Một trong những nguyên nhân của các vấn đề trên là chúng ta chưa thực sự quan tâm đến việc phân vùng chức năng môi trường trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch nhằm sử dụng hợp lý
Trang 1-Đinh Việt Hùng
PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG GIANH QUẢNG BÌNH
Trang 3TN&MT Tài nguyên và môi trường
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2
2.1 Mục tiêu: 2
2.2 Nhiệm vụ: 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Các kết quả đạt được 3
6 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG TRONG QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG 4
1.1 Phương pháp luận và phương pháp phân vùng chức năng môi trường 4
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Phương pháp luận phân vùng chức năng môi trường 5
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phân vùng chức năng môi trường 15
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu phân vùng trên thế giới và Việt Nam 15
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phân vùng chức năng môi trường ở Việt Nam 18
1.3 Tích hợp phân vùng chức năng môi trường trong quản lý tổng hợp lưu vực sông 21
1.3.1 Quản lý tổng hợp lưu vực sông 21
1.3.2 Tích hợp phân vùng chức năng môi trường trong quản lý tổng hợp lưu vực sông 24
1.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực sông Gianh, Quảng Bình 26
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 26
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
Trang 5Chương 2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC
SÔNG GIANH 35
2.1 Đặc điểm các yếu tố môi trường lưu vực sông Gianh 35
2.1.1 Môi trường đất 35
2.1.2 Môi trường nước 39
2.1.3 Rừng và đa dạng sinh học 41
2.2 Phân tích cấu trúc, chức năng và mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường lưu vực sông 47
2.2.1 Tương tác đất - nước - rừng 47
2.2.2 Tương tác đất - rừng - thuỷ sản 47
2.2.3 Khai thác tài nguyên nước và những biến đổi trên lưu vực sông 48
2.2.4 Quản lý lưu vực sông là xu thế tất yếu 49
2.2.5 Những vấn đề nghiên cứu về mối quan hệ đa dạng giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lưu vực sông 50
2.3 Đánh giá hiện trạng và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lưu vực sông Gianh 50
2.3.1 Hiện trạng nước lục địa 50
2.3.2 Hiện trạng môi trường đất 61
2.3.3 Hiện trạng rừng 65
2.3.4 Hiện trạng môi trường đô thị và công nghiệp 65
2.3.5 Hiện trạng môi trường nông thôn, nông nghiệp 65
2.3.6 Hiện trạng môi trường ven biển 66
2.3.7 Dự báo và quy hoạch phát triển liên quan đến môi trường nước lưu vực sông 67
2.3.8 Các nội dung quy hoạch phát triển liên quan đến môi trường nước lưu vực sông 69 2.4 Thành lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông Gianh 71
Trang 62.4.1 Nguyên tắc và phương pháp phân vùng chức năng môi trường lưu vực
sông Gianh 71
2.4.2 Các yếu tố sử dụng trong phân vùng chức năng môi trường 75
2.4.3 Yếu tố địa hình 76
2.4.4 Yếu tố hiện trạng sử dụng đất 78
2.4.5 Yếu tố sinh khí hậu 80
2.4.6 Bản đồ phân vùng chức năng môi trường 81
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÃNH THỔ 87
3.1 Lợi thế, hạn chế, cơ hội, thách thức và xuất phát điểm của lưu vực sông Gianh 87
3.1.1 Lợi thế 87
3.1.2 Hạn chế 87
3.1.3 Cơ hội 88
3.1.4 Thách thức 88
3.2 Các giải pháp công trình 89
3.3 Các giải pháp phi công trình 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG, HÌNH CỦA LUẬN VĂN
Hình 1.1 Hình 1.1 Bản đồ Hành chính lưu vực sông Gianh
Quảng Bình
27
Bảng 2.2 Các hồ chứa có dung tích trên 1 triệu m3 và các
Bảng 2.9 Quy hoạch sử dụng nước hồ chứa theo lưu vực sông
đến 2020
52
Bảng 2.12 Dự báo nhu cầu sử dụng nước phục vụ sản xuất công
nghiệp các huyện tại lưu vực sông đến năm 2015
68
Sơ đồ 2.1 Nguyên tắc phân vùng chức năng môi trường lưu vực
sông Gianh
82
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo vệ môi trường lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây, nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông Mỗi lưu vực sông đều có một đặc điểm riêng về tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên nước Do đó, cách thức tổ chức quản lý sẽ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình sử dụng đất, đặc điểm môi trường, giá trị mỗi lưu vực sông
Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tương đối đồng nhất theo các tiêu chí và các mục tiêu nhất định nhằm đơn giản hóa việc nghiên cứu hay quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị trong vùng Phân vùng
có thể là: phân vùng kinh tế, phân vùng sinh thái, phân vùng địa lý, phân vùng môi trường Song, vấn đề phân vùng chức năng như trên còn nhiều bất cập, còn nhiều mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình thực hiện các quy hoạch như quá trình phát triển làm mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên, vượt quá sức chịu tải của môi trường và môi trường bị suy thoái Một trong những nguyên nhân của các vấn đề trên là chúng ta chưa thực sự quan tâm đến việc phân vùng chức năng môi trường trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế - xã hội đang gây ra nhiều tác động xấu tới môi trường nói chung và môi trường nước các lưu vực sông nói riêng Hiện trạng môi trường nước của các lưu vực sông đang diễn biến phức tạp, ngày càng xấu đi Chất lượng nước sông đang bị suy thoái ở nhiều nơi, đặc biệt ở các đoạn sông chảy qua các khu vực đô thị, khu công nghiệp, làng nghề Bên cạnh các nguồn
ô nhiễm nước do các hoạt động dân sinh và công nghiệp, các hoạt động khác như nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ điện, khai thác tài nguyên dưới lòng sông, giao thông vận tải thuỷ, nuôi trồng thuỷ sản cũng liên quan mật thiết đến việc khai thác sử
Trang 9dụng nước và gây tác động xấu đến môi trường nước của hệ thống sông và sức khoẻ người dân
Sông Gianh là một trong năm con sông lớn nhất ở Quảng Bình và cũng đang phải chịu tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả thực hiện đề tài “Phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông Gianh Quảng Bình” với mục đích nghiên cứu các yếu tố môi trường nhằm phân vùng chức năng môi trường và đề xuất các giải pháp góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững lực vực sông Gianh, Quảng Bình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu:
Xác lập cơ sở khoa học cho phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông phục vụ công tác quản lý môi trường trong phát triển kinh tế xã hội của lưu vực sông Gianh, Quảng Bình đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững
2.2 Nhiệm vụ:
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Xác định các nguyên tắc, yếu tố sử dụng trong phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông
- Xác định những nhân tố tác động tới môi trường lưu vực sông với những mức độ tác động khác nhau
- Thành lập lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên môi trường phục vụ phát triển bễn vững lãnh thổ
3 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian nghiên cứu
Lưu vực sông Gianh, Quảng Bình (gồm các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, một phần các huyện Quảng Trạch và Bố Trạch)
* Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Xác định ranh giới lưu vực sông Gianh, Quảng Bình làm cơ sở để giới hạn không gian nghiên cứu
Trang 10- Dùng phương pháp Hệ thống thông tin địa lý thành lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông Trong đó, lựa chọn ba nhân tố: địa hình, hiện trạng sử dụng đất và sinh khí hậu làm cơ sở để xây dựng bản đồ phân vùng chức năng môi trường lưu vực Gianh
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu, số liệu có liên quan, phỏng vấn ngoài thực địa
- Phương pháp tổng hợp phân tích các số liệu, tài liệu qua quá trình điều tra khảo sát và thu thập
- Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Phương pháp kế thừa các nghiên cứu đã công bố
5 Các kết quả đạt được
- Đánh giá hiện trạng môi trường lưu vực sông Gianh
- Xác định nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới dân cư và suy giảm các hệ sinh thái
- Phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông Gianh
- Đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển bền vững môi trường lưu vực sông Gianh
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 93 trang, có 01 hình, 01 sơ đồ, 12 bảng số liệu và 04 bản đồ Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về phân vùng chức năng môi trường và sử dụng hợp lý lãnh thổ
Chương 2 Phân tích đánh giá các yếu tố môi trường và xây dựng bản đồ phân vùng chức năng môi trường lưu vực sông Gianh
Chương 3 Các giải pháp bảo vệ tài nguyên môi trường phục vụ phát triển bền vững lãnh thổ
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG
TRONG QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG 1.1 Phương pháp luận và phương pháp phân vùng chức năng môi trường
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
a, Môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái (HST) và các hình thái vật chất khác [13]
b, Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật [13]
c, Suy thoái môi trường
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật [13]
d, Sự cố môi trường
Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng [13]
e, Tài nguyên nước
"Nguồn nước" chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai
thác, sử dụng được, bao gồm sông, suối, kênh, rạch; biển, hồ, đầm, ao; các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác [14]
g, Lưu vực sông
Theo định nghĩa của luật Tài nguyên nước (TNN), lưu vực sông (LVS) là vùng địa lý mà trong phạm vi đó, nước mặt nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông Theo một định nghĩa khoa học khác, LVS là phần lãnh thổ thu nhận các nguồn nước
Trang 12mặt và nước ngầm cùng các chất rắn và chất hòa tan trong nước, và chuyển nước
cùng các chất này về cửa sông
LVS là một bộ phận lãnh thổ có đường biên xác định trên mặt đất, đường biên
đó thường không trùng với ranh giới quốc gia và hành chính các địa phương Ở vùng trung du và đồng bằng, khi xác định ranh giới LVS cần xét ranh giới các hệ thống thuỷ lợi có khi trải trên hai lưu vực, như vậy sẽ hình thành sự quản lý liên lưu vực
h, Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Quản lý TNN và quản lý LVS thuộc một phạm trù TNN, có khác nhau về phạm vi và mức độ Quản lý TNN có phạm vi vĩ mô của quốc gia, còn quản lý LVS chỉ có phạm vi không gian của từng LVS Tuy nhiên quản lý tổng hợp LVS đề cập trực tiếp hơn các quan hệ thượng lưu - hạ lưu, quan hệ của TNN với các tài nguyên
và môi trường liên quan và vai trò của cộng đồng trên LVS
i, Phân vùng môi trường
Phân vùng môi trường là xác định các khu vực môi trường khác nhau xếp theo cấp bậc đơn vị từ lớn đến nhỏ của hoàn cảnh môi trường phục vụ cho công tác quy hoạch môi trường
k, Quy hoạch môi trường
Quy hoạch môi trường (QHMT) là quá trình sử dụng một cách hệ thống các kiến thức để thông báo cho quá trình ra quyết định về tương lai của môi trường QHMT có thể được hiểu là quá trình nghiên cứu, đề xuất và lựa chọn phương
án sử dụng hợp lý, bảo vệ, cải thiện & phát triển một / những môi trường thành phần hay những tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tối ưu năng lực, chất lượng của nó để đạt được các mục tiêu môi trường xác định [17]
1.1.2 Phương pháp luận phân vùng chức năng môi trường
a, Chức năng của môi trường
Môi trường là thế giới quanh ta, bao gồm những thể sống và những thể không sống, là nơi có hoạt động sống của giới động vật, thực vật, có hoạt động kinh tế - xã hội (KTXH) của con người trong mối quan hệ phức tạp giữa con người và giới tự
Trang 13nhiên Môi trường có 5 chức năng cơ bản: 1) Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật 2) Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người 3) Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình 4) Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái Đất 5) Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người [8]
Từ 5 chức năng cơ bản mang tính tổng hợp nêu trên, bằng cách chi tiết hóa có thể xác định những thuộc tính như là những chức năng thành phần ở cấp độ nhỏ hơn Năm chức năng này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, một trong 5 chức năng
đó suy giảm thì ảnh hưởng trực tiếp đến 4 chức năng kia Mỗi một khu vực lãnh thổ (vùng, miền ), hoặc một đơn vị hành chính (thành phố, tỉnh, huyện, xã) đều có đủ 5 chức năng môi trường, chúng tồn tại đồng thời nhưng tính trội của các chức năng ở mỗi vùng khác nhau và phân bố ở những vị trí địa lý xác định
Nhận biết những chức năng đó và sử dụng hợp lý chúng là điều kiện tiên quyết
để đảm bảo phát triển bền vững (PTBV) Vì vậy phân vùng chức năng môi trường của một khu vực lãnh thổ là bước đi đầu tiên trong việc quy hoạch, khai thác, sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả
Trong một vùng lãnh thổ có thể có nhiều kiểu vùng, mỗi kiểu vùng có những đặc điểm riêng, không giống với đơn vị liền kề Kiểu vùng có tính lặp lại trong không gian Kiểu vùng được áp dụng để phân chia lãnh thổ theo các dạng tài nguyên cho mục đích khai thác, sử dụng trong các ngành kinh tế và trong hoạt động nhân sinh, ví dụ phân chia các đơn vị đất đai và đánh giá tính thích hợp của chúng cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp, công nghiệp, đô thị, v.v
b, Phân vùng chức năng môi trường
Vùng chức năng môi trường là một bộ phận thuộc cấp phân vị của lãnh thổ, có một số thuộc tính xác định về môi trường, sinh thái, có thể phân biệt nó với vùng khác
Trang 14Phân vùng chức năng môi trường về bản chất là tổ chức không gian lãnh thổ dựa trên sự đồng nhất về phát sinh, cấu trúc hình thái và tính thống nhất nội tại của vùng cho mục đích khai thác, sử dụng, bảo vệ và bảo tồn sao cho phù hợp với sự phân hóa tự nhiên của các điều kiện tự nhiên, đặc điểm môi trường, sinh thái và hoàn cảnh KTXH của vùng.
Phân vùng chức năng môi trường một địa phương cấp (tỉnh thành, huyện, thị v.v ) căn cứ vào việc nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và hoạt động kinh tế để phân chia lãnh thổ của địa phương đó thành những đơn vị vùng và tiểu vùng với những đặc trưng riêng của chúng, phản ảnh thực tế khách quan về môi trường, sinh thái, hiện trạng và tiềm năng sử dụng của lãnh thổ
Phân vùng chức năng môi trường một địa phương là nhằm xác lập những cơ
sở khoa học và thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng QHMT và quản lý tài nguyên, môi trường và định hướng phát triển trên địa bàn địa phương đó một cách
có hiệu quả
c, Mục tiêu phân vùng chức năng môi trường
Phân vùng chức năng môi trường là bước chuẩn bị, bước đi đầu tiên, nhằm tạo dựng và cung cấp cơ sở dữ liệu về các khía cạnh điều kiện tự nhiên, KTXH, môi trường cho việc lập các quy hoạch phát triển
Mục tiêu phân vùng chức năng môi trường của một địa phương cụ thể (tỉnh thành, kể cả huyện thị ) là:
- Làm sáng tỏ đặc điểm về tự nhiên của địa phương đó, xác định tính quy luật trong sự phân hóa các yếu tố tự nhiên theo không gian lãnh thổ, dẫn đến sự hình thành các vùng có những chức năng mang tính tự nhiên, ví dụ vùng đất ngập nước nội đồng, vùng đất ngập nước ven biển, vùng rừng mưa nhiệt đới ẩm
- Phân tích, đánh giá các hoạt động nhân sinh trong quá trình hoạt động sống, cũng như trong phát triển KTXH, làm biến đổi những vùng có chức năng mang tính
tự nhiên, dẫn đến sự hình thành các vùng có những chức năng mang tính nhân sinh,
Trang 15ví dụ vùng đất trống đồi trọc do tàn phá rừng, vùng đô thị như là kết quả của phát triển KTXH, vùng công nghiệp do quá trình công nghiệp hóa
- Lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường để thể hiện kết quả phân vùng một cách rõ ràng theo không gian lãnh thổ, đó chính là tư liệu tổng hợp phục vụ đắc lực công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển và quản lý lãnh thổ theo định hướng PTBV
d, Nhiệm vụ của phân vùng chức năng môi trường
Nhiệm vụ của phân vùng chức năng môi trường là việc phân chia lãnh thổ thành các vùng có điều kiện tự nhiên, KTXH khác nhau phục vụ việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển KTXH và phát triển các ngành kinh tế nhằm bảo tồn, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, đảm bảo PTBV
Để thực hiện phân vùng chức năng môi trường một cách khoa học, phù hợp yêu cầu phát triển vững cần phải:
- Lựa chọn cách tiếp cận phân vùng và phương pháp phân vùng nhằm phản ảnh tính quy luật khách quan, đồng thời đảm bảo giá trị sử dụng thực tiễn các tiểu vùng được phân chia
- Xác lập các tiêu chí phân vùng thành các vùng, tiểu vùng (và các phân vị nhỏ hơn) phục vụ xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển đáp ứng nhu cầu con người và bảo tồn
- Sử dụng các công cụ khoa học nhằm phân vùng chính xác, khoa học, dễ
dàng sử dụng cho các mục đích khác nhau
Phân vùng chức năng môi trường thực chất là giải bài toán về mối quan hệ đa chiều giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và con người trên một không gian xác định, trong đó giữa các yếu tố luôn luôn có tác động tương hỗ và sự phụ thuộc lẫn nhau Kết quả phân vùng là đưa ra một hệ thống cơ cấu các vùng, tiểu vùng (và các phân vị nhỏ hơn, nếu cần thiết) để phục vụ quy hoạch phát triển KTXH, bảo vệ môi trường (BVMT) sinh thái, trong hệ thống đó mỗi vùng và tiểu vùng, dựa vào chức năng và lợi thế so sánh của mình để định
Trang 16hướng chiến lược phát triển, lập quy hoạch phát triển KTXH và quy hoạch ngành, bao gồm cả QHMT
e, Cách tiếp cận trong phân vùng chức năng môi trường
Phân vùng chức năng môi trường một địa phương cụ thể có thể dựa vào các cách tiếp cận khác nhau, vì vậy khi tiến hành phân vùng cần lựa chọn các tiếp cận phù hợp Dưới đây giới thiệu các cách tiếp cận thường sử dụng trong phân vùng chức năng môi trường
Cách tiếp cận hệ thống
Phương pháp tiếp cận hệ thống phù hợp cho việc nghiên cứu phân vùng chức năng môi trường, phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ, trên cơ sở phân tích khả năng cung cấp tài nguyên, sức chịu tải của hệ thống lãnh thổ, quan hệ liên vùng, liên ngành của vùng lãnh thổ (hệ thống mở), để phân chia các khu chức năng cho mục đích quy hoạch phát triển nhằm sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và BVMT Dưới góc độ phân vùng chức năng môi trường theo cách tiếp cận hệ thống thì phải đảm bảo nguyên tắc là trong mỗi tiểu vùng có những nét đặc trưng của toàn vùng, lợi ích cục bộ phải phục vụ lợi ích chung của toàn hệ thống
Vì vậy, khi phân vùng chức năng môi trường, chúng ta phải xem vùng lãnh thổ được nghiên cứu và các tiểu vùng ở cấp vị nhỏ hơn đều là những hệ thống mở với các đặc trưng nêu trên
Cách tiếp cận sinh thái
Hệ sinh thái là một đơn vị tự nhiên gồm các quần xã sinh vật và các yếu tố vô sinh của môi trường tại một khu vực nhất định, mà ở đó luôn luôn có tác động qua lại và trao đổi vật chất, năng lượng trong hệ và với các hệ khác Con người là một phần của HST, là yếu tố quan trọng đảm bảo cân bằng của HST bằng cách điều chỉnh các điều kiện vật lý, hóa học của môi trường, thay đổi mối tương tác sinh học
Có thể xem vùng lãnh thổ là một HST Nhiệm vụ của phân vùng chức năng là phân tích, đánh giá hệ thống này cho mục đích quy hoạch, quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường Mục đích của việc phân vùng dựa trên HST là tìm cách tốt nhất, hợp lý nhất để con người khi sử dụng HST có thể đạt được sự hài hòa giữa lợi
Trang 17ích thu được từ tài nguyên của HST với việc duy trì khả năng của HST tiếp tục cung cấp được những lợi ích đó ở mức độ bền vững, lâu dài
Hệ sinh thái là một hệ thống mở bao gồm các sinh vật tác động qua lại với môi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định đa dạng về loài và các chu trình vật chất
Hệ sinh thái là đơn vị cơ bản của sinh thái học và được chia thành HST nhân tạo và HST tự nhiên như HST nông nghiệp, HST rừng, HST biển, HST ao hồ, HST đồng cỏ tự nhiên, HST đô thị Đặc điểm của HST là một hệ thống mở có 3 dòng (dòng vào, dòng ra và dòng nội lưu) vật chất, năng lượng, thông tin
Hệ sinh thái cũng có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng, nếu một thành phần thay đổi thi các thành phần khác cũng thay đổi theo ở mức độ nào
đó để duy trì cân bằng, nếu biến đổi quá nhiều thì sẽ bị phá vỡ cân bằng sinh thái Phân vùng chức năng môi trường làm nhiệm vụ phục vụ công tác xây dựng quy hoạch KTXH, quy hoạch môi trường Vì vậy, khi xây dựng các quy hoạch này đòi hỏi phải xem xét đến sự phân hóa môi trường do quá trình phát triển KTXH tạo
ra và vị thế, năng lực con người, truyền thống văn hóa của vùng
g, Nguyên tắc phân vùng chức năng môi trường
Tôn trọng tính khách quan của vùng
Xuất phát từ quan niệm rằng, vùng là một thực thể khách quan, nó được hình thành do tác động tương hỗ lâu dài của các yếu tố tự nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên về dòng năng lượng và trao đổi vật chất, vì vậy cần vận dụng những đặc tính khách quan đó của vùng ở trạng thái cân bằng nội tại trong các chính sách nói chung và trong điều tiết sự mất cân đối của vùng do tác động của con người nói riêng Nhưng nhận thức và vận dụng tính khách quan của vùng lại mang tính chủ quan, phụ thuộc vào chủ thể nhận thức, đặc biệt là khi con người ngày càng can thiệp mạnh mẽ vào giới tự nhiên Mặc dù vậy, bản chất khách quan và cân bằng nội tại của vùng vẫn không mất đi, do đó nó cần được tôn trọng trong nhận thức, cũng như hành động khi tiến hành phân vùng chức năng môi trường
Trang 18Đảm bảo tính đồng nhất tương đối của vùng
Phân vùng dựa trên sự phân tích, đánh giá tổng hợp nhiều tiêu chí về tự nhiên
và KTXH Mỗi vùng được phân định theo sự đồng nhất về tất cả các tiêu chí phân vùng, tuy nhiên không thể có sự đồng nhất tuyệt đối, mà đó chỉ là sự đồng nhất tương đối Vì vậy, vấn đề quan trọng là xác định được các tiêu chí chính, mang tính chủ đạo và tiêu chí phụ mang tính bổ trợ đối với từng cấp độ phân vùng
Ở mỗi cấp độ phân vùng yếu tố trội đặc trưng được lựa chọn để làm cơ sở cho việc phân vùng và sự đồng nhất của vùng trước hết phải thể hiện được theo yếu tố
đó Đối với cấp vùng trong phân vùng chức năng môi trường ở các tỉnh ven biển miền Trung, có thể dựa vào yếu tố mang tính trội là địa hình để phân vùng, ví dụ vùng miền núi, vùng đồng bằng, vùng biển ven bờ và hải đảo; hoặc dựa vào các quần cư để phân ra vùng đô thị, vùng nông thôn
Đối với cấp tiểu vùng, đó có thể là chức năng đặc dụng của lớp phủ thực vật,
ví dụ chia ra: rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng cảnh quan Các tiểu vùng tuy có những đặc điểm riêng, khác với tiểu vùng liền kề, nhưng cũng có một số tiểu vùng giống nhau, có tính lặp lại trong không gian với các vị trí phân bố khác nhau, dựa vào đó có thể phân ra các kiểu tiểu vùng Như vậy, mỗi kiểu tiểu vùng gồm 2 hay nhiều hơn số lượng tiểu vùng
Phù hợp với chức năng môi trường
Đây là nguyên tắc chủ đạo Với cách tiếp cận sinh thái trong phân vùng thì mỗi vùng là một HST lớn, mỗi tiểu vùng là một HST nhỏ hơn Tính chức năng của vùng thể hiện sự gắn kết chặt chẽ theo chiều ngang giữa các hợp phần trong mỗi vùng, từ trung tâm đến ngoại vi Mỗi HST đều có một vài chức năng chính riêng và một số chức năng khác, ví dụ HST rừng đầu nguồn có chức năng phòng hộ, vừa có chức năng tạo cảnh quan; HST rừng ngập mặn ven biển có chức năng phòng hộ, bảo vệ bờ biển, vừa có chức năng cung cấp thức ăn, bãi đẻ, nơi cư trú cho nhiều giống loài sinh vật, đồng thời cung cấp củi đun, dược liệu cho cư dân ven biển
Trang 19Vì vậy, khi tiến hành phân vùng chức năng cần hết sức tôn trọng tính toàn vẹn của HST, nói cách khác, phải tuân thủ các quy luật tự nhiên, bảo tồn các chức năng sinh thái và môi trường của vùng
Phù hợp với yêu cầu quản lý
Phân vùng chức năng môi trường của một địa phương (tỉnh thành, huyện thị) nhằm mục đích quy hoạch, quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên, tạo dựng cơ sở để khoa học điều hoà sự phát triển trong khả năng chịu tải của các HST và môi trường
tự nhiên Bản chất tự nhiên của mỗi cấp độ vùng đã thể hiện ý nghĩa của vấn đề quản lý Ranh giới phân chia các vùng thường là ranh giới tự nhiên, đó có thể là một đường bình độ chuyển tiếp từ đồng bằng lên miền gò đồi, hoặc một đường đẳng độ mặn 0,1% , 0,4%; một dòng sông hoặc một đường phân thủy Tuy nhiên, trong trường hợp có điều kiện, thì có thể khoanh vẽ ranh giới vùng và tiểu vùng theo ranh giới hành chính, nhằm nâng cao tính khả thi trong việc quản lý tài nguyên và môi trường theo đơn vị hành chính
Tính khoa học trong phân vùng
Phân vùng chức năng môi trường các tỉnh thành phải dựa trên các cơ sở khoa học sao cho, một mặt phản ảnh được thực tế khách quan của địa phương, mặt khác, vừa mang tính lý thuyết, hệ thống, nhằm đúc rút được kinh nghiệm về phương pháp luận và phương pháp kỹ thuật phân vùng chức năng môi trường khả dĩ có thể áp dụng cho các tỉnh thành khác trong cùng nhóm Để làm được điều đó cần tiến hành điều tra, nghiên cứu kỹ đặc thù của địa phương và thu thập tài liệu, tư liệu về tất cả các yếu tố tự nhiên, kinh tế -xã hội, tài nguyên & môi trường, sinh thái & đa dạng sinh học (ĐDSH), căn cứ vào đó để lựa chọn trong hệ thống các tiêu chí phân vùng những tiêu chí phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương tỉnh thành
h, Tiêu chí phân vùng chức năng môi trường
Nhóm tiêu chí tự nhiên:
1) Nền địa chất Các thông số đo: Diện phân bố các thành tạo địa chất, tính bằng km2; Tuổi địa chất, tính bằng triệu năm; Loại đá chính (theo tên gọi)
Trang 202) Địa hình Các thông số đo: Độ cao tuyệt đối so với mực nước biển, tính bằng mét; Độ cao tương đối so với mực xâm thực địa phương, tính bằng mét; Độ dốc sườn, tính bằng độ
3) Khí hậu Các thông số đo: Nhiệt độ trung bình tháng, năm, tính bằng độ; Lượng mưa trung bình tháng, năm tính bằng milimet; Tổng tích ôn, tính bằng độ 4) Thổ nhưỡng Các thông số đo: Loại đất (theo tên gọi); Thành phần hóa học, tính theo % hợp phần; Diện phân bố và sử dụng đất, tính bằng ha
5) Mạng thủy văn Các thông số đo: Các sông chính (theo tên gọi); Diện tích LVS, tính theo km2; Lưu lượng dòng chảy trung bình năm, tính bằng m3/s
6) Thảm rừng Các thông số đo: Loại thảm rừng (theo tên gọi thảm rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng ngập mặn ); Vị trí và diện tích phân bố (km2); Trữ lượng rừng (giàu, nghèo, trung bình, m3 gỗ/ha
7) Hệ sinh thái và ĐDSH Các thông số đo: Kiểu HST (trên cạn, dưới nước);
Vị trí và diện tích phân bố (km2); Mức độ bảo tồn, bảo vệ
8) Cấu trúc đới bờ và biển ven bờ Đây là tiêu chí rất quan trọng đối với phân vùng chức năng môi trường của 28 tỉnh thành có biển của Việt Nam Các thông số
đo bao gồm: Cấu trúc hình thái (đầm ven biển, cồn đụn cát, bãi biển, biển và đảo); Các tài nguyên và nguồn lợi chủ yếu (trong các thủy vực, trong cồn cát, bãi biển, trên hải đảo, trong biển); Các HST nhạy cảm (rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn cửa sông)
Nhóm tiêu chí kinh tế - xã hội:
9) Quần cư (chủ yếu là đô thị) Các thông số đo: Giới hạn hành chính và diện tích (km2); Dân số và mật độ dân số (người, người/ km2) Mức độ phát triển cơ sở
hạ tầng đô thị
10) Khu vực cung cấp nguyên liệu Các thông số đo: Loại hình nguyên liệu cho công nghiệp (khai khoáng, vật liệu xây dựng, cơ khí, chế biến nông lâm sản ); Công suất trung bình năm; Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 2111) Khu công nghiệp, khu kinh tế Các thông số đo: Vị trí và diện tích mặt bằng (km2), Loại hình (theo tên gọi); Sản phẩm công nghiệp (loại hàng hóa, thị trường tiêu thụ)
12) Hệ canh tác Các thông số đo: Loại hình canh tác (tên gọi); Diện tích phân
bố (ha) Sản phẩm hàng hóa (tấn/năm)
13) Thủy vực tự nhiên và nhân tạo tiếp nhận nước thải: Các thông số đo: Loại hình thủy vực (đầm hồ, sông suối, biển ven bờ ); Diện tích thủy vực, tính bằng (km2); Sức chịu tải của thủy vực ( khả năng pha loãng, tự làm sạch)
Các tiêu chí này luôn luôn song hành tồn tại Trong những tiêu chí trên được phân ra tiêu chí chính, mang tính chủ đạo như nền địa chất, địa hình, mạng sông, dân cư và tiêu chí phụ, mang tính cục bộ, có ý nghĩa bổ trợ, như đất đai, thảm thực vật, tài nguyên động vật Dựa vào tiêu chí chính, mang tính trội để chia ra các vùng quy mô lớn Các tiêu chí phụ thường được sử dụng để tiếp tục chia nhỏ mỗi vùng thành các tiểu vùng
Mỗi vùng, tiểu vùng đã được phân ra trên cơ sở tổ hợp các tiêu chí, có sự đồng nhất tương đối về tiêu chí chính và một số tiêu chí bổ trợ Tùy thuộc hoàn cảnh của mỗi địa phương tỉnh thành mà xác định tiêu chí chính
Ví dụ, đối với tỉnh Quảng Bình, do sự phân hóa về địa hình quyết định sự phân bố các hợp phần khác, nên nó được xác định là tiêu chí chính
Đối với tỉnh miền núi Thái Nguyên, thì mạng sông là yếu tố trội, mang tính quyết định và chi phối các hợp phần tự nhiên, cũng như nhân sinh, nên nó được xác định là tiêu chí chính Tương tự như vậy đối với một số tỉnh miền núi khác trong cả nước
Như vậy, hệ thống tiêu chí phân vùng chức năng môi trường không phải là một hệ thống sơ cứng, vai trò, ý nghĩa của từng tiêu chí trong hệ thống có thể thay đổi tùy thuộc vào đối tượng phân vùng
Về phương diện nào đó, việc phân chia các vùng và tiểu vùng chức năng môi trường có thể hình dung như giải một bài toán có nhiều ẩn số Mỗi vùng (hoặc tiểu
Trang 22vùng) là một hàm đa biến, mỗi tiêu chí nêu trong hệ thống nêu trên là một biến Nó cũng tương tự như bài toán tính xói mòn trên lưu vực
Quá trình xói mòn trên lưu vực chịu tác động bởi nhiều yếu tố tự nhiên (địa hình, độ dốc sườn, chiều dài sườn, lượng mưa, thảm thực vật v.v ) và yếu tố nhân tạo (hệ canh tác, cây trồng ), do đó, công việc đánh giá xói mòn theo định lượng khá phức tạp Tuy nhiên theo phương trình mất đất phổ dụng của Whischmeier - Smith, là một hàm của nhiều biến: A= R.K.L.S.C.P thì có thể tính được lượng đất bị xói mòn A cho từng LVS
Như vậy, hàm đa biến trong bài toán phân vùng chức năng môi trường của một vùng, miền nào đó về nguyên tắc cũng có thể tìm lời giải khi biết được sự phụ thuộc của hàm vào các biến, đồng thời biết được tác động tương hỗ giữa các biến trong sự hình thành chức năng môi trường của vùng
i, Bản đồ phân vùng chức năng môi trường
Bản đồ phân vùng chức năng môi trường thuộc loại bản đồ đánh giá tổng hợp,
thể hiện lãnh thổ thành các cấp vùng theo các chức năng môi trường tương ứng, nhằm giúp cho việc tổ chức, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học, hợp lý, hiệu quả mà vẫn đảm bảo được chất lượng môi trường theo hướng PTBV
Bản đồ phân vùng chức năng môi trường được sử dụng như một tài liệu dẫn xuất quan trọng để xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch BVMT cũng như cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể và các chuyên ngành khác Đồng thời
nó còn được sử dụng như một công cụ khung để giám sát các hoạt động liên quan đến sử dụng không gian vùng trong phát triển kinh tế- xã hội
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phân vùng chức năng môi trường
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu phân vùng trên thế giới và Việt Nam
Vùng (zone) là một thực thể khách quan, đòi hỏi con người phải có nhận thức đúng đắn và nhận biết rõ ràng về vùng, để vận dụng những đặc tính khách quan của thực thể đó ở trạng thái cân bằng nội tại trong các chính sách nói chung và điều tiết
sự mất cân đối của vùng do tác động của con người nói riêng Trong thời đại hiện
Trang 23nay con người tác động đến giới tự nhiên ngày càng mạnh hơn, sâu sắc hơn Tuy nhiên bản chất khách quan và cân bằng nội tại của vùng vẫn tồn tại, đòi hỏi con người khi tiến hành phân vùng phải tôn trọng điều đó trong nhận thức cũng như hành động để bảo tồn và hướng đến PTBV [19]
Vùng là một bộ phận (một đơn vị Taxon cấp cao) của lãnh thổ, có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó, cũng như những mối quan hệ có chọn lọc và với các không gian các cấp bên ngoài [16] Ví dụ:
Vùng kinh tế được chia theo tiềm năng kinh tế, mức độ phát triển và mối quan
hệ tương hỗ mật thiết giữa các khu vực của vùng được xác định (ví dụ: các vùng
Kinh tế trọng điểm)
Vùng sinh thái là một đơn vị lãnh thổ đặc trưng bởi các phản ứng sinh thái đối
với khí hậu trái đất, thực vật, động vật và hệ thống thủy vực Phân định các vùng sinh thái để tạo cơ sở cho việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả tối
ưu, phát huy đầy đủ tiềm năng của vùng
Vùng địa lý được phân theo tính tương đối đồng nhất của các yếu tố địa lý, khí
hậu, thổ nhưỡng, địa hình, địa chất…
Vùng đô thị là một trung tâm đông dân số bao gồm một đại đô thị và các vùng
phụ cận nằm trong phạm vi ảnh hưởng của đô thị này hay nói cách khác là vùng gồm có hơn một thành phố trung tâm gần sát nhau và vùng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của các thành phố trung tâm này Một hai nhiều thành phố lớn có thể phục
vụ như một trung tâm hay các trung tâm cho toàn vùng Thông thường vùng đô thị được đặt tên theo tên thành phố trung tâm lớn nhất hoặc quan trọng nhất trong vùng Phân vùng (zoning) là việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tương đối đồng nhất theo các tiêu chí và các mục tiêu nhất định nhằm đơn giản hóa việc nghiên cứu hay quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị trong vùng Phân vùng có thể là phân vùng kinh tế, phân vùng sinh thái, phân vùng địa lý, phân vùng môi trường…
Trang 24Các đặc tính của phân vùng đó là: Tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại); Tính ước định ranh giới (có thể xác định hoặc không); và Tính chủ quan trong phân vùng: thể hiện mục đích của phân vùng
Mục đích chủ yếu của phân vùng là chia các vùng để sử dụng đất một cách hợp lý; Trong thực tế phân vùng là hệ thống cho phép ngăn ngừa các tác động bất lợi của sự phát triển đối với môi trường Đặc trưng của phân vùng là chỉ rõ các vùng
có thể hoạt động cư trú, công nghiệp, giải trí hoặc thương mại… Nhà địa lý học Mỹ
G P March (1801 – 1882) vào năm 1864 đã nghiên cứu kỹ về những thay đổi trong
tự nhiên do tác động của con người gây ra và đề xuất các nguyên lý bảo vệ thiên nhiên
Trên thế giới, việc phân vùng đã được sử dụng rộng rãi trong quy hoạch đô thị, điều chỉnh sử dụng đất ở Bắc Mỹ, Anh và Úc… Trong khi các thành phố của châu Âu kiểm soát phát triển từ cuối thế ký 19 mà ngày nay được biết như phân vùng chức năng, thành phố New York phân vùng đầu tiên vào năm 1916 Vào cuối những năm 1920 nhiều nước đã thực hiện việc điều chỉnh phân vùng chức năng đáp ứng nhu cầu phát triển
Bộ Môi trường và Tài nguyên nước Paraguay cũng đã tiến hành phân vùng môi trường nhằm bảo vệ thượng nguồn LVS Paraguay Dựa trên các yếu tố địa chất, hình thái địa lý, địa hình, khí hậu và độ che phủ thực vật, LVS được chia thành 34 đơn vị môi trường tự nhiên, trong đó có 24 đơn vị có địa hình cao và 10 đơn vị có địa hình đồng bằng, đôi khi bị ngập lũ Dựa vào các yếu tố KTXH như hiện trạng sử dụng đất, tình hình sản xuất, cơ sở hạ tầng và tổ chức trong vùng, LVS được chia thành 33 đơn vị môi trường KTXH
Như vậy, trên thế giới phân vùng môi trường được sử dụng như một công cụ phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trong một không gian lãnh thổ Cơ sở để phân vùng môi trường là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và KTXH tại mỗi vùng
Ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ XV, mặc dù đất nước ta chưa rộng và hoàn chỉnh như ngày nay, song đã có nhiều nhà bác học đề cập đến vấn đề phân chia đất nước
Trang 25ra các vùng Đáng kể nhất là nhà “bác học” Nguyễn Trãi, với tác phẩm “Dư địa chí”
mô tả các vùng, đề cập tới vị trí địa lý, ranh giới, qui mô lãnh thổ, tổ chức xã hội, tình hình kinh tế với những nét đặc thù riêng
Sau này vào giữa thế kỷ XVIII, nhà bác học lỗi lạc Lê Quý Đôn cũng đã xây dựng bản đồ Việt Nam, trên đó có sự phân chia các vùng Đặc biệt là vùng Thuận Hóa – Quảng Nam Trong đó ông đề cập đến quá trình hình thành, sự biến động về
tự nhiên, kinh tế một cách khá tỉ mỉ
Sang đến thế kỷ XIX và đến năm 1954, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam và nước ngoài (đặc biệt là người Pháp) đã để công nghiên cứu và phân chia đất nước ra các vùng kinh tế riêng biệt Trong đó các vùng được nghiên cứu khá kỹ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và dân cư Song nói chung các cách nghiên cứu, cũng như sự phân chia các vùng kinh tế còn mang tính chủ quan của các nhà nghiên cứu, hoặc mang tính phân chia quyền lực
Từ những năm 60 của thế kỷ 20, trong khuôn khổ của Ủy ban Phân vùng Nhà nước, công tác phân vùng ở Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong việc phân ra các vùng địa lý tự nhiên Đó là cơ sở quan trọng phục vụ cho công tác chỉ đạo và phát triển các vùng, miền đất nước trong thời kỳ miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, điều đó đặt ra các tiền đề quan trọng làm cơ sở cho các nghiên cứu về sau của Địa lý tự nhiên Việt Nam Các nhà khoa học Địa lý, với quan điểm tổng hợp của mình đã đóng một vai trò quan trọng trong công tác trên
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu phân vùng chức năng môi trường ở Việt Nam
Hiện nay tại Việt Nam chưa có phương pháp luận hoàn chỉnh về phân vùng chức năng môi trường Tuy nhiên, một số ngành, địa phương đã thực hiện phân vùng chức năng môi trường để phục vụ quy hoạch phát triển KTXH và kiểm soát ô nhiễm môi trường
Một số nghiên cứu liên quan đến phân vùng chức năng môi trường đã được thực hiện, đó là đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường phục vụ phát triển KTXH Vùng Đồng bằng sông Hồng” và “Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi
Trang 26trường Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” thuộc chương trình "Bảo vệ Môi trường và phòng tránh thiên tai" (KC-08), “Nghiên cứu vấn đề quy hoạch môi trường vùng lãnh thổ, lấy Hạ Long - Quảng Ninh làm ví dụ”, “Nghiên cứu xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, “Quy hoạch môi trường vùng Đông Nam Bộ” Trong các nghiên cứu này đều có nội dung phân vùng môi trường theo chức năng khác nhau làm cơ sở cho QHMT
Một số địa phương đã xây dựng QHMT như Tỉnh Hà Tây (cũ) trong QHMT
và định hướng phát triển kinh tế phân thành 7 vùng chức năng môi trường: Vùng bảo tồn kết hợp du lịch sinh thái (vùng núi Ba Vì), diện tích khoảng 13 nghìn ha, chiếm 15,5% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân thành 5 tiểu vùng Vùng sản xuất ven sông Hồng với diện tích khoảng 49 nghìn ha, chiếm 22,36% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, phân thành 3 tiểu vùng (tiểu vùng sản xuất, tiểu vùng sản xuất gần các khu dân cư và tiểu vùng nhạy cảm ven sông) Vùng phát triển ven thành phố Hà Nội, diện tích khoảng 27 nghìn ha chiếm 12,44% diện tích đất tự nhiên và chia thành 4 tiểu vùng Vùng sản xuất ven sông Đáy có diện tích gần 20 nghìn ha, diện tích cho chuyên sản xuất chiếm khoảng 9 nghìn ha Vùng đa sử dụng giáp tỉnh Hưng Yên với diện tích khoảng gần 7 nghìn ha, phân bố cho các hoạt động sản xuất, phát triển Vùng sản xuất giáp tỉnh Hà Nam, diện tích khoảng 10 nghìn ha chia thành 2 tiểu vùng Vùng cao núi đá vôi giáp tỉnh Hoà Bình và Khu di tích chùa Hương diện tích gần 31 nghìn ha và chia thành 6 tiểu vùng Bắc Giang được phân thành 14 vùng chức năng môi trường bao gồm: khu bảo tồn; khu phòng hộ; sản xuất lúa-màu; vùng lúa-thuỷ sản; vùng xử lý nước thải tập trung; xử lý nước sinh hoạt; các hồ sinh học; bãi chứa rác thải; các trạm quan trắc nước thải; các khu du lịch, lịch sử, văn hoá; rừng; và các làng nghề
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và tỉnh Đồng Nai đã và đang tiến hành phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) Mục đích của việc nghiên cứu là phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch cho mục đích khác nhau như sinh hoạt, nuôi tôm cá, thủy lợi… của vùng nghiên cứu
Trang 27Ngày 11 tháng 12 năm 2007, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 65/2007/QĐ-UBND quy định phân vùng môi trường tiếp nhận nước thải, khí thải công nghiệp trên địa bàn; Theo quyết định này, địa bàn môi trường được phân làm 2 vùng Một là, vùng môi trường các nguồn nước mặt để tiếp nhận các nguồn nước thải công nghiệp, bao gồm 14 sông, suối và 12 hồ lớn, nhỏ Những khu vực thuộc vùng này được áp dụng những hệ số khác nhau về lưu lượng nguồn thải, dung tích nguồn tiếp nhận và phương pháp tính nồng độ tối đa cho phép các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp Vùng thứ hai là môi trường không khí để tiếp nhận các nguồn khí thải công nghiệp, được chia thành 5 môi trường khu vực, tương ứng với 5 khu vực địa giới hành chính khác nhau Vùng này cũng sẽ áp dụng những hệ số tiêu chuẩn, lưu lượng nguồn khí thải khác nhau và có những phương pháp tính nồng độ tối đa cho phép của các chất ô nhiễm trong khí thải công nghiệp được quy định
Dự án “Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân bố các vùng nhạy cảm môi trường”
do Trung tâm Viễn thám thực hiện năm 2003 – 2004 nhằm nghiên cứu phương pháp
và quy trình thành lập bản đồ nhạy cảm môi trường, xây dựng hệ phân loại nội dung bản đồ nhạy cảm môi trường và đã thành lập bộ bản đồ phân bố các vùng nhạy cảm môi trường của TP Hải Phòng ở tỷ lệ 1: 50 000
Ngoài việc phân vùng chức năng môi trường như trên, các nhà khoa học còn nghiên cứu phân vùng sinh thái Đề tài “Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” do GS TS Cao Liêm, trường Đại học Nông nghiệp I chủ trì (1990), Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới điều kiện sinh thái của vùng đồng bằng sông Hồng như: khí hậu, nhiệt độ, thuỷ văn, lượng mưa, độ ẩm, địa chất, địa hình, thổ nhưỡng và các yếu tố xã hội khác, đã đề xuất được tiêu chuẩn một số đơn vị phân vùng sinh thái, xây dựng được một bản đồ phân vùng sinh thái vùng đồng bằng sông Hồng tỉ lệ 1/250.000 kèm theo bản chú giải Các tác giả đã phân ra
8 vùng và 13 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp, mô tả đặc điểm, hướng sử dụng cho từng vùng sinh thái chính ở đồng bằng sông Hồng là: bạc màu, chua mặn, trũng úng
Trang 28Để bảo vệ và phục hồi vùng biển Rạn Trào, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, Viện Hải dương học Nha trang đã triển khai thực hiện đề tài "Nghiên cứu phân vùng chức năng cho khu bảo tồn Rạn Trào - Vạn Ninh" từ tháng 11/2003 - 11/2004
Cụ thể hơn, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 54 UBND ngày 13 tháng 9 năm 2007 quy định về phân vùng quản lý, bảo tồn rạn san
/2007/QĐ-hô và các HST liên quan đến vùng biển từ Hòn Chảo đến Nam Hải Vân và bán đảo Sơn Trà Trong đó có phân chia các vùng:
- Vùng khai thác hợp lý: Là vùng khai thác nguồn lợi thuỷ sản một cách hợp
lý, đảm bảo PTBV kinh tế biển
- Vùng phục hồi sinh thái: Là vùng được quản lý, bảo vệ và tổ chức các hoạt động nhằm duy trì chất lượng các HST, nguồn lợi sinh vật hiện có, đảm bảo khả năng phục hồi HST, ĐDSH và nguồn lợi thủy sản tự nhiên
- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt: Là vùng có rạn san hô và HST trong tình trạng tốt, đa dạng sinh học cao, nguồn lợi sinh vật biển phong phú cần được quản lý chặt chẽ nhằm duy trì tính tự nhiên của các HST
Việc phân vùng chức năng môi trường ở Việt Nam còn mới mẻ, chưa có phương pháp luận thống nhất cũng như chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của chúng trong quy hoạch phát triển KTXH, quy hoạch ngành, trong đó có QHMT nhằm khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường
1.3 Tích hợp phân vùng chức năng môi trường trong quản lý tổng hợp lưu vực sông
1.3.1 Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Quản lý nguồn nước theo lưu vực là một cấp độ trong quản lý tổng hợp TNN Quản lý nước theo lưu vực nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hợp lý tài nguyên trên cơ
sở hiểu biết và tôn trọng các quy luật tự nhiên hình thành TNN trong một lưu vực
cụ thể
Trong quản lý TNN theo lưu vực, đơn vị địa lý để thực hiện quản lý không phải là địa giới hành chính mà là toàn bộ LVS Thông qua hoạt động của bộ máy
Trang 29quản lý lưu vực, tất cả các hoạt động sử dụng và bảo vệ tài nguyên được xem xét một cách thống nhất và hợp lý
Nhu cầu cấp nước của toàn lưu vực phải được tính trên cơ sở cân bằng với khả năng tái tạo về lượng và chất cuả tài nguyên Nếu giả định việc khai thác tài nguyên không làm HST xấu hơn trạng thái tự nhiên vốn có của nó, thì lượng nước khai thác trong mùa kiệt không được làm mức nước sông hạ xuống thấp hơn ngưỡng bảo đảm
an toàn sinh thái cho toàn hệ Ngoài ra, nếu không tính tới các hệ quả sinh thái bất thường khác, thì toàn bộ lượng nước đưa vào lưu vực bằng con đường nhân tạo và lượng nước lũ mà các hồ chứa điều tiết được, sau khi đã trừ tổn thất, là phần mà loài người có thể độc quyền tiêu thụ, bao gồm cả phần để cải thiện HST tự nhiên theo nhu cầu của con người
Trên thế giới, sau hội nghị Dublin và hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển họp tại Rio de Janero (Braxin, 1992), phần lớn các nước trên thế giới đều thực hiện quản lý tổng hợp theo LVS Lưu vực sông là đơn vị quản lý được chú trọng và là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, sử dụng tài nguyên - môi trường, điều phối giải quyết tốt các mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên giữa các vùng, khai thác sử dụng tài nguyên giữa các khu vực thượng, trung, hạ lưu Việc sử dụng nước có mối liên quan mật thiết với sử dụng đất
và ảnh hưởng đến HST lưu vực nên quản lý nước theo LVS sẽ giúp cho việc sử dụng và bảo vệ tốt hơn tài nguyên đất và môi trường lưu vực, quản lý và giảm nhẹ các tác động tiêu cực của các hoạt động phát triển KTXH của con người tới tài nguyên và môi trường
Chức năng và nhiệm vụ về quản lý tổng hợp LVS được quy định tùy theo hình thức của mỗi kiểu tổ chức lưu vực Tuy nhiên, có một số nhiệm vụ chung mà trong quản lý LVS đều phải thực hiện, đó là:
- Lập quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước LVS và theo dõi việc thực hiện quy hoạch
- Phối hợp với các cơ quan hữu quan của các bộ, ngành và địa phương trong việc điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá TNN của lưu vực sông
Trang 30- Phối hợp với các đơn vị hành chính các cấp để giải quyết tranh chấp về TNN nảy sinh trên lưu vực Ngoài ra, tùy theo hình thức, một số tổ chức LVS có thể tham gia trực tiếp vào chức năng thiết kế, thi công và quản lý các công trình khai thác, sử dụng TNN trên lưu vực
Quy mô của việc quản lý LVS tuỳ thuộc vào các điều kiện tài nguyên, địa lý
và hành chính Mặc dù nhiều nước trên thế giới đã sử dụng cách tiếp cận thống nhất
và tổng hợp trong quản lý môi trường LVS, song cách hiểu và áp dụng tại mỗi nước
có nhiều điểm khác nhau Tuy nhiên, cách tiếp cận này có một số điểm chung là:
- Nhằm mục đích hài hoà các mục tiêu của các cơ quan địa phương và trung ương trong lưu vực, giúp họ có được chiến lược quản lý hợp lý
- Quá trình ra quyết định thường cố gắng bao hàm đầy đủ các lĩnh vực liên quan và sử dụng kỹ năng "tìm tiếng nói chung" để xây dựng được kế hoạch đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan
- Sử dụng thông tin khoa học và logic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến HST thuỷ sinh, HST trên cạn, sức khoẻ con người, và các điều kiện kinh tế trong lưu vực
- Sử dụng các biện pháp tài chính phù hợp để chi phí được phân bổ cho các dự
án tương ứng với lợi ích thu được của chúng
- Cố gắng tạo ra khung thoả thuận liên ngành nhằm đảm bảo các kế hoạch sẽ được thực hiện dựa vào cách tiếp cận và mong muốn của các bên liên quan chứ không phải dựa vào các luật lệ hay quy định
- Xây dựng các biện pháp và tiêu chuẩn rõ ràng để kiểm tra và đánh giá hiệu quả của việc quản lý LVS
Nhìn chung, cách tiếp cận quản lý môi trường LVS này bao gồm 3 nét chính Thứ nhất là sự phát hiện vấn đề, phát hiện các mối đe doạ tiềm ẩn đối với sức khoẻ con người và HST trong lưu vực Thứ hai là sự tham gia của các bên liên quan, đòi hỏi mọi người phải có sự quan tâm thích đáng hoặc thích hợp nhất Thứ ba là sự phối hợp hành động, đó là các nỗ lực được thực hiện một cách tổng hợp và toàn diện một khi các giải pháp đã được quyết định
Trang 311.3.2 Tích hợp phân vùng chức năng môi trường trong quản lý tổng hợp lưu vực sông
Mục tiêu: Tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước trong công tác quản
lý môi trường nước các LVS Hướng tới nỗ lực, gắn kết sự phối hợp giữa các bộ ngành làm giảm các nguồn gây ô nhiễm tới các nguồn nước Vì chỉ có điều này mới
hi vọng đảm bảo cải thiện được môi trường nước tại các LVS
Lợi ích của tích hợp phân vùng chức năng môi trường để quản lý LVS:
Do tính phức tạp của ô nhiễm môi trường LVS (các nguyên nhân gây ô nhiễm phức tạp và khác nhau, ranh giới LVS không rõ ràng, tính đa dạng của các hệ sinh thái LVS ), do vậy cần cân nhắc trước khi quyết định một vấn đề để tránh làm cho
nó trầm trọng hơn hoặc phát sinh các vấn đề mới khác Đây chính là lý do cần áp dụng phương pháp tổng hợp để tiếp cận và giải quyết vấn đề Các chương trình quản lý tổng hợp LVS có thể tác động toàn diện đến các mặt kinh tế, xã hội và đem lại nhiều lợi ích cho lưu vực như:
- Cấp nước: Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người và phục vụ phát triển KTXH, cả ba nguồn nước (nước mưa, nước mặt và nước ngầm) ở LVS đều được khai thác sử dụng
- Chất lượng nước: Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng nước bao gồm địa chất, đất, địa hình, thảm thực vật, quần thể động thực vật hoang dã và khí hậu Nhưng yếu tố quan trọng hơn gây ra các vấn đề về chất lượng nước chính là các hoạt động của con người và vấn đề sử dụng đất trong lưu vực Quản lý LVS sẽ phải kiểm soát chặt chẽ các yếu tố này
- Kiểm soát lũ: Việc cấp nước đồng thời đảm bảo chống lũ có thể là lý do quan trọng nhất của các nỗ lực quản lý LVS Cách tiếp cận quản lý tổng hợp LVS quan tâm đến các vùng đầu nguồn và bảo vệ các vùng đất ngập nước
- Kiểm soát bồi lắng: Sự bồi lắng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước, sinh cảnh, giao thông thuỷ, kiểm soát lũ và các dịch vụ du lịch, giải trí Nó còn ảnh hưởng đến các loài cá do bùn lắng trên lòng sông - nơi cần thiết cho chúng đẻ trứng,
và che phủ các sinh vật đáy quan trọng trong chuỗi thức ăn
Trang 32- Giao thông thuỷ: Các hoạt động giao thông thuỷ và dịch vụ cảng thường gây
ô nhiễm môi trường nước do việc xả dầu cặn và các chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng cũng như chất thải sinh hoạt Ngoài ra, vấn đề quan trọng nhất về mặt môi trường với các hoạt động giao thông thuỷ là sự cố tràn dầu
- Phát triển kinh tế với các công trình thuỷ điện-thuỷ lợi: Có thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bằng việc quản lý LVS Ở Việt Nam ngay từ những năm
80, Nhà nước đã đầu tư kinh phí xây dựng các hồ chứa để tích nước trong mùa mưa
lũ và xả nước trong mùa kiệt kết hợp với phát điện, điều tiết lưu lượng dòng chảy ở
hạ lưu và đẩy lùi ranh giới nhiễm mặn, đảm bảo nhu cầu cấp nước, nuôi cá, cải tạo môi trường
- Đa dạng sinh học: LVS, đặc biệt là những nơi cư trú ven sông là nơi cư trú cần thiết và đa dạng cho nhiều quá trình và nhiều loài sinh vật, đây còn là nơi cung cấp mối liên kết giữa HST thuỷ sinh với HST vùng cao Quản lý LVS có thể là công
cụ được sử dụng để làm tăng số lượng động thực vật hoang dã, một nhân tố của sự
đa dạng sinh thái Mặc dù không phải là thích hợp với mọi trường hợp nhưng việc lập kế hoạch quản lý LVS có thể bao gồm những nỗ lực tránh sự suy thoái nơi cư trú của các loài động thực vật hoang dã nguy cấp Cá và các sinh vật thuỷ sinh khác: cần có các hoạt động quản lý LVS để làm giảm các ảnh hưởng và cải thiện, bảo tồn loài cá cũng như các sinh vật thuỷ sinh khác
- Bảo tồn sinh cảnh: các LVS khi được bảo vệ tốt sẽ phục vụ cho nhiều mục đích như giải trí, bảo vệ sinh cảnh hoang dã, lọc nước và lưu giữ nước
- Giải trí - du lịch: Nước cấp cho các hoạt động giải trí - du lịch có thể được tăng cường bằng việc quản lý LVS Chẳng hạn như, các hoạt động quản lý LVS ở phía hạ lưu sẽ giúp đảm bảo cấp nước đầy đủ và bảo vệ chất lượng nước, ngoài ra còn có thể đem lại lợi ích cho các hồ chứa, làm tăng giá trị của chúng đối với các hoạt động giải trí như bơi thuyền và câu cá
Vì vậy, để thực hiện mục tiêu BVMT và PTBV lưu vực sông, cần thiết phải xây dựng kế hoạch tổng thể nhằm thống nhất và phối hợp chặt chẽ việc quản lý quy hoạch sử dụng TNN và BVMT trên tất cả các LVS ở nước ta
Trang 33Khó khăn: Thực tế vẫn có một số điều kiện khách quan, ràng buộc ảnh hưởng
đến quá trình thực hiện
Ràng buộc lớn nhất hiện nay là tình hình thế giới đang rơi vào suy thoái kinh
tế, ảnh hưởng tới Việt Nam đã làm cho ngân sách của chính phủ hỗ trợ để thực hiện các chương trình này khó khăn Nguồn hỗ trợ từ nước ngoài cũng từ nguyên nhân này có phần suy giảm
Ngoài ra còn phải kể đến khó khăn về mặt định chế, đó là làm sao tạo ra môi trường hành lang pháp lý để các cơ quan phối hợp với nhau hết sức đồng lòng, thực hiện cắt hết nguồn gây ô nhiễm Để làm được điều này cần phải có một nhạc trưởng, một tổng tư lệnh có năng lực, có tâm để làm sao đẩy nhanh được sự kết hợp
đó
Mặt khác, lĩnh vực BVMT sông là một lĩnh vực nóng trong xã hội Vì vậy, các ban ngành chuyên môn cũng xác định rằng cố gắng làm sao đạt được kết quả trong thời gian ngắn nhất Còn thời gian xác định 20 năm nữa, hay 30 năm nữa cắt giảm hết ô nhiễm tại các LVS là không tối ưu
1.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực sông Gianh, Quảng Bình
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
a, Vị trí địa lý
Lưu vực sông Gianh nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Bình, có toạ độ địa lý từ
17031’ đến 18008’ vĩ độ Bắc, 105036’ đến 106032’ kinh độ Đông, tổng diện tích tự nhiên 4.680 km2
Phía Bắc giáp các xã thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Hà Tĩnh
Phía Nam giáp các xã thuộc huyện Bố Trạch, huyện Quảng Ninh
Phía Đông giáp biển
Phía Tây giáp nước bạn Lào
Trang 34Hình 1.1 Bản đồ Hành chính lưu vực sông Gianh Quảng Bình
LVS có gần 26 km bờ biển và gần 100 km đường biên giới Việt Lào; có trục giao thông quan trọng xuyên Bắc Nam đó là quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh phía Đông và phía Tây), đường sắt chạy dọc huyện; có cảng Gianh, các danh thắng như vườn quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận di sản thiên nhiên thế giới; vùng gò đồi, núi đá vôi, rừng, biển… với nhiều tiềm năng du lịch và nghỉ dưỡng
Vị trí địa lý tạo cho LVS có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển toàn diện
về KTXH, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, thực hiện nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 35- Vùng địa hình núi đá vôi: phân bố ở huyện Tuyên Hoá, huyện Minh Hoá, các
xã Thượng Trạch, Tân Trạch, Sơn Trạch, Xuân Trạch, Phúc Trạch thuộc huyện Bố Trạch và một số xã phía tây của huyện Quảng Trạch, chiếm hơn 1/3 diện tích tự nhiên của lưu vực Các khối núi đá vôi ở đây được hình thành vào thời kỳ Đềvon và Cacbon-pecmi, thường bị chia cắt thành những giải liên tục hoặc độc lập, địa hình lởm chởm, sườn thẳng đứng Ở hầu hết khu vực núi đá vôi đều có dạng địa hình caxtơ trên mặt và ngầm Một số sông suối bị mất do chảy ngầm trong núi đá vôi hàng mấy chục km, điển hình là động Phong Nha, đây là một trong những hang động trong núi đá vôi dài nhất thế giới
- Vùng núi đất thấp và trung bình: kiểu địa hình này chiếm gần 2/3 diện tích của lưu vực, gồm những dãy núi liên tiếp độ cao các đỉnh núi trung bình 400 - 500m, có đỉnh cao tới 1.000m (Ba Rền 1.137m; UBò 1.009m), độ dốc chủ yếu là trên 250, có nhiều nơi địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn
- Vùng gò đồi: là vùng tiếp giáp giữa vùng núi và đồng bằng, dọc đường Hồ Chí Minh nhánh Đông gồm những đồi bát úp tạo nên một số thung lũng Đây là vùng có nhiều tiềm năng đất đai để phát triển kinh tế hàng hoá, tạo nên khối lượng lớn nông-lâm sản hàng hoá cho lưu vực
- Vùng đồng bằng: là vùng đất hẹp chạy dọc quốc lộ 1A Địa hình tương đối bằng phẳng, hình thành bởi phù sa các con sông lớn Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính của lưu vực, hàng năm cung cấp lượng lương thực chủ yếu cho nhân dân các huyện thuộc lưu vực sông Gianh Dọc theo bờ biển có những cồn cát và dải cát trắng vàng độ cao 2m đến 50m Đặc điểm địa hình tạo ra các vùng sinh thái khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Có thể hình thành 7 tiểu vùng
c, Khí hậu
Lưu vực sông nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa đông tương đối lạnh ở phía Bắc Nhiệt độ bình quân hằng năm là 25 độ C, lượng mưa bình quân là 2.976mm, độ ẩm bình quân là 84,9% Khí hậu toàn lưu vực chia làm hai mùa rõ rệt; Mùa mưa rét từ tháng 9 đến
Trang 36tháng 3 năm sau, trong đó tháng 9 đến tháng 11 mưa bão; lượng mưa tập trung 70% tổng lượng mưa của cả năm nên thường gây lũ lụt trên diện rộng, tháng 12 đến tháng 3 rét và mưa phùn, gió bấc nhiệt độ có lúc xuống tới 9 – 11 độ C; mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 nắng gắt gắn với gió Tây Nam (địa phương gọi là gió Lào) gây khô nóng lượng bốc hơi lớn nên thường xuyên gây hạn hán, cát bay, cát chảy lấp đồng ruộng và dân cư
Điều kiện thời tiết bất lợi đối với lưu vực là gió Tây Nam khô nóng xuất hiện khoảng 75 ngày trong năm, chủ yếu tập trung trong tháng 7, tháng 8 kết hợp với thiếu mưa gây hạn hán Mùa mưa bão tập trung vào tháng 9, tháng 10, bão thường
đi kèm với mưa lớn Do địa hình hẹp, sông ngắn và dốc nên mùa mưa bão thường
có hiện tượng nước dâng tạo ra lũ quét gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp hàng năm Để hạn chế sự bất lợi cần phải có các chương trình khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên có căn cứ khoa học, như trồng rừng đầu nguồn, thiết lập vành đai rừng phòng hộ ven sông, ven biển, nghiên cứu cơ cấu mùa vụ cây trồng vật nuôi, tuyển chọn cơ cấu giống, chống chịu để né tránh các điều kiện về khí hậu, thời tiết
d, Tài nguyên nước
Hệ thống sông Gianh là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình, hệ thống sông này chảy qua bốn huyện phía Bắc của tỉnh Quảng Bình đó là: Minh Hoá, Tuyên Hoá, Quảng Trạch và Bố Trạch với tổng chiều dài khoảng 158 km, chiều dài lưu vực 121 km, chiều rộng lưu vực bình quân 38,8 km, mật độ lưới sông 1,54 với tổng diện tích lưu vực 4.680 km2 Sông có 13 phụ lưu cấp 1; 20 phụ lưu cấp 2 và 10 phụ lưu cấp 3 Trong đó phụ lưu với quy mô lớn nhất là sông Rào Cái, và sông Son
Hệ thống sông Gianh có vai trò rất quan trọng cung cấp nước mặt cho các huyện phía Bắc của tỉnh Quảng Bình
Hiện tại trên diện tích của lưu vực, với bàn tay của con người đã tạo ra được
56 hồ chứa nước lớn nhỏ với tổng dung tích 153,023 triệu m3
Hàng năm hệ thống sông Gianh đã tạo ra nguồn nước đổ ra biển Đông, tháng thấp nhất (tháng 4) 331 triệu m3, tháng cao nhất (tháng 9) 6.685 triệu m3
Trang 37Sự chênh lệch về nguồn nước giữa các tháng trong năm rất lớn, các tháng 9,
10 và 11 là những tháng thường gây nên lũ lụt; các tháng 3, 4 thường là mùa nước kiệt gây ra nhiều bất lợi cho con người
Hệ thống sông Gianh là hệ thống sông chính của tỉnh Quảng Bình có tầm ảnh hưởng lớn đối với cuộc sống của người dân các huyện: Tuyên Hoá, Minh Hóa, Quảng Trạch và Bố Trạch Đồng thời nó cũng đã tạo ra những danh lam thiên nhiên đẹp, tiêu biểu là động Phong Nha, một di sản thiên nhiên của thế giới nên cần được bảo vệ để không gây ô nhiễm nguồn nước và làm thay đổi lòng sông
e, Tài nguyên đất
Đất đai ở lưu vực tương đối phong phú và đa dạng, đất đồi núi chiếm 85%, đất đồng bằng chiếm 14,6%, đất cát nội địa chiếm 1,6% diện tích tự nhiên Gồm 9 nhóm đất với 20 đơn vị đất
Đặc biệt khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi có hệ động thực vật rất phong phú và đa dạng, là nơi giao thoa của hai luồng động thực vật từ Bắc xuống và Nam lên Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và có nhiều loại động, thực vật quý hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam
Ngoài ra, HST rừng ngập mặn ven biển mặc dù đã bị khai thác để nuôi tôm song những vùng còn lại vẫn còn những loại động thực vật thuỷ sinh có giá trị kinh
tế
h, Tài nguyên biển
Về nguồn lợi biển, lưu vực nói riêng và tỉnh Quảng Bình có hầu hết các loài hải sản có mặt ở Việt Nam (1.000 loài) Có những loài hải sản có giá trị kinh tế
Trang 38cao như: Tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang Trong đó, mực ống, mực nang
có trữ lượng khá lớn và chất lượng cao Theo số liệu điều tra năm 1996 của Bộ Thuỷ sản, trữ lượng nguồn lợi hải sản ở vùng biển Quảng Bình trên 90.000 tấn/năm, khả năng khai thác ước tính 40.000 tấn/năm
Ngoài ra, vùng nội địa có nhiều sông suối, ao hồ, đồng trũng, bãi bồi ven sông có nhiều loại thuỷ sinh sinh sống Hàng năm, nhân dân địa phương khai thác hàng nghìn tấn thuỷ sản nước lợ và trên 1 nghìn tấn thuỷ sản nước ngọt Tuy nhiên, tài nguyên biển tại đây vẫn chưa được khai thác hiệu quả do ngư
cụ thô sơ, chưa có nhiều tàu lớn để đánh bắt xa bờ Mặt khác, nguồn vốn của nhân dân khó khăn nên khả năng đầu tư sản xuất nuôi trồng thuỷ sản bị hạn chế
h, Tài nguyên khoáng sản
Lưu vực sông Gianh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú nhưng chưa được điều tra và khai thác nhiều
Theo các số liệu điều tra khoáng sản Quảng Bình nằm rải rác các huyện trong tỉnh từ vùng ven biển đến trung du miền núi:
- Nhóm kim loại: Có quặng Măngan ở Cái Đăng (Tuyên Hoá); Titan và Ziricon ở trong dãi cát ven biển
- Nhóm nguyên liệu hoá chất và phân bón: Có pyrit (Quảng Trạch); photphorit (Bố Trạch, Tuyên Hoá, Minh Hoá và dọc sông Rào Nậy) với 23 điểm khác nhau, trong đó 7 điểm có trữ lượng khá khoảng 123.000 tấn; cùng với than bùn và đôlômit đang được khai thác làm nguyên liệu sản xuất phân bón tổng hợp N.P.K
- Nhóm nguyên vật liệu xây dựng: Có đá vôi, đá sét xi măng, sét gạch ngói
và đá granit Đá vôi các loại có trữ lượng khoảng 5.400 triệu tấn phấn bố ở Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch Sét gạch ngói có trữ lượng hơn 7 triệu tấn phân bố Đồng Lê (Tuyên Hoá)
- Nhóm nguyên vật liệu sản xuất thuỷ tinh: Có cát trắng, thạch anh ở phía Bắc Ba Đồn (Quảng Trạch) trữ lượng khoảng 35 triệu tấn Cát có độ tinh khiết
Trang 39cao, hạt mịn, hàm lượng SiO2 đạt 98 - 99% Các mỏ này lại nằm gần đường giao thông nên dễ khai thác và vận chuyển
- Nước khoáng và nước nóng: Trên phạm vi tỉnh Quảng Bình đã phát hiện được 5 nguồn nước khoáng - nước nóng, trong đó có 4 nguồn đã được thống kê trong "Danh bạ các nguồn nước khoáng - nước nóng Việt Nam":
+ Nguồn Thanh Lâm (Nô Bồ) thuộc thôn Nô Bồ, xã Ngư Hoá, huyện Tuyên Hoá
+ Nguồn Đông Nghèn thuộc thôn Đông Nghèn, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch
+ Nguồn nước nóng khe nước Sốt, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch
i, Tài nguyên nhân văn và du lịch
Với nhiều lễ hội truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc như Hội rằm tháng 3 ở Minh Hoá, lễ hội này có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, văn hoá, có tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước, yêu quê hương, động viên lao động sản xuất
Toàn lưu vực có hàng trăm di tích lịch sử đã được kiểm kê và đánh giá là di tích lịch sử văn hoá được Nhà nước xếp hạng, đặc biệt có VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a, Dân số, dân tộc và lao động
Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số trung bình toàn lưu vực là 445.769 người trong đó dân số đô thị là 35.821 người (8,036%) với 10.533 hộ, dân số nông thôn là 409.948 người với 89.539 hộ
Tỷ lệ tăng dân số hàng năm có xu hướng giảm, năm 1995 là 2,42%; năm
2000 giảm xuống còn 1,47%; đến năm 2009 còn 1,21%
Sự phân bố dân cư trên lãnh thổ không đều, phần lớn tập trung ở vùng đồng bằng và ven biển Mật độ dân số toàn lưu vực là 95,25 người/km2 cao nhất là thị trấn Ba Đồn - 4.020 (huyện Quảng Trạch), thấp nhất là xã Thường Trạch - 3.1 (huyện Bố Trạch)
Trang 40Tỷ lệ hộ đói ngèo giảm nhanh từ 24,5% năm 2000 xuống còn 12,12% năm
2009 Tuy nhiên mức thu nhập có sự chênh lệch giữa các vùng đô thị, đồng bằng ven biển so với các vùng núi
Mạng lưới giao thông đường bộ phân bố tương đối hợp lý trên địa bàn, đến nay đã có 100% xã, thị trấn có đường ôtô đến UBND Tuy nhiên các tuyến đường cấp huyện, xã phần lớn là đường cấp phối chất lượng thấp gây khó khăn đi lại đặc biệt là mùa mưa
c, Cung cấp điện nước sinh hoạt
Trong những năm qua công tác thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và phòng chống lụt bão đã được chú trọng đầu tư Hệ thống tưới tiêu nhiều đập dâng và hồ chứa nước thuộc các công trình thủy nông và các xã quản lý đảm bảo tưới tiêu cho trên 12.000 ha vụ đông xuân và trên 10.000 ha vụ hè thu của toàn lưu vực Các hạng mục công trình tiếp tục được đầu tư, củng cố và nâng cấp bao gồm: xây dựng củng cố hệ thống trạm bơm, nạo vét và kiên cố hóa kênh mương, cứng hóa đường ven biển, nâng cấp các kênh, mương
Tuy nhiên cho đến nay hệ thống thủy lợi chỉ đảm bảo được 60% công suất thiết kế Thực tế hệ thống tưới mới đáp ứng được 64% diện tích vụ đông xuân và 50% vụ hè thu của toàn lưu vực Hệ thống kênh tưới tiêu đang bị xuống cấp do sạt lở, bồi tụ, đòi hỏi phải được đầu tư lớn để nạo vét tu bổ mới đảm bảo tưới tiêu tốt, phát huy công suất thiết kế của công trình
Mạng cung cấp điện sinh hoạt cho vùng chưa được xây dựng hoàn chỉnh Nguồn điện lưới chỉ mới đến được các cơ quan chính quyền và trạm xá xã, chưa
có các mạng nhánh cấp đến bản và hộ dân Hiện nay, tại các bản, một số hộ đang
sử dụng thủy điện nhỏ phục vụ sinh hoạt
Trong khu vực chưa có hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung, người dân