí hiệu dấu *, nghĩa là giữa 2 công thức có sự khác nhau rõ Vậy công thức ảnh hưởng trội hơn là công thức có x lớn hơn và công thức là trội nhất có xmax
- Giá trị của LSD thay đổi phụ thuộc vào mức có ý nghĩa α tương ứng với mức ý nghĩa khác nhau thì có LSD khác nhau Thông thường người ta tính LSD ở độ tin cậy 95% hay 99% tức là α =0,05 hay 0,01 Kết quả tính ở bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA (bảng 3.5):
Trang 21Mẫu bảng 3.5: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố
Df (Bậc tự do)
MS (Phương sai)
F
(F thực nghiệm)
P-value (Sự hoán đổi
từ giá trị t tính)
F crit (Giá trị
F lý luận)
Click Tools → Data Analysis → ANOVA: Single Factor
Trong hộp thoại ANOVA: Single Factor
Input range: Khai vùng dữ liệu (….)
Grouped by:
Nếu số liệu nhắc lại của từng công thức thí nghiệm sắp xếp theo hàng thì
đánh dấu Rows và mục Grouped by nếu trong vùng dữ liệu vào có chứa cột
tiêu đề Nếu số liệu nhắc lại của từng công thức thí nghiệm sắp xếp theo cột thì
đánh dấu vào columns và mục Grouped by nếu trong vùng dữ liệu vào có chứa
hàng tiêu đề
Alpha: nhập (0.05) hay (0.01)
Output range: khai vùng xuất kết quả
Trang 22PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1 Kết quả nghiên cứu về quá trình nẩy mầm của hạt giống cây Móc
4.1.1 Kỹ thuật thu hái, chế biến và xử lý kích thích hạt giống cây Móc
Quả Móc được thu hái từ cây sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, cây lấy giống 8 tuổi, được trồng tại xóm gò Móc xã Quyết Thắng Thành phố Thái Nguyên
Chỉ thị về độ chín của quả khi thu hái chùm/buồng quả có khoảng 10% quả chuyển từ màu xanh sang màu đỏ và tím thẫm, hạt mầu đem-cứng, ta tiến hành thu hoạch hết, vì quả của cây Móc là loại quả khi chín vỏ quả mềm, sau khi chín có thời kỳ rơi rụng ngắn
Quả sau khi thu về cả chùm quả (gồm cả quả đã chín và chưa chín hoàn toàn) tiến hành phân loại thành quả đã chín hoàn toàn và quả chưa chín, những quả chưa chín tiến hành ủ quả từ 4-5 ngày cho chín đều trước khi đem chế biến/tách hạt ra khỏi quả
Khi quả đã chín đều ta ngâm quả trong nước sạch 2giờ, sau đó vớt lên chà xát, rồi đãi sạch phần thịt quả bằng nước
Hạt sau khi làm sạch được đem hong khô ở nơi râm mát, thoáng gió, thường xuyên đảo hạt để hạt khô đều, thời gian hong hạt là 1 giờ