Nội dung chính - Tìm hiểu thực trạng tổ chức và hoạt động của HTX sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên - Đề ra các giải pháp có tính khoa học, thực t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠ SỞ
Trang 2KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠ SỞ
Những người tham gia : Nguyễn Minh Hải
: Hoàng Văn Chuyền
Thời gian thực hiện : Từ 03/2012 – 03/2013
Địa điểm : Tân Cương -Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 3TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
“Thực trạng tổ chức và hoạt động của htx sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái
Nguyên tỉnh Thái Nguyên”
Mã số: T 2012 - 75
Chủ nhiệm đề tài : Trần Cương
Cơ quan chủ trì đề tài : Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian thực hiện : Từ tháng 03/2012 đến 03/2013
1 Mục tiêu
Tìm hiểu được thực trạng công tác tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè tiêu biểu trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên Đánh giá được những ưu điểm và nhược điểm trong phương thức tổ chức hoạt động của HTX chè trên địa bàn xã Tân Cương Qua đó đề xuất được một số
định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX chè
2 Nội dung chính
- Tìm hiểu thực trạng tổ chức và hoạt động của HTX sản xuất chè trên địa bàn
xã Tân Cương – TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên
- Đề ra các giải pháp có tính khoa học, thực tiễn về phát triển HTX chè trên địa bàn xã Tân Cương nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém trong công tác tổ chức, điều hành hoạt động của các HTX nông nghiệp đặc biệt là các HTX chè trong giai đoạn hiện nay
3 Kết quả đạt được
- HTX nông nghiệp với vai trò là nòng cốt của kinh tế tập thể đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế hộ xã viên, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế không thể thiếu ở nông thôn để liên kết kinh tế, tiếp cận thị trường, xây dựng thương hiệu nông sản; đồng thời là cơ sở để liên kết những người nông dân đi lên sản xuất
Trang 4hàng hóa tập trung với quy mô lớn, tạo ra sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản và chuỗi giá trị gia tăng ngày càng cao
- Tuy nhiên hiện nay, kinh tế tập thể mà nòng cốt là các HTX nông nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên còn nhiều yếu kém, bất cập, năng lực hạn chế, môi trường hoạt động dịch vụ sản xuất kinh doanh dần bị thu hẹp, doanh thu thấp…Kinh tế HTX chiếm tỷ lệ thấp trong tổng sản phẩm xã hội, chưa đủ sức đảm nhiệm tốt vai trò cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khác, những nơi chưa có HTX nông nghiệp, chính quyền thôn phải quản lí điều hành cả dịch vụ nông nghiệp, bởi tính đặc thù trong nông nghiệp mà các thành phần kinh tế khác chưa làm được và nếu có làm thì cũng sẽ không có hiệu quả Những hạn chế, yếu kém đó tồn tại do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan đã tác động tới sự phát triển của các HTX
- Thông qua quá trình nghiên cứu, trên cơ sở đánh giá tình hình phát triển, những thuận lợi và khó khăn cũng như phân tích để chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu của hợp tác xã chè Minh Thu trên địa bàn xã Tân Cương Thành phố Thái Nguyên Đề tài nêu lên một số giải pháp: Các phương pháp và các tổ chức cho nhân viên; Luật Hợp tác xã tuyên truyền, chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách giải quyết nợ tồn đọng của hợp tác xã; ứng dụng xúc tiến thương mại, khoa học và công nghệ, các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển kinh tế hàng hoá, các giải pháp quản lý tài chính cho các hợp tác xã, nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý hợp tác xã để góp phần đáng kể vào sự phát triển của hợp tác xã Minh Thu nói riêng và của các hợp tác xã chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung
Trang 5SUMMARY OF FINDINGS TOPICS OF SCIENCE AND TECHNOLOGY BASE
Project title:
"Status of the organization and operation of cooperatives tea production in the Tân Cương - Thai Nguyen City – Thai Nguyen province"
Code number: T 2012-75
Project manager: Tran Cuong
Agency subject: Thai Nguyen University Of Agriculture And Forestry
Implementation period: Duration:From 03/2012 to 03/2012
1 Objectives:
Find out the real situation of the organization and business activities of the typical tea cooperative in Tan Cuong - Thai Nguyen city- Thai Nguyen province Evaluate the advantages and disadvantages of the methods of operation of the cooperative society tea in Tan Cuong Thereby suggest some directions and
solutions to improve the performance of cooperative tea
tea in the current period
3 Results obtained:
- Agricultural cooperatives as the core of the collective economy plays an important role for the economic development of member households, boost agricultural production, poverty alleviation, agricultural development new villages Agricultural cooperative economic organizations in rural indispensable to economic integration, marketing, branding of agricultural products, and also as a basis for linking farmers to produce more commodity focus to large-scale, creating competitiveness of agricultural commodity value chains and increasing
- But now, the collective economy that is the core of agricultural cooperatives
in the province of Thai Nguyen is still weak and inadequate, limited capacity, environmental services business shrinking, low turnover cooperative Economics low proportion of the total social product, not good enough to take on the economic role of the state became the foundation of the national economy, to meet the
Trang 6requirements of economic integration international On the other hand, where no agricultural cooperatives, rural authorities to the executive management of agricultural services, by characteristics of the agricultural sector and if others do not have to do it also will not effective The limitations and weaknesses that exist due to the influence of many factors, including objective reasons and subjective reasons have an impact on the development of cooperatives
- Through the research process, on the basis of assessment of the development, the advantages and disadvantages as well as analysis to point out the strengths and weaknesses of tea cooperative social Minh Thu in Tan Cuong Thai Nguyen city Topic raises a number of solutions: methods and staff organization; propaganda Cooperative Law, tax policy, credit policy, debt settlement policies backlog of cooperative applications trade promotion, science and technology, solutions to promote the development of commodity economy, the financial management solutions for cooperatives, improve staff cooperative management to contribute significantly to the development of cooperatives, and in particular the Minh Thu of the co-operative tea in Thai Nguyen province in general
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN I 12
MỞ ĐẦU 12
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 12
1.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài 13
1.2.1 Mục đích của đề tài 13
1.2.2 Mục tiêu của đề tài 13
1.3 Ý nghĩa của đề tài 13
PHẦN II 14
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 14
2.1 Cơ sở lý luận 14
2.1.1 Một số vấn đề về HTX 14
2.1.1.1 Khái niệm 14
2.1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX nông nghiệp 14
2.1.1.3 Điều lệ HTX 15
2.1.1.4 Các loại hình HTX 16
2.1.2 HTX nông nghiệp 17
2.1.2.1 Khái niệm 17
2.1.2.2 Vai trò của HTX nông nghiệp 18
2.1.2.3 Các đặc trưng của HTX nông nghiệp 18
2.1.2.4 Các hình thức của HTX nông nghiệp 19
2.2 Tình hình phát triển HTX ở Việt Nam 20
2.2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1975 20
2.2.2 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay 22
2.2.3 Một số bài học để phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam 27
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng - Địa điểm - Thời gian nghiên cứu 29
Trang 83.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 29
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 29
3.2 Nội dung nghiên cứu 29
3.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Tân Cương 29
3.2.2 Tìm hiểu thực trạng tổ chức và hoạt động của HTX sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên 29
3.2.3 Đề ra các giải pháp có tính khoa học, thực tiễn về phát triển HTX chè trên địa bàn xã Tân Cương nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém trong công tác tổ chức, điều hành hoạt động của các HTX nông nghiệp đặc biệt là các HTX chè trong giai đoạn hiện nay 29
3.3 Phương pháp nghiên cứu 29
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 29
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 30
3.3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 30
3.3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 30
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 31
PHẦN IV 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Tân Cương 32
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 32
4.1.1.1 Vị trí địa lý 32
4.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 32
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thời tiết 34
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 34
4.1.2.1 Đặc điểm kinh tế của xã Tân Cương 34
4.1.2.2 Đặc điểm xã hội của xã Tân Cương 35
Trang 94.1.2.3 Cơ sở vật chất của xã 37
4.2 Tìm hiểu thực trạng tổ chức và hoạt động của HTX sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên 38
4.2.1 Tình hình tổ chức của HTX chè Minh Thu 38
4.2.1.1 Vài nét chung về HTX chè Minh Thu 38
4.2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ chính của HTX chè Minh Thu 40
4.2.2 Tình hình hoạt động của HTX chè 40
4.2.2.1 Tình hình sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương 40
4.2.2.2 Tình hình sản xuất của các HTX chè và cơ sở SXKD 43
4.3 Đánh giá chung về tình hình phát triển của HTX chè Minh Thu 60
4.3.1 Thành tựu đạt được 60
4.3.2 Một số hạn chế 61
4.3.3 Những nguyên nhân của hạn chế 62
4.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX chè Minh Thu 62
4.4.1 Giải pháp về phương thức tổ chức và công tác cán bộ 62
4.4.2 Giải pháp về cơ chế chính sách 63
4.4.2.1 Chính sách thuế 63
4.4.2.2 Chính sách tín dụng 64
4.4.2.3 Xúc tiến thương mại 64
4.4.2.4 Ứng dụng khoa học công nghệ 64
4.4.3 Giải pháp thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển 65
4.4.4 Giải pháp quản lý tài chính 65
4.4.4.1 Đổi mới công tác quản lý tài chính 65
4.4.4.2 Thực hiện tốt chế độ kế toán trong các hợp tác xã 66
4.4.5 Giải pháp về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý 67 PHẦN V 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
Trang 105.2 Kiến nghị 68
5.2.1 Kiến nghị với các cấp chính quyền 68
5.2.2 Đối với HTX 69
5.2.3 Đối với hộ nông dân 69
5.2.4 Đối với Viện Nghiên cứu, Trường Đại học 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Số lượng HTX và xã viên của một số tỉnh trong cả nước 25
Bảng 4.1 :Cơ cấu sử dụng đất của xã qua các năm từ 2010- 2012 33
Bảng 4.2: Cơ cấu kinh tế xã Tân Cương năm 2012 34
Bảng 4.3: Tình hình dân số và lao động của xã Tân Cương qua 3 năm (2010 – 2012) 36
Bảng 4.4: Diện tích, năng suất, sản lượng chè búp tươi tại xã Tân Cương 41
Bảng 4.5.Thông tin chung của các HTX, cơ sở SXKD trên địa bàn xã 44
Bảng 4.6 Tổng hợp trình độ của cán bộ làm công tác quản lý HTX 45
Bảng 4.7 Số lượng và giới tính trong HTX và cơ sở SXKD 47
Bảng 4.8 Hệ thống nhà xưởng dùng trong sản xuất của HTX 48
Bảng 4.9 Tình hình máy móc dùng trong sản xuất của HTX 49
Bảng 4.10: Diện tích đất trồng chè của các hộ điều tra năm 2011 50
Bảng 4.11 Tình hình vốn quỹ của các HTX chè 51
Bảng 4.12: Doanh thu từ hoạt động sản xuất chè 2012 53
Bảng 4.13: Tổng doanh thu từ kinh doanh chè 54
Bảng 4.14: Chi phí bình quân sản xuất chè bình quân một tháng của một hộ nông dân trong HTX 56
Bảng 4.15 Tổng hợp chi phí từ công tác thu mua chè thành phẩm 57
Bảng 4.16 Tổng chi phí sản xuất của các HTX và cơ sở SXKD 57 Bảng 4.17 Hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh của các HTX và cơ sở SXKD 59
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 4.1: Bộ máy điều hành HTX 39
Hình 4.2: Kênh phân phối sản phẩm chè của các nông hộ xã Tân Cương 42
Biểu đồ 4.1 Tổng hợp trình độ của cán bộ làm công tác quản lý HTX 45
Biểu đồ 4.2 Số lượng và giới tính trong HTX và cơ sở SXKD 47
Biểu đồ 4.3 Tình hình vốn quỹ của các HTX chè 51
Biểu đồ 4.4 Doanh thu từ hoạt động sản xuất chè 2012 53
Biểu đồ 4.5 Tổng doanh thu từ kinh doanh chè 54
Biểu đồ 4.6 Tổng chi phí sản xuất của các HTX và cơ sở SXKD 58
Trang 14PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đảng lần VI (1986) đưa nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Cơ chế mới đã đem lại những kết quả to lớn về mặt kinh tế cũng như các mặt khác Sau hơn 27 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến vượt bậc Bước sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, đặc biệt phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới là chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước Song có nhiều vấn đề lớn sẽ đặt ra như: phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp theo hướng nào; việc phát triển hoạt động nông nghiệp hiện nay; bảo vệ thành quả của cải cách ruộng đất…
HTX nông nghiệp với vai trò là nòng cốt của kinh tế tập thể đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế hộ xã viên, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế không thể thiếu ở nông thôn để liên kết kinh tế, tiếp cận thị trường, xây dựng thương hiệu nông sản; đồng thời là cơ sở để liên kết những người nông dân đi lên sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô lớn, tạo ra sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản và chuỗi giá trị gia tăng ngày càng cao
Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng trong tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế luôn được sự quan tâm của Đảng và nhà nước ta Nghị quyết đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “tổng kết thực tiễn, sớm có chính
sách, cơ chế cụ thể, khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể
đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bao gồm các
tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới Chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt
động của HTX, liên hiệp HTX cổ phần” Nghị quyết lần thứ năm ban chấp hành
Trung ương Đảng (khoá X) ngày 18/3/2002 cũng đã xác định: “kinh tế tập thể với
nhiều hình thức đa dạng, trong đó HTX là nòng cốt”, và “kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”
Tuy nhiên hiện nay, kinh tế tập thể mà nòng cốt là các HTX nông nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên còn nhiều yếu kém, bất cập, năng lực hạn chế, môi trường hoạt động dịch vụ sản xuất kinh doanh dần bị thu hẹp, doanh thu thấp…Kinh tế HTX chiếm tỷ lệ thấp trong tổng sản phẩm xã hội, chưa đủ sức đảm nhiệm tốt vai
Trang 15trò cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khác, những nơi chưa có HTX nông nghiệp, chính quyền thôn phải quản lí điều hành cả dịch vụ nông nghiệp, bởi tính đặc thù trong nông nghiệp mà các thành phần kinh tế khác chưa làm được và nếu có làm thì cũng sẽ không có hiệu quả Những hạn chế, yếu kém đó tồn tại do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan đã tác động tới sự phát triển của các HTX
Với mong muốn đưa ra một số giải pháp để khắc phục những hạn chế, yếu kém nói trên, góp phần thúc đầy sự phát triển của HTX nông nghiệp trên địa bàn
TP Thái Nguyên, cụ thể là HTX sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương TP Thái
Nguyên tỉnh Thái Nguyên, em đã chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng tổ chức và
hoạt động của HTX sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Đề tài sẽ đánh giá công tác tổ chức và hoạt động của HTX chè từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình kinh
tế này trên địa bàn Thái Nguyên
1.2.2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu được thực trạng công tác tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè tiêu biểu trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá được những ưu điểm và nhược điểm trong phương thức tổ chức hoạt động của HTX chè trên địa bàn xã Tân Cương
- Đề xuất được một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX chè
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài đánh giá một cách tổng quát thực trạng tổ chức và hoạt động của HTX chè trên địa bàn xã Tân Cương, do vậy đây có thể là một tài liệu tham khảo góp phần củng cố thêm về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác tổ chức và hoạt động của HTX chè trên địa bàn xã và TP Thái Nguyên trong thời gian sắp tới
- Đóng góp được những kiến nghị thông qua việc nghiên cứu để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX chè trên địa bàn xã Tân Cương nói riêng và TP Thái Nguyên nói chung
Trang 16PHẦN II TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số vấn đề về HTX
2.1.1.1 Khái niệm
- Theo liên minh quốc tế (international cooperative alliance- ICA): “HTX
là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lí dân chủ” Năm 1995, định nghĩa này được bổ sung:
“HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm
xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”.[13]
- Ngày 20/3/1996, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật HTX Tại điều 1, Luật khẳng định: “HTX là một tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước”
- Tại điều 1 Luật HTX sửa đổi được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI vào tháng 11 năm 2003 quy định: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các
cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước" [10]
HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật”
2.1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX nông nghiệp
Theo điều 7 – Luật HTX 2012 quy định:
* Tự nguyện
1 Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã Hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã
Trang 172 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên
3 Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ
4 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật
5 Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ
sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm
6 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
7 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế [1]
2.1.1.3 Điều lệ HTX
Mỗi HTX có Điều lệ riêng, Điều lệ HTX phải phù hợp với các quy định của Luật HTX và các quy định khác của pháp luật
Điều lệ HTX có các nội dung chủ yếu sau đây:
a, Tên HTX, biểu tượng của HTX (nếu có);
b, Địa chỉ trụ sở chính của HTX;
c, Ngành, nghề, sản xuất kinh doanh;
d, Các quy định về đối tượng, điều kiện, thủ tục gia nhập HTX và ra HTX của
xã viên;
đ, Các quy định về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của xã viên;
e, Nguyên tắc và đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Trang 18g, Vốn điều lệ của HTX;
h, Vốn góp tối thiểu: mức góp, hình thức góp, thời hạn góp và điều kiện trả lại vốn góp của xã viên;
i, Thẩm quyền và phương thức huy động vốn;
k, Nguyên tắc trả công, xử lý các khoản lỗ; chia lãi theo vốn góp, theo công sức đóng góp của xã viên và theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX; trích lập, quản
n, Người đại diện theo pháp luật của HTX;
o, Thể thức tiến hành đại hội và thông qua quyết định của Đại hội xã viên;
p, Chế độ xử lý vi phạm Điều lệ HTX và nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;
q, Thể thức sửa đổi Điều lệ HTX;
r, Các quy định khác do Đại hội xã viên tự quyết định nhưng không trái với các quy định của pháp luật
Khi sửa đổi Điều lệ HTX, HTX phải gửi Điều lệ có sửa đổi kèm theo biên bản của Đại hội xã viên đến cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho HTX
Chính phủ ban hành Mẫu hướng dẫn xây dựng Điều lệ HTX nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân và HTX phi nông nghiệp [10]
2.1.1.4 Các loại hình HTX
* HTX dịch vụ
- HTX dịch vụ từng khâu: có nội dung hoạt động tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình sản xuất hoặc từng khâu công việc như: đầu vào, đầu ra, phòng trừ sâu bệnh…
- HTX dịch vụ tổng hợp đa chức năng: có nội dung hoạt động đa dạng, gồm nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất như: cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu…
Trang 19- HTX dịch vụ chuyên ngành: HTX này được hình thành từ nhu cầu của các
hộ thành viên cùng sản xuất, kinh doanh một loại hàng hóa đặc trưng, hoặc cùng làm một nghề giống nhau (HTX trồng rừng, HTX trồng mía…) HTX thực hiện các khâu dịch vụ của kinh tế hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn
kỹ thuật, dịch vụ vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan
hệ với các cơ sở chế biến, tổ chức tín dụng…
* HTX sản xuất kết hợp dịch vụ
Các HTX loại này thường dưới dạng các HTX chuyên môn hóa theo sản phẩm
Đó là các HTX gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ, trong đó trực tiếp sản xuất là các hộ nông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản phẩm như: các HTX sản xuất rau, HTX sản xuất sữa HTX loại này có đặc điểm: nội dung sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp Đây là hình thức HTX khá phổ biến ở nước ta
* HTX sản xuất- kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện
Mô hình HTX sản xuất- kinh doanh ở mức độ toàn diện, vừa trực tiếp tổ chức sản xuất kinh doanh tập trung như tổ chức các cơ sở chế biến của HTX để đảm bảo cung ứng đầu vào cho các xã viên (chế biến thức ăn gia súc, sản xuất cây giống…) hoặc đảm bảo tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho xã viên là chế biến và tiều thụ sản phẩm hoặc tổ chức phát triển ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp để tạo việc làm, tăng thu nhập cho xã viên và người lao động tạo ra lợi nhuận để hỗ trợ các khâu dịch vụ cho xã viên phát triển kinh tế hộ tự chủ
Đây là mô hình tổ chức HTX có hiệu quả mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng như: HTX sản xuất rau quả của Đài Loan, HTX chế biến rượu nho ở CHLB Đức…Đồng thời nó cũng phù hợp với điều kiện ở nhiều vùng nước ta, trước hết là đối với các vùng sản xuất hàng hóa, kinh tế đã có bước phát triển Xây dựng HTX theo mô hình loại này sẽ tạo điều kiện để cho quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn có điều kiện hiện đại hóa sản xuất tạo ra nhiều loại hàng hóa có sức cạnh tranh cao, vừa phát huy được vai trò vị trí tự chủ của kinh tế
hộ xã viên trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa, không hạn chế tính năng động, sáng tạo của hộ xã viên [11]
2.1.2 HTX nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm
Theo PGS.TS Trần Quốc Khánh thì “HTX nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống
Trang 20của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc pháp luật quy định,
có tư cách pháp nhân” [2]
Như vậy, HTX nông nghiệp là một loại hình HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nó mang đầy đủ các đặc trưng, loại hình, vai trò…của một HTX nói chung Tuy nhiên, do hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nên nó cũng có những tính chất, đặc điểm riêng có
2.1.2.2 Vai trò của HTX nông nghiệp
- HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể của nông dân, vì vậy hoạt động của HTX nông nghiệp có tác động to lớn, tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nông dân HTX cung cấp các yếu tố đầu vào và các dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được kịp thời, đầy đủ, và đảm bảo chất lượng làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông dân được tăng lên
- Thông qua hoạt động dịch vụ mà vai trò điều tiết của HTX nông nghiệp được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hóa như: dịch vụ làm đất, dịch vụ tưới nước…đòi hỏi sản xuất của hộ nông dân phải thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng về chủng loại vốn, thời vụ gieo trồng và chăm sóc
- HTX còn là nơi tiếp nhận những sự trợ giúp của nhà nước tới hộ nông dân,
vì vậy hoạt động của HTX nông nghiệp có vai trò cầu nối giữa nhà nước với hộ nông dân một cách có hiệu quả Trong một số trường hợp, khi có nhiều tổ chức tham gia hoạt động dịch vụ cho hộ nông dân thì hoạt động của HTX là đối trọng buộc các đối tượng phải phục vụ tốt hơn cho nông dân [7]
2.1.2.3 Các đặc trưng của HTX nông nghiệp
Một là, HTX nông nghiệp là tổ chức liên kết kinh tế tự nguyện của những
nông hộ, trang trại có chung yêu cầu về những dịch vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống của mình mà bản thân từng nông hộ không làm được hoặc làm không có
hiệu quả
Hai là, cơ sở thành lập của các HTX là dựa vào việc cùng góp vốn của các thành viên và quyền làm chủ hoàn toàn bình đẳng giữa các xã viên theo nguyên tắc mỗi xã viên một phiếu biểu quyết không phân biệt lượng vốn góp ít hay nhiều
Ba là, mục đích kinh doanh của HTX trước hết là làm dịch vụ cho xã viên, đáp ứng đầy đủ và kịp thời về số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng phải tuân theo nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và lãi suất nội bộ thấp hơn giá thị trường
Trang 21Bốn là, HTX thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi
Năm là, HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã viên thực
sự có nhu cầu, có mong muốn, không lệ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở những dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lí kinh doanh Như vậy, trong mỗi thôn, mỗi xã có thể tồn tại nhiều loại hình HTX có nội dung kinh doanh khác nhau,
có số lượng xã viên không như nhau, trong đó có một số nông hộ, trang trại đồng thời là xã viên của một số HTX
Sáu là, nông hộ trang trại xã viên vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong HTX, vừa là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập Do vậy, quan hệ giữa HTX và xã viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ vừa là quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập Cơ chế liên kết của HTX cần phản ánh được mối quan hệ phức tạp đó
Từ những đặc trưng trên có thể rút ra đặc trưng bản chất của HTX là: HTX là
tổ chức kinh tế liên kết cơ sở của các nông hộ và trang trại, mang tính chất vừa
tương trợ giúp đỡ, vừa kinh doanh [9]
2.1.2.4 Các hình thức của HTX nông nghiệp
* HTX nông nghiệp làm dịch vụ
Về hình thức, đây là tổ chức kinh tế trong nông nghiệp tách ra làm dịch vụ cho nông nghiệp, bao gồm: dịch vụ các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (các HTX cung ứng vật tư, giống…); dịch vu các khâu cho sản xuất nông nghiệp (HTX làm đất, tưới nước, bảo vệ thực vật…); dịch vụ quá trình tiếp theo của quá trình sản xuất nông nghiệp (HTX chế biến, tiêu thụ sản phẩm…)
Về thực chất, các HTX trên được tổ chức với mục đích phục vụ cho khâu sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân là chủ yếu Vì vậy, sự ra đời của các HTX nông nghiệp làm dịch vụ hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu khách quan của sản xuất nông nghiệp, trong đó, đặc điểm của ngành, trình độ sản xuất của các hộ nông dân chi phối một cách trực tiếp nhất
HTX dịch vụ nông nghiệp gồm: HTX dịch vụ chuyên khâu (là HTX chỉ thực hiện một chức năng dịch vụ một khâu cho sản xuất nông nghiệp như: HTX dịch vụ thuỷ nông, HTX dịch vụ điện nông thôn…) và HTX dịch vụ tổng hợp (là các HTX thực hiện các chức năng dịch vụ nhiều khâu cho sản xuất nông nghiệp, đôi khi cho
cả đời sống)
* HTX sản xuất kết hợp dịch vụ
Trang 22Các HTX loại này thường dưới dạng các HTX chuyên môn hoá theo sản
phẩm Đó là các HTX gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ, trong đó trực tiếp sản xuất là hộ nông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nông dân tham gia vào HTX như những thành viên chính thức Ví dụ: HTX sản xuất rau, HTX sản xuất sữa…
* HTX sản xuất nông nghiệp
HTX loại này giống như các HTX sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước khi đổi mới, nhưng mục đích nhằm tạo ra quy mô sản xuất thích hợp chống lại sự chèn
ép của tư thương, tạo những ưu thế mới ở những ngành khó tách riêng, khai thác những ưu đãi của chính phủ đối với các doanh nghiệp lớn, khai thác những nguồn lực cần đầu tư lớn…
2.2 Tình hình phát triển HTX ở Việt Nam
2.2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1975
Thời kỳ (1946-1954) kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng nên cùng với việc động viên nông dân tích cực tăng gia sản xuất, Chính phủ đã từng bước thực hiện các chính sách về ruộng đất, giảm tô, giảm tức Năm 1949, sắc lệnh giảm tô, giảm tức được ban hành, đồng thời tạm cấp ruộng đất thu được của thực dân Pháp và địa chủ bỏ chạy vào vùng địch tạm chiếm chia cho nông dân nghèo Nhờ đó, trong các vùng giải phóng sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lương thực năm 1954 đạt gần 3 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm
1946, tốc độ tăng giá trị sản lượng nông nghiệp ở miền Bắc trong 9 năm kháng chiến đạt 10%/năm [6]
Tháng 8 năm 1955, Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá II đã đề ra chủ trương xây dựng thí điểm 8 HTX nông nghiệp tại các tỉnh (Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An) với 106 hộ
và 59,56 ha đất canh tác, năm 1956 xây dựng thêm 26 HTX Đến tháng 10/1957, toàn miền Bắc có 42 HTX, trung bình mỗi HTX có 46 xã viên Năm 1958 hầu hết các tỉnh đều tiến hành thí điểm xây dựng HTX trên cơ sở các tổ đổi công Lúc này toàn miền Bắc đã có 4.832 HTX nông nghiệp với 126.082 hộ tham gia, chiếm 4,74% tổng số hộ dân [11]
Nhằm tạo điều kiện cho các HTX nông nghiệp phát triển đúng hướng, tháng
4 năm 1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 khoá II đã chính thức quyết định đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp nhằm thúc đẩy phong trào hợp tác hoá Phong trào HTX nông nghiệp phát triển mạnh hơn theo hướng xây dựng các HTX thành những đơn vị kinh tế tập thể, các tư liệu sản xuất
Trang 23chủ yếu dần dần dược tập thể hoá, do HTX thống nhất quản lý, sử dụng Đến cuối năm 1960, miền Bắc đã đưa đại bộ phận nông dân tham gia vào HTX nông nghiệp
và chủ yếu là HTX bậc thấp, quy mô nhỏ Phong trào HTX nông nghiệp thời kỳ này đã phát huy tác dụng tích cực trong công tác thuỷ lợi, mở rộng diện tích gieo trồng, tăng năng suất nông nghiệp, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 24,3%, năng suất lúa tăng 15,25%, gia súc trâu, bò, lợn tăng từ 15% đến 47% [11]
Bước sang giai đoạn thời kỳ 1961 - 1975: thời kỳ củng cố, phát triển, tập trung chuyển HTX từ bậc thấp lên HTX bậc cao và mở rộng quy mô HTX nông nghiệp Thời kỳ này HTX nông nghiệp bộc lộ nhiều nhược điểm, thể hiện rõ nét sự không phù hợp của HTX bậc cao ở quy mô với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, mô hình HTX tập thể hoá, toàn bộ tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu tập thể, HTX quản lý và thống nhất sử dụng, ngày công là giá trị cuối cùng của những người lao động, xã viên sau khi đã trừ đi các chi phí sản xuất, thuế do vậy không còn khả năng khuyến khích được người lao động
Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận những thành tựu kinh tế đạt được: tốc độ phát triển bình quân hàng năm đạt 5,6%, công nghiệp đạt 13,6%, một số ngành công nghiệp quan trọng đã hình thành và phát triển, HTX tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất và cung cấp tới 90% số lượng hàng tiêu dùng cho nhân dân Đánh giá được tầm quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở nông thôn Trung ương đã đề ra hai cuộc vận động lớn:
- Một là: xây dựng HTX theo tiêu chuẩn bốn tốt: "Đoàn kết tốt, sản xuất tốt, tăng thu nhập xã viên, tích luỹ xây dựng HTX tốt, làm tốt nghĩa vụ với Nhà nước"
Số HTX bậc cao, quy mô lớn tăng nhanh về số lượng nhưng trên thực kết sản xuất vẫn trì trệ, thấp kém không thuyết phục, tạo ra sự tin tưởng ở các hộ xã viên, nhất là sản lượng lương thực giảm sút nhiều, chính vì vậy số hộ xã viên xin ra HTX ngày càng tăng thêm
- Hai là: cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật trong các HTX và tăng đầu tư cho HTX Nhờ vậy mà giá trị tài sản cố định tăng nhanh, các công trình phục vụ tưới tiêu, thuỷ lợi nội đồng được xây dựng, đồng ruộng được cải tạo trên diện rộng tuy nhiên sản lượng lương thực vẫn không tăng Quản lý HTX bộc lộ nhiều yếu kém hiện tượng tham ô, lãng phí diễn ra ngày càng nhiều, vốn của HTX bị chiếm dụng…[9]
Chính vì vậy, bước vào giai đoạn 1966 - 1975, hội nghị Trung ương 11,12,15 (khoá III) đã có những quyết định chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức chỉ đạo kinh
tế, quốc phòng trong điều kiện nhà nước có chiến tranh Chế độ ba khoán được cải tiến một bước nhưng vẫn mang nặng tính bình quân Đối với nông nghiệp, quy mô HTX được mở rộng, công tác quản lý trong nội bộ HTX cũng được quan tâm cải
Trang 24tiến một bước Đối với ngành thương mại, HTX tiếp tục được củng cố và phát triển
cả về tổ chức, phạm vi hoạt động và quy mô kinh doanh Tuy nhiên, tình trạng mất dân chủ, vi phạm các nguyên tắc quản lý lại xuất hiện nhiều hơn Đúng trước tình thế đó Đảng ta chủ trương mở cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý
từ cơ sở đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Cuộc vận động này được thực hiện từ đầu năm 1970 đến năm 1980 Cuộc vận động này đã tổ chức lại sản xuất, nhiều phong trào sản xuất được phát động, nhiều công trường thủ công được hình thành, máy móc thiết bị được trang bị, tăng cường cho cấp huyện và các HTX Nguồn vốn đầu tư tăng đã tạo ra một số cơ sở vật chất và công trình phúc lợi mới cho HTX Nhưng về cơ bản vẫn không khắc phục được những mặt yếu kém của HTX mà càng làm phát sinh thêm những khó khăn mới Cụ thể là:
- Thái độ của người lao động đối với công việc chung của HTX ngày càng thờ ơ với công việc, không tận tâm, tận lực với ruộng đất, tài sản, tư liệu sản xuất chung
- Quy mô của HTX ngày càng mở rộng nhưng lãng phí càng lớn, hiệu quả kinh tế ngày một giảm sút, tài sản, vốn ngày càng thất thoát, diện tích đất bỏ hoang ngày càng tăng phổ biến ở nhiều HTX
- Sản xuất nông nghiệp sa sút nghiêm trọng, mức thu nhập của xã viên giảm
2.2.2 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và cả nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng tháng 12 năm 1976 đã đề ra, ở miền Nam: xoá bỏ triệt để quyền chiếm hữu phong kiến về ruộng đất, xây dựng kinh tế quốc doanh lớn mạnh nhanh chóng, chiếm ưu thế trong sản xuất và phân phối, còn ở miền Bắc tiếp tục
mở rộng quy mô các HTX nông nghiệp tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, chuyên môn hoá và cơ giới hoá Tuy nhiên, do rập khuôn và áp đặt mô hình HTX quy mô lớn của miền Bắc nên ngay từ đầu các tỉnh phía Nam đã thực hiện tập thể hoá tư liệu sản xuất một cách triệt để mà không tính đến công tác tổ chức quản lý Chính vì vậy, các HTX nông nghiệp trong giai đoạn này mang nặng tính chất của một tổ chức xã hội chứ không phải là một tổ chức kinh tế Với phương thức tổ chức
mà người nông dân bị tách rời đối tượng lao động và sản phẩm cuối cùng, do vậy động lực kinh tế bị triệt tiêu, biến người nông dân làm chủ thành người lao động phụ thuộc, HTX không còn là một đơn vị kinh tế tập thể như định hướng ban đầu Thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của nông nghiệp nói riêng vào những năm 1979-1980 gặp nhiều khó khăn, sa sút nghiêm trọng, nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra không đạt, sản lượng lương thực, chăn nuôi giảm sút
Trang 25đứng trước những khó khăn lớn, tổng giá trị sản luợng giảm mạnh, ruộng đất bị bỏ hoang, chiến tranh biên giới đã làm cho nền kinh tế rơi vào trạng thái hết sức khó khăn, thiếu thốn trên nhiều mặt Đứng trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 6 khoá IV tháng 9 năm 1979 đã ra Nghị quyết về những vẫn đề cấp bách về kinh tế-
xã hội, thông qua đó, nhiều HTX đã thực hiện khoán đến hộ xã viên, cho phép xã viên bỏ vốn, sức lao động đầu tư thâm canh trên diện tích đất được khoán và được
bà con xã viên nhiệt tình ủng hộ
Đổi mới tư duy lý luận làm cơ sở cho đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn được đánh dấu bằng những mốc lịch sử quan trọng, đó là Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988; sự ra đời của Luật HTX được thông qua ngày 20/3/1996 tại Kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa IX
Thực hiện đường lối đổi mới HTX nông nghiệp của Đảng và thi hành Luật HTX, tất cả các địa phương đều đã tập trung chỉ đạo chuyển đổi HTX nông nghiệp kiểu cũ sang HTX nông nghiệp kiểu mới cho phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp dựa trên quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ nông dân Xuất phát từ đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, sự vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới HTX nông nghiệp của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, việc chuyển đổi HTX nông nghiệp đã diễn ra hết sức đa dạng và phong phú Đáng chú ý là đã xuất hiện nhiều mô hình HTX nông nghiệp làm ăn có hiệu quả, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của hộ nông dân trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa Có thể khái quát thành hai cách làm chủ yếu: chuyển đổi HTX nông nghiệp kiểu cũ sang HTX nông nghiệp kiểu mới; thành lập mới HTX nông nghiệp
- Trong cách thứ nhất, chuyển đổi HTX nông nghiệp kiểu cũ thành HTX nông nghiệp kiểu mới về cơ bản đã giữ nguyên HTX nông nghiệp cũ, nhưng đổi mới phương thức tổ chức, quản lý HTX theo Luật HTX bao gồm các nội dung: kiểm kê,
xử lý tài sản, công nợ của HTX cũ, đăng ký lại danh sách xã viên, xây dựng Điều lệ HTX, tổ chức lại hệ thống dịch vụ và bộ máy quản lý của HTX nông nghiệp Cách làm này khá phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ
Chẳng hạn, ở tỉnh Thái Bình sau chuyển đổi theo Luật HTX đã có 313 HTX nông nghiệp được chuyển đổi trong số 320 HTX nông nghiệp cũ với số hộ nông dân tham gia HTX nông nghiệp kiểu mới đạt 98,9% tổng số hộ của cả tỉnh; ở tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2000 đã có 379/382 HTX thực hiện chuyển đổi, đạt 99,2% số HTX nông nghiệp và hầu hết số hộ nông dân đều tham gia HTX nông nghiệp kiểu mới; ở tỉnh Nam Định có 445 ngàn hộ nông dân tham gia vào 313 HTX nông nghiệp
Trang 26kiểu mới, chiếm gần 100% số hộ nông dân của cả tỉnh Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001 của Tổng cục Thống kê, cả nước có 7.171 HTX trong nông nghiệp, trong đó riêng vùng đồng bằng sông Hồng có 3.311 HTX, chiếm tới 46% số HTX nông nghiệp cả nước, còn ở 5 tỉnh Bắc Trung Bộ bao gồm từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế có 1.114 HTX, chiếm 15,5% số HTX nông nghiệp của cả nước.Cách chuyển đổi này có nhiều hạn chế, vẫn mang nặng tính hình thức; tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế lợi ích chưa có sự đổi mới căn bản, chưa tạo được động lực phát triển mới và gắn bó lợi ích của các hộ xã viên Cụ thể số hộ nông dân tham gia HTX đông vì chủ yếu vẫn theo cách "đánh trống ghi tên", nên họ không góp vốn hoặc góp chiếu lệ, nơi thấp chỉ 30 - 50 ngàn đồng, nơi cao cũng chỉ trên dưới
100 ngàn đồng/mỗi hộ, bản thân xã viên không có động lực kinh tế, HTX nông nghiệp thì không có nhiều vốn để hoạt động kinh doanh [8]
- Cách làm thứ hai, thành lập HTX nông nghiệp kiểu mới bao gồm thành lập HTX nông nghiệp mới hoàn toàn và thành lập HTX nông nghiệp mới trên cơ sở giải thể HTX nông nghiệp kiểu cũ Đây là cách làm chủ yếu ở các tỉnh phía Nam bao gồm vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Cách làm này có ưu điểm chính là xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế hộ, bảo đảm tính tự chủ cao, nên nông dân tự nguyện góp vốn lớn để đáp ứng nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh của HTX Phương thức hoạt động cũng gắn được quyền lợi và trách nhiệm của từng hộ xã viên đối với HTX nông nghiệp Những người sáng lập thường có trình độ chuyên môn kỹ thuật và trình độ kinh doanh và trở thành cán bộ quản lý HTX năng động, sáng tạo, thích ứng được với cơ chế thị trường, phát triển vững chắc và có hiệu quả
Do vậy HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế do những người nông dân tự nguyện thành lập nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động nông nghiệp của họ thông qua việc cung cấp các dịch vụ giá rẻ do lợi thế về quy mô và phân công chuyên môn hóa lao động, dựa trên nền tảng kinh tế của hộ nông dân, mà đa số họ là những người yếu thế về trình độ học vấn, trình độ kỹ thuật - công nghệ và khả năng hạn hẹp về vốn, theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi và cần có sự hỗ trợ của Nhà nước Đây là nét khác cơ bản với kiểu góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần
Theo thống kê của Vụ hợp tác xã (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), số lượng HTX đang hoạt động giảm dần trong những năm gần đây: từ 14.500 vào cuối năm 2007, giảm xuống 13.532 năm 2008 và chỉ còn 12.249 HTX năm 2010 Có tới 3.744 HTX (chiếm 20,83% tổng số HTX) không hoạt động tại thời điểm cuối năm 2007, đến nay con số này có thể tăng lên; nhiều HTX lúng túng trong tổ chức hoạt động,
Trang 27hoặc hoạt động hình thức, kém hiệu quả; tổ chức HTX chưa hấp dẫn nhân dân, doanh nhân tham gia [11]
Bảng 2.1 Số lượng HTX và xã viên của một số tỉnh trong cả nước
STT Tên tỉnh, thành phố Số lượng HTX Số lượng xã viên
Hiện nay, cả nước có hơn 8.828 HTX nông nghiệp với tổng số hơn 6,9 triệu
xã viên, trong đó có hơn 6,5 triệu hộ nông dân Bình quân một HTX nông nghiệp
có 781 xã viên, hội viên qua đó góp phần giải quyết việc làm thường xuyên và thu nhập trực tiếp từ HTX cho người dân [4]
Mở rộng các hình thức hợp tác trong nông nghiệp nói chung và xây dựng HTX nông nghiệp nói riêng là một bộ phận của xây dựng quan hệ sản xuất mới bao gồm cả quan hệ sở hữu và hình thức tổ sản xuất và quản lý Trong đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay, chúng ta thực hiện chính sách đa dạng hóa hình thức sở hữu và tổ chức sản xuất - quản lý với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái Do đó, trong nông nghiệp, nông thôn tồn tại nhiều thành phần kinh tế có quyền bình đẳng trước pháp luật, cùng hợp tác và cạnh tranh với nhau Phát triển các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp đa dạng, từ
hộ nông dân tự chủ đến HTX, kinh tế trang trại, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: sản xuất, dịch vụ, chế biến nông sản, thương mại…
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế muốn tồn tại và phát triển đều phải có
sự hợp tác với nhau theo quan hệ thị trường
Khác với trước đây, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ngày nay được quan niệm rộng hơn, toàn diện hơn, chuyển đổi về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn với thị trường, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần ở
Trang 28nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, bao gồm thủy lợi hóa, cơ khí hóa, điện khí hóa, sinh học hóa, thị trường hóa, hợp tác hóa, nhân văn hóa… Nghĩa là, chuyển đổi nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở nông nghiệp sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở công nghiệp và dịch vụ, xét cả về tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động với phương thức và trình độ cao về phân công và hợp tác lao động xã hội Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và ưu tiên công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển HTX nông nghiệp vừa là nội dung quan trọng, vừa là tiền đề của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Sự phát triển HTX nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang gặp nhiều mâu thuẫn và khó khăn, trước hết là đang đứng trước một nghịch lý giữa lý luận và thực tiễn Về lý luận, ai cũng thấy hợp tác nói chung và HTX nông nghiệp là cần thiết và có lợi cho chính người nông dân, được Đảng và Nhà nước quan tâm (có Nghị quyết số 13-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Quốc hội đã có Luật HTX năm 1996 và Luật HTX sửa đổi bổ sung năm 2003), nhưng trên thực tế việc chuyển đổi HTX nông nghiệp vẫn mang nặng tính hình thức, phát triển chậm và số hộ nông dân thực sự tham gia còn quá ít Theo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001, số lao động thực sự làm việc trong các HTX nông nghiệp chỉ bằng 0,68% tổng số lao động hiện có trong nông thôn [9] Tuyệt đại đa số lao động nông nghiệp và nông thôn làm việc trong các hộ nông dân tự chủ, tuy vẫn được HTX cung ứng các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhưng không là xã viên và do đó thiếu mối quan hệ gắn bó giữa hộ tự chủ với HTX Họ có thể sử dụng hoặc không sử dụng dịch vụ của HTX là tùy thuộc vào giá cả và tinh thần phục vụ Như vậy, HTX nông nghiệp chưa tạo được một sức hút mạnh mẽ các hộ nông dân tham gia hợp tác Trước thực trạng đó, bước đầu, xin được nêu một số nguyên nhân chủ yếu:
- Các hộ nông dân chưa có nhu cầu và động lực tham gia hợp tác Do đất chật người đông, lao động nông nghiệp dư thừa nhiều, thời gian nông nhàn lớn, nhiều
hộ nông dân chưa có nhu cầu hợp tác, cộng với tâm lý sợ mất tự chủ trong sản xuất kinh doanh và tâm lý mặc cảm, định kiến và hoài nghi đối với mô hình HTX nông nghiệp kiểu cũ, trong khi nguyên tắc tham gia HTX là tự nguyện, dân chủ, hộ nông dân chưa thấy rõ lợi ích kinh tế nên chưa có động lực vào HTX nông nghiệp
- Bản thân HTX nông nghiệp hoạt động kinh doanh còn nhiều hạn chế, chưa thích ứng với sản xuất hàng hóa và chưa nêu gương về mô hình tổ chức sản xuất tiên tiến và hiệu quả Ngoại trừ một số mô hình HTX nông nghiệp tiên tiến, năng động và kinh doanh có hiệu quả, đại bộ phận HTX nông nghiệp còn lại vẫn hoạt động theo nếp cũ, chuyển sang làm dịch vụ được chăng hay chớ, chưa quan tâm
Trang 29nhiều đến mục tiêu hiệu quả kinh tế, mà nặng về mặt chính trị - xã hội
- Còn thiếu những cán bộ cốt cán quản lý HTX nông nghiệp có trình độ, kinh nghiệm và có tâm huyết vì lợi ích của HTX và xã viên Chủ nhiệm HTX, ban quản trị chưa được tuyển chọn, rèn luyện, bồi dưỡng phù hợp với điều kiện quản lý kinh doanh nông nghiệp trong kinh tế thị trường
- Sự chỉ đạo chuyển đổi và phát triển HTX nông nghiệp còn nhiều mặt hạn chế
cả về tuyên truyền giáo dục, tổ chức, cơ chế chính sách, điều hành cụ thể đối với phong trào hợp tác và HTX nông nghiệp Chính quyền địa phương nhiều nơi vẫn duy trì HTX nông nghiệp một cách hình thức với nhiều lý do khác nhau và do đó tạo nên sự trì trệ đối với phát triển HTX nông nghiệp [11]
2.2.3 Một số bài học để phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam
Thứ nhất, Để giúp các hộ nông dân cải thiện điều kiện sống và phát triển sản
xuất, cần phải liên kết các hoạt động đầu ra, đầu vào cho họ dưới hình thức tốt nhất
là HTX nông nghiệp Bởi vì theo tôn chỉ của HTX từ trước đến nay thì HTX có thể mang đến nhiều điều lợi cho nông dân như:
+ Bán hàng cho nông dân với giá phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng + Giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá dễ dàng, có kế hoạch với chi phí giảm, giá cả hợp lý, buôn bán văn minh, tiêu chuẩn hoá sản phẩm ở mức cao
+ Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân cả khi mua và khi bán hàng hoá
+ Liên kết nông dân sử dụng hết công suất máy móc, chi phí sản xuất thấp
+ Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên tiến cho nông dân
Tuy nhiên, các giá trị trên chỉ có được khi HTX thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ, hiệu quả hoạt động cao, có
sự tương trợ lẫn nhau
Thứ hai, Để HTX NN ra đời và phát triển tốt rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước
về các mặt: Tạo khuôn khổ luật pháp; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn nhất là đường giao thông, điện, nước; tuyên truyền, khuyến khích, quảng bá cho các HTX Nhà nước cần giúp đỡ HTX thực thi kiểm soát bằng các chế định luật hạn chế ban lãnh đạo HTX lũng đoạn, trá hình doanh nghiệp tư nhân dưới lốt HTX
để hưởng ưu đãi
Thứ ba, Tiêu thụ được sản phẩm cho hộ nông dân với giá phải chăng và chi phí thấp chính là sự hỗ trợ đáng giá mà các hộ nông dân Việt Nam đang cần Để làm được điều này các HTX nông nghiệp ở Việt Nam phải đáp ứng được ba điều kiện:
+ Ban quản lý HTX phải có tâm huyết với mục tiêu giúp nông dân làm giàu hơn
là dùng HTX để làm giàu cho cá nhân mình hay để tích luỹ lợi nhuận cho HTX
Trang 30+ Người nông dân hiểu được HTX chính là tổ chức tự họ giúp họ nên hợp tác với ban quản lý nhằm thiết lập được chế độ hoạt động tối ưu cho HTX
+ Chính quyền địa phương không được can thiệp vào công việc của HTX nhưng phải tạo điều kiện cho các mục tiêu xã hội của HTX có thể thực hiện dễ dàng nhất
Thứ Tư, HTX nông nghiệp phải được tổ chức ở những khâu nào mà HTX làm thì tốt hơn hộ gia đình, tốt hơn tư nhân, thậm chí tốt hơn cả doanh nghiệp Nhà nước
Thứ năm, Cần đề cao vấn đề giáo dục đào tạo nhân lực cho HTX Các tổ
chức Liên minh HTX tỉnh, nhà nước đều phải coi trọng nhiệm vụ này Nếu làm tốt nhiệm vụ này thì phong trào HTX sẽ phát triển bền vững Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ tư vấn cho HTX và nông dân Đặc biệt các HTX cần coi trọng hoạt động khuyến nông, coi đây là phương tiện cơ bản giúp nông dân vượt khó, xoá nghèo để vươn lên làm giàu HTX nông nghiệp phải coi cải tạo tư tưởng phong cách, lề lối, tập quán sản xuất của nông dân là mục tiêu của mình thì mới giúp ích nhiều cho nông dân và giúp hộ nông dân phát triển lực lượng sản xuất
để cạnh tranh hiệu quả với nông dân thế giới trong nền kinh tế toàn cầu
Trang 31PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng - Địa điểm - Thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX chè
- HTX chè trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên
- Cán bộ lãnh đạo tại địa phương
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Tân Cương TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/3/2012 đến tháng 1/3/2013
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Tân Cương
3.2.2 Tìm hiểu thực trạng tổ chức và hoạt động của HTX sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương – TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung, phương thức tổ chức hoạt động, phương thức tổ chức quản lý điều hành, phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh… của HTX chè
3.2.3 Đề ra các giải pháp có tính khoa học, thực tiễn về phát triển HTX chè trên
địa bàn xã Tân Cương nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém trong công
tác tổ chức, điều hành hoạt động của các HTX nông nghiệp đặc biệt là các HTX chè trong giai đoạn hiện nay
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Xã Tân Cương là một xã vùng ven của TP Thái Nguyên thuộc khu vực trung
du miền núi nằm ở phía Tây Nam của TP Thái Nguyên, có diện tích đất tự nhiên khá lớn Xã hiện có 1 HTX theo kiểu mới và 15 cơ sở sản xuất kinh doanh chè Kinh tế HTX đã và đang có xu hướng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, góp phần khai thác tiềm năng lao động tại chỗ, giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân địa phương
Vì vậy tôi tiến hành lựa chọn điểm nghiên cứu trên địa bàn xã Tân Cương
Trang 323.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các nghiên cứu cá nhân, tổ chức về tình hình sản xuất chè và tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước
- Số liệu thứ cấp là những số liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình nghiên cứu của đề tài, được công bố chính thức ở các cấp, các ngành Thông tin
số liệu chủ yếu là các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Các số liệu thứ cấp chủ yếu từ các nguồn, các công trình khoa học có liên quan đến HTX, thông qua các tài liệu trong và ngoài nước đã công bố như: Niên giám thống kê TP Thái Nguyên; tài liệu báo cáo của các tổ chức trong và ngoài nước; UBND TP, các Phòng, ban, tài liệu các trang Website trên internet, các báo cáo nghiên cứu chuyên đề, các tài liệu khác
- Để thu nhập số liệu thứ cấp, tác giả điều tra thông qua hệ thống sổ sách, chứng từ, báo cáo đã được công bố, tham khảo ý kiến chuyên gia Nhằm làm sáng tỏ
cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng về phát triển HTX chè
3.3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp chúng tôi tiến hành các phương pháp
Căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Tân Cương, dựa vào các căn cứ trên cùng với sự tham khảo ý kiến của lãnh đạo địa phương và những người đã sống lâu năm trên địa bàn, chúng tôi chọn 1 HTX xã trong xã Tân Cương, 1 cơ sở sản xuất kinh doanh và 1 HTX ngoài xã Tân Cương để điều tra nghiên cứu như sau:
+ HTX Minh Thu (Xã Tân Cương – TP Thái Nguyên)
+ Cơ sở SXKD Thắng Hường
+ HTX Hương Trà (Xã Minh Lập – Đồng Hỷ)
- Quan sát trực tiếp: Cùng với cán bộ cấp xã đi thăm quan, quan sát trực tiếp tình hình tại địa phương để thấy được công tác tổ chức và hoạt động của các HTX chè và cơ sở SXKD tại địa phương
- Thu thập thông tin từ phiếu điều tra: Thu nhập thông tin sơ cấp qua việc điều tra trực tiếp và gián tiếp thông qua các phiếu điều tra, khảo sát gửi cho các HTX chè và cơ sở SXKD
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Thông tin thu thập được chúng tôi tiến hành kiểm tra chéo thông tin, loại bỏ các thông tin không chính xác
Trang 33- Thông tin được mã hóa và nhập vào phần mềm Excel
- Số liệu thu thập được chúng tôi xử lý trên phần mềm Excel (chức năng pivottable), máy tính cá nhân
3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu
* Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xuất phát từ quan
điểm sự vật luôn vận động và phát triển, các hiện tượng, các quá trình hoạt động của các sự vật đều liên quan với nhau, có mối liên hệ biện chứng với nhau Phương pháp này giúp cho việc xem xét, phân tích đánh giá các hoạt động trong mối quan hệ gắn
bó, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau
* Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được dùng để so sánh giữa
HTX Minh Thu với cơ sở SXKD trên địa bàn xã Tân Cương, giữa HTX Minh Thu với HTX chè khác bên ngoài xã Tân Cương
Phương pháp này để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, so sánh kết quả của mỗi thời
kỳ, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của HTX chè
* Phương pháp thống kê: Chủ yếu để phân tích số liệu kết hợp với phương
pháp so sánh để thấy được tình hình biến động của các chỉ tiêu nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các chỉ tiêu khác Thông qua các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển… nhằm đưa ra những kết luận và giải pháp có căn
cứ khoa học
* Phương pháp chuyên gia: trên cơ sở ý kiến đánh giá của những người đại
diện trong lĩnh vực chuyên ngành và các lĩnh vực nghiên cứu… Từ đó, rút ra những nhận xét, đánh giá chung các vấn đề đang nghiên cứu, giúp cho quá trình phân tích đánh giá được chính xác hơn
* Phương pháp chuyên khảo: dùng để phân tích đánh giá lại một số HTX
chè điển hình Tìm hiểu chung hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè trên phạm vi toàn xã thông qua các chỉ tiêu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và hoạt động của HTX, trình độ của cán bộ chủ chốt, vốn quỹ của HTX, các hoạt động dịch vụ
và kết quả kinh doanh của HTX chè
Trang 34PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Tân Cương
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Tân Cương là xã miền núi nằm ở phía Tây của thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 12 km, tổng diện tích tự nhiên là 1.473,51 ha chia làm 16 xóm Xã Tân Cương tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau:
Phía Bắc giáp xã Phúc Trìu – thành phố Thái Nguyên
Phía Nam giáp xã Bình Sơn – thị xã Sông Công
Phía Đông và Đông Bắc giáp xã Thịnh Đức – thành phố Thái Nguyên
Phía Tây giáp xã Phúc Tân - huyện Phổ Yên
Trên địa bàn xã có 16 xóm, với 5.960 khẩu, 1.420 hộ, gồm 6 dân tộc và 02 tôn giáo chính (Đạo Thiên Chúa và Đạo Phật)
4.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
- Địa hình
Tân Cương là xã thuộc vùng bán sơn địa của thành phố Thái Nguyên, mang đặc trưng của miền núi trung du phía Bắc nên có địa hình gò đồi, thoải lượn sóng
kế tiếp Với 45% diện tích là đồi núi, còn 55% diện tích là đồi núi thấp và ruộng
Với địa hình như vậy cây chè có tiềm năng và phát triển rất lớn trên diện tích vườn đồi của xã
- Thổ nhưỡng
Đất Ferarit chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất, tầng dày canh tác 60 – 69cm, còn lại là đất hình thành trên địa hình đầm lầy và bằng phẳng Với điều kiện thổ nhưỡng như vậy, việc trồng chè được coi là biện pháp hữu hiệu trong việc phủ xanh đất trống đồi trọc, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời tạo thêm việc làm cho người lao động
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.473,51 ha, trong đó diện tích đất đã đưa vào sử dụng tính đến năm 2012 là 1.456,99 ha chiếm 98,88% tổng diện tích, còn lại 16,52 ha vẫn chưa sử dụng chiếm 1,12% Điều đó cho thấy xã đã sử dụng quỹ đất một cách triệt để, nhằm phát huy tối đa những diện tích đất hiện có, tạo ra giá trị sản xuất lớn nhất trên một đơn vị diện tích
Trong tổng diện tích đất đai của xã, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tính đến năm 2010 là 726,09 ha chiếm 49,28%, năm 2011 là 721,74 ha giảm 0,3% so với năm 2010 và không đổi trong năm 2012 Diện tích đất trồng lúa năm 2010 là 234,62 ha và gần như không đổi qua các năm Đất trồng cây hằng năm có sự giảm
Trang 35nhẹ qua 3 năm từ 368,12 ha năm 2010 (bằng 24,98%) xuống 364,64 ha năm 2011 (bằng 24,74%) diện tích đất toàn xã, và không đổi trong năm 2012 Người dân địa phương sử dụng đất để trồng cây hằng năm chủ yếu đáp ứng tiêu dùng nội bộ như
ăn uống, chăn nuôi là chính
Bảng 4.1 :Cơ cấu sử dụng đất của xã qua các năm từ 2010- 2012
CC (%)
DT (Ha)
Trang 36Đất phi nông nghiệp của xã năm 2010 là 217,22 ha chiếm 14,74% diện tích đất toàn xã Sản xuất phi nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất nông nghiệp nên một số hộ dân có khả năng đã chuyển đổi ngành nghề Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2011 là 221,57 ha cao hơn 0,3% so với năm 2010, và tới năm
2012 diện tích đất không đổi
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thời tiết
Tân Cương có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, được chia làm bốn mùa rõ rệt: Xuân - Hạ - Thu - Đông Chịu ảnh hưởng vùng tiểu khí hậu phía Đông dãy núi Tam Đảo cao trên dưới 1.000m so với mực nước biển Nhìn chung khí hậu, thời tiết của xã Tân Cương thuận lợi cho phát triển chăn nuôi và trồng trọt
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
4.1.2.1 Đặc điểm kinh tế của xã Tân Cương
Giá trị sản xuất hàng hóa của xã trong năm 2012 ước đạt khoảng 122,76 tỷ đồng, thu ngân sách ước đạt vượt 10% mục tiêu đề ra
Bảng 4.2: Cơ cấu kinh tế xã Tân Cương năm 2012
(tỷ đồng)
Tỷ trọng (%)
Nguồn: UBND xã Tân Cương năm 2013
Qua bảng trên cho thấy doanh thu từ nông nghiệp cao nhất đạt 66,30 tỷ đồng chiếm 54,00% Người dân trong xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và ở đây là sản xuất chè Tiếp theo là ngành TM – DV chiếm 18,86% tỷ trọng
Doanh thu từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 11,50 tỷ đồng
và chiếm 9,37% tỷ trọng
* Nông nghiệp
- Về trồng trọt: phát huy được thế mạnh và truyền thống sản xuất nông nghiệp + Cây chè: Diện tích chè của xã tăng qua các năm, thực hiện đề án phát triển vùng chè Tân Cương, trong năm 2011 được sự quan tâm của phòng Kinh tế thành