1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt

65 431 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 438,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Thông qua việc xác định tỷ lệ tiêu hóa, khả năng thu nhận chất xanh, tỷ lệ cỏ được sử dụng và ảnh hưởng của ba loại cỏ P.atrattum, B.. Việc nghiên cứu và sử dụng cỏ một cách c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MÃ SỐ: B2008-TN03-01

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ GIỐNG CỎ HÒA THẢO

NHẬP NỘI (P ATRATUM, B BRIZANTHA, B DECUMBENS)

TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT

Chủ trì: ThS Từ Trung Kiên Người tham gia: TS Nguyễn Hưng Quang

PGS TS Phan Đình Thắm ThS Trần Thị Hoan

TS Trần Trang Nhung

Thời gian thực hiện: 2008-2009 Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2010

Trang 2

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

Tên đề tài: “Nghiên cứu sử dụng một số giống cỏ hòa thảo nhập nội

(P.atratum, B.brizantha, B.decumbens) trong chăn nuôi bò thịt”

Mã số: B2008- TN03-01

Chủ nhiệm đề tài:

ThS Từ Trung Kiên: DT: 0280 3854 337 Email: tutrungkien@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Thái Nguyên

Cơ quan và cá nhân phối hợp:

- Trung tâm Thực hành Thực nghiệm- Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi-Viên chăn nuôi

- Viên khoa học sự sống- Đại học Thái Nguyên

- Nhà bà Hoàng Thị Liêu- xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên

Cá nhân:

PGS TS Phan Đình Thắm- Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

TS Nguyễn Hưng Quang- Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

TS Trần Trang Nhung- Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

ThS Trần Thị Hoan- Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thời gian thực hiện: 2008-2009

1 Mục tiêu:

Thông qua việc xác định tỷ lệ tiêu hóa, khả năng thu nhận chất xanh, tỷ

lệ cỏ được sử dụng và ảnh hưởng của ba loại cỏ P.atrattum, B brizantha, B decumbens đến sinh trưởng của bò thịt từ đó góp phần phát triển chăn nuôi

động vật nhai lại, đặc biệt là bò thịt tại các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam

2 Nội dung chính

- Phân tích thành phần hóa học của cỏ ở các khoảng cách cắt (KCC hay

tổi cỏ) khác nhau, ở các mức bón đạm và các mức bón đạm, lân, kali khác nhau

Trang 3

- Xác định khối lượng cỏ tươi bò ăn được và tỷ lệ cỏ được sử dụng trong một ngày đêm

- Tính tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ lý thuyết của cỏ

- Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ tươi trên bò thịt

- Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ khô trên bò thịt

3 Kết quả chính đạt được

- Đã xác định dược thành phần hóa học của cỏ

1) Khi tăng dần KCC từ 30 ngày lên 75 ngày thì tỷ lệ VCK, tỷ lệ xơ và khoáng tăng theo tuổi cỏ, còn tỷ lệ protein, lipit, tỷ lệ DXKN giảm dần theo tuổi cỏ Đặc biệt tỷ lệ xơ thường cao trên 44% ở 60 ngày tuổi vì vậy chỉ nên thu cắt khi cỏ trên 30 ngày tuổi và dưới 45 ngày tuổi

Khi tăng mức bón đạm hay tăng cả đạm, lân, kali thì tỷ lệ VCK, xơ, DXKN trong cỏ giảm xuống (bón đầy đủ N.P.K thì mức độ giảm ít hơn so với chỉ bón tăng đạm), còn tỷ lệ protein thô và khoáng tổng số tăng lên (bón đầy đủ N.P.K tăng lớn hơn so với chỉ bón tăng đạm, không tăng lân, kali) Sự giảm hoặc tăng này chưa có dấu hiệu đứng lại ở mức bón đạm cao nhất (60 kg N/ha/lứa)

- Đã xác định được khối lượng cỏ bò ăn được và tỷ lệ cỏ được sử dụng

Khi tăng KCC cỏ từ 30 đến 75 ngày tuổi thì khả năng ăn được và tỷ lệ

VCK của cỏ được sử dụng giảm dần lần lượt là cỏ B brizantha 4,37 xuống 4,14 kg/con và 95 xuống 62%; P atratum từ 4,32 xuống 4,02 kg/con và 95 xuống 66%; B decumbens từ 4,58 xuống 3,76 và 98 xuống 59% Nên thu cắt

cỏ sau 30 ngày và dưới 45 ngày thì tỷ lệ cỏ được sử dụng sẽ cao nhất

- Xác định được thời điểm và lượng phân bón cho tỷ lệ tiêu hóa tốt nhất

Tỷ lệ tiêu hóa VCHC của cỏ giảm đi khi tuổi cỏ tăng lên Ở tuổi cỏ 30 ngày thì tỷ lệ tiêu hóa đạt trên dưới 60%; ở 45 và 60 ngày, đạt trên 50%, còn

ở 75 ngày, chỉ còn dưới 50% Khi bón tăng liều lượng N còn P.K giữ nguyên hay bón tăng đồng thời N.P.K thì tỷ lệ tiêu hóa của cỏ cũng tăng dần nhưng bón tăng đồng thời N.P.K thì tỷ lệ tiêu hóa tăng nhiều hơn so với chưa bón

Trang 4

tăng N, không tăng P.K Ở tất cả các khoảng cách cắt và các mức phân bón

khác nhau đều cho thấy cỏ B brizantha có tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ lớn nhất sau đó là B decumbens và thấp nhất là P atratum

- Xác định được ảnh hưởng của ba loại cỏ tươi tới sinh trưởng của bò

Khi nuôi bò lai sind F1 với ba loại cỏ thí nghiệm (khẩu phần ở mức trung bình) thì bò đều khỏe mạnh, tăng khối lượng tốt đạt từ 12,0 đến 13,4kg

và 400g đến 447g/ngày Ảnh hưởng của cả 3 loại cỏ đến tăng khối lượng của

bò là gần tương đương nhau Tuy nhiên, tăng trọng tuyệt đối của bò được ăn

cỏ B decumbens lớn nhất, đứng thứ hai là bò ăn cỏ B brizantha, thấp nhất là

bò được ăn cỏ P atratum

- Xác định được ảnh hưởng của cỏ khô tới sinh trưởng của bò

Khi sử dụng cỏ B decumbens và B brizantha ở dạng khô để chăn nuôi

bò thịt, bò đều khỏe mạnh và tăng khối lượng tốt, tăng khối lượng trung bình/tháng lần lượt là 11,15 và 10,75kg/tháng; 358g/ngày và 372g/ngày

Có thể khẳng định các cỏ nói trên ở dạng cỏ tươi hay khô đều đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của bò thịt

Trang 5

SUMMARY

Research title: Research and used some of imported grass species (P atratum,

B brizantha, B decumbens) in fattening beef cattles

Code number: B2008- TN03-01

Implementating institution: Thai Nguyen University of Agricultural and

Forestry (TUAF), Thai Nguyen, Vietnam

Colalabrators:

Pha Dinh Tham, The Faculty of animal sciences and veterrynary, TUAF

Tran Trang Nhung, The Faculty of animal sciences and veterrynary, TUAF Tran Thi Hoan, The Faculty of animal sciences and veterrynary, TUAF

Duration: From 2008- 2009

1 Objectives: Through the rate of digestion, consumed of fresh grass, the rate of grass

used and the effect of three grass species P atratum, B brizantha, B decumbens on performent of steer, base on the result to fattening cattles, espcielly to developing cattles in a midland and mountainous of north region in Viet Nam

Calculate the rate of degest organic grass

To appreciate effected of fresh grass on fattening beef cattles

To appreciate effected of hay grass on fattening beef cattles

3 Achievement

Chemical composition of researched grass

The result of study show that: dry matter, crude fiber and total ash of harvesting grass are increased and dirirectly proportional to the lenght of harvesting stage from 30 to 75 day On the other side, crude protein, crude

Trang 6

lipit and NFE are indiectly proportion to these Especially when age of grass

60 day, the crude fiber is over 44% We should to harvest over 30 days of age and under 45 days

When increased only nitrogen fertilizer levels and phosphorus, kali constant or increased nitrogen, phosphorus, kali, the rate of dry matter, crude fiber, NFE in grass are reduced (full of N.P.K reducing less than only fertilizer N), but the rate crude protein, total ash are increased (full of N.P.K increasing more than only fertilizer N) The increasing or reducing of chemical coposition non stop at the heightest fertilizer levels of N and N.P.K

To appreciate amount of fresh grass beef cattles consumtion and the rate of grass was used in a day

When increase the cutting of grass interval from 30 to 75 day: amount

of fresh grass beef cattles consumtion and the rate of dry matter are used

reducing as follow: B brizantha from 4,37 to 4,14 kg/animal and from 95 to 62%; P atratum from 4,32 to 4,02 kg/animal and from 95 to 66%; B decumbens from 4,58 to 3,76 kg/animal and from 98 to 59% We should to

harvest over 30 days of age and under 45 days to achive the heightest rate of grass used

Calculate the rate of degest organic grass

The rate of organic degestion reduced when increase the cutting of grass interval When age of 30 day, the rate of degest is approximately 60%;

at 45 and 60 day are over 50%, but it is lower when 75 of age (under 50%) When increased only nitrogen fertilizer levels and phosphorus, kali constant

or increased nitrogen, phosphorus, kali, the rate of degest grass are increased but (full of N.P.K increasing more than only fertilizer N and P.K constant) At

all of cutting interval and different fertilizer levels show that: B brizantha have the heighest of organic degestion, followed by B decumbens and the lowest was P atratum

Trang 7

To appreciate effected of fresh grass on fattening beef cattles

Fattening Laisind F1 beef cattles with three studys grass (used normal ration), they have a good health, the average liveweight gain from 12,0 to 13,4 kg/month and 400g/day to 447g/day The effect of three grass species to

liveweight gain are agreement But, the highest was B decumbens, followed

by B brizantha and the lowest was P atratum

To appreciate effected of hay grass on fattening beef cattles

When used B brizantha and B decumbens hay to fattening beef cattles,

they have a good health and the average liveweight gain from 11,15 to 10,75 kg/month and 358g/day to 372g/day

To sure that all of grass in study can be used in fresh or hay to fattening beef cattles

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 0

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

4 Điểm mới của đề tài 2

Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thu nhận cỏ, tỷ lệ cỏ được sử dụng và tỷ lệ tiêu hóa của cỏ 3

1.1.2 Một số kết quả nghiên cứu về thức ăn sử dụng cho loài nhai lại 8

1.1.3 Một số thông tin về các giống cỏ trong đề tài 13

Phần 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Thời gian nghiên cứu 19

2.4 Nội dung nghiên cứu 19

2.4.1 Thí nghiệm 1 19

2.4.2 Thí nghiệm 2 19

2.4.3 Thí nghiệm 3 21

2.5 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 24

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 25

Phần 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Thí nghiệm 1: Phân tích thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm 26

3.1.1 Thành phần hóa học của cỏ ở các khoảng cách cắt khác nhau 26

3.1.2 Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón đạm khác nhau 27

3.1.3 Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón N.P.K khác nhau 29

Trang 9

3.2 Thí nghiệm 2: Xác định khối lượng cỏ ăn được/bò/ngày, tỷ lệ cỏ

được sử dụng và tỷ lệ tiêu hóa cỏ lý thuyết 31

3.2.1 Xác định khối lượng cỏ ăn được và tỷ lệ cỏ được sử dụng 31

3.2.2 Kết quả tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ lý thuyết của các cỏ thí nghiệm 33

3.3 Thí nghiệm 3: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ trên bò thịt 36

3.3.1 Thí nghiệm 3a: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ tươi trên bò thịt 37

3.3.2 Ước tính khả năng sản xuất thịt hơi của 1 ha cỏ/năm 40

3.3.3 Thí nghiệm 3b: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ khô trên bò thịt 40

3.3.4 Nhận xét chung về kết quả nghiên cứu của thí nghiệm 3 43

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

1 Kết luận 44

2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thành phần hóa học của cỏ ở các khoảng cách cắt khác nhau 26

Bảng 3.2: Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón đạm khác nhau 28

Bảng 3.3: Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón N.P.K khác nhau 30

Bảng 3.4: Khối lượng cỏ bò ăn được ở các tuổi cỏ khác nhau 31

Bảng 3.5: Tỷ lệ cỏ được sử dụng ở các tuổi cắt khác nhau 32

Bảng 3.6: Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ ở tuổi cắt khác nhau 33

Bảng 3.7: Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ lý thuyết của cỏ ở các mức bón N khác nhau 35

Bảng 3.8: Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ của cỏ ở các mức bón N.P.K khác nhau 36

Bảng 3.9: Khối lượng trung bình của bò ở các kỳ cân 37

Bảng 3.10: Tăng khối lượng trung bình của bò qua các giai đoạn 38

Bảng 3.11: Tiêu thụ cỏ/1 bò và tiêu tốn cỏ cho 1 kg tăng khối lượng 39

Bảng 3.12: Ước tính khả năng sản xuất thịt hơi của 1 ha cỏ/năm 40

Bảng 3.13: Khối lượng của bò ở các kỳ cân 41

Bảng 3.14: Tăng khối lượng của bò ở các giai đoạn 42

Bảng 3.15: Tiêu thụ VCK/bò và tiêu tốn VCK của cỏ khô/ 1 kg tăng khối lượng 43

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KCC : Khoảng cách cắt

VCK : Vật chất khô

TLTH : Tỷ lệ tiêu hóa

DM : Vật chất khô (Dry matter)

NDF : Xơ còn lại sau khi tiêu hóa trong môi trường trung tính ADF : Xơ còn lại sau khi tiêu hóa trong môi trường axit

NE : Năng lượng thuần

UFL : Đơn vị thức ăn tạo sữa

PDI : Tổng lượng protein được tiêu hóa ở ruột

DXKN : Đẫn xuất không đạm

VCHC : Vật chất hữu cơ

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong mấy năm gần đây, chăn nuôi trâu bò đang có xu hướng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, nó đang dần trở thành nghề sản xuất hàng hóa Từ chỗ chăn thả quảng canh là chủ yếu, đang chuyển dần sang hình thức nuôi bán thâm canh

Tuy nhiên, nguồn thức ăn xanh tự nhiên ngày càng cạn kiệt do diện tích chăn thả dần bị thu hẹp nhường chỗ cho các cây trồng khác, bên cạnh đó, do chăn thả bừa bãi, không có kỹ thuật, đã làm cho một số bãi chăn trở thành đất trống, đồi núi trọc, không còn khả năng khai thác dẫn đến tình trạng thiếu thức ăn cho đàn gia súc, đặc biệt là về mùa đông (Nguyễn Thiện, Lê Hoà Bình, 1994) Vì vậy, việc đảm bảo nhu cầu thức ăn xanh chất lượng cao cho chúng đã trở thành vấn đề thời sự

Trong những năm qua, bằng nhiều con đường khác nhau, nước ta đã

nhập hàng trăm giống cây cỏ làm thức ăn cho vật nuôi trong đó có các P atratum,

B decumbens, B brizantha là một số giống cỏ mới được nhập gần đây Tuy

nhiên, nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào nghiên cứu thích nghi và kỹ thuật canh tác Việc nghiên cứu và sử dụng cỏ một cách có hệ thống về khả năng sử dụng, tỷ lệ tiêu hóa và ảnh hưởng của các cỏ nói trên đến khả năng sinh trưởng của gia súc thì chưa được các nhà khoa học trong nước quan tâm

và thử nghiệm

Để góp phần hoàn thiện chương trình nghiên cứu về cỏ trồng nhập ngoại và sử dụng các cỏ nói trên có hiệu quả, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu sử dụng một số giống cỏ hòa thảo nhập nội (P atratum, B brizantha,

B decumbens) trong chăn nuôi bò thịt”

Trang 13

2 Mục đích của đề tài

Thông qua việc xác định khả năng thu nhận, tỷ lệ sử dụng cỏ, tỷ lệ tiêu

hóa hóa cỏ và ảnh hưởng của ba loại cỏ P.atrattum, B brizantha, B decumbens

đến sinh trưởng của bò thịt để đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng cỏ trong chăn nuôi

3 Ý nghĩa của đề tài

4 Điểm mới của đề tài

- Xác định được khả năng thu nhận và tỷ lệ sử dụng của bò thịt trong

một ngày đêm đối với cỏ P atratum, B brizantha, Bdecumbens

- Xác định được tỷ lệ tiêu hóa của ba giống cỏ nói trên

- Xác định được ảnh hưởng của ba loại cỏ nói trên trong khẩu phần ăn đến sinh trưởng của bò thịt

Trang 14

Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thu nhận cỏ, tỷ lệ cỏ được sử dụng và tỷ lệ tiêu hóa của cỏ

- Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thu nhận cỏ

Khi cây thức ăn càng non thì tỷ lệ nước trong cỏ cang cao, tỷ lệ xơ và lignin trong cỏ thấp nên cỏ mềm tính ngon miệng cao, vì vậy gia súc thích ăn

và ăn được với khối lượng lớn Khi tuổi cỏ (KCC) càng cao thì tỷ lệ nước trong cỏ giảm dần và thay vào đó là tỷ lệ vật chất khô tăng lên, tỷ lệ xơ và lignin trong VCK cũng tăng; cỏ trở nên cứng và tính ngon miệng giảm; Do

đó, gia súc thường không thích ăn và lượng thu nhận cỏ của gia súc giảm

Con người hay động vật nói chung đều có xu hướng thu nhận lượng thức ăn đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng và những hoạt động hằng ngày Vì vậy, khối lượng thức ăn thu nhận được trong ngày là khác nhau khi ăn các loại thức ăn khác nhau Để thu nhận đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng, cỏ có tỷ lệ VCK thấp được bò ăn với khối lượng cỏ tươi lớn hơn, còn

cỏ có tỷ lệ VCK cao được bò ăn với khối lượng cỏ ít hơn

Theo Từ Quang Hiển, 2001 [17] thì đất giàu mùn và N.P.K không chua, độ ẩm, nhiệt độ thích hợp cây sinh trưởng tốt, năng suất chất xanh cao,

tỷ lệ xơ thấp còn đất nghèo dinh dưỡng, ẩm độ, nhiệt độ thấp thì cây sinh trưởng kém, năng suất chất xanh thấp, tỷ lệ xơ cao, cây thức ăn xanh thường cứng, gia súc không thích ăn, tỷ lệ tiêu hóa thức ăn thấp

Khi tăng liều lượng phân đạm thường làm giảm hàm lượng xơ trong cỏ Nhưng khi bón đạm tăng thường làm cho cây phát triển tốt và mềm hơn, gia súc thích ăn hơn, nhưng đối với cây trồng (ngô, lúa ) thì dễ đổ hơn khi gặp mưa, gió lớn Theo Rhykerd, C.L., 1973 [77] thì bón đạm ảnh hưởng tới độ ngon miệng và lượng cỏ ăn vào của gia súc Khi không bón đạm và bón ở

Trang 15

mức vừa phải cho đồng cỏ hòa thảo, thì bón tăng lượng đạm sẽ tăng khả năng thu nhận cỏ của động vật Tuy nhiên, không có sự khác nhau về khả năng ăn của gia súc đối với cỏ được bón đạm vừa phải và mức cao (Belesky, D.P., 1983) [51]

Đối với các khẩu phần nghèo dinh dưỡng như sử dụng cỏ khô, rơm khô trong chăn nuôi thì bổ sung một lượng nhỏ thức ăn xanh khoảng 10- 30% tính theo chất khô sé làm tăng khả năng thu nhận thức ăn của gia súc Cụ thể là khi

bổ sung lá của các cây họ đậu có chất lượng cao như cỏ Alfalfa, cây anh đào

(Grilicidia maculata) hoặc cây keo dậu (Leuceana leucocephala) vào các

khẩu phần thức ăn phụ phẩm nhiều xơ không xử lý hoặc được xử lý bằng amoniac đã có tác dụng tốt kích thích gia súc ăn nhiều hơn, tiêu hóa tốt hơn

Romulo, B 1986 [80]

- Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ cỏ được sử dụng

Khi cỏ còn non, cây ít xơ nên mềm gia súc thích ăn nên tỷ lệ cỏ được

sử dụng thường cao Khi càng tăng KCC cỏ đồng nghĩa với cỏ sẽ già dần, tăng tỷ lệ lá già úa ở phần gốc, thân cây bị lignin hóa tăng, đặc biệt là ở phần gốc, hiệu suất quang hợp kém nên giá trị dinh dưỡng giảm dần, vì vậy, khi gia súc ăn thường để lại phần gốc già cứng và các phần lá già úa nên tỷ lệ cỏ được sử dụng thường thấp

Theo Peter M Horme, (2002) [59] thì tỷ lệ protein trong cỏ cũng có

ảnh hưởng đến lượng cỏ thu nhận được, khi cỏ non (tỷ lệ protein trong VCK cao) thì lượng cỏ được thu nhận lớn hơn và ngược lại

Giữa các giống cỏ khác nhau thì tỷ lệ cỏ được sử dụng cũng khác nhau, thông thường các giống cỏ có tỷ lệ xơ nhiều thì gia súc ít ăn hơn vì vậy tỷ lệ cỏ được sử dụng thấp hơn, ngoài ra tỷ lệ cỏ đươc sử dụng còn liên quan đến loại

cỏ có nhiều lông hay cạnh sắc Nếu cỏ nào chứa nhiều lông thô ráp hay cạnh lá quá sắc thì tỷ lệ cỏ được sử dụng cũng giảm Ngoài những yếu tố cơ bản trên thì tỷ lệ thân/lá hay tỷ lệ chất độc, mùi vị của cỏ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ cỏ được sử dụng

Trang 16

- Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêu hóa cỏ

Thức ăn xanh là nguồn thức ăn chủ yếu cho gia súc nhai lại, chúng chứa một lượng lớn hydrat cacbon bao gồm: Tinh bột, các đường hòa tan, cellulose và hemicellulose Thức ăn xanh còn chứa một lượng khá lớn protein, muối khoáng và các vitamin Ngoài ra, thức ăn xanh còn chứa lipit và một số chất khác với hàm lượng thấp

Tuy nhiên, khả năng tiêu hóa thức ăn xanh của gia súc nhai lại lại chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi tỷ lệ cellulose, hemicellulose và mức độ lignin của mỗi loại cỏ ở từng thời điểm cắt khác nhau Thông thường, tỷ lệ cellulose trong thức ăn xanh biến động lớn từ 200- 300g/kg vật chất khô, hàm lượng hemicellulose biến động từ 100- 300g/kg chất khô Khi cây cỏ càng trưởng thành thì thì tỷ lệ này càng tăng và sau đó bị lignin hóa làm giảm khả năng tiêu hóa của gia súc (Bùi Đức Lũng, 1995) [23]

Khản năng tiêu hóa xơ của vi sinh vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau liên quan tới tuổi thực vật, hàm lượng gluxit dễ tiêu trong khẩu phần

Trong các yếu tố thì trước hết phải kể đến mức độ lignin hóa Chất xơ chứa ít hoặc không chứa lignin thì động vật dạ dày đơn cũng như dạ dày kép đều tiêu hoá dễ dàng Vì hàm lượng lignin làm hàng rào ngăn cản về mặt vật

lý phía ngoài tế bào làm cản trở vi sinh vật dạ cỏ và các men của chúng tiếp xúc với hemixenluloza cũng như xenluloza của vách tế bào

Mức tiêu hóa vật chất khô ở loài nhai lại có thể biểu diễn bằng các phương trình sau:

Theo Lewis, 1961 [66] có thể tính theo tỷ lệ lignin như sau

Y= 84,9 - 1,5x Trong đó Y là tỷ lệ tiêu hóa VCK; x là phần trăm (%) lignin thực vật Như vậy, khi hàm lượng lignin tăng 1% thì tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô

bị giảm đi 1,5% Sự tăng tỷ lệ lignin cùng với sự trưởng thành của thực vật có thể làm giảm tỷ lệ tiêu hóa xenluloza xuống 30-50% và khi cỏ khô có 10% lignin sẽ có khoảng 12-18% polysaccarit không được tiêu hóa (Kurilov N.V.,

Trang 17

1979 [21]) Các cây thức ăn, phụ phầm nông nghiệp càng già và thức ăn xơ thô chất lượng thấp thường có vách tế bào có mức độ bị lignin hóa cao với cấu trúc phức tạp thì tỷ lệ tiêu hóa càng thấp

Còn theo Alxeson [17] tính tỷ lệ tiêu hóa theo tỷ lệ xơ trong thức ăn như sau:

Y = 87,6 - 0,81x Trong đó Y: Là TLTH chất hữu cơ (%) của thức ăn; x: tỷ lệ chất xơ trong thức ăn (%)

Như vậy, hàm lượng lignin càng cao thì TLTH của thức ăn càng giảm

và tỷ lệ xơ trong khẩu phần càng cao thì tỷ lệ tiêu hoá các chất hữu cơ trong khẩu phần càng giảm

Khi khẩu phần nhiều xơ, sẽ làm giảm tính ngon miệng, giảm tỷ lệ tiêu hoá các chất Vì vậy, trong khẩu phần của gia súc gia cầm phải cung cấp tỷ lệ

xơ phù hợp: Gà con 3 - 6%; Gà mái 5 - 8%; Lợn 7 - 12%; Trâu bò 30%

Hàm lượng gluxit dễ tiêu (tinh bột, đường) sẽ làm cho khả năng tiêu hóa chất xơ giảm xuống chỉ còn khoảng 13%, quá trình phân giải tinh bột tốt nhất khi pH <6

Khẩu phần giàu gluxit dễ tiêu tạo điều kiện cho sự lên men xảy ra nhanh, lượng axit lactic và axit propionic sinh ra nhiều, trong khi đó lượng nước bọt lại tiết ít làm giảm pH môi trường, ức chế hoạt động của vi khuẩn phân giải xơ Vì vậy, độ pH có vai trò quan trọng trong tác động tới nhóm vi sinh vật phân giải xơ và tinh bột trong dạ cỏ

Ngược lại, thức ăn có nhiều xơ thì gia súc sẽ nhai lại nhiều hơn, nên lượng nước bọt về dạ cỏ nhiều làm pH của dạ cỏ tăng, đây là điều kiện thuận lợi cho các nhóm vi khuẩn phân giải xơ hoạt động Quá trình phân giải xơ trong dạ cỏ thường có hiệu quả cao nhất khi pH > 6,2 (Chenost M.and Kayuli

C 1997) [53]

Theo Vũ Chí Cương, 2004 [11], cho biết thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò thì biến động thành phần dinh dưỡng của cỏ trong năm dẫn đến tỷ lệ tiêu hóa của

Trang 18

cỏ biến động theo Nếu cỏ nào có thành phần dinh dưỡng ít biến động thì tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng cũng ít biến động theo các tháng lấy mẫu, nhưng

tỷ lệ protein trong cỏ thường biến động nhất nên tỷ lệ tiêu hóa protein cũng biến động theo Thông thường giữa các giống cỏ khác nhau thì tỷ lệ tiêu hóa cũng khác nhau Ví dụ: Cỏ voi và cỏ ghine có tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ là trên 60% còn cỏ goatemala thì dưới 60% Các cỏ tự nhiên thường có chất lượng kém hơn xét cả về thành phần hóa học lẫn tỷ lệ tiêu hóa, còn cỏ trồng khi cùng độ tuổi thì giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hóa là cao hơn

Môi trường hệ vi sinh vật dạ cỏ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiêu hóa thức ăn, đặc biệt là chất xơ trong dạ cỏ Những loại thức ăn khác nhau, những khẩu phần khác nhau sẽ làm thay đổi đáng kể môi trường dạ cỏ, từ đó ảnh hưởng tới khả năng tiêu hóa thức ăn

Kết quả nghiên cứu của Playne, 1978 [73] cho thấy tỷ lệ tiêu hóa chất khô của cỏ nhiệt đới chất lượng thấp xác định trên bò cao hơn rất nhiều so với kết quả xác định trên cừu Kawashima và CS, 2007 [63] khi so sánh tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng giữa bò, cừu và dê cho ăn khẩu phần cơ sở là rơm và hạt mạch có bổ sung các nguồn protein khác nhau và cho biết tỷ lệ tiêu hóa xác định trên bò và cừu khác nhau rất lớn khi khẩu phần có tỷ lệ protein thấp nhưng khi hàm lượng protein thô đạt khoảng 10% trở lên thì tỷ lệ tiêu hóa giữa hai loài gia súc lại tương đương nhau

Theo Vũ Chí Cương, 2009 [7] thì ảnh hưởng của giống gia súc đến tỷ

lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn thô dùng cho gia súc nhai lại là khá rõ rêt Loài gia súc có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ tiêu hóa chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơ thô và NDF trong thức ăn thô khô (rơm

ủ ure, cỏ stylo) còn ảnh hưởng của loài đến cỏ voi tươi là không ổn định

Theo Vũ Chí Cương, 2009 [8] thì ảnh hưởng của tuổi tái sinh mùa hè đến năng suất, thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi là khá rõ rệt Tuổi tái sinh ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất, thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dường của cỏ voi Khi tuổi tái sinh càng tăng

Trang 19

thì năng suất chất xanh, chất khô, hàm lượng DM, NDF, ADF, hiệu số PDIE tăng theo nhưng lượng CP, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, NE, UFL

PDIN-và giá trị PDI giảm

1.1.2 Một số kết quả nghiên cứu về thức ăn sử dụng cho loài nhai lại

1.1.2.1 Một số nghiên cứu trong nước

* Sử dụng cỏ tươi

Theo Hồng Minh, (2002) [27] thì lượng thức ăn để tăng 1 kg thịt hơi cần:

từ 35-40kg cỏ tươi (nuôi đơn thuần là chăn thả) hoặc từ 18- 20 kg cỏ tươi + 3,4-4 kg rơm ủ + 0,3-0,4 kg cám, bột sắn (đối với nuôi vỗ béo tại chuồng)

Để sản xuất ra 1 lít sữa bò cần 8-10 kg cỏ tươi+ 3,4-4 kg rơm ủ + 0,3-0,4

kg cám hỗn hợp

Theo Tô Du, (2005) [14] khẩu phần thức ăn của bò vỗ béo có khối lượng cơ thể là 200 kg là 30 kg cỏ tươi các loại + 1 kg cỏ khô + 2,5 kg rơm; còn bò có khối lượng 290 kg là 35 kg cỏ tươi + 1 kg cỏ khô + 3 kg rơm

Theo Vũ Ngọc Tý, (1978) [46] bê nuôi thịt có khối lượng khác nhau, thì nhu cầu cỏ tươi các loại là khác nhau:

Đối với bò đang sinh trưởng thì thể trọng cuối kỳ là 70 kg cần 8 kg cỏ tươi; 100 kg cần 15 kg cỏ tươi, 130 kg cần 20 kg cỏ tươi, đồng thời phải cho

ăn thêm cỏ khô và 0,2 kg thức ăn tinh

Đối với bò nuôi vỗ béo, thì khối lượng từ 200- 230 cho ăn 30 kg cỏ tươi/con/ngày; bò 260- 290 kg cần 35 kg cỏ tươi/con/ngay; bò 320 kg cho ăn

40 kg cỏ tươi/con/ngay

Trong mùa mưa, với khẩu phần 100% cỏ tự nhiên, trâu 19-21 tháng tuổi tăng trọng 0,520 kg/con/ngày Tăng trọng của trâu có thể đạt 0,500- 0,700 kg/ngày khi được chăn thả 6-7 giờ/ngày, bổ sung thêm cỏ cắt 10-12kg

và sắn lát khô cộng cám gạo với mức 1% khối lượng cơ thể, (Đào Lan Nhi, 2002) [28]

Trang 20

Theo Nguyễn Văn Trí, (2006) [42] bò thịt chỉ chăn thả ngoài bãi chăn mỗi ngày sẽ ăn được khoảng 10 kg cỏ Như vậy, phải luôn luôn có đủ cỏ tươi cho ăn tại chuồng, thì mới đảm bảo đủ tiêu chuẩn ăn hàng ngày Nếu cho ăn lượng thức ăn tại chuồng (cỏ tươi) buổi sáng ít hơn buổi chiều (30-40%), vì

để bò, bê tận dụng cỏ gặm được ngoài đồng Cho bò, bê ăn nhiều thức ăn vào buổi chiều vì chúng có nhiều thời gian nhai lại trong đêm

Chu Anh Dũng, Lê Xuân Cương, (1999) [15] cho biết: Trong giai đoạn sau khi sinh đến khi thụ thai, nếu được cung cấp đầy đủ cỏ xanh trong khẩu phần (≥ 20 kg/con/ngày), bò sữa sẽ sinh sản tốt hơn với khoảng cách hai lứa

đẻ rút ngắn được 19 ngày và hệ số phối giảm 0,38 lần

* Sử dụng cỏ khô

Khi cho ăn, cỏ khô được cho ăn tự do hoặc phối hợp với thức ăn ủ chua, thức ăn tinh, thức ăn củ qủa, rỉ mật và các phụ phẩm chế biến lương thực, thực phẩm khác, cần cho bò ăn cỏ xanh sau khi cho ăn cỏ khô, không nên cho bò ăn cỏ tươi trước vì chúng sẽ lười ăn cỏ khô

Mỗi ngày có thể cho trâu bò ăn từ 3-5 kg cỏ khô Nên phối hợp cỏ khô với các loại thức ăn xanh, củ quả, thức ăn ủ với tỷ lệ cỏ khô bằng 1/3 khẩu phần là vừa phải Về mùa xuân, nhiều cỏ non, nên cho trâu bò ăn vài kilogam

cỏ khô trước khi chăn thả để tránh ỉa chảy (Đoàn Ẩn, 1976) [1]

Giá trị 1 kg cỏ khô tương đương với 3-4 kg cỏ tươi, như vậy trong vụ đông-xuân mỗi trâu bò chỉ cần dự trữ từ 300- 500 kg cỏ khô

Có 3 cách có thể cho ăn là:

Cho ăn tự do, cho ăn theo ngày và kiểm soát Ở hệ thống cho ăn tự do, các kiện cỏ khô được đưa vào cho gia súc và chúng có thể ăn vào bất cứ lúc nào Tuy nhiên, với hệ thống này có thể dẫn đến gia súc làm phung phí thức

ăn đến 36% do giẫm đạp Để giảm thiểu tình trạng này, ta có thể cho ăn từng kiện vào từng thời gian cụ thể, sau khi ăn hết mới cho kiện khác

Trong hệ thống cho ăn theo ngày, các kiện được mở và cắt ra cho ăn theo khẩu phần hàng ngày và để ở trên mặt đất hay máng ăn Dùng hình thức

Trang 21

này sẽ giảm được lãng phí cỏ khi cho gia súc ăn, vì chỉ mất 30 phút đến 1 giờ cho 1 lần ăn Mất mát là dưới 2%

Kiểm soát thức ăn bằng cách điều chỉnh các ô bằng gỗ, qua đó gia súc

có thể thò dần đầu vào lấy thức ăn và giảm được lao động, giảm thiểu cỏ bị

bẩn và bị giẫm đạp Lượng mất mát thấp hơn 3% (Rider, A R., 1979) [78]

Tác giả Vũ Chí Cương, (2004) [10] cho biết, khi thay thế 100% và 50%

thức ăn thô của địa phương bằng cỏ alfalfa khô nhập từ Hoa Kỳ đã làm tăng

lượng thu nhận chất khô, UFL, PDI và năng suất sữa của bò lai hướng sữa nuôi ở Hà Nội và vùng phụ cận

Theo Bùi Đức Lũng, (2005) [22] cỏ khô được cho ăn tự do, có thể phối hợp với thức ăn ủ chua, thức ăn tinh, thức ăn củ quả Cần cho ăn thêm cỏ tươi sau khi ăn cỏ khô Còn đối với sử dụng rơm khô thì cần bổ sung cỏ tươi và đặc biệt lượng hỗn hợp tinh cao hơn so với khi ăn cỏ khô Khi kiềm hóa rơm làm thức ăn cho bò bằng các hình thức như dùng nước vôi tôi, ủ với ure, kết hợp vôi và ure thì sau thời gian ủ từ 2-3 tuần (hè-đông) có thể lấy cho gia súc ăn

Khi sử dụng rơm khô không xử lý, thì lượng thức ăn thu nhận của động vật nhai lại là 3,06 kg/con/ngày, nhưng khi được xử lý bằng ure với tỷ lệ 5%

đã làm tăng lượng thu nhận lên 3,82 kg/con/ngày (tăng 25%) Đồng thời tăng lượng vật chất khô tiêu hóa được của rơm khô từ 1,68 lên 2,48 (tăng 48%) (Hart, F and Wanapat, M., 1992) [58]

Theo Vũ Ngọc Tý, (1978) [46] bê nuôi thịt có khối lượng từ 70- 100 kg thể trong cuối kỳ chỉ cho ăn 1 kg cỏ khô/con/ngày Từ khối lượng từ 130- 220

kg thể trọng cuối kỳ thì cho ăn 3 kg rơm/con/ngày

Các tác giả Hoàng Toàn Thắng, (2006) [37], Bùi Văn Chính, 2001 [6] khi sử dụng rơm ủ ure nuôi bò cho kết quả tăng trọng tốt hơn là rơm không được xử lý Khi sử dụng rơm, thân cây ngô hay lá mía ủ thì chi phí thức ăn giảm thấp

Trang 22

Theo Đoàn Đức Vũ, 2005 [48] thì bò sử dụng khẩu phần chỉ có rơm khô thì tiêu thụ được 5,31 kg/con/ngày nhưng khi kết hợp với sử dụng lá khoai mỳ khô thì có thể thu nhận lên 5,58 kg/con/ngày, còn rơm được ủ ure kết hợp với lá khoai mỳ thì có thể thu nhận 8,75 kg rơm ủ/con/ngày

Theo Gream McCrabb, 2002 [16] thì sử dụng rơm kết hợp với tỷ lệ rỉ mật là 45% trong khẩu phần chăn nuôi bò thịt có thể cho tăng khối lượng là 0,61kg/con/ngày, còn sử dụng cỏ tươi kết hợp với 45% rỉ mật trong khẩu phần có thể tăng khối lượng bò là 0,70 kg/con/ngày

Theo Trịnh Văn Trung, 2004 [43] khi nghiên cứu tỷ lệ phân giải chất hữu cơ của cỏ tự nhiên các tác giả cho biết, sau 72 giờ lưu mẫu trong dạ cỏ thì

ở các khẩu phần khác nhau thì tỷ lệ phân giải là khác nhau và dao động từ 68,23 đến 74,29%

Tác giả Vũ Chí Cương, 2004 [11] cỏ voi ở các khu vực khác nhau thì tỷ

lệ tiêu hóa chất hữu cơ là khác nhau và dao động từ 63 đến 66,21% Còn cỏ Ghinê thì dao động từ 62,89 đến 73% và tỷ lệ tiêu hóa này phụ thuộc vào giống cỏ

Đoàn Đức Vũ, 2005 [48] Thì tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ của rơm khô

là 61,51%, rơm khô có bổ sung lá khoai mỳ thì tỷ lệ tiêu hóa tăng lên là 68,79%, còn khẩu phần rơm ủ có bổ sung lá khoai mỳ thì tỷ lệ tiêu hóa là 69,18% sau 72 giờ ngâm thức ăn trong dạ cỏ bò thí nghiệm

1.1.2.2 Một số nghiên cứu ngoài nước

Preston và Leng, 1986 [74] đã nghiên cứu và cho thấy rằng đối với các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp gia súc thường sử dụng không có hiệu quả do mất cân đối về dinh dưỡng và đòi hỏi phải bỏ sung các thức ăn giàu dinh dưỡng vào trong thức ăn

Đối với các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp như cỏ khô, rơm rạ thì nồng độ amoniac phân giải trong dạ cỏ thường thấp, khi bổ sung nitơ phi protein đã làm tăng lượng thức ăn ăn vào, tăng tỷ lệ tiêu hóa, ổn định cân bằng nitơ, tăng tốc độ lưu chuyển protein vi sinh vật trong dạ cỏ, tăng nồng

Trang 23

độ axit béo bay hơi tổng số trong dịch dạ cỏ, do đó làm tăng khả năng sản xuất của gia súc và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Campling, R.C., 1962 [52]; Coombe, J.B 1963 [54]; Loosli, J.K 1968 [70]; Perdok H.B., 1986 [72])

Đối với các khẩu phần nghèo dinh dưỡng như sử dụng cỏ khô, rơm khô thì cần bổ sung một lượng nhỏ thức ăn xanh (khoảng 10- 30% tính theo chất khô của khẩu phần) Cụ thể là bổ sung lá của các cây họ đậu có chất lượng cao

như cỏ Alfalfa, cây anh đào (Grilicidia maculata) hoặc cây keo dậu (Leuceana leucocephala) vào các khẩu phần thức ăn phụ phẩm nhiều xơ không xử lý

hoặc được xử lý bằng amoniac đã có tác dụng tốt kích thích gia súc ăn nhiều hơn, tiêu hóa tốt hơn, đồng thời còn làm tăng tốc độ vận chuyển các chất không thể tiêu hóa ra khỏi dạ cỏ và cuối cùng làm tăng năng suất sữa, mỡ sữa, tăng tốc độ sinh trưởng và tăng cả sản lượng lông (Jackson, 1984; Romulo, B 1986) [80]

Theo Skerman, P J., (1990) [84] thì lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của gia súc phụ thuộc vào khối lượng con vật và phụ thuộc vào từng loài riêng biệt Để đánh giá khả năng thu nhận thức ăn của gia súc, người ta thường xác định số gam vật chất khô ăn được trên đơn vị khối lượng trao đổi Thức ăn thu nhận được của gia súc là rất khác nhau tùy thuộc vào sự thành thục của cỏ, từ

24 g/kg W0,75/ngày với cỏ nhiệt đới thành thục, tới 100g/ kg W0,75/ngày với cỏ nhiệt đới chưa thành thục

Theo Paul Pozy, (2001) [31] lượng chất khô ăn vào của bò sữa nuôi bằng cỏ tự nhiên biến động từ 121,20- 144,4g chất khô/kg W0,75 tùy theo từng tháng; còn nuôi bằng cỏ voi thì lượng chất khô ăn vào là 125,8 g chất khô/ kg

W0,75; còn đối với rơm thì bò sữa ăn được lượng chất khô rất thấp chỉ từ 110,12- 120,10 g chất khô/kg W0,75

K Lana, (1995) [65] khi dùng 100% khẩu phần cho bò là cỏ voi và thay thể dần vào khẩu phần với tỷ lệ cỏ stylo tươi là 0, 25, 50, 75 và 100% cho thấy khi tăng từ 25-50% thì làm tăng khối lượng hàng ngày của bò là có ý nghĩa, nhưng khi tăng hàm lượng cỏ stylo lớn hơn 75% sẽ làm giảm khối lượng của bò

Trang 24

Lindsay, J A., (1982) [67] cho biết, khi bê ăn cỏ Spear khô và cỏ Spear

khô ủ ure + sulphur thì bê thu nhận thức ăn ở mức 4,1 kg/con/ngày đối với cỏ khô và tăng lên 6,2 kg/con/ngày đối với cỏ ủ ure và làm thay đổi khối lượng

bê theo chiều hướng tốt

Nghiên cứu của Salgado et al., 2009 [81] thì gần đây các cỏ ôn đới đã

được đưa vào các trang trại bò sữa (chủ yếu là yến mạch: Avena strigosa) và

có tiềm năng để nâng cao chất lượng thức ăn trong mùa đông

Theo Linn, 2006 [68] thì biện pháp tốt nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn là tăng tỷ lệ tiêu hóa các thành phần thức ăn, đặc biệt là cỏ trong khẩu phần

1.1.3 Một số thông tin về các giống cỏ trong đề tài

1.1.3.1 Cỏ Paspalum atratum

Số lượng nhiễm sắc thể thể tứ bội (2n = 4x = 40)

Cỏ Paspalum atratum có tên khoa học đầy đủ là Paspalum atratum Swallen, Paspalum plicatulum var robustum Hack; Paspalum sp Aff P plicatulum

Cỏ này có nguồn gốc từ bang Mato Grosso do Sul, Goias và Minas, tại tây Brazil (Quarin, C L., (1997) [75], được thu thập từ tháng 4/ 1986 để nghiên cứu và phát triển thành cỏ trồng Tuy nhiên, từ năm 1997- 1999 mới được

phát triển rộng tại các nước trên thế giới với nhiều tên khác nhau như Suerte atra paspalum (Florida) (Kalmbcher, R S., 1997) [62], Hi-Gane, ở Australia

(Loch, D S (1999) [69], ở Philipin được gọi với cái tên là Terenos (Horne, P M.,

(1999) [60], atratum (Đông Nam Á)

Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22- 270C, tuy nhiên nó chịu được

sự dao động của biên độ nhiệt rất lớn, trong phạm vi từ 2 - 350 C vẫn sinh trưởng được Đây là cỏ mùa ấm nên sinh trưởng rất kém trong mùa lạnh Những phần phía trên thường bị chết do sương muối, nhưng tái sinh rất nhanh khi chuyển sang mùa ấm Sống được ở phạm vi từ ánh sáng ôn hòa tới nơi có

độ che bóng cao và canh tác có hiệu quả ở rừng nông lâm kết hợp Lượng

Trang 25

mưa thích hợp cho cỏ từ 750mm/năm trở lên, sinh trưởng tốt nhất ở vùng có lượng mưa từ 1.500-2.000 mm/năm Đây là giống cỏ vừa có khả năng chịu hạn cũng như chịu úng tốt Nhưng không sống được ở những nơi ngập nước lâu Có thể sống được ở kết cấu đất từ đất cát đến đất sét và có thể chịu đựng được với vùng đất khô cằn, nhiều acid, chịu được lượng phân bón thấp nhưng vẫn cho năng suất khá cao Cỏ thích hợp và cho năng suất cao ở đất mầu mỡ,

đủ ẩm Tốt nhất nên bón phân đạm từ 150- 200 kg N/ha/năm

Paspalum atratum là cỏ lâu năm thân bụi, đẻ nhánh trên mặt đất, thân không cao và chia lóng như một số cỏ hòa thảo khác, lá xuất phát từ gốc, nên không có bẹ lá ôm lấy thân như một số cỏ thân cao chia lóng Lá có màu xanh đậm, dầy, mặt lá bóng, lá mọc đứng và tồn tại lâu năm, lá to, khi còn non thì không sắc, tán lá có thể cao đến 1 m (Hare, M D., 1999) [56], cao từ 1-2 m khi ra hoa Phiến lá thẳng đứng, có thể dài đạt 50 cm và rộng 3-4 cm, mặt lá bóng, lá dòn ngay cả khi đã thành thục, rìa lá thô ráp Những lá dưới gốc thường có một ít lông và khi lá già thì thường rất sắc (Hare, M D., (1997) [57] Lá cỏ dầy và dài nên gia súc nhai lại không thích ăn bằng các giống cỏ khác Tuy nhiên, đây là giống cỏ thân cao nên rất thích hợp cho việc thu cắt

để chăn nuôi theo kiểu nuôi nhốt Ngoài ra, cỏ có thể trồng được dưới tán cây

để thu cắt hay chăn thả hoặc dùng làm hàng rào xanh để chống xói mòn đất

Hoa thường được chia thành các cụm, mỗi cụm hoa thường có từ 6-12 nhánh với 100- 180 bông con trên mỗi nhánh (Hare, M D., 1999) [56] Hoa

ôm lấy nhau tạo thành các cụm hoa dài 26 cm, cành hoa dài khoảng 20cm, cành thấp nhất dài 14 cm, bông con dài khoảng 3 mm và rộng 2 mm Hạt có mầu đỏ nâu Khoảng 250.000 đến 450.000 hạt/kg

Cỏ không ra hoa nhiều lần trong năm, khả năng kết hạt tốt Năm đầu thường cho lượng hạt rất ít nhưng sau đó tăng ở năm thứ 2 Vì vậy, người ta thường thu hạt ở năm thứ 2 Sau 4 tuần trổ hoa có thể thu hoạch hạt Có thể cho 230 kg hạt tươi/ha, nhưng khi làm khô và làm sạch có thể chỉ thu được

Trang 26

100 kg hạt tốt/ha Hạt có đặc tính ngủ đông nên chỉ nẩy mầm đảm bảo sau thu hoạch từ 3-4 tháng Sức nẩy mầm có thể đảm bảo từ 20-100% nếu loại bỏ được mày và lá bắc nhỏ và qua xử lý Hạt được gieo với lượng khoảng 2-5kg/ha, có thể gieo với khoảng cách hàng từ 0,5-1 m, tuy nhiên, người ta thường trồng cỏ này bằng gốc

Ở đất tốt, thâm canh cao, năng suất cỏ đạt trên 140 tấn/ha/năm Ở đất

có độ màu mỡ trung bình, thâm canh trung bình năng suất đạt trên dưới 100 tấn/ha/năm Sản lượng VCK từ 10- 15 tấn/ha/năm và có thể tới 26 tấn/ha/năm

1.1.3.2 Cỏ Brachiaria brizantha

Cỏ Brachiaria brizantha có nguồn gốc phân bố ở các vùng châu Phi,

vùng phụ cận sa mạc Sahara của châu Phi từ 250 Nam đến 120 Bắc, ở độ cao

so với mực nước biển từ 100- 2300m Phân bố rộng ngoài tự nhiên từ các

vùng nhiệt đới tới các vùng á nhiệt đới ẩm Cỏ có tên khoa học: Brachiaria brizantha (Hochst ex A Rich) Stapf; ngoài ra còn có tên goi khác là Urochloa brizantha (Hochst ex A Rich) R D Webster; Panicum brizanthum Hochst ex

Brachiaria brizantha là cỏ mùa ấm ở vùng đất thấp, nhưng sống được

ở vùng có độ cao so với mặt nước biển là từ 1.000- 2.000m, sinh trưởng tốt trong mùa mưa, nhiệt độ thích hợp từ 25-300 C, trong mùa đông vẫn sinh trưởng được ở nơi có độ cao trên 3.000m so với mặt nước biển Nhu cầu lượng mưa hàng năm vào khoảng từ 1.500- 3.500mm/năm nhưng cũng sống được ở những vùng chỉ có lượng mưa dưới 1.000mm Có thể sống được ở những vùng có từ 3-6 tháng mùa khô, mà lá vẫn xanh, trong khi đó thì các cỏ khác lá chuyển sang nâu, cỏ này vẫn sống được nếu có sương muối nhẹ

Trang 27

Cỏ có khả năng chịu hạn tốt nhưng không chịu được úng, thích ứng với nhiều loại đất khác nhau, từ đất có cấu trúc đất nhẹ đến nặng, kể cả đất xấu nghèo dinh dưỡng, được bón phân ít, đất hơi chua, nhưng cho năng suất cao ở đất mầu mỡ, tơi xốp, đủ ẩm Sống được ở vùng đất có pH từ 4-8 Để có được sản lượng một cách đầy đủ, cỏ này đòi hỏi phân bón ở mức từ trung bình đến cao

Brachiaria brizantha là cỏ thân bụi thấp, thân đứng, một số ít thân rễ,

hay có xu hướng hơi bò, đẻ nhánh trên mặt đất, thân có lóng, cây cao từ 60-

150 cm (đôi khi đến 200 cm) Lá dẹt, xanh sáng, rộng 20 mm và dài 100 mm trên mặt lá có thể có lông hoặc không, lông nhỏ và mịn, lá có bẹ ôm lấy thân,

bẹ lá có nhiều lông nhỏ, mịn; thân và lá nhỏ, mềm, vì vậy, gia súc thích ăn

Cỏ có thể chịu đựng được dưới tán che và có sản lượng vật chất khô lớn hơn

là dưới ánh sáng đầy đủ

Có thể sử dụng cho đồng cỏ chăn thả, thu cắt để cho ăn trực tiếp hay dự trữ

Cỏ không ra hoa nhiều lần trong năm, hoa có cấu tạo thành cụm, mọc thành chùm từ 2- 16 nhánh, dài 4- 20 cm, bông con dài 4-6 mm, không có lông hoặc có một ít lông ở đầu Bông đứng hàng đơn, cuống rộng 1 mm Do

cỏ có đặc tính ngủ đông, nên hạt mới thu hoạch phải giữ 6-9 tháng hay xử lý nằng axit trước khi gieo Hạt được gieo với lượng từ 2-4 kg/ha Cỏ có kết hạt, nhưng năng suất thấp và tỷ lệ mọc mầm không cao, vì vậy cỏ được trồng chủ yếu bằng gốc

Ở đất tốt, thâm canh cao, Sản lượng đạt trên 80 tấn/ha/năm (80- 140 tấn), ở đất mầu mỡ trung bình, thâm canh trung bình đạt trên dưới 60 tấn/ha/năm Sản lượng vật chất khô từ 8-20 tấn/ha/năm Tỷ lệ protein trong vật chất khô có thể từ 8-15% tùy theo tuổi cắt và phân bón, tỷ lệ tiêu hóa VCK 75% ở 2 tuần tuổi, giảm xuống 55% ở 12 tuần tuổi Năng suất hạt đạt 100-500 kg/ha/năm (R Schultze- Kraft, 1992 [82])

Cỏ Brachiaria brizantha 6387 là cỏ lai giữa cỏ Brachiaria brizantha với cỏ Ruzi Cỏ này có đặc tính thực vật tương tự như cỏ Brachiaria

Trang 28

brizantha nhưng bẹ và lá có nhiều lông hơn, thân có mầu xanh nhạt hơn, thân

bụi vươn lên cao hơn, khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai và năng suất còn đang trong quá trình khảo nghiệm

1.1.3.3 Cỏ Brachiaria decumbens

Số lượng nhiễm sắc thể: (2n = 18, 2n = 4x = 36)

Cỏ Brachiaria decumbens có tên khoa học là Brachiaria decumbens Stapf

ngoài ra còn có tên gọi khác là Urochloa decumbenss (Stapf) R.D Webster

Cỏ Brachiaria decumbens có nguồn gốc từ Châu Phi, các dòng và các

giống cỏ này đã được nhân rộng và phát triển tại nhiều nước trên thế giới dưới

nhiều tên gọi khác nhau như: signal (Australia; Surinam, Surinamgras

(German); Australiano, braquiária comum, braquária de alho, capim braquária, decumbens (Portuguses- Brazil); braquiaria, pasto alambre, được

nhập vào nước ta cùng với nhiều cỏ khác thuộc giống Brachiaria

Brachiaria decumbens là cỏ mùa ấm, sinh trưởng ở vùng nhiệt đới ẩm

và vùng á nhiệt đới, sinh trưởng tốt trong vụ xuân - hè (mùa mưa), yêu cầu nhiệt độ trên 190C, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 25 - 300 C, có tính chịu sương giá tốt, mùa đông vẫn sinh trưởng được, có thể trồng cả ở độ cao trên 1750m so với mực nước biển, nhu cầu lượng mưa từ 1000- 3000mm/năm

và sống được ở những nơi có 5 tháng mùa khô/năm

Brachiaria decumbens có thể sống được ở nhiều vùng đất khác nhau và

có dinh dưỡng thấp, pH= 3,5 và nhôm ở mức bão hòa Chịu đựng vừa phải với Mn, không sống được ở nhũng vùng đất sét nặng, có khả năng chịu hạn tốt, nhưng không chịu được úng, ưa đất tơi xốp, đủ ẩm, nhưng cũng chịu đựng được trên đất khô cằn Chịu đựng với mức phân thấp nhưng phản ứng rất tốt khi bón phân đạm và phân lân cao

Brachiaria decumbens phân bố chủ yếu ở trung tâm và vùng phía đông

của châu Phi từ 500- 2300 m, bao gồm từ Burundi, Kenya, Tanzania, Uganda

Trang 29

và Zaire Ngày nay, cỏ B decumbens phân bố rộng từ vùng nhiệt đới Mỹ,

Đông Nam Á và khu vực Thái bình dương Brachiaria decumbens Basilisk là cây trồng phân bố rộng nhất vùng nam Mỹ

Brachiaria decumbens có dạng thân đứng hay bò hoặc nửa bò, nửa bụi,

thân có lóng ngắn, lá có bẹ, bẹ lá ôm lấy thân, lá có phiến nhỏ, không dài, mỏng, lá phát triển quanh năm với mầu xanh sáng, lá có mức độ rộng vừa phải, khoảng từ 7- 20 mm và dài 5- 25 cm Lá có thể mọc từ thân bò mà có rễ sinh ra từ lóng Lá có dạng hình kiếm Thân, lá mềm gia súc thích ăn; thân, lá nhỏ nên dễ phơi khô để dự trữ Bông có từ 2-7 cành hoa dài từ 3-5 cm, bông trên trục dài 10 cm bông con có chiều dài từ 4-5 mm, bông tạo thành hai dãy dẹt nằm dọc theo trục Hoa nở tự do, và hạt thường ngủ 6 tháng sau khi thu hoạch, vì vậy cần cất trữ hay xử lý trước khi gieo

Brachiaria decumbens trồng ở đất màu mỡ, đủ ẩm, thâm canh cao,

năng suất đạt trên 80 tấn/ha/năm (80-140 tấn), ở đất trung bình, thâm canh trung bình đạt trên dưới 60 tấn/ha/năm Năng suất vật chất khô rất khác nhau

từ 6-36 tấn/ha tùy theo mức độ thâm canh Protein thô từ 5-15% và tỷ lệ tiêu hóa từ 50-70% tùy theo độ tuổi (R.Schultze-Kraft, 1992 [82]) Tuy nhiên, đây là giống cỏ có khả năng thích ứng rộng, có thể tồn tại ở cả những vùng đất nghèo dinh dưỡng, chua, thích hợp với vùng nhiệt đới nóng ẩm Cỏ được trồng chủ yếu bằng gốc, vì hạt giống sản xuất rất khó ở vùng khí hậu như nước ta Khi trồng bằng phương pháp gieo hạt thì sử dụng với lượng 2-4 kg/ha

Cỏ Brachiaria decumbens 1873 là cỏ lai giữa cỏ pangola (Digitaria decumben) với cỏ Brachiaria decumbens Cỏ này có đặc tính thực vật tương tự như cỏ Brachiaria decumbens, các đặc tính khác và năng suất đang trong quá

Trang 30

Phần 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Bò laisindhi F1 (bò vàng x bò Red sindhi) nuôi thịt, tuổi từ 9-12 tháng

2.2 Địa điểm nghiên cứu

+ Trung tâm Thực nghiệm Thực hành, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên + Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền núi

+ Một số nông hộ trong tỉnh Thái Nguyên

2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009 2.4 Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Thí nghiệm 1: Phân tích thành phần hóa học của cỏ

Phân tích thành phần hóa học của cỏ không phải là nội dung chính của

đề tài này Tuy nhiên, để có cơ sở cho việc phân tích và lý giải cho kết quả nghiên cứu của các thí nghiệm tiếp theo, thì việc phân tích thành phần hóa học của cỏ là rất cần thiết

Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành phân tích: Vật chất khô (VCK), protein thô (CP), lipit thô, xơ thô, dẫn xuất không chứa nitơ (DXKN), khoáng tổng

số của cỏ ở các tuổi cắt khác nhau, ở các mức bón đạm khác nhau và các mức bón N.P.K khác nhau

* Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu (xem tại mục 2.5.)

2.4.2 Thí nghiệm 2: Xác định khối lượng cỏ ăn được/bò/ngày, tỷ lệ cỏ được

sử dụng và tính tỷ lệ tiêu hóa lý thuyết của cỏ

- Xác định khối lượng cỏ tươi bò ăn được trong một ngày đêm

Xác định khối lượng cỏ tươi ăn được/1 bò/1 ngày đối với cỏ B brizantha,

P atratum, B decumbens

Mỗi cỏ được thí nghiệm trên 3 bò đực 12 tháng tuổi, cho ăn 12 giờ/ngày (từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối, cho ăn tự do theo nhu cầu, không cho ăn

Trang 31

thức ăn tinh) Thí nghiệm chia thành 4 đợt, mỗi đợt kéo dài 3 ngày; mỗi đợt thí nghiệm cho bò ăn cỏ ở một tuổi cắt, đợt 1 ở tuổi cỏ 30 ngày, đợt 2 là cỏ 45 ngày, đợt 3 là cỏ 60 ngày và đợt 4 là cỏ 75 ngày Bò được nhốt riêng từng con để cho ăn tách biệt nhau, bổ sung cỏ liên tục trong ngày, đảm bảo không lúc nào bò

bị thiếu cỏ, cân lượng thức ăn cho ăn và thức ăn thừa để tính lượng thức ăn bò ăn được trong ngày/con; tính trung bình khối lượng cỏ ăn được của 1 bò/ngày

Xác định tỷ lệ cỏ được sử dụng

- Tỷ lệ cỏ được sử dụng đặc biệt có ý nghĩa đối với đánh giá cỏ ở các KCC khác nhau Vì cỏ non (KCC ngắn) và cỏ già (KCC dài) có tỷ lệ cỏ được

sử dụng hoàn toàn khác nhau; cỏ non được gia súc ăn hầu hết cả gốc lẫn ngọn,

cỏ già sẽ bị gia súc bỏ lại phần gốc, vì nó thô, cứng, cỏ có nhiều lông ở phần

bẹ lá gốc nên ráp

Thí nghiệm xác định tỷ lệ cỏ được sử dụng đối với 3 giống cỏ thí

nghiệm là B decumbens, B brizantha và P atratum

Mỗi cỏ được thí nghiệm trên 3 bò Bò được nuôi nhốt riêng từng con Mỗi cỏ được thí nghiệm 4 đợt, ứng với 4 KCC (hay ứng với 4 tuổi cỏ: 30, 45,

60, 75), mỗi đợt kéo dài 3 ngày Cho bò ăn cỏ tự do Trước khi cân khối lượng cỏ bị bò bỏ lại không ăn, chọn loại ra những cỏ bò chưa ăn tới (cây cỏ còn nguyên vẹn) Cân khối lượng cỏ trước khi cho ăn, khối lượng những cây

cỏ còn nguyên vẹn bò chưa ăn tới và khối lượng cỏ bò ăn dở dang bỏ lại (thường là phần gốc cỏ) sau khi bò đã dừng ăn được 60 phút

- KL: Khối lượng; TT: Thực tế; DDBL: dở dang bỏ lại

- Khối lượng cỏ cho ăn thực tế là khối lượng cỏ cân trước khi cho ăn đã trừ

đi khối lượng những cây cỏ còn nguyên vẹn bò không ăn tới sau khi bò đã dừng ăn được 60 phút

Tỷ lệ cỏ bò sử dụng được tính tròn số đến hàng đơn vị (VD: 91,7% làm tròn

là 92%)

Trang 32

Tính tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ lý thuyết của cỏ

Tỷ lệ tiêu hóa VCHC lý thuyết của cỏ được tính theo công thức của Axelson (Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc [17])

Y (%) = 87,6 - 0,81x

Trong đó:

Y: Là tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ (VCHC), (%)

X: Là tỷ lệ xơ trong VCK, (%)

2.4.3 Thí nghiệm 3: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ trên bò thịt

Thí nghiệm đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ trên gia súc (bò) là công đoạn cuối cùng trong việc đánh giá giá trị thức ăn của cỏ Sức khỏe và sản phẩm (thịt, sữa ) được sản xuất ra khi sử dụng cỏ để chăn nuôi gia súc, là chỉ tiêu đánh giá cỏ toàn diện và chính xác nhất

- Mục đích thí nghiệm:

Thông qua kết quả tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn xanh của bò thịt

để đánh giá được hiệu quả chăn nuôi của cỏ (hay đánh giá được chất lượng của cỏ)

2.4.3.1 Thí nghiệm 3a: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ tươi trên bò thịt

- Bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được thực hiện đối với 18 bò lai sindhi, đời F1, 9 tháng tuổi, chia làm 3 lô (lô I, lô II, lô III), mỗi lô 6 con, đồng đều về khối lượng trung bình và tỷ lệ đực/cái giữa các lô Thí nghiệm được thực hiện trong thời gian 2 tháng Khối lượng trung bình lúc bắt đầu thí nghiệm của bò lô I là 103,0 ± 2,43 kg, của lô II là 103,3 ± 1,12 kg và của lô III là 103,1 ± 2,54 kg

* Thức ăn thí nghiệm:

Bò của lô I được cho ăn cỏ P atratum

Bò của lô II được cho ăn cỏ B brizantha

Bò của lô III được cho ăn cỏ B decumbens

Ngày đăng: 18/06/2016, 11:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị (1976). Gây giống và sử dụng một số giống c ỏ nă ng suất cao , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr19- 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gây giống và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao
Tác giả: Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1976
2. Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn, Lê Đức Ngoan, CM Leddin, PT Doyle (2007), Kết quả nghiên cứu sử dụng thức ăn trong chăn nuôi bò thịt ở miền Trung Việt Nam, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, (4) tr.15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Tác giả: Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn, Lê Đức Ngoan, CM Leddin, PT Doyle
Năm: 2007
3. Đinh Văn Cải (2006). Nghiên cứu chọn lọc và lai tạo nhằm nâng cao khả năng sản xuất bò thịt ở Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài, chương trình giống cây trồng vật nuôi giai đoạn 2002- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc và lai tạo nhằm nâng cao khả năng sản xuất bò thịt ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Cải
Năm: 2006
4. Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung (2004), Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn cho trâu bò khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y, Phần dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 137- 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn cho trâu bò khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
5. Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Nguyễn Hữu Tạo, Nguyễn Văn Hải, Trần Bích Ngọc (2004), Nghiên cứu chế biến, dự trữ và sử dụng lá mía làm thức ăn cho gia súc nhai lại tr 15- 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế biến, dự trữ và sử dụng lá mía làm thức ăn cho gia súc nhai lại
Tác giả: Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Nguyễn Hữu Tạo, Nguyễn Văn Hải, Trần Bích Ngọc
Năm: 2004
6. Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly (2001), Kết quả nghiên cứu chế biến nâng cao giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp quan trọng ở Việt Nam cho trâu bò, Hội thảo về dinh dưỡng gia súc nhai lại Ruminant nutrition, Hà Nội, tr. 31- 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chế biến nâng cao giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp quan trọng ở Việt Nam cho trâu bò
Tác giả: Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly
Năm: 2001
7. Vũ Chí Cương, Đinh Văn Tuyền, Phạm Bảo Duy, Bùi Thị Thu Hiền, Nguyễn Văn Đôn, Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Oanh (2009). Ảnh hưởng của giống gia súc đến tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn thô dùng cho gia súc nhai lại là khá rõ rêt, Báo cáo khoa học năm 2008, Phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Hà Nội, tr9-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của giống gia súc đến tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn thô dùng cho gia súc nhai lại là khá rõ rêt
Tác giả: Vũ Chí Cương, Đinh Văn Tuyền, Phạm Bảo Duy, Bùi Thị Thu Hiền, Nguyễn Văn Đôn, Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Oanh
Năm: 2009
8. Vũ Chí Cương, Đinh Văn Tuyền, Phạm Bảo Duy, Bùi Thị Thu Hiền (2009). Ảnh hưởng của tuổi tái sinh mùa hè đến năng suất, thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi. Báo cáo khoa học năm 2008. Phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Hà Nội tr 21-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tuổi tái sinh mùa hè đến năng suất, thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi. Báo cáo khoa học năm 2008
Tác giả: Vũ Chí Cương, Đinh Văn Tuyền, Phạm Bảo Duy, Bùi Thị Thu Hiền
Năm: 2009
9. Vũ Chí Cương (2007), Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt và xác định một số bệnh nguy hiểm đối với bò để xây dựng biện pháp phòng dịch bệnh ở Tây Nguyên” Viện Chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt và xác định một số bệnh nguy hiểm đối với bò để xây dựng biện pháp phòng dịch bệnh ở Tây Nguyên
Tác giả: Vũ Chí Cương
Năm: 2007
10. Vũ Chí Cương, Trần Quốc Việt, Nguyễn Xuân Hòa, Chu Mạnh Thắng (2004), Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ khô alfalfa nhập từ Hoa Kỳ qua khả năng cho sữa của đàn bò lai hướng sữa nuôi ở Hà Nội và vùng phụ cận, báo cáo KH- Chăn nuôi thú y, phần dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, 12, tr 55-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ khô alfalfa nhập từ Hoa Kỳ qua khả năng cho sữa của đàn bò lai hướng sữa nuôi ở Hà Nội và vùng phụ cận
Tác giả: Vũ Chí Cương, Trần Quốc Việt, Nguyễn Xuân Hòa, Chu Mạnh Thắng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
11. Vũ Chí Cương, Nguyễn Xuân Hòa, Phạm Hùng Cường, Paulo Salgado, Lưu Thị Thi (2004). Thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò. Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y, Phần dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi, tr35- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò
Tác giả: Vũ Chí Cương, Nguyễn Xuân Hòa, Phạm Hùng Cường, Paulo Salgado, Lưu Thị Thi
Năm: 2004
12. Vũ Chí Cương (2003). Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả thức ăn protein trong nuôi dưỡng bò thịt, Luận án tiến sỹ nông nghiệp. Hà Nội tr80-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả thức ăn protein trong nuôi dưỡng bò thịt, Luận án tiến sỹ nông nghiệp
Tác giả: Vũ Chí Cương
Năm: 2003
13. Vũ Chí Cương, C. J. Thwaites, Vũ Văn Nội, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung (1999). Ảnh hưởng của nguồn protein và xử lý protein bằng formaldehyde đến độ hòa tan in vitro, phân giải in sacco, tăng trọng và hiệu quả xử dụng thức ăn của bò cái tơ lỡ. Báo cáo khoa học. Chăn nuôi thú y 1998- 1999. Phần dinh dưỡng và thức ăn, Hà Nội, tr31-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nguồn protein và xử lý protein bằng formaldehyde đến độ hòa tan in vitro, phân giải in sacco, tăng trọng và hiệu quả xử dụng thức ăn của bò cái tơ lỡ
Tác giả: Vũ Chí Cương, C. J. Thwaites, Vũ Văn Nội, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung
Năm: 1999
15. Chu Anh Dũng, Lê Xuân Cương, Đinh Văn Cải, Vương Ngọc Long, Đặng Phước Chung, Phạm Hồ Hải (1999), Ảnh hưởng của năng lượng, cỏ xanh và thể trạng lên khả năng sinh sản của bò sữa, Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y 1998- 1999, Phần dinh dưỡng và thức ăn, Hà Nội, tr 81-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của năng lượng, cỏ xanh và thể trạng lên khả năng sinh sản của bò sữa
Tác giả: Chu Anh Dũng, Lê Xuân Cương, Đinh Văn Cải, Vương Ngọc Long, Đặng Phước Chung, Phạm Hồ Hải
Năm: 1999
16. Gream McCrabb, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương (2002). Báo cáo tổng kết tiểu dự án 4 về “Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp nuôi bò thịt”. Hội thảo ACIAR tháng, 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tiểu dự án 4 về “Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp nuôi bò thịt”
Tác giả: Gream McCrabb, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương
Năm: 2002
17. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán, (2001). Giáo trình Thức ăn và dinh dưỡng gia súc. Nxb Nông nghiệp tr60-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp tr60-91
Năm: 2001
19. Trương Tấn Khanh, (1999). Nghiên cứu khảo nghiệm tập đoàn giống cây thức ăn gia súc nhiệt đới tại M’Drac và phát triển các giống thích nghi trong sản xuất. Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y, 1998- 1999, Phần thức ăn và dinh dưỡng, Hà Nội, tr 144- 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo nghiệm tập đoàn giống cây thức ăn gia súc nhiệt đới tại M’Drac và phát triển các giống thích nghi trong sản xuất
Tác giả: Trương Tấn Khanh
Năm: 1999
20. Mai Anh Khoa (2000). Điều tra kết quả chương trình sind hóa đàn bò và một số chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng, sinh sản của con lai F1 (đực Redsinhi x Cái địa phương) tại tỉnh Thái Nguyên. Luận văn Thạc sĩ KHNN. tr66-70 21. Kurilov N.V, Krotkova, A.P., (1979). Sinh lý và sinh hóa tiêu hóa độngvật nhai lại, Nxb KHKT- Hà Nội. Trần Cừ, Nguyễn Thanh Dương và Nguyễn Phước Nhuận dịch, tr 28-210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra kết quả chương trình sind hóa đàn bò và một số chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng, sinh sản của con lai F1 (đực Redsinhi x Cái địa phương) tại tỉnh Thái Nguyên." Luận văn Thạc sĩ KHNN. tr66-70 21. Kurilov N.V, Krotkova, A.P., (1979). "Sinh lý và sinh hóa tiêu hóa động "vật nhai lại
Tác giả: Mai Anh Khoa (2000). Điều tra kết quả chương trình sind hóa đàn bò và một số chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng, sinh sản của con lai F1 (đực Redsinhi x Cái địa phương) tại tỉnh Thái Nguyên. Luận văn Thạc sĩ KHNN. tr66-70 21. Kurilov N.V, Krotkova, A.P
Nhà XB: Nxb KHKT- Hà Nội. Trần Cừ
Năm: 1979
22. Bùi Đức Lũng (2005), Dinh dưỡng sản xuất và chế biến thức ăn cho bò, Nxb Lao Động Xã Hội, tr 114- 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng sản xuất và chế biến thức ăn cho bò
Tác giả: Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Lao Động Xã Hội
Năm: 2005
23. Bùi Đức Lũng, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn Tiến, Bùi Văn Chính (1995). Thức ăn và dinh dưỡng gia súc. Nxb Nôn Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn Tiến, Bùi Văn Chính
Nhà XB: Nxb Nôn Nghiệp
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thành phầ n hóa học của cỏ ở các khoảng cách cắt khác nhau (%) - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.1 Thành phầ n hóa học của cỏ ở các khoảng cách cắt khác nhau (%) (Trang 37)
Bảng 3.2: Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón đạm khác nhau (%) - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.2 Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón đạm khác nhau (%) (Trang 39)
Bảng 3.3: Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón N.P.K khác nhau (%) - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.3 Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón N.P.K khác nhau (%) (Trang 41)
Bảng 3.4: Khối lượng cỏ bò ăn được ở các tuổi cỏ khác nhau - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.4 Khối lượng cỏ bò ăn được ở các tuổi cỏ khác nhau (Trang 42)
Bảng 3.5: Tỷ lệ cỏ được sử dụng ở các tuổi cắt khác nhau - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.5 Tỷ lệ cỏ được sử dụng ở các tuổi cắt khác nhau (Trang 43)
Bảng 3.6: Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ ở tuổi cắt khác nhau - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.6 Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ ở tuổi cắt khác nhau (Trang 44)
Bảng 3.7: Tỷ lệ  tiêu hóa vậ t chấ t hữu cơ lý thuyết  của cỏ  ở các mức bón N khác nhau  Mức bón đạm - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.7 Tỷ lệ tiêu hóa vậ t chấ t hữu cơ lý thuyết của cỏ ở các mức bón N khác nhau Mức bón đạm (Trang 46)
Bảng 3.9: Khối lượng trung bình của bò ở các kỳ cân - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.9 Khối lượng trung bình của bò ở các kỳ cân (Trang 48)
Bảng 3.10: Tăng khối lượng trung bình của bò qua  các giai đoạn - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.10 Tăng khối lượng trung bình của bò qua các giai đoạn (Trang 49)
Bảng 3.11: Tiêu thụ cỏ/1 bò và  tiêu tốn cỏ cho 1 kg tăng khối lượng - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.11 Tiêu thụ cỏ/1 bò và tiêu tốn cỏ cho 1 kg tăng khối lượng (Trang 50)
Bảng 3.13: Khối lượng của bò ở các kỳ cân - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.13 Khối lượng của bò ở các kỳ cân (Trang 52)
Bảng 3.14: Tăng khối lượng của bò ở các giai đoạn - Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt
Bảng 3.14 Tăng khối lượng của bò ở các giai đoạn (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w