1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR

44 643 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 635,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: “Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí bằng phương pháp SBR tại trung tâm th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

MÃ SỐ: TN 2012 - 82

TÊN ĐỀ TÀI:

“NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN SAU QUÁ

TRÌNH XỬ LÝ YẾM KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SBR TẠI TRUNG TÂM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: ĐẶNG THỊ HỒNG PHƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

MÃ SỐ: TN 2012 - 82

TÊN ĐỀ TÀI:

“NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN SAU QUÁ

TRÌNH XỬ LÝ YẾM KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SBR TẠI TRUNG TÂM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

Chủ trì đề tài: ĐẶNG THỊ HỒNG PHƯƠNG Thời gian thực hiện: 1/2012 – 12/2012

Địa điểm nghiên cứu: ĐH Nông lâm Thái Nguyên

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: “Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí bằng phương pháp SBR tại trung tâm thực hành thực nghiệm Đại học Nông lâm Thái Nguyên”

Mã số: T2012-82

Chủ nhiệm đề tài: Đặng Thị Hồng Phương

Tel.: 0976177083 E-mail: hongphuong83@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:

Thời gian thực hiện: 1/2012-1/2013

Trang 4

SUMMARY

Project Title: “Research on pig livestock wastewater treatment process

after anaeration treatment by SBR method in the practical center of Thai

Nguyen University of Agriculture and Forestry ”

Code number:

Coordinator: Đặng Thị Hồng Phương

Tel: 0976177083 Email: hongphuong83@gmail.com Implementing Institution: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry

Trang 5

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi là lĩnh vực gắn liền với cuộc sống của con người Để đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người thì lượng thịt để tiêu thụ cũng phải luôn đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đó Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, việc phát triển chăn nuôi lợn đã để lại những tác động tiêu cực đến môi trường, làm suy thoái chất lượng đất, chất lượng nước và không khí xung quanh các khu vực nuôi lợn Chất thải chăn nuôi lợn đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh, đến sức khỏe con người và đặc biệt, chúng đóng góp một phần lớn khí gây hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu

Ở Việt Nam, chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn được coi là thế mạnh của ngành nông nghiệp Hiện nay, trong bối cảnh thức ăn chăn nuôi, vật tư chăn nuôi đều tăng, cùng với đó là sức cạnh tranh, vấn đề kiểm soát dịch bệnh nên việc chăn nuôi trong các hộ gia đình có xu hướng giảm trong khi chăn nuôi gia trại, trang trại tăng nhanh và tạo được khả năng cạnh tranh trên thị trường Do vậy, vấn đề chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi lợn cần phải được quản lý tốt Chất thải của các trang trại chăn nuôi lợn với thành phần chủ yếu là phân lợn và nước thải hiện đang là vấn đề lo lắng của các nhà quản lý Hầu hết việc xử lý chất thải của các hộ chăn nuôi là lắp đặt hệ thống

xử lý chất thải Biogas, nhưng hệ thống này chưa đủ công suất đáp ứng nhu cầu xử lý toàn bộ chất thải mà chỉ đạt được 50% - 70% lượng chất thải của trang trại Tuy nhiên, với nhiều trang trại đã có hầm biogas, có hệ thống xử lý chất thải nhưng chất thải chưa được xử lý triệt để [15] Việc sử dụng bể Biogas tại các trại chăn nuôi thuận tiện cho sử dụng chất thải và khai thác nguồn năng lượng nhưng nước thải sau bể Biogas vẫn còn nhiều chất gây ô nhiễm môi trường cần được xử lý trước khi thải vào môi trường

Từ đặc tính nước thải ngành chăn nuôi và thực tế các công nghệ đã áp

Trang 6

dụng để xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí (biogas), công nghệ SBR (các quá trình xử lý chất hữu cơ và nitơ được thực hiện trong một bể) dễ dàng đáp ứng các yêu cầu của xử lý nước thải chăn nuôi Đề tài

“Nghiên cứu xử nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí bằng phương pháp SBR tại trung tâm thực hành thực nghiệm Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra khả năng ứng

dụng của phương pháp SBR trong nỗ lực đảm bảo nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá khả năng loại COD, N trong nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí của công nghệ SBR;

- Nghiên cứu đưa ra chế độ vận hành tối ưu cho hệ thiết bị SBR

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Lắp đặt hệ thí nghiệm xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

Kết quả của đề tài là nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo về việc xử

lý triệt để các chất hữu cơ, N, P trong nước thải chăn nuôi lợn ở Việt Nam

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Đề tài rất có ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài sẽ góp phần đưa

ra mô hình xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí, có thể

phổ cập sử dụng trong các hộ, trang trại chăn nuôi lợn

Trang 7

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận

Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh, bình quân giai đoạn 2001 - 2006 đạt 8,9%

Trong số các nước thuộc khối Asean, Việt Nam là nước chịu áp lực về đất đai lớn nhất Tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp Để đảm bảo an toàn về lương thực và thực phẩm, biện pháp duy nhất là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thành phần quan trọng trong định hướng phát triển

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc độ rất nhanh nhưng chủ yếu là tự phát và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật

về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi Do đó, năng suất chăn nuôi thấp và gây

ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng Ô nhiễm môi trường không những ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, năng suất chăn nuôi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và môi trường sống xung quanh Mỗi năm ngành chăn nuôi gia súc gia cầm thải ra khoảng 75 - 85 triệu tấn phân, với phương thức sử dụng phân chuồng không qua xử lý ổn định và nước thải không qua

xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng [3]

Cho đến nay, chưa có một báo cáo nào đánh giá chi tiết và đầy đủ về ô nhiễm môi trường do ngành chăn nuôi gây ra Theo báo cáo tổng kết của Viện Chăn nuôi, hầu hết các hộ chăn nuôi đều để nước thải chảy tự do ra môi trường xung quanh gây mùi hôi thối nồng nặc, đặc biệt là vào những ngày oi bức Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép khoảng 30 - 40 lần Tổng số VSV và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần Ngoài

ra nước thải chăn nuôi còn có chứa COD, coliform, e.coli, v.v., và trứng giun sán cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép

Khả năng hấp thụ Nitơ và Photpho của gia súc, gia cầm rất kém, nên khi thức ăn có chứa Nitơ và Photpho vào thì chứng sẽ bị bào tiết theo phân và

Trang 8

nước tiểu Trong nước thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng Nitơ và Photpho rất cao [14]

Theo Jongbloed và Lenis (1992), đối với lợn trưởng thành, khi ăn vào 100g Nitơ thì: 30g giữ lại cơ thể, 50g bài tiết ra ngoài theo nước tiểu dưới dạng ure, còn 20g ở dạng phân Nitơ vi sinh khó phân hủy và an toàn cho môi trường

Nitơ bài tiết ra ngoài theo nước tiểu và phân dưới dạng ure, sau đó ure

sẽ tiết ra enzime ureaza chuyển hóa ure thành NH3, NH3 phát tán vào không khí gây mùi hôi hoặc khuếch tán vào nước làm ô nhiễm nguồn nước Nồng độ

NH3 trong nước thải phụ thuộc vào lượng urê trong nước tiểu và pH của nước thải Khi pH tăng, NH4

Khả năng loại bỏ N, P qua các quá trình xử lý nước thải:

- Trong quá trình xử lý sơ bộ lắng nồng độ N giảm khoảng 5-10% do hợp chất N được giữ lại ở trong các hợp chất lắng

- Trong quá trình xử lý yếm khí quá trình oxy hóa amoni hầu như không diễn ra chỉ một phần nhỏ tham gia tổng hợp sinh khối Trong quá trình yếm khí chỉ chuyển hóa từ dạng N-hữu cơ về dạng N-vô cơ qua quá trình thủy phân

- Trong quá trình xử lý hiếu khí so với quá trình phân hủy COD thì quá trình oxy hóa N-amoni thành Nitrit và Nitrat diễn ra chậm hơn nhiều Như vậy đối với nước thải chăn nuôi lợn có hàm lượng N, P cao – thành phần N, P luôn dư so với nhu cầu tổng hợp tế bào Vậy cần có quá trình thiếu khí để thực hiện quá trình khử nitrat

Bảng 2.1 Hiệu quả xử lý N bằng các công trình xử lý thông thường

N hữa cơ N-NH 4 + N-NO 3 - Tổng N

Trang 9

(Nguồn: Trần Thanh Hải (2009) Giải pháp công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp sinh học phù hợp với điều kiện Việt Nam)

Trong quá trình xử lý nước thải luôn tồn tại nhiều chủng loại VSV có khả năng cùng sống trong một môi trường Tỷ lệ của các loại VSV trong quần thể phụ thuộc vào thành phần nước thải Trong cùng điều kiện hiếu khí, tỷ lệ VSV hiếu khí dị dưỡng (oxy hóa Chữa cơ) và loại VSV hiếu khí tự dưỡng (oxy hóa NH4

(Nguồn: Mecalf & Eddy Wastewater engineering, Treatment, disposal and reuse.)

Cơ sở lý thuyết loại bỏ hợp chất N trong nước thải: Quá trình khử hợp chất N có thể được sơ đồ hóa như sau:

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Nước thải chăn nuôi thuộc loại giàu SS, COD, N, P, vì vậy để xử lý nước thải chăn nuôi kĩ thuật yếm khí luôn là sự lựa chọn đầu tiên Ở các nước châu Âu và Mĩ, nhất là ở Anh, nước và chất thải chăn nuôi được coi là nguồn nguyên liệu để sản xuất biogas thu hồi năng lượng Ở Đức, năng lượng biogas

từ chất thải chăn nuôi và các nguồn thải hữu cơ khác đã được đưa vào cán cân năng lượng quốc gia để đạt mục tiêu 20% năng lượng sử dụng là năng lượng tái tạo vào 2020

Tuy nhiên, do nước thải chăn nuôi lợn là một nguồn thải ô nhiễm trầm

Khử nitrat Nitrat hóa

Amôn hoá

( → NO2→ N2 ) ( → NO2-→ NO3-)

Trang 10

trọng đối với môi trường, loại nước thải này rất khó xử lý, bởi vì nồng độ hữu

cơ cũng như nitơ trong nước thải rất cao Vì vậy, phát triển công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi lợn có hiệu quả và kinh tế đang là sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đối với loại nước thải này, nếu chỉ xử lý bằng các quá trình sinh học yếm khí thường không triệt

để, vấn còn một lượng lớn các chất hữu cơ và phần lớn thành phần dinh dưỡng là N, P Do vậy, sau quá trình xử lý yếm khí, bước tiếp theo là quá trình sinh học hiếu khí – thiếu khí kết hợp (xử lý phần hữu cơ còn lại và phần lớn thành phần dinh dưỡng N, P), cuối cùng có thể là bước xử lý bổ sung nhằm giảm thiểu tối đa thành phần dinh dưỡng Một số quá trình hiếu khí – thiếu khí cơ bản thường được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn như sau: Phương pháp bùn hoạt tính hiếu khí – thiếu khí kết hợp, phương pháp lọc sinh học ngập nước thiếu – hiếu khí kết hợp, phương pháp mương oxy hóa, phương pháp anamox và phương pháp SBR

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợn cũng như nhiều loại nước thải công nghiệp khác (nước thải chế biến thực phẩm, nước thải nhà máy sữa, nước thải giết mổ gia súc, v.v.) bằng phương pháp SBR [17] Kết quả nghiên cứu của Kim [19] đối với nước thải chăn nuôi lợn (COD = 1000 mg/L, N-NH4+ = 3400 mg/L, T-P = 145 mg/L), trong khoảng tải trọng 0,063 – 0,25 kg-COD/m3-ngày, với chu trình xử lý 12h cho thấy hiệu suất xử lý đạt 57,4 – 87,4% đối với COD, 90,8 – 94,7% đối với N-NH4+ Kết quả nghiên cứu của Edgerton [3], với nước thải đầu vào có COD

= 4500 mg/L, N-NH4+ = 250 mg/L, T-P = 383 mg/L, với các quá trình yếm khí/hiếu khí/thiếu khí, ở tải trọng 1,18 kg-COD/m3-ngày, chu trình xử lý 12 h cho hiệu quả xử lý là 79%, 99% và 49% tương ứng với COD, N-NH4+ và T-

P Một số nghiên cứu cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả xử lý của phương pháp SBR cũng đã được thực hiện Nghiên cứu của Bortone [22] và Filali [28] về

xử lý nước thải chăn nuôi lợn cho thấy chế độ cấp nước thải 2 lần trong chu

kỳ xử lý cho hiệu suất xử lý cao hơn chế độ cấp nước thải 1 lần

Cho đến nay, việc nghiên cứu môi trường chăn nuôi ở nước ta chưa được quan tâm một cách đầy đủ Chỉ có một số công trình nghiên cứu chất lượng môi trường tại các điểm chăn nuôi đơn lẻ đã được công bố trong một vài năm trở lại đây như: Báo cáo kết quả nghiên cứu môi trường các khu vực chăn nuôi hai xã Trực Thái (Nam Định) và Trung Châu (Hà Tây) của Viện Chăn nuôi; Báo cáo của Viện Công nghệ môi trường kết hợp với Viện Thú y

Trang 11

Quốc gia kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn chuồng nuôi gà tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương; Báo cáo kết quả thực hiện Dự án của liên minh Châu Âu – chương trình Asia ProEco “Phát triển chăn nuôi lợn, quản lý chất thải động vật và bảo vệ môi trường”, v.v

Các công trình nghiên cứu ở trên đều đưa ra nhận định chung là hầu hết lượng chất thải chăn nuôi của Việt Nam đều không được quản lý và xử lý mà

đổ tự do ra môi trường xung quanh Các công trình nghiên cứu cũng đã đề xuất một số phương pháp xử lý chất thải bằng Biogas và De-odorase kết hợp với biện pháp cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại như: nâng độ cao chuồng nuôi, cải tạo mái tạo độ thông thoán, lắp dàn phun mưa, v.v

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ thực hiện ở một khu vực chăn nuôi nhỏ, các mô hình công nghệ đều mới dừng lại ở quy mô thử nghiệm mà chưa có số liệu theo dõi, đánh giá với thời gian đủ dài và thường xuyên để đưa ra những số liệu hệ thống, làm cơ sở cho việc đề xuất áp dụng các phương pháp xử lý chất thải một cách rộng rãi Một số nơi công nghệ xử

lý cũng chưa đạt được các kết quả như mong đợi Vì vậy, khả năng triển khai

áp dụng trên diện rộng các biện pháp cải thiện môi trường chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn

Chỉ có một số ít các nghiên cứu được thử nghiệm trong thực tế như đề tài nghiên cứu công nghệ lọc sinh học trong xử lý nước thải chăn nuôi tại Vĩnh Phúc được Viện Công nghệ Môi trường thực hiện trong năm 2007, đề tài nghiên cứu công nghệ Aeroten trong xử lý nước thải chăn nuôi tại trại lợn Hoàng Liễn – Vũ Thư – Thái Bình được Viện Công nghệ Môi trường thực hiện trong giai đoạn 2006 – 2007 Tuy nhiên, hiệu quả xử lý của 2 công nghệ này chưa cao và chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tế về suất đầu tư và chi phí vận hành Chính vì vậy tuy nhu cầu có đã lâu nhưng mô hình xây dựng và vận hành thành công hệ xử lý nước thải chăn nuôi ở nước ta rất hiếm Công nghệ SBR (quá trình yếm khí, hiếu khí, thiếu khí trong một thiết bị) đã được

áp dụng để xử lý nước thải cho các ngành khác tại Việt Nam (Bệnh viện, nước thải sinh hoạt, v.v.) đạt hiệu quả cao về kỹ thuật cũng như kinh tế Mặc

dù vậy đối với nước thải chăn nuôi vẫn chưa được nghiên cứu ứng dụng

Đối với nước thải chăn nuôi lợn, đặc tính nước thải thay đổi rất lớn phụ thuộc vào phương pháp chăn nuôi, quy mô trang trại, quản lý chuồng trại (như việc có tách lỏng rắn hay không), điều kiện của từng địa phương Những điều này ảnh hưởng lớn đến quy mô xử lý cũng như lựa chọn phương pháp xử lý

Trang 12

Ở Việt Nam do tập quán chăn nuôi còn lạc hậu nên đặc tính nước thải chăn nuôi khác với các nước trên thế giới Vì thế để có thể đưa phương pháp SBR vào ứng dụng thực tế tại Việt Nam cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu để xác định các điều kiện và thông số công nghệ của quá trình: thời gian sục khí/ngừng sục khí, tỷ lệ COD:N, tỷ lệ cấp nước thải, hiệu suất xử lý và tải lượng giới hạn cho phép Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài này nghiên cứu tìm

ra các chế độ vận hành thích hợp đối với công nghệ SBR để xử lý nước thải chăn nuôi lợn có chứa thành phần chất hữu cơ và NH4

+

cao, từ đó có cơ sở ứng dụng thực tiễn để xử lý nước thải chăn nuôi

2.2 Tổng quan về tình hình chăn nuôi lợn

Trong báo cáo "Hiện trạng lương thực và nông nghiệp" công bố ngày 23/2/2010, FAO nhấn mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của hơn 1 tỷ người nghèo trên thế giới, tạo thu nhập, cung cấp thực phẩm chất lượng cao, nhiên liệu, sức kéo, vật liệu xây dựng và phân bón FAO nêu rõ chăn nuôi là lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong nông nghiệp Vì vậy, đầu tư lớn hơn và xây dựng cơ sở lớn hơn là cần thiết để lĩnh vực này tiếp tục đảm nhiệm vai trò thiết yếu tăng cường an ninh lương thực

và giảm đói nghèo

Theo Tổ chức này, thế giới cần tăng đầu tư để phát triển chăn nuôi bền vững, đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh trên toàn cầu về các sản phẩm từ động vật như thịt, sữa, v.v

Tổng Giám đốc FAO, Jacques Diouf, cho rằng phát triển chăn nuôi là nền tảng để phát triển nông nghiệp Để đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh, sản lượng thịt hàng năm trên toàn cầu phải tăng từ mức 228 triệu tấn hiện nay lên

463 triệu tấn vào năm 2050 Nhu cầu sản phẩm thịt tăng là cơ hội để ngành chăn nuôi phát triển, góp phần phát triển kinh tế và xoá đói nghèo ở các nước đang phát triển Ngoài ra, chăn nuôi còn có thể đóng vai trò quan trọng cả trong việc thích nghi với biến đổi khí hậu và giảm tác động của biến đổi khí hậu đối với phúc lợi của con người

Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh (Bình quân giai đoạn 2001-2006 đạt 8,9%) Riêng năm 2009, tuy tình hình kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng so với năm 2008 thì tổng đàn gia cầm đạt 208.18 triệu con, tăng 12.83%; đàn lợn đạt 27.6 triệu con, tăng 3.47%, (Thống kê năm 2009 - Cục Chăn nuôi) Theo thống kê ngày 01/10/2010 thì đàn lợn đạt 27.37 triệu con và bằng 99% cùng kỳ năm 2009

Trang 13

Trong những năm gần đây, xu hướng chăn nuôi nhỏ lẻ đã giảm đi đáng

kể Tỷ lệ số hộ nuôi 1 con lợn giảm đi rõ rệt từ 45% năm 1994 xuống dưới 30% năm 2001 Tuy nhiên, tỷ lệ số hộ nuôi 2 con lợn năm 2001 vẫn chiếm 67% tổng số hộ (so với 82% năm 1994) Quy mô phát triển chăn nuôi của các

hộ đã lớn hơn nhưng vẫn còn nhỏ, tính chuyên môn hoá chưa cao

Trong xu thế chuyên môn hóa sản xuất, hình thức chăn nuôi tập trung ngày càng phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới Hiện nay, số lượng trại chăn nuôi quy mô lớn ngày càng tăng Tính đến năm 01/07/2010 cả nước có: 23.558 trang trại chăn nuôi, tăng 42% so với năm 2006, tăng 13% so với cùng thời điểm năm 2009

Trong số các nước thuộc khối Asean, Việt Nam là nước chịu áp lực về đất đai lớn nhất Tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp Để đảm bảo an toàn về lương thực và thực phẩm, biện pháp duy nhất là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thành phần quan trọng trong định hướng phát triển

Theo quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/1/2008 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 thì:

+ Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu;

+ Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%, trong đó năm 2010 đạt khoảng 32% và năm 2015 đạt 38%;

+ Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế

có hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi;

+ Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử

lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường

+ Mức tăng trưởng bình quân: giai đoạn 2008-2010 đạt khoảng 8-9% năm; giai đoạn 2010-2015 đạt khoảng 6-7% năm và giai đoạn 2015-2020 đạt khoảng 5-6% năm

2.3 Tình hình quản lý chất thải chăn nuôi lợn ở Việt Nam

2.3.1 Chất thải rắn

Phân gia súc được chia thành 2 loại: “nóng” và “lạnh” Việc phân loại này dựa trên tác dụng của phân đến cây trồng Phân “nóng” có hàm lượng

Trang 14

chất dinh dưỡng dễ phân hủy cao nên khi bón cây làm cây bị “xót” làm ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ Ngược lại phân “lạnh” chứa nhiều chất hữu

cơ khó phân hủy (cellulo ) khi bón phân làm tăng độ tơi xốp, có chức năng cải tạo đất Phân gia súc được sử dụng trong nông nghiệp với dưới hình thức như sau: bón cây, cải tạo đất, nuôi cá, v.v

Công tác quản lý chất thải trong chăn nuôi lợn đang gặp nhiều khó khăn, việc sử dụng phân lợn trong nông nghiệp vẫn còn bị hạn chế do phân lợn không giống phân bò hay gia cầm khác Phân lợn ướt và hôi thối nên khó thu gom và vận chuyển, phân lợn là phân “nóng” khó sử dụng, hiệu quả không cao và có thể làm chết hoặc mất năng suất cây trồng (sầu riêng mất mùi, nhãn không ngọt ) Theo điều tra tình hình quản lý chất thải chăn nuôi ở một số huyện thuộc TP HCM và một số tỉnh lân cận [11] Chỉ có 6% số hộ nuôi lợn có bán phân cho các đối tượng sử dụng để nuôi cá và làm phân bón Khoảng 29% số hộ chăn nuôi lợn sử dụng phân cho bể biogas và 9% hộ dùng phân lợn để nuôi cá

Theo kết quả điều tra đánh giá hiện trạng môi trường của Viện Chăn nuôi (2006) tại các cơ sở chăn nuôi lợn có quy mô tập trung ở Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy: Chất thải rắn bao gồm chủ yếu là phân, chất độn chuồng, thức ăn thừa và đôi khi là xác gia súc, gia cầm chết Kết quả điều tra hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi cho thấy cả 10 cơ sở chăn nuôi lợn và 5 cơ sở chăn nuôi gà, 100%

số cơ sở chăn nuôi đều chưa tiến hành xử lý chất thải rắn trước khi chuyển ra ngoài khu vực chăn nuôi Các cơ sở này chỉ có khu vực tập trung chất thải ở

vị trí cuối trại, chất thải được thu gom và đóng bao tải để bán cho người tiêu thụ làm phân bón hoặc nuôi cá Các bao tải này được tái sử dụng nhiều lần, không được vệ sinh tiêu độc nên nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây nhiễm lan truyền dịch bệnh từ trang trại này sang trang trại khác là rất cao Đối với phương thức nuôi lợn trên sàn bê tông phía dưới là hầm thu gom thì không thu được chất thải rắn Toàn bộ chất thải, bao gồm phân, nước tiểu, nước rửa chuồng được hòa lẫn và dẫn về bể biogas

2.3.2 Chất thải lỏng

Đây là loại chất thải ít được sử dụng và khó quản lý do:

- Lượng nước thải lớn, lượng nước sử dụng cho nhu cầu uống, rửa chuồng và tắm cho lợn là 30-50 lít nước/1con.ngđ

Trang 15

- Nước thải có mùi hôi thối, khó vận chuyển đi xa để sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản;

- Lượng nước thải quá lớn, không thể sử dụng hết cho diện tích đất canh tác xung quanh

Việc quản lý chất thải lỏng trong chăn nuôi lợn là vấn đề nan giải, nước thải chăn nuôi lợn có nhiều chất hữu cơ Lưu lượng nước thải khá cao do số lượng lợn nuôi nhiều và lợn được tắm nhiều lần trong ngày, nhất là lúc trời nóng (lưu lượng nước sử dụng đối với lợn trưởng 30-50 lít/1 con/ ngày) Theo điều tra tình hình quản lý chất thải chăn nuôi ở một số huyện thuộc TP HCM

và một số tỉnh lân cận [11] cho thấy: Nước thải dùng cho mục đích nông nghiệp (15%) Đối với các trang trại không có đất trồng trọt thì nước thải phần lớn chỉ xử lý sơ bộ sau đó thải ra môi trường (45%) Có khoảng 40% số trang trại sử dụng bể Biogas để xử lý nước thải

Theo kết quả điều tra đánh giá hiện trạng môi trường của Viện chăn nuôi (2006) tại các cơ sở chăn nuôi lợn có quy mô tập trung thuộc Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy: nước thải của các cơ sở chăn nuôi lợn bao gồm nước tiểu, rửa chuồng, máng

ăn, máng uống và nước tắm rửa cho lợn Cả 10 cơ sở chăn nuôi lợn được điều tra đều có chỉ có hệ thống xử lý chất thải lỏng bằng công nghệ biogas Kết quả điều tra của cho thấy hệ thống xử lý nước thải tại các trang trại trên là: Nước thải bể Biogas hồ sinh học thải ra môi trường, hầu hết các trang trại chăn nuôi lợn khác cũng có sơ đồ xử lý chất thải như trên [12]

Nhìn chung, việc quản lý chất thải chăn nuôi lợn đang gặp nhiều khó khăn Nhu cầu sử dụng chất thải chăn nuôi lợn trong nông nghiệp còn rất thấp Vì vậy cần có nhiều biện pháp tích cực kết hợp để giải quyết vấn đề quản lý và khắc phục sự ô nhiễm môi trường do một lượng chất thải chăn nuôi gây ra

2.4 Một số phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi

Đối với nước thải chăn nuôi, có thể áp dụng các phương pháp xử lý sau:

- Phương pháp xử lý cơ học

- Phương pháp xử lý hóa lý

- Phương pháp xử lý sinh học

Trang 16

Trong các phương pháp trên, xử lý sinh học là phương pháp chính, các công trình xử lý sinh học thường được đặt sau các công trình xử lý cơ học, hóa lý

2.4.1 Xử lý nước thải chăn nuôi bằng phương pháp cơ học và hóa lý

* Xử lý cơ học

Mục đích là tách cặn rắn và phân ra khỏi hỗn hợp nước thải bằng cách thu gom, lắng cặn Có thể dùng song chắn rác, bể lắng, v.v để loại bỏ cặn dễ lắng tạo điều kiện xử lý và giảm khối tích các công trình phía sau

* Xử lý hóa lý

Sau khi xử lý cơ học, nước thải còn chứa nhiều cặn hữu cơ và vô cơ có kích thước nhỏ, có thể dùng phương pháp keo tụ để loại bỏ chúng Theo nghiên cứu của Trương Thanh Cảnh (2001) với nước thải chăn nuôi lợn: phương pháp cơ học và keo tụ có thể tách được 80-90% hàm lượng cặn trong nước thải chăn nuôi lợn Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi chi phí cao không phù hợp với các cơ sở chăn nuôi Ngoài ra, tuyển nổi cũng là một phương pháp để loại bỏ cặn trong nước thải chăn nuôi lợn, tuy nhiên chi phí đầu tư và vận hành cao nên không phù hợp với các cơ sở chăn nuôi

2.4.2 Phương pháp ứng dụng công nghệ sinh thái sử dụng thực vật thủy sinh

Sự thâm nhập các chất hữu cơ, N và P từ nước thải nhất là nước thải chăn nuôi là nguyên nhân gây phú dưỡng (eutrophication) các thuỷ vực tiếp nhận dẫn đến hiện tượng “nở hoa nước” do vi tảo bao gồm vi khuẩn lam (VKL) độc phát triển mạnh, làm mất cân bằng sinh thái và suy giảm chất lượng nước Nghiêm trọng hơn, môi trường nước trở nên hôi thối, không thể

sử dụng và ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng

Trong xử lý nước thải giầu nitơ và phốt pho, công nghệ sinh thái (CNST) sử dụng thực vật thuỷ sinh (TVTS) có nhiều ưu điểm, rất thân thiện môi trường, được nhiều nước rất quan tâm

Để ngăn ngừa hiện tượng phú dưỡng và sự nở rộ độc hại của vi khuẩn lam, ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước trong khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương kỹ thuật Công nghệ sinh học - sinh thái đã và đang được phát triển và hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, v.v

Công nghệ sinh học - sinh thái dựa trên cơ sở hoạt động của các hệ thống sinh thái tự nhiên và nhân tạo (bao gồm động - thực vật và vi sinh vật),

Trang 17

thân thiện với môi trường, đòi hỏi ít năng lượng, có tính phổ cập cao và rất khả thi đối với điều kiện nước ta, trong đó phương pháp sử dụng thực vật thuỷ sinh (TVTS) được coi là có hiệu quả cả về kinh tế và xã hội

TVTS sử dụng nitơ, phốtpho và các nguyên tố vi lượng khác trong trao đổi chất Tại các nước phát triển như Đức, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v, các công nghệ xử lý nước thải sử dụng TVTS đã được phát triển rất thành công Tại Pháp, năm 1993 đã có tới 2600 trạm xử lý nước thải kết hợp sử dụng ao ổn định Bắt đầu từ những năm 1980 rất nhiều cơ sở xử lí nước thải tại các bang nước Mỹ đã phát triển và ứng dụng công nghệ xử lí ô nhiễm với việc sử dụng các loài thực vật nổi và hệ thống hồ ổn định Phương pháp xử lí ô nhiễm hữu cơ và vô cơ tại vùng rễ của một số TVTS - còn gọi là

“Phương pháp vùng rễ”, đã được các nhà khoa học Đức nghiên cứu và triển khai có hiệu quả tại nhiều nơi Các nhà khoa học Nhật Bản đã thiết kế những

hệ thống làm sạch nước ô nhiễm sử dụng hệ sinh thái TVTS dưới dạng park để giảm bớt ô nhiễm các hồ lớn, thông qua đó kiểm soát hiện tượng nở hoa của nước do vi tảo phát triển trong đó có tảo độc

Bio-2.4.3 Xử lý nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp sinh học kỵ khí

Năm 1992 International Development Research Centre (IDRC), Canada xuất bản một tài liệu rất đầy đủ về lĩnh vực quản lí và xử lý chất thải chăn nuôi lợn Đây là sản phẩm của một chương trình lớn (từ 1975 đến 1990) của Chính phủ Singapore, được quốc tế tài trợ (Australian Development Assistance Bureau, FAO, German Technical Assistance Agency (GTZ), IDRC (Canada), UNDP, ASEAN), được điều hành trực tiếp bởi TS Ngiam Tong Tau – 1984 trở thành Giám đốc The Primary Production Department of Singapore có sự tham gia của hàng trăm chuyên gia quốc tế, bao trùm mọi lĩnh vực, yếu tố liên quan đến bảo vệ môi trường ngành chăn nuôi lợn, từ khâu giống, thức ăn chuồng trại tới chính sách liên quan Về khía cạnh các kĩ thuật tài liệu trình bày chi tiết về công nghệ xử lý chất thải, nước thải, các kĩ thuật áp dụng Tài liệu bao trùm gồm cả vấn đề thu hồi năng lượng và tái sử dụng nước (thu hồi biogas, tuần hoàn nước tiền xử lí rửa chuồng, dùng nước thải nuôi tảo làm thức ăn chăn nuôi giàu đạm, v.v.)

Quá trình phân hủy kỵ khí các hợp chất hữu cơ là quá trình sinh hóa phức tạp, bao gồm hàng trăm phản ứng và hợp chất trung gian, mỗi phản ứng được xúc tác bởi những enzym đặc biệt Những quá trình phân hủy kỵ khí

Trang 18

được ứng dụng rộng rãi trong xử lý bùn thải và phân, sau đó phương pháp này được áp dụng cho xử lý nước thải nhờ có những ưu điểm sau:

- Khả năng chịu tải trọng cao so với quá trình xử lý hiếu khí;

- Thời gian lưu bùn không phụ thuộc vào thời gian lưu nước Một lượng sinh khối lớn được giữ lại trong bể;

- Chi phí xử lý thấp (không phải cung cấp oxy như quá trình xử lý hiếu khí);

- Tạo ra một nguồn năng lượng mới có thể sử dụng (khí sinh học – Biogas);

- Hệ thống công trình xử lý đa dạng: UASB, lọc kỵ khí, kỵ khí xáo trộn hoàn toàn, kỵ khí tiếp xúc

Bên cạnh các ưu điểm trên, quá trình xử lý kỵ khí có một số nhược điểm sau:

- Nhạy cảm với môi trường (nhiệt độ, pH, nồng độ kim loại nặng, v.v);

- Phát sinh mùi;

- Tốc độ phát triển sinh khối chậm

Trong công nghệ kỵ khí cần lưu ý 2 yếu tố quan trọng:

- Duy trì sinh khối càng nhiều càng tốt;

- Tạo tiếp xúc đủ giữa nước thải và sinh khối vi khuẩn

2.4.3.1 Bể Biogas

Đây là phương pháp xử lý kỵ khí khá đơn giản, thấy ở hầu hết các cơ

sở chăn nuôi quy mô trang trại, kể cả quy mô hộ gia đình Ưu điểm của bể Biogas là có thể sản xuất được nguồn năng lượng khí sinh học để thay thế được một phần các nguồn năng lượng khác

Trong bể Biogas các chất hữu cơ được phân hủy một phần, do đó sau Biogas nước thải có hàm lượng chất hữu cơ thấp và ít mùi hơn Bùn cặn trong

bể biogas có thể sử dụng để cải tạo đất nông nghiệp Cùng với việc có nguồn năng lượng mới sử dụng, còn góp phần giảm thiểu hiện tượng chặt phá rừng

và bảo vệ môi trường Khí Biogas là một nguồn năng lượng có triển vọng trong tương lai đồng thời góp phần bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Khí Biogas là một hỗn hợp bao gồm CH4, CO2, N2, H2S và một số khí khác Thành phần chủ yếu là CH4 (60-70%) và CO2 (30-40%) Khi đốt cháy 1m3 hỗn hợp khí biogas sinh ra nhiệt lượng khoảng 4.500-6.000 calo/m3

Trang 19

tương đương với 1 lít cồn, 0,8 lít xăng, 0,6 lít dầu thô, 1,4 kg than hoa hay 2,2

2.4.3.2 Hồ kỵ khí

Chiều sâu hồ khoảng 3-5m, lớp nước trong hồ được khuấy đảo nhờ các bọt khí sinh ra từ quá trình kỵ khí ở đáy và các yếu tố khác như gió, chuyển động đối lưu Hiệu quả xử lý của hồ kỵ khí phụ thuộc vào thời gian lưu và tải lượng chất hữu cơ Tải trọng BOD của hồ kỵ khí tương đối cao, từ 200-

500 kgBOD/ha.ngày Hiệu quả khử BOD từ 50-85% Hàm lượng chất lơ lửng khi ra khỏi hồ 80-160 mg/l

2.4.3.3 Quá trình lọc sinh học kỵ khí

Kỹ thuật lọc yếm khí được sử dụng trong thực tế lần đầu tiên vào năm

1969, kỹ thuật trên phù hợp với nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao Tải lượng chất hữu cơ của bể lọc yếm khí có thể đạt tới 1 - 20 kgBOD/m3.ngàyđêm

Quá trình lọc kỵ khí dính bám, sử dụng giá thể mang vi sinh như sỏi,

đá, vòng nhựa tổng hợp, tấm nhựa, xơ dừa để xử lý nước thải trong điều kiện không có oxy Bể lọc kỵ khí có dòng chảy hướng lên hoặc dòng chảy ngang Nước thải đi qua và tiếp xúc với toàn bộ lớp vật liệu lọc Sinh khối dính bám trên bề mặt lớp vật liệu lọc cố định do đó sinh khối được giữ lại trong bể với thời gian lâu hơn thời gian lưu nước (thời gian lưu nước là 8h, thời gian lưu bùn có thể lên đến 100 ngày)

2.4.3.4 Quá trình kỵ khí trong UASB

Hệ thống này được nghiên cứu và ứng dụng bởi Gatze Lettinga và các cộng sự của trường đại học Wageningen ở Hà Lan từ những năm 1970, nó

Trang 20

thích hợp cho việc xử lý nước thải có hàm lượng chất hữu cơ từ thấp tới cao tại các vùng nhiệt đới Trong quá trình xử lý, UASB làm giảm hàm lượng chất hữu cơ trong nước thải và sinh ra một lượng khí Biogas đáng kể

Nước thải được đưa từ dưới lên qua lớp bùn kỵ khí lơ lửng ở dạng hạt Quá trình sinh hóa diễn ra khi nước thải tiếp xúc với lớp hạt bùn này Khí sinh

ra sẽ kéo các bông bùn lên lơ lửng trong bể tạo ra sự khuấy trộn đều giữa bùn

và nước Khi lên đến đỉnh các bọt khí sẽ va chạm với các tấm chắn nghiêng, các bọt khí được giải phóng tự do còn bùn được rơi xuống theo trọng lực Tấm chắn được đặt nghiêng trong vùng tách pha để tăng tiết diện, tiết diện dòng chảy tăng do đó làm giảm tốc độ lắng của pha rắn tại vùng này, bùn được tích tụ trên bề mặt tấm chắn nghiêng khi đủ lớn tách ra và rơi xuống vùng lắng

2.4.3.5 Bể EGSB (Expanded Granular Slugde Bed)

Một trong những yếu tố quan trọng của hệ UASB là dạng tập hợp sinh khối, sinh khối keo tụ thành hạt bùn: kích thước 1-5mm, khối lượng riêng lớn,

độ bền cơ học cao, tốc độ sa lắng lớn và hoạt tính methane hóa cao Một hệ UASB thông thường không có khả năng tạo ra các hạt bùn có tính chất như trên mặc dù có hiệu quả xử lý cao, chứng tỏ chúng không phải là điều kiện tiên quyết cho hiệu quả xử lý của hệ, chính từ quan điểm trên người ta đã biến thể hệ UASB thành hệ EGSB Năm 1983 Lettinga và CS, đã phát minh ra hệ thống EGSB - Expanded Granular Sludge Bed (lớp bùn hạt mở rộng)

Dòng nước thải đi vào hệ thống theo chiều từ dưới lên, qua một lớp bùn hạt mở rộng, chứa những vi sinh vật kỵ khí để phân huỷ chất hữu cơ chứa trong bùn thải Vận tốc dòng lên của hệ thống có thể đạt trên 9 m/h, cao hơn nhiều hệ thống UASB (0,6 - 0,9m/h) Nước thải ra khỏi hệ thống có thể được tuần hoàn trở lại một phần, do tải lượng của bể EGSB (2-4kgCOD/m3.ngày) thấp hơn so với bể UASB

2.4.4 Xử lý nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp hiếu khí – thiếu khí

Nước thải chăn nuôi lợn là một nguồn thải ô nhiễm trầm trọng đối với môi trường Loại nước thải này rất khó xử lý, bởi vì nồng độ hữu cơ cũng như nitơ trong nước thải rất cao Vì vậy, phát triển công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi lợn có hiệu quả và kinh tế đang là sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đối với loại nước thải này, bước xử lý đầu tiên thường là quá trình sinh học yếm khí, bước tiếp theo là quá trình sinh

Trang 21

học hiếu khí – thiếu khí (xử lý phần hữu cơ còn lại và phần lớn thành phần dinh dưỡng N, P), cuối cùng có thể là bước xử lý bổ sung nhằm giảm thiểu tối

đa thành phần dinh dưỡng Một số quá trình hiếu khí – thiếu khí cơ bản thường được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn như sau:

2.4.4.1 Phương pháp bùn hoạt tính hiếu khí – thiếu khí kết hợp

Đây là một dạng cải tiến của phương pháp bùn hoạt tính truyền thống, trong đó có bổ sung thêm các ngăn thiếu khí xen kẽ với các ngăn hiếu khí kết hợp với hồi lưu nước thải sau xử lý về ngăn thiếu khí đầu tiên Quá trình này

có thể xử lý đồng thời hữu cơ và nitơ Quá trình nitrat hóa được thực hiện ở ngăn hiếu khí và quá trình khử nitrat được thực hiện ở ngăn thiếu khí Gần đây quá trình ngày được cải tiến bằng cách chia dòng vào ở các ngăn thiếu khí nhằm tận dụng nguồn cacbon trong nước thải cho quá trình khử nitrat để nâng cao hiệu quả xử lý nitơ Kết quả khảo sát đối với một số trạm xử lý nước thải công nghiệp qui mô nhỏ của 21 nhà máy cho thấy, quá trình này cho hiệu quả

xử lý rất tốt: nước thải đầu ra tính theo trung bình tháng đạt 10 mg/L đối với BOD, 10 mg/L đối với SS và 10 mg/L đối với T-N và 1 mg/L đối với P [9]

2.4.4.2 Phương pháp lọc sinh học ngập nước hiếu khí – thiếu khí kết hợp:

Nguyên lý của quá trình xử lý tương tự phương pháp trên, nhưng ở đây các quá trình nitrat hóa và khử nitrat được thực hiện ở trong các thiết bị lọc sinh học chứa vật liệu mang vi sinh Ưu điểm của quá trình này là thiết bị gọn nhẹ do có thể vận hành ở tải trọng cao (tải trọng BOD có thể lên đến 2 – 3 kg BOD/m3 -ngày), quá trình ổn định, vận hành đơn giản, tiêu hao ít năng lượng Tuy nhiên chí phí đầu tư lớn

2.4.4.3 Phương pháp mương ôxy hóa

Mương ôxy hóa là một dạng thiết bị sục khí kéo dài Phương pháp này

có ưu điểm là có thể xử lý hiệu quả đồng thời hữu cơ và nitơ, vận hành đơn giản, tốn ít năng lượng, tạo ra ít bùn, tuy nhiên cần diện tích xây dựng lớn Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến đối với qui mô nhỏ Do hiệu quả xử lý nitơ cao, vận hành đơn giản nên đây có thể là một phương pháp phù hợp đối với một số trang trại chăn nuôi có diện tích lớn

2.4.4.4 Phương pháp Anamox

Ngoài quá trình hiếu khí – thiếu khí truyền thống, gần đây quá trình Anammox (Anaerobic Ammonium Oxidation, oxy hóa amoni yếm khí), một quá trình sinh học mới được phát hiện hơn 10 năm trước, được quan tâm

Trang 22

nghiên cứu và phát triển ứng dụng trong xử lý nước thải giàu nitơ Trong điều kiện yếm khí, amoni được oxy hóa với nitrit (NO2

-) như là chất nhận điện tử tạo thành khí nitơ bởi các vi sinh vật tự dưỡng planctomycetes Quá trình xử

lý amoni bằng phương pháp này được thực hiện thông qua hai quá trình: đầu tiên là oxy hóa một phần amoni thành nitrit (khoảng 50% tổng amoni) bằng quá trình hiếu khí truyền thống (nitrit hóa), tiếp theo là quá trình Anammox chuyển hóa amonni cùng với nitrit trực tiếp thành khí nitơ Quá trình này không cần cơ chất hữu cơ, cho phép tiết kiệm trên 60% lượng oxy cần cung cấp, đồng thời tạo ra ít bùn Qúa trình nitrit hóa một phần – Anammox đầu tiên trong thực tế đã được xây dựng tại nhà máy xử lý nước thải Rotterdam,

Hà Lan để xử lý nước thải từ công đoạn xử lý bùn Một số nghiên cứu mới đây cũng gợi ý rằng có thể ứng dụng kỹ thuật này trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn mặc dù tỉ lệ C/N khá cao Có thể nói, quá trình Anammox là một phương pháp tiến tiến, tốn ít năng lượng, chi phí xử lý thấp, do đó là là một phương pháp có nhiều triển vọng trong xử lý các nguồn nước thải giàu hữu

cơ Tuy nhiên, hiện nay phương pháp này cũng đang gặp phải một số khó khăn trong ứng dụng thực tế Đó là việc khống chế, điều khiển quá trình nitrit hóa một phần amoni sao cho chỉ một nửa lượng amoni được chuyển hóa thành nitrit; đối với nước thải có tỉ lệ C/N cũng gặp nhiều bất lợi và quá trình nuôi cấy vi sinh vật cần thời gian dài và khó khăn

2.4.4.5 Công nghệ SBR

SBR (sequencing batch reactor): Bể phản ứng theo mẻ là dạng công trình xử lí nước thải dựa trên phương pháp bùn hoạt tính, nhưng 2 giai đoạn sục khí và lắng diễn ra gián đoạn trong cùng một bể SBR không cần sử dụng

bể lắng thứ cấp và quá trình tuần hoàn bùn, thay vào đó là quá trình xả cặn trong bể Hệ thống SBR là hệ thống dùng để xử lý nước thải sinh học chứa chất hữu cơ và nitơ cao

Ngày đăng: 18/06/2016, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), Báo cáo kết quả thực hiện 12 tháng năm 2011 ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm tin học và thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện 12 tháng năm 2011 ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2011
3. Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, (2009), “Chất thải chăn nuôi – Hiện trạng và giải pháp”, Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thải chăn nuôi – Hiện trạng và giải pháp
Tác giả: Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Năm: 2009
4. Lê Văn Khoa, Nguyễn Văn Cự, Bùi Thị Ngọc Dung, Lê Đức, Trần Khắc Hiệp, Cái Văn Tranh (2002). Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón, cây trồng, Nhà xuất bản Giáo dục, T197-214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón, cây trồng, Nhà xuất bản
Tác giả: Lê Văn Khoa, Nguyễn Văn Cự, Bùi Thị Ngọc Dung, Lê Đức, Trần Khắc Hiệp, Cái Văn Tranh
Nhà XB: Nhà xuất bản " Giáo dục
Năm: 2002
5. Lê Công Nhất Phương, (2009), “Nghiên cứu ứng dụng nhóm vi khuẩn Anammox trong xử lý nước thải nuôi heo”, Luận án tiến sĩ khoa học, Viện Môi trường và Tài nguyên, Trường Đại hoc Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng nhóm vi khuẩn Anammox trong xử lý nước thải nuôi heo”, "Luận án tiến sĩ khoa học
Tác giả: Lê Công Nhất Phương
Năm: 2009
6. Phạm Hải Thịnh, (2007), “Nghiên cứu xử lý đồng thời thành phần hữu cơ và dinh dưỡng trong nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp SBR”, Báo cáo đề tài cấp cơ sở chọn lọc Viện Công nghệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xử lý đồng thời thành phần hữu cơ và dinh dưỡng trong nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp SBR”
Tác giả: Phạm Hải Thịnh
Năm: 2007
7. Phùng Đức Tiến, Nguyễn Duy Điều, Hoàng Văn Lộc, Bạch Thị Thanh Dân, 2009, “Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi”, Tạp chí Chăn nuôi, T 4/ 2009, Tr 10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi” , "Tạp chí Chăn nuôi
8. Vũ Đình Tôn, Lại Thị Cúc, Nguyễn Văn Duy (2008), “Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải bằng bể biogas của một số trang trại chăn nuôi lợn vùng đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Khoa học và phát triển, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, số 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải bằng bể biogas của một số trang trại chăn nuôi lợn vùng đồng bằng sông Hồng”, "Tạp chí Khoa học và phát triển
Tác giả: Vũ Đình Tôn, Lại Thị Cúc, Nguyễn Văn Duy
Năm: 2008
9. Nguyễn Hữu Trung (2010), “Nghiên cứu xử lý đồng thời thành phần hữu cơ và dinh dưỡng trong nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp SBR”, Báo cáo đề tài cấp cơ sở chọn lọc Viện Công nghệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xử lý đồng thời thành phần hữu cơ và dinh dưỡng trong nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp SBR
Tác giả: Nguyễn Hữu Trung
Năm: 2010
10. Trịnh Quang Tuyên, Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Tiến Thông, Đàm Tuấn Tú, 2008, “Thực trạng ô nhiễm môi trường và xử lý chất thải trong chăn nuôi lợn trang trại tập trung”. Báo cáo khoa học năm 2008 Bộ NN&PTNT, Viện chăn nuôi, Tr 193-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ô nhiễm môi trường và xử lý chất thải trong chăn nuôi lợn trang trại tập trung”. "Báo cáo khoa học năm 2008 Bộ NN&PTNT
14. Viện KH&CN Môi trường, trường ĐHBKHN (2009), “Báo cáo kết quả triển khai năm 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả triển khai năm 2009
Tác giả: Viện KH&CN Môi trường, trường ĐHBKHN
Năm: 2009
15. Vincent Porphyre, Cirad, Nguyễn Quế Côi, NIAH (2006), Thâm canh chăn nuôi lợn, quản lý chất thải và bảo vệ môi trường, Nhà xuất bản PriseTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm canh chăn nuôi lợn, quản lý chất thải và bảo vệ môi trường
Tác giả: Vincent Porphyre, Cirad, Nguyễn Quế Côi, NIAH
Nhà XB: Nhà xuất bản Prise Tiếng Anh
Năm: 2006
16. Ahn YH, Hwang IS, Min KS (2004), “Anammox and Partitial Denitritation in Anaerobic Nitrogen Removal from Figgery Waste” , Wat. Sci.Tech. Vol. 49, No 5-6, Pg 145-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anammox and Partitial Denitritation in Anaerobic Nitrogen Removal from Figgery Waste” , "Wat. Sci. "Tech
Tác giả: Ahn YH, Hwang IS, Min KS
Năm: 2004
17. Andreottola G, Foladori P, Ragazzi M (2001), “On-line control of a SBR system for nitrogen removal from industrial wastewater”, Wat. Sci.Tech. Vol. 43, No. 3, pg 93-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On-line control of a SBR system for nitrogen removal from industrial wastewater”, "Wat. Sci. "Tech
Tác giả: Andreottola G, Foladori P, Ragazzi M
Năm: 2001
19. Chang Won Kim, Myung –Won Choi, Ji-Yeon Ha (2000), “Optimazation of operating mode for sequecing batch reactor (SBR) treating piggery wastewater with high nitrogen”. 2 nd Int. Sym. on SBR Technology IWA, 10 – 12, July, Narbonne, France Sách, tạp chí
Tiêu đề: Optimazation of operating mode for sequecing batch reactor (SBR) treating piggery wastewater with high nitrogen”. "2"nd
Tác giả: Chang Won Kim, Myung –Won Choi, Ji-Yeon Ha
Năm: 2000
20. D.Obaja, S. Macé, J. Costa, J. Mata-Alvarez (2005) “Biological nutrient removal by sequencing batch reactor (SBR) using organic carbon source in digested piggery wastewater”, Science direct, Bioresource Technology , pg 7-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biological nutrient removal by sequencing batch reactor (SBR) using organic carbon source in digested piggery wastewater”, "Science direct, Bioresource Technology
21. D.Obaja, S. Macé, J. Costa, C. Sans, J. Mata-Alvarez (2003), “Nitrification, denitrification and biological phosphorus removal in piggery wastewater using a sequencing batch reactor”, Science direct, Bioresource Technology 87 (2003) 103-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nitrification, denitrification and biological phosphorus removal in piggery wastewater using a sequencing batch reactor”, "Science direct, Bioresource Technology
Tác giả: D.Obaja, S. Macé, J. Costa, C. Sans, J. Mata-Alvarez
Năm: 2003
22. G. Bortone, S. Gemelli, A. Rambaldi and A. Tilche (1992), “Nitrification, Denitrification and Biological Phosphate Removal in Sequencing Batch Reactors Treating Piggery Wastewater”, Wat. Sci. Tech.Vol. 26, No. 5-6 pg 977-985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nitrification, Denitrification and Biological Phosphate Removal in Sequencing Batch Reactors Treating Piggery Wastewater”, "Wat. Sci. Tech. "Vol. 26
Tác giả: G. Bortone, S. Gemelli, A. Rambaldi and A. Tilche
Năm: 1992
23. Gaul T. et al (2005), “Reactor Technology for Substainable Nitrogen Removal after Anaerobic Digestion”. Regional Symposium on Chemical Enginerring, Hanoi, Vietnam, November, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reactor Technology for Substainable Nitrogen Removal after Anaerobic Digestion”. "Regional Symposium on Chemical Enginerrin
Tác giả: Gaul T. et al
Năm: 2005
24. Glen T. Daigger (2004), “Nutrient Removal Technologies/Alternativees for Small Communities”, Advances in Water and Wastewater Treatment, American Society of Civil Engrineers, 133-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutrient Removal Technologies/Alternativees for Small Communities”, "Advances in Water and Wastewater Treatment
Tác giả: Glen T. Daigger
Năm: 2004
2. Bộ NN&PTCN (2010) http://www.vilico.vn/tin-tuc/Tin-nganh-chan-nuoi/2010-01/891.oms Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ BOD/T-N đến   (%) VSV tự dưỡng trong hệ hiếu khí - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Bảng 2.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ BOD/T-N đến (%) VSV tự dưỡng trong hệ hiếu khí (Trang 9)
Hình 2.1. Sơ đồ hoạt động của bể SBR - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 2.1. Sơ đồ hoạt động của bể SBR (Trang 23)
Hình 3.1: Sơ đồ hệ thiết bị thí nghiệm SBR - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 3.1 Sơ đồ hệ thiết bị thí nghiệm SBR (Trang 26)
Hình 4.1: Hiệu suất xử lý COD ở các chế độ thí nghiệm khác nhau - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.1 Hiệu suất xử lý COD ở các chế độ thí nghiệm khác nhau (Trang 30)
Hình 4.2. Ảnh hưởng của chế độ sục khí - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.2. Ảnh hưởng của chế độ sục khí (Trang 31)
Hình 4.3: Ảnh hưởng của chế độ sục khí đến sự chuyển hóa NO 2 - - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.3 Ảnh hưởng của chế độ sục khí đến sự chuyển hóa NO 2 - (Trang 32)
Hình 4.4: Ảnh hưởng của chế độ sục khí - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.4 Ảnh hưởng của chế độ sục khí (Trang 33)
Hình 4.5. T-N vào, ra và hiệu suất xử lý T-N - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.5. T-N vào, ra và hiệu suất xử lý T-N (Trang 34)
Hình 4.6. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước thải đến hiệu suất xử lý COD - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.6. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước thải đến hiệu suất xử lý COD (Trang 35)
Hình 4.7. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước đến hiệu suất xử lý N-NH 4 - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.7. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước đến hiệu suất xử lý N-NH 4 (Trang 36)
Hình 4.8. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước đến sự chuyển hóa N-NO 3 - - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.8. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước đến sự chuyển hóa N-NO 3 - (Trang 37)
Hình 4.10. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước đến hiệu suất xử lý T-N - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.10. Ảnh hưởng của chế độ cấp nước đến hiệu suất xử lý T-N (Trang 38)
Bảng 4.3. Tổng kết hiệu quả xử lý COD, N-NH 4 +  và T-N ở các chế độ vận - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Bảng 4.3. Tổng kết hiệu quả xử lý COD, N-NH 4 + và T-N ở các chế độ vận (Trang 39)
Hình 4.11. So sánh hiệu suất xử lý T-N ở các chế độ thí nghiệm - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Hình 4.11. So sánh hiệu suất xử lý T-N ở các chế độ thí nghiệm (Trang 40)
Bảng 4.4. So sánh hiệu quả xử lý COD, N-NH 4 + , T-N - Nghiên Cứu Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Sau Quá Trình Xử Lý Yếm Khí Bằng Phương Pháp SBR
Bảng 4.4. So sánh hiệu quả xử lý COD, N-NH 4 + , T-N (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w