Nhiệm vụ nghiên cứu - Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về đói, nghèo và thực hiện kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nói chung.. - Giới hạn nội
Trang 1KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN .o0o
§Ò TµI NGHI£N CøU KHOA HäC CÊP TR¦êNG
Trang 2TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Tên đề tài: “Kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hôi ở huyện Đại
Từ - Tỉnh Thái Nguyên hiện nay” Mã số: T2012 – 41
Chủ trì đề tài: Phạm Thị Nga
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tập thể phối hợp thực hiện: Bộ môn Lý luận chính trị - Khoa Khoa học Cơ bản – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc kết hợp xóa đói, giảm nghèo với phát triển kinh
tế - xã hội huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm kết hợp xóa đói, giảm nghèo gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Đại Từ giai đoạn 2011 – 2015
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập cho sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trang 3SUMMARY
1 Project Title: “Combine poverty alleviation with economic and social development
in Dai Tu district, Thai Nguyen province today” Code number: T2012 - 41
- Coodinator: Pham Thi Nga
- Responsible agencies subject: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
- Collective coordinate implementation: Department of Political Theory - Basic Science
- University of Agriculture and Forestry, Thai Nguyen
3 Main content
- Learn the basic theoretical issues of hunger, poverty and make poverty alleviation
with the socio-economic development in rural areas in general
- Situation Analysis combining poverty reduction with social and economic
development in Dai Tu district over time and cause impact
- Assess the existence and the question to be addressed in the poverty reduction to social and economic development in the province Dai Tu District
- Given the combined basic solution to poverty alleviation in the process of economic development Dai Tu district near future
socio-4 Results achieved
- Analysis, assessing the situation combine poverty reduction with social and
economic development Dai Tu district, Thai Nguyen province between 2006 and 2010
- Suggest some basic solutions to incorporate poverty reduction associated with the task of socio-economic development in Dai Tu district for the period 2011 - 2015
- Threads can be used as a reference in the learning process for students of Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xoá đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu, là mục tiêu của thiên
niên kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày Thế giới
xoá đói, giảm nghèo” Đến nay đói, xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, công tác xoá đói, giảm nghèo đã được xã hội hoá, trở thành công việc của mọi cấp, mọi ngành và thu hút được sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thành tựu xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao là một trong 10 nước
có tốc độ xoá đói, giảm nghèo nhanh nhất
Huyện Đại Từ nằm ở vùng tây - tây bắc tỉnh Thái Nguyên, trong toạ độ
địa lý từ 21030’ đến 21050’ độ vĩ Bắc, 105032’ đến 105042 độ kinh Đông;
phía Bắc giáp huyện Định Hoá, phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp huyện Phú Lương, phía Tây giáp 2 tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc Thị trấn huyện lỵ Đại Từ cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 25 km về phía Tây Bắc Là huyện có nhiều tài nguyên khoáng sản, mặc dù trữ lượng nhỏ, tuy nhiên đây là nhân tố quan trọng hình thành các cơ
sở công nghiệp khai thác phục vụ cho sản xuất công nghiệp phát triển và xuất khẩu Bên cạnh đó, vị trí địa lý có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của tập đoàn vật nuôi và cây trồng phong phú, lợi thế này thích hợp cho
sự phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp hiện nay của huyện
Tuy nhiên, do kết cấu hạ tầng còn chưa thực sự phát triển, thu nhập bình quân đầu người của huyện còn thấp và chưa đồng đều giữa các địa bàn trong huyện, tỷ lệ hộ đói nghèo của huyện còn cao Do đó, vấn đề xoá đói giảm nghèo đã và đang là một thách thức lớn trong quá trình chuyển đổi cơ
Trang 5cấu kinh tế của Huyện Đõy là vấn đề khụng chỉ cú ý nghĩa trong việc thực hiện mục tiờu chung của cả tỉnh mà cũn cú vai trũ thỳc đẩy kinh tế - xó hội của huyện phỏt triển, đồng thời đỏp ứng yờu cầu trong tiến trỡnh hội nhập và phỏt
triển Do đó việc nghiên cứu vấn đề “Kết hợp xoỏ đúi, giảm nghốo với phỏt
triển kinh tế - xó hụi ở huyện Đại Từ - Tỉnh Thỏi Nguyờn hiện nay” là cách
nhìn nhận nghiêm túc, trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, nhằm sớm đ-a huyện Đại Từ sớm thoỏt khỏi tỡnh trạng đúi nghốo, từng bước
phỏt triển kinh tế - xó hội nhanh và bền vững
2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Đến nay ở nước ta đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu, nhiều đề tài tốt
nghiệp đó đề cập đến vấn đề xoỏ đúi, giảm nghốo Trong cỏc cụng trỡnh đó
được cụng bố cú hai hướng nghiờn cứu đỏng chỳ ý là:
Thứ nhất, nhúm cỏc cụng trỡnh phõn tớch vấn đề nghốo đúi ở Việt Nam
núi chung như:
1 Nguyễn Hữu Dũng (2007), "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xoỏ đúi,
giảm nghốo theo hướng bền vững", Tạp chớ Lý luận chớnh trị, (3)
2 Trần Thị Hằng (2001), "Vấn đề xoỏ đúi, giảm nghốo trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Thống kờ, Hà Nội
3 Hội thảo khoa học và thực tiễn (1999), “Những giải phỏp tăng cường nguồn lực
thực hiện mục tiờu xoỏ đúi, giảm nghốo”, Tạp chớ Cộng sản, (20)
4 Nguyễn Hải Hữu (2006), "Hướng tới giảm nghốo toàn diện, bền vững, cụng bằng
và hội nhập", Tạp chớ Cộng sản, (9)
5 Phạm Gia Khiờm (2006), "Xoỏ đúi, giảm nghốo ở nước ta - thành tựu và
giải phỏp", Tạp chớ Cộng sản, (2 + 3)
6 Nguyễn Thị Nga (2007), "Xoỏ đúi, giảm nghốo nhỡn từ gúc độ kết hợp
tăng trưởng kinh tế với cụng bằng xó hội ở nước ta hiện nay", Tạp chớ
Cộng sản, (5)…
7 Hội thảo khoa học về xoỏ đúi, giảm nghốo dú Bộ Lao động – Thương binh
và Xó hội phối hợp với Tạp chớ Cộng sản, tổ chức thỏng 4, năm 2008
Trang 68 Hội thảo “Khu vực miền núi phía Bắc với công cuộc xoá đói, giảm nghèo
thông qua phát triển du lịch cộng đồng” do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch phối hợp với UBND tỉnh Thái Nguyên đăng cai tổ chức tại thành phố Thái Nguyên tháng 10/2007
Nhóm các công trình này đã phân tích nguyên nhân, thực trạng và từ đó
đưa ra các giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề xoá đói, giảm nghèo nhằm
thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam nói chung
Thứ hai, nhóm các công trình phân tích về vấn đề nghèo đói ở một số
tỉnh, khu vực với những cách tiếp cận khác nhau như:
9 Trần Thái Học (2007), "Những giải pháp cơ bản để giảm nghèo cho đồng
bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên", Tạp chí Cộng sản, (4)
10.Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo (2007),
“Xoá đói, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số: Phương pháp tiếp
cận”
11.Nguyễn Khánh Mậu (2007), "Xoá đói, giảm nghèo vùng nông thôn các
tỉnh Nam bộ dưới ánh sáng Nghị quyết đại hội Xoá đói, giảm nghèo của Đảng", Tạp chí Khoa học chính trị
12.Nguyễn Hoàng Lý, (2009) “Xoá đói, giảm nghèo ở tỉnh Gia Lai – Thực
trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
13.Trương Văn Thành, (2010) “Thực trạng và giải pháp xoá đói, giảm nghèo
ở tỉnh Tây Ninh hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
14. Trần Đình Đàn, (2009), “Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm
xoá đói giảm nghèo ở Hà Tĩnh”,Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội…
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và nghiên cứu vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nhiều góc độ, nhiều địa phương khác nhau và gợi mở ra hướng nghiên cứu mới bổ ích
Trang 7Để thực hiện đề tài khoa học này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số
kết quả nghiên cứu đã công bố của các tác giả nói trên về những vấn đề lý luận liên quan Đồng thời, tác giả kết hợp khảo sát thực tiễn ở nông thôn tỉnh Thái nói chung và huyện Đại Từ nói riêng để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương dựa trên cơ sở những
đường lối, quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà
nước và của tỉnh Thái Nguyên đề ra trong những năm tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng đói nghèo và việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở huyện Đại Từ giai đoạn 2006 - 2010 Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2015 trên địa bàn huyện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về đói, nghèo và thực hiện kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nói chung
- Đánh giá thực trạng việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Đại Từ thời gian qua và chỉ ra nguyên nhân ảnh hưởng
- Đưa ra những giải pháp cơ bản về kết hợp xoá đói, giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Đại Từ thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề xoá đói, giảm nghèo kết hợp với phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Đại Từ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 8- Giới hạn nội dung: Đề tài nghiên cứu việc kết hợp xoá đói, giảm
nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Đại Từ, mà trọng tâm là nghiên cứu xoá đói, giảm nghèo không đi sâu vào những vấn đề cụ thể của phát triển kinh tế - xã hội của Huyện mà lấy phát triển kinh tế - xã hội làm tiền đề giải quyết xoá đói, giảm nghèo bền vững
- Giới hạn không gian: Đề tài chỉ giới hạn nội dung nêu trên trong
khuôn khổ địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên.
- Giới hạn thời gian: Nội dung nghiên cứu bao gồm: khảo sát thực trạng
trong giai đoạn 2006-2010 và luận giải hệ thống giải pháp cho giai đoạn
2011-2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và kinh tế học hiện đại để nghiên cứu vấn đề dưới góc độ kinh tế chính trị kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng trong giai đoạn hiện nay
- Trong quá trình phân tích, đề tài vận dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học và kết hợp các phương pháp khác như: khảo sát, điều tra, thống
kê, hệ thống, so sánh,…tổng hợp báo cáo tổng kết công tác xóa đói, giảm nghèo và các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên để làm rõ vấn đề nghiên cứu và rút ra các kết luận cần thiết
Trang 9- Từ đó, đề tài đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm kết hợp xóa đói, giảm nghèo với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Đại Từ
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn kết hợp xoá đói, giảm
nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Chương 2: Thực trạng kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh
tế - xã hội huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Giải phát kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế
xã hội huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KẾT HỢP XOÁ
ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP X0Á ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
1.1.1 Đói, nghèo và nguyên nhân của đói, nghèo
1.1.1.1 Quan niệm về đói, nghèo
Những năm gần đây, vấn đề đói nghèo đã thu hút sự quan tâm to lớn của cộng đồng quốc tế, đồng thời khẳng định cần có sự nỗ lực toàn cầu trong giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do (ESCAP) tổ chức ở Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9 -1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao về khái niệm
nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả
năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [5]
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một quan niệm cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [21]
Các quan niệm về đói nghèo nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo
cho con người
(ii) Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư (iii) Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng
Trang 11Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại:
Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về
ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục )
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định
cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993 Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái niệm nghèo đói, ở nước ta còn có một số khái niệm sau:
Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng
Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học
hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát
Hộ nghèo: Là hộ đói ăn không đủ bữa, mặc không đủ lành, không đủ
ấm, không có khả năng phát triển sản xuất
Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những
cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao
Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn
hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao
Trang 12Như vậy, đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến,
ít được tham gia vào quá trình ra quyết định
Qua nghiên cứu chúng ta nhận thấy đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, đói nghèo thực chất là hiện tượng kinh tế -
xã hội phức tạp, chứ không thuần túy chỉ là vấn đề kinh tế cho dù các tiêu chí
đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế Vì vậy,
khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến thực trạng, xu hướng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá những tác động của nhân
tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác xoá đói, giảm nghèo ở nước ta
1.1.1.2 Tiêu chí và phương pháp xác định hộ nghèo
Đối với nước ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ 1993 đến 2006
* Giai đoạn 1993 - 1995:
Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn
Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg
đối với thành thị, dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng
Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng
+ Thành thị: dưới 25kg/người/tháng
Trang 13* Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH):
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng)
+ Thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng)
* Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐTBXH):
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đ/người/tháng
hơn chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn miền núi, mức chênh lệch là 1,25 lần Khi áp dụng chuẩn nghèo chung cho vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi điều này sẽ có lợi hơn cho người dân khu vực nông thôn miền núi Đây cũng là sự thể hiện quan điểm bình đẳng hơn, toàn diện hơn khi xem xét xác định chuẩn nghèo
Khu vực thành thị chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ và tương đương với 2,8 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005
Trang 14Khu vực nông thôn đồng bằng chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần chuẩn nghèo cũ; khu vực nông thôn miền núi chuẩn nghèo mới cao gấp 2,5 lần và tương đương với 2,2 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005
Phương pháp xác định chuẩn nghèo [7]: có 2 phương pháp xác định
chuẩn nghèo
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu
Nội dung cơ bản của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội
Bước một là xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm
(nhu cầu ăn uống để tồn tại) Để xác định được nhu cầu này người ta xác
định rổ hàng hoá để bình quân hàng ngày một người có được 2.100Kcal, rổ
hàng hoá khoảng 40 mặt hàng Từ rổ hàng hoá này người ta xác định được
số tiền cần thiết chi tiêu cho lương thực thực phẩm Tuy nhiên, giá cả của
rổ hàng hoá ở thành thị, nông thôn và các vùng rất khác nhau, vì vậy người
ta phải lấy giá trị trung bình của rổ hàng hoá này
Bước hai là xác định nhu cầu chi tiêu lương thực thực phẩm (7 nhu cầu
cơ bản còn lại) Thông thường chi cho lương thực, thực phẩm chung của dân
cư chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu, còn 40% là nhu cầu phi lương thực thực phẩm Đối với nhóm giàu tỷ lệ tương ứng là 50% và 50%; đối với nhóm nghèo 70% chi tiêu cho nhu cầu lương thực, thực phẩm, còn 30% chi tiêu cho phi lương thực, thực phẩm (ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp
xã hội)
Bước ba là xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm
(LTTP) và phi lương thực, thực phẩm
Tổng chi tiêu = chi tiêu cho LTTP + chi tiêu cho phi LTTP
Giá trị bằng tiền của tổng chi tiêu được gọi là đường nghèo chung hay còn gọi là chuẩn nghèo cao
Trang 15Giá trị bằng tiền của chi tiêu cho lương thực, thực phẩm là đường nghèo lương thực, thực phẩm hay còn gọi là chuẩn nghèo thấp
Cũng bằng phương pháp trên, theo Tổng cục Thống kê đã chuyển từ mức chi tiêu sang mức thu nhập để mọi người dễ hiểu và thuận lợi hơn cho việc điều tra khảo sát và tính toán tỷ lệ nghèo đói Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo chung được xếp vào nhóm người nghèo, còn những ai
có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (đường nghèo LTTP) thì được xếp vào nghèo về LTTP
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình
Công thức tính cụ thể cho nước ta như sau [7]:
CNj = (TNj /2 + TNj /3): 2 Trong đó: - CNj là chuẩn nghèo năm thứ j
năm thứ j Trong trường hợp này chuẩn nghèo được lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và nó gắn rất chặc với tốc độ tăng thu nhập của dân cư, ít tốn kém kinh phí vì có thể sử dụng số liệu có sẵn, các địa phương cũng tự tính được chuẩn nghèo của mình
1.1.1.2 Nguyên nhân ảnh hưởng đến đói nghèo
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu trung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguồn lực hạn chế và nghèo nàn
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục
Trang 16nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói
Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất sản xuất Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn Đa số người nghèo lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương pháp sản xuất truyền thống, thiếu
cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn Do vẫn thực hiện theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó
Bên cạnh đó, người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới Một mặt, do không có tài sản thế chấp, những người nghèo, phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn
Bên cạnh đó, việc thiếu các thông tin, đặc biệt là các thông tin về pháp luật, chính sách và thị trường, đã làm cho người nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn
Thứ hai, trình độ học vấn thấp
Những người nghèo phần lớn là những người có trình độ học vấn thấp,
ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái không những của thế hệ hiện tại mà
Trang 17cả thế hệ trong tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố
ảnh hưởng khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm
cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoát nghèo Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên phần lớn số
người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp
Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn
và ổn định hơn
Thứ ba, các nguyên nhân về nhân khẩu
Quy mô hộ gia đình là "mẫu số" quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Đông con là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khỏe sinh sản Tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp, tỷ lệ nam giới nhận thức đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng các biện pháp tránh thai chưa cao Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh,
an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế
Tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực
về lao động rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ
Thứ tư, bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào
tình trạng nghèo đói trầm trọng
Bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải
Trang 18chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho việc khám, chữa bệnh, kể cả các chi phí trực tiếp và gián tiếp Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo và đẩy họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng càng
có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòng đói nghèo Trong khi đó khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, các chương trình y tế ) của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị mắc bệnh của họ
Thứ năm, sự kết hợp xã hội trong phát triển kinh tế
Sự kết hợp xã hội trong phát triển kinh tế, được thể hiện ở đường lối chính sách phát triển và tổ chức thực hiện kinh tế ở mỗi quốc gia Nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế để có nhiều lợi nhuận mà không quan tâm
đến giải quyết các vấn đề xã hội thì bộ phận dân cư đói nghèo ngày càng tăng
Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến giải quyết vấn đề xoá đói, giảm nghèo để thực hiện công bằng xã hội bằng cách đi vay nước ngoài để nâng cao mức tiêu dùng cho dân mà không coi trọng đầu tư phát triển kinh tế thì không thể thực hiện được mục tiêu xoá đói, giảm nghèo từ thực tiễn thế giới, Đảng ta chủ trương: mỗi bước tăng trưởng kinh tế phải thực hiện tiến bộ công bằng xã hội
và khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với thực hiện xoá đói, giảm nghèo
1.1.2 Mối quan hệ giữa xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế -
xã hội ở nông thôn nước ta
1.1.2.1 Xóa đói, giảm nghèo là yêu cầu cấp thiết để phát triển kinh tế
- xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay
Đói nghèo và lạc hậu thường đi liền nhau, là xiềng xích trói buộc người
nghèo, vùng nghèo, nước nghèo, là một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay mà cộng đồng xã hội phải cùng hợp sức để giải quyết Xóa đói, giảm nghèo, không phải chỉ là một giải pháp tình thế, không phải là một vấn đề thuần túy, mà là một chương trình trong toàn bộ chiến lược phát triển của đất nước Thực hiện xoá đói, giảm nghèo không chỉ bằng cách tăng trưởng kinh
Trang 19tế, mà còn phải thực hiện công bằng xã hội Về thực chất, nó nằm trong tiến trình cải tạo sâu sắc về mọi mặt đối với toàn bộ xã hội Nếu nói đói nghèo là lực cản của phát triển; thì xoá đói, giảm nghèo là con đường phá vỡ lực cản
đó, tạo tiền đề cho sự phát triển
trọng tâm trước mắt, bởi vì sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới luôn luôn đặt ra nhiệm vụ: mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước cải thiện đời sống của nhân dân; chính vì thế, đây không chỉ là việc thực hiện
truyền thống, đạo lý của dân tộc “thương người như thể thương thân” mà còn
là nhiệm vụ để bảo đảm ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Xóa đói, giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo Xóa đói, giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn
là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn
“cất cánh”
Đói nghèo liên quan toàn bộ các mối quan hệ kinh tế, xã hội, nếu không
giải quyết vấn đề đói nghèo sẽ nảy sinh các hiện tượng gây mất ổn định xã hội
ảnh hưởng xấu tới chính trị Phân hoá giàu, nghèo đến một mức độ nào đó, sẽ
trở thành phân hoá giai cấp, xung đột xã hội nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa Ngược lại, nếu không ổn định chính trị xã hội thì xã hội trở nên rối loạn, khủng hoảng Do đó mọi kế hoạch phát triển kinh tế bị phá vỡ Mặt khác, bản thân sự đói nghèo đã bao hàm nội dung kinh tế Vì vậy xoá đói, giảm nghèo nhằm ổn định, phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.2 Phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện để thực hiện xoá đói, giảm nghèo bền vững ở nông thôn
Trang 20Nền kinh tế tăng trưởng cao là để giảm nhanh mức nghèo đói Thực tiễn những năm vừa qua đã chứng minh rằng, nhờ kinh tế tăng trưởng cao Nhà nước có sức mạnh vật chất để hình thành và triển khai các chương trình
hỗ trợ vật chất, tài chính và đầu tư cho các xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản Người nghèo và cộng đồng nghèo nhờ đó có cơ hội vươn lên thoát khỏi đói nghèo Tăng trưởng kinh tế là điều kiện quan trọng để xóa đói, giảm nghèo trên quy mô rộng; không có tăng trưởng mà chỉ thực hiện các chương trình tái phân phối hoặc các biện pháp giảm nghèo truyền thống thì tác dụng không lớn
Tăng trưởng trên diện rộng với chất lượng cao và bền vững, trước hết tập trung chuyển dịch cơ cấu và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp phát triển ngành nghề, tạo cơ hội nhiều hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, nhằm tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, tăng thu nhập cho người nghèo
Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế tăng trưởng bước đầu đã tạo việc làm, nguồn vốn và cơ hội vươn lên cho người nghèo Cụ thể hàng loạt các chính sách quốc gia về giải quyết việc làm và xoá
đói giảm nghèo được ban hành và hoàn thiện, cùng với đó là các chương trình
hành động cụ thể, có thể kể đến các chương trình điển hình như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở những xã đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa (chương trình 135); Chương trình phủ xanh đất trống, đồi trọc (chương trình 137) với mục tiêu phát triển rừng, tạo thêm việc làm cho lao
động nông thôn, định canh, định cư cho người dân miền núi trên cơ sở nông -
lâm kết hợp; Chương trình quốc gia xúc tiến việc làm (chương trình 120) với mục tiêu là xúc tiến việc làm thông qua cung cấp các khoản vay lãi suất thấp
để người lao động tự tạo việc làm mới và hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp; Thành
lập quỹ xoá đói, giảm nghèo, ở các địa phương cùng rất nhiều các chương trình, dự án hỗ trợ về nước sạch và vệ sinh môi trường, dân số, dinh dưỡng nâng cao nhận thức, kỹ năng, tính năng động, năng lực lựa chọn cho người
Trang 21dân theo phương châm “cho người nghèo chiếc cần câu để họ tự câu lấy cá”, cứu trợ họ để họ cứu trợ mình bằng chính năng lực của mình Với phương châm chỉ đạo và những hành động cụ thể, trong những năm qua mục tiêu xoá
đói, giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần thực hiện mục tiêu
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua
là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn tới mức giảm nghèo Việt Nam đã
đạt được những thành tích giảm nghèo đói rất đa dạng và trên diện rộng Tuy
nhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo
Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi; các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, thu hút nhiều vốn; chưa chú trọng
đầu tư các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa chú ý khuyến
khích kịp thời phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhiều chính sách trợ cấp (lãi suất tín dụng, trợ giá, trợ cước ) không đúng đối tượng làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thành thị trường nông thôn, thị trường ở những vùng sâu, vùng xa
Cải cách các doanh nghiệp nhà nước và các khó khăn về tài chính của
các doanh nghiệp nhà nước đã dẫn tới nhiều công nhân bị mất việc đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói Phần lớn
số người này là phụ nữ, người có trình độ học vấn thấp và người lớn tuổi
Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
tự do hóa thương mại tạo ra những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả
Trang 22năng tạo việc làm chưa được quan tâm và tạo cơ hội phát triển Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp, và năng lực sản xuất hạn chế đã làm không ít các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản và đẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, nghèo túng
Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn thiếu và yếu kém Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn Vốn đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động
Thứ hai, sự đói nghèo, lạc hậu kém phát triển chẳng những làm cho lực
lượng sản xuất được phân bố không phát huy tác dụng, mà còn không có cơ
sở kinh tế để tồn tại và sẽ trở thành gánh nặng cho sự phát triển kinh tế của các vùng Nghèo đói đang cản trở, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, một thực tế đáng quan tâm là những hộ nghèo tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên cao hơn hộ giàu, do đó dẫn tới việc thiếu thốn nhiều mặt, như: dinh dưỡng, chăm sóc y tế, giáo dục,
Vấn đề việc làm, xoá đói, giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần mà là vấn đề xã hội hết sức to lớn và phức tạp Do đó, giải quyết tốt vấn
đề việc làm là cách đem lại thu nhập chính đáng, nhằm giải quyết đời sống
kinh tế và văn hoá của mỗi cá nhân, gia đình, cho nên tác động tích cực đến
đời sống xã hội; ngược lại những hộ nghèo do đông con ít người làm, hoặc
nhiều lao động dư thừa không có công ăn việc làm, dẫn đến tình hình an ninh trật tự thêm phức tạp, người xưa có câu “nhàn cư vi bất thiện” Nghèo đói cùng với tình trạng thất nghiệp là một trong những nguyên nhân gây ra tình hình di dân tự do ra thành phố, đây là những vấn đề nan giải, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định xã hội
Thứ ba, trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách thực hiện xoá đói, giảm nghèo như thực thi một chiến lược phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn; xây dựng chiến lược phát triển
Trang 23cho từng vùng, miền; đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng; có chương trình quốc gia về lao động và việc làm; ưu tiên tín dụng, các nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nói chung, xoá đói, giảm nghèo nói riêng,
Để thực hiện tốt việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế
- xã hội, thì nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo phải được đặt thành một bộ phận của chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội từ Trung ương đến cơ sở Công tác xóa đói giảm nghèo phải được quan tâm ngay từ khi xây dựng chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hàng năm, coi đó là một nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước đối với công tác xóa đói, giảm nghèo
Thứ tư, để tổ chức quản lý tốt việc kết hợp xóa đói, giảm nghèo với
phát triển kinh tế - xã hội cần nhận thức đúng, có cách nhìn biện chứng về mối quan hệ này Công tác xoá đói, giảm nghèo là một trong những mục tiêu của tăng trưởng (cả trên góc độ xã hội và kinh tế), đồng thời cũng là một điều kiện (tiền đề) cho tăng trưởng nhanh và bền vững Trên phương diện nào đó, xét về ngắn hạn, khi phân phối một phần đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương trình xóa đói, giảm nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế
có thể bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện về dài hạn thì kết quả xóa
đói, giảm nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trưởng nhanh và bền vững; ngược lại,
nếu nhận thức phiến diện thì việc kết hợp không đạt hiệu quả
1.2 KINH NGHIỆM KẾT HỢP XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở MỘT SỐ TỈNH
1.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai
Từ năm 2004, tỉnh Lào Cai bắt đầu được thử điểm thực hiện các mô hình xoá đói giảm nghèo theo nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Với nhận thức: triển khai xây dựng và thực hiện mô hình xoá đói giảm nghèo là sự nghiên cứu, thử nghiệm tìm ra những phương cách mới phù hợp,
Trang 24hiệu quả hơn để giảm nghèo nhanh và bền vững, từ đó làm tiền đề để nhân rộng ra các địa bàn có đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tương đồng Chính vì vậy đã lựa chọn hướng đầu tư nghiên cứu thử nghiệm các mô hình xoá đói giảm nghèo là: phát huy những thế mạnh về tự nhiên và khai thác các nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên cơ sở giải quyết hài hoà lợi ích của các đối tượng cùng
tham gia
Trong thời gian 5 năm (2006 - 2010), trên địa bàn tỉnh đã xây dựng và
mở rộng lên 7 mô hình với tổng số 455 hộ nghèo tham gia, đó là mô hình ở các xã: Nấm Lư huyện Mường Khương, Cốc Mỳ huyện Bát Xát, Nậm Dạng huyện Văn Bàn, Sa Pả huyện Sa Pa, Cốc Lầu huyện Bắc Hà, Sơn Hà huyện Bảo Thắng và Xuân Hòa huyện Bảo Yên Tổng kinh phí đã đầu tư cho các mô hình là 3.316, 9 triệu đồng, trong đó: đầu tư trực tiếp hỗ trợ người nghèo là 708,02 triệu đồng (chiếm 21,35%), đầu tư cho vay là 1.975 triệu đồng (chiếm 60%), còn lại là chi cho công tác tập huấn và quản lý của các cấp
Từ việc nghiên cứu, thực hiện thí điểm các mô hình xóa đói giảm
nghèo có thể đánh giá và tổng kết rút ra một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, các mô hình đều đặt lợi ích của người nghèo lên hàng đầu
Các hộ nghèo đều được cùng tham gia trong quá trình khảo sát, bàn bạc như việc chọn lựa, đăng ký loại hình sản xuất của hộ, mức lãi suất vốn vay, việc
sử dụng tiền lãi thu được, Từ đó giúp cho họ mạnh dạn hơn, tự tin hơn và cảm thấy mình được làm chủ quá trình sản xuất, khơi dậy được tính sáng tạo
và tinh thần trách nhiệm đối với những quyết định của mình; được vay vốn ưu
đãi với 60% tổng số vốn đầu tư của dự án dành cho tín dụng ưu đãi, bình quân
mỗi hộ được vay thêm 5,4 triệu đồng; được hỗ trợ xây dựng củng cố chuồng trại chăn nuôi; được tham gia tập huấn khuyến nông, tư vấn hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên, tham gia các buổi đối thoại với với các đối tượng khác nhằm trao đổi những kinh nghiệm làm ăn, cách làm hay của các hộ khá và giàu…
Trang 25Thứ hai, vấn đề lợi ích của các lực lượng tham gia cùng được quan tâm
gắn liền với trách nhiệm Các hộ khá, giàu tham gia dự án với vai trò đầu tàu,
có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ các hộ nghèo về kinh nghiệm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, Các hộ này cũng được hưởng lợi bình đẳng với các hộ nghèo về vốn vay ưu đãi, tập huấn khuyến nông, chăm sóc và tư vấn thú y, Lực lượng khuyến nông viên, thú y viên, cán bộ chuyên trách ở cấp thôn, xã được trợ cấp thêm kinh phí của dự án để thực hiện các hoạt động quản lý, theo dõi các hợp
đồng trách nhiệm được ký kết giữa Ban quản lý dự án với người tham gia dự
án Chính quyền, các đoàn thể cấp xã, cấp huyện tham gia quản lý các dự án
mô hình đều được hỗ trợ thêm một khoản kinh phí chiếm từ (2,5 – 3,5)% tổng kinh phí đầu tư của dự án để sử dụng chi tiêu phục vụ cho các hoạt động tập huấn, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện dự án Bên cạnh đó người dân trên địa bàn cũng được hưởng lợi từ các hoạt động: thúc đẩy sản xuất hàng hoá của dự án; tư vấn và trợ giúp kỹ thuật của lực lượng khuyến nông, thú y viên của mô hình và hưởng lợi từ các sản phẩm do các hộ trong
mô hình sản xuất ra như con giống, lương thực, thực phẩm tại chỗ tăng thêm
Thứ ba, nguồn nhân lực tại chỗ được chú ý khai thác đã phát huy hiệu
quả tích cực Từ việc đan xen giữa hộ khá, giàu và hộ nghèo trong mô hình đã tạo thêm được nguồn lực, kiến thức và kinh nghiệm thực hiện dự án Chính sự gần gũi giữa các hộ khá, giàu và hộ nghèo đã giúp các hộ nghèo học hỏi được kinh nghiệm làm ăn của các hộ khá, giàu, đồng thời cũng khai thác được nhiều sự giúp đỡ trực tiếp khác của các hộ khá, giàu cho các hộ nghèo
Việc sử dụng trưởng thôn, bản làm khuyến nông viên thôn bản trong các mô hình đã nhanh chóng mang lại hiệu quả trực tiếp, do họ vừa là người
đi đầu, gương mẫu trong sản xuất ở thôn bản đó, vừa là người nắm rõ được
tâm tư nguyện vọng của từng hộ dân, thông thạo phong tục tập quán và khắc phục ngay được những rào cản về ngôn ngữ Các mô hình đều lựa chọn các loại hình sản xuất đa dạng để có thể tận dụng sức lao động phổ thông và thời
Trang 26gian nhàn rỗi của hộ nghèo, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình tham gia dự án Kết quả bình quân ngày công lao động của các hộ gia
đình tham gia dự án đều tăng từ (7 -10)% sau mỗi năm, tạo thu thu nhập ổn định, năm sau cao hơn năm trước để giảm nghèo và thoát nghèo bền vững
1.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lạng Sơn
Sau nhiều năm triển khai chương trình xóa đói giảm nghèo ở các huyện miền núi, kinh nghiệm thực tiễn của tỉnh Lạng Sơn cho thấy, giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số bằng cách đưa cho “con cá” và cả “cái cần câu” thì hiệu quả cũng chỉ nửa vời Điều quan trọng hơn cả là địa phương phải huy động tổng hợp các nguồn lực để có thể đỡ đầu từng bản, làng và hướng dẫn từng gia đình cách thức làm ăn
Theo số liệu điều tra của tỉnh Lạng Sơn, vào thời điểm cuối năm 2008,
tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn chiếm tới 29,07% (tương đương 44.000 hộ), tập trung ở 61 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn Trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, vốn đầu tư cho miền núi chủ yếu trông chờ vào ngân sách khiến cho suốt một thời gian dài triển khai các chính sách xóa đói giảm nghèo, khoảng cách giữa miền núi với miền xuôi ở Lạng Sơn chưa thu hẹp
được
Sau nhiều đợt khảo sát thực tế, cuối năm 2008, Lạng Sơn quyết định phải thay đổi phương pháp chỉ đạo, điều hành thông qua kết hợp lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư cho miền núi cùng với nguồn lực của địa phương, tập trung vốn hoàn thành dứt điểm từng dự án, cuốn chiếu theo địa bàn nhằm khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, không đồng bộ, kéo dài thời gian, hạng mục sau vừa làm xong thì hạng mục trước đã hư hỏng, xuống cấp
Theo đó, Tỉnh ủy Lạng Sơn chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương thực hiện xoá đói, giảm nghèo bằng cách phân công các thành viên trong cấp ủy theo dõi, kiểm tra, đôn đốc ở từng cụm xã Đồng thời, giao trách
Trang 27nhiệm cụ thể cho từng cán bộ, đảng viên, cho mỗi đơn vị Các cơ quan, đơn
vị, tổ chức xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo theo “thế mạnh” của mình Ví dụ Hội Phụ
nữ phối hợp với Phòng Kinh tế, Trạm Khuyến nông mở các lớp bồi dưỡng chuyển giao khoa học kỹ thuật, tổ chức các nhóm trao đổi kinh nghiệm làm
ăn, kết hợp với việc tuyên truyền về công tác dân số kế hoạch hoá gia đình,
giáo dục trẻ em cho chị em phụ nữ Hội Nông dân tăng cường vận động hội viên phát triển kinh tế gia đình, đầu tư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi mùa vụ cơ cấu cây trồng Uỷ ban mặt trận tổ quốc và các phường, xã tổ chức tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân hảo tâm
đóng góp tiền của, vật chất để hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở, giếng nước
sạch, thực hiện chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát
Có thể nói, cho đến nay, chương trình xoá đói, giảm nghèo của tỉnh Lạng Sơn đã đi vào chiều sâu và thu được kết quả khả quan với gần 18.000 hộ thoát khỏi ngưỡng đói nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo đến nay (tiêu chí cũ) xuống còn 17,85% Bộ mặt vùng nông thôn miền núi đã thay đổi rõ rệt điện-đường-trường-trạm đều đã được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh
Tại Kỳ họp thứ 18 HĐND tỉnh khoá XV vừa qua, HĐND tỉnh Lạng Sơn đã thông qua nghị quyết về việc tiếp tục thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn toàn tỉnh Đặc biệt, tỉnh sẽ tăng cường đầu tư cơ sở
hạ tầng cho những vùng khó khăn; giảm bớt thủ tục hành chính tạo thuận lợn cho hộ nghèo vay vốn sản xuất Đây cũng là giải pháp then chốt để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững
Trang 28
Chương 2 THỰC TRẠNG KẾT HỢP XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐẠI TỪ -TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÓI
NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN ĐẠI TỪ
2.1.1 Những đặc đỉểm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
* Vị trí địa lý:
Đại từ là Huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên,
cách Thành Phố Thái Nguyên 25 Km, phía Bắc giáp huyện Định Hoá; Phía nam giáp huyện Phổ Yên và Thành Phố Thái Nguyên; Phía đông giáp huyện Phú Lương; Phía tây bắc và đông nam giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú
Thọ
Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh: 31 xã, thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn Huyện là 57.790 ha và 158.721 khẩu, có 8 dân tộc anh em cùng chung sống: Kinh, tày, Nùng, Sán chay, Dao, Sán dìu, Hoa, Ngái v.v ; Chiếm 16,58% về diện tích, 16,12% dân số cả tỉnh Thái Nguyên Mật độ dân số bình quân 274,65 người/km2
Là Huyện có diện tích lúa và diện tích chè lớn nhất Tỉnh ( Lúa 12.500
ha, chè trên 5.000 ha), Đại Từ còn là nơi có khu du lịch Hồ Núi Cốc được cả nước biết đến, đồng thời cũng là Huyện có truyền thống cách mạng yêu nước:
Có 169 điểm di tích lịch sử và danh thắng Là đơn vị được Nhà nước hai lần
phong tặng danh hiệu anh hùng Lực lượng vũ trang
* Điều kiện địa hình
- Về đồi núi: Do vị trí địa lý của Huyện, Đại Từ được bao bọc xung
quanh bởi dãy núi:
+Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam đảo ngăn cách giữa Huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m
Trang 29+ Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa
+ Phía đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300 m
+ Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam
- Sông ngòi thuỷ văn:
+ Sông ngòi: Hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống theo hướng Bắc Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2km Hệ thống các suối, khe như suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê v.v cũng là nguồn nước
quan trong cho đời sống và trong sản xuất của Huyện
+ Hồ đập: Hồ núi Cốc lớn nhất Tỉnh với diện tích mặt nước 769 ha, vừa
là địa điểm du lịch nổi tiếng, vừa là nơi cung cấp nước cho các Huyện Phổ Yên, Phú Bình, Sông Công, Thành phố Thái Nguyên và một phần cho tỉnh Bắc Giang Ngoài ra còn có các hồ: Phượng Hoàng, Đoàn Uỷ, Vai Miếu, Đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Lục Ba, Đức Lương với dung lượng nước
tưới bình quân từ 40 - 50 ha mỗi đập và từ 180 - 500 ha mỗi Hồ
+ Thuỷ văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại Từ thường có lượng mưa lớn nhất Tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800mm - 2.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp của Huyện ( đặc biệt là cây chè)
* Điều kiện khí hậu thời tiết: Do mưa nhiều khí hậu thường ẩm ướt
( là
miền nhiệt độ phù hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển)
* Về đất đai thổ nhưỡng: Tổng diện tích tự nhiên 57.848 ha Trong
đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%, đất Lâm nghiệp chiếm 48,43%; Đất
chuyên dùng 10,7%; Đất thổ cư 3,4% Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào
các mục đích là 93,8%, còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chưa sử dụng
* Về tài nguyên - khoáng sản:
- Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp 28.020 ha, trong đó rừng
tự nhiên là 16.022 ha và rừng trồng từ 3 năm trở lên là 11.000 ha Chủ yếu là
Trang 30rừng phòng hộ, diện tích rừng kinh doanh không còn hoặc còn rất ít vì những
năm trước đây đã bị khai thác bừa bãi và tàn phá để làm nương rẫy
- Tài nguyên khoáng sản: Đại Từ được thiên nhiên ưu đãi phân bổ trên
địa bàn nhiều tài nguyên khoáng sản nhất Tỉnh, 15/31 xã, thị trấn có mỏ và
điểm quặng Được chia ra làm 4 nhóm quặng chủ yếu sau:
+ Nhóm khoáng sản là nguyên liệu cháy: Chủ yếu là than nằm ở 8 xã của Huyện: Yên Lãng, Hà Thượng, Phục Linh, Na Mao, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê Có 3 mỏ lớn thuộc Trung ương quản lý và khai thác: Mỏ Núi Hồng, Khánh Hoà, Bắc làng Cẩm Sản lượng khai thác hàng năm từ 10 đến 20
nghìn tấn/ năm
+ Nhóm khoáng sản kim loại:
Nhóm kim loại màu: Chủ yếu là thiếc và Vônfram Mỏ thiếc Hà Thượng lớn nhất mới được khai thác từ năm 1988, có trữ lượng khoảng 13 nghìn tấn, mỏ Vonfram ở khu vực đá liền có trữ lượng lớn khoảng 28 nghìn tấn Ngoài các mỏ chính trên quặng thiếc còn nằm rải rác ở 9 xã khác trong Huyện như: Yên Lãng, Phú Xuyên, La Bằng, Hùng Sơn, tân Thái, Văn Yên,
Phục Linh, Tân Linh, Cù vân
Nhóm kim loại đen: Chủ yếu là Titan, sắt nằm rải rác ở các điểm thuộc các xã phía Bắc của Huyện như Khôi Kỳ, Phú Lạc trữ lượng không lớn lại
phân tán
Nhóm khoáng sản phi kim loại: pyrit, barit, nằm ở rải rác các xã trong
Huyện, trữ lượng nhỏ, phân tán
+ Khoáng sản và vật liệu xây dựng:
Đại Từ là vùng có mỏ đất sét lớn nhất tỉnh ở xã Phú Lạc, ngoài ra còn
có nguồn đá cát sỏi có thể khai thác quanh năm ở dọc theo các con sông Công, bãi bồi của các dòng chảy phục vụ vật liệu xây dựng tại chỗ của
Huyện
Trang 31* Về du lịch: Khu du lịch Hồ Núi Cốc với câu chuyện huyền thoại về
Nàng công chàng Cốc đã thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước, nằm ở phía Tây nam của Huyện, đây cũng là điểm xuất phát đi thăm khu di tích trong Huyện như: Núi Văn, Núi Võ, khu rừng Quốc gia Tam Đảo, di tích lịch sử 27/7 v.v Hiện đã hoàn thành xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch sinh thái sườn đông dãy Tam Đảo, hoàn thành quy hoạch chi tiết khu
du lịch chùa Tây Trúc xã Quân Chu, Cửa Tử xã Hoàng Nông, quy hoạch chi tiết khu di tích lịch sử Lưu Nhân Chú nhìn chung tiềm năng phát triển dịch
vụ du lịch ở Đại Từ đã và đang được quan tâm phát triển, đây là tiềm năng lớn của Huyện cũng như của Tỉnh Thái Nguyên
2.1.2 Những đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến đói nghèo và
sự phát triển ở huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
* Nguồn nhân lực: Dân số Đại Từ hiện có 158.721 nhân khẩu (Trong
đó dân số nông nghiệp chiếm 94%; Thành thị: 6%) Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 56,5% Lao động làm trong các Ngành nghề kinh tế chiếm 90,8%
(Trong đó: Nông lâm nghiệp thuỷ sản chiếm 94,1%; Công nghiệp xây dựng
chiếm 4,1%; Dịch vụ chiếm 1,2%)
* Kết cấu hạ tầng:
- Hệ thống cung cấp điện: Huyện Đại Từ có mạng lưới điện Quốc gia
kéo đến 31 xã, thị trấn
- Giao thông: Đại Từ có mật độ đường giao thông khá cao so với các
Huyện trong Tỉnh Tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn khoảng gần 600km:
+ Đường Quốc lộ 379, chạy dài suốt Huyện, dài 32km, đã được dải nhựa
+ Đường Tỉnh quản lý: Gồm 3 tuyến đường: Đán đi Hồ núi Cốc; Đại
Từ đi Phổ Yên; Khuôn Ngàn đi Minh Tiến -Định Hoá; Phú Lạc đi Đu- ôn
Lương Phú Lương
Trang 32Còn lại là các tuyến đường đá, cấp phối thuộc Huyện và xã quản lý, chủ yếu là đường liên xã, liên thôn, xóm; Cả 31 xã, thị trấn đã có đường ô tô đến trung tâm xã, Song do đặc điểm của Huyện miền núi, hệ thống giao thông còn gây ách tắc về mùa mưa lũ, do vậy chưa đáp ứng cho sự phát triẻn và giao lưu
hàng hoá trên địa bàn
+ Tuyến đường sắt Quán triều - Núi Hồng dài 33,5 km là một thuận lợn lớn trong việc phục vụ sản xuất và giao lưu hàng hoá (Chủ yếu là vận chuyển
than)
Nhìn chung, hệ thống giao thông của Huyện tương đối thuận lợi, song
về chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu (Chủ yếu là đường đá cấp phối, đất), cần phải có kế hoạch từng bước đầu tư nâng cấp hệ thống cầu, đường liên Huyện,
liên xã, xóm trong những năm tới
- Thông tin liên lạc: Toàn Huyện đã được phủ sóng truyền thanh, truyền hình, 31/31 xã, thị trấn có điện thoại; Hệ thống giao thông thuận tiện là
điều kiện thuận lợi cho Bưu điện phục vụ các thông tin, báo trí đến các xã,
xóm trong kịp thời trong ngày
2.1.3.Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của Huyện
* Những thuận lợi
Đại Từ là một huyện có những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và xã
hội để thương mại và du lịch phát triển Với vị trí địa lý cách Trung tâm thành phố Thái Nguyên 25 km, phía bắc giáp huyện Định Hoá, phía nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía đông giáp huyện Phú Lương, phía tây bắc, đông nam giáp tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ, lại là huyện có nhiều tài nguyên khoáng sản Bên cạnh đó khí hậu thuận lợi đã tạo ra những
điều kiện để huyện phát triển đa dạng các giống cây trồng, vật nuôi đặc biệt là
cây chè đã tạo nên sản phẩm chè nổi tiếng như chè La Bằng, Khuân Gà (Hùng
Sơn)…
Trang 33Tiềm năng về du lịch cũng là một lợi thế để phát triển ngành dịch vụ thương mại trên địa bàn, trên cơ sở Hồ Núi Cốc kết hợp với các điểm di tích lịch sử cách mạng nối liền với khu ATK Tân Trào- Tuyên Quang và Định Hoá Với dân số toàn huyện trên 16,5 vạn người, đây là một thị trường có sức
hút lớn đối với các doanh nghiệp
Khu du lịch Hồ Núi Cốc đã thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước, nằm ở phía Tây Nam của Huyện, đây cũng là điểm xuất phát đi thăm khu di tích trong Huyện như: Núi Văn, Núi Võ, khu rừng Quốc gia Tam Đảo,
di tích lịch sử 27/7 v.v Năm 2006, huyện đã hoàn thành xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái sườn đông dãy Tam Đảo, hoàn thành quy hoạch chi tiết khu du lịch chùa Tây Trúc xã Quân Chu, Cửa Tử xã Hoàng Nông, quy hoạch chi tiết khu di tích lịch sử Lưu Nhân Chú
Những thuận lợi trên đã tạo điều kiện cho Thái Nguyên tiềm năng lớn
để đẩy mạnh phát triển kinh tế, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói,
giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân
* Những khó khăn:
Huyện Đại Từ không có lợi thế về vốn, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực có kỹ thuật cao; kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập, Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp trước sự phát triển nhanh của quá trình đô thị hoá… Kinh tế tuy có tăng trưởng khá, chuyển dịch đúng hướng nhưng còn những yếu tố chưa ổn định và vững chắc
Việc quy hoạch và xây dựng đô thị, triển khai thực hiện quy hoạch còn chậm, chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Chương trình nhà ở và phát triển mạng lưới đô thị còn chậm, điện phục vụ sản xuất còn ít Hệ thống cấp nước tập trung phát triển chậm, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, khu dân cư tập trung, khu công nghiệp, chưa được đầu tư đúng mức
Một số vấn đề xã hội bức xúc như tạo việc làm cho người cho người lao
động, nhà ở cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, thực hiện còn chậm