Các hướng nghiên cứu chính bao gồm: 1 Nghiên cứu xu thếbiến đổi và tính biến động của các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan trongmối liên hệ với sự biến đổi khí hậu dựa trên số li
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Thị Lan Hương
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-Nguyễn Thị Lan Hương
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khí tượng và khí hậu học
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Quang Đức, là người
đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn các thầy
cô và các cán bộ trong Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học đã cung cấp chotôi những kiến thức chuyên môn quý giá, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sởvật chất trong suốt thời gian tôi học tập và thực hành ở Khoa
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
đã tạo điêu kiện cho tôi trong thời gian hoành thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cơ quan, gia đình, người thân
và bạn bè, những người đã luôn ở bên cạnh cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện tốtnhất cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Hà Nội ngày 20 tháng 09 năm 2014
HỌC VIÊN
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU 2
1.1 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và mùa khí hậu trên thế giới 5
1.2 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và biến đổi mùa khí hậu ở Việt Nam 8
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU 12
2.1 Số liệu nghiên cứu 12
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1 Phương pháp bản đồ 14
2.2.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính đơn biến 15
2.2.3 Phương pháp xác định mùa, thời điểm bắt đầu, kết thúc mùa 16
CHƯƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU Ở KHU VỰC 18
ĐÔNG BẮC VIỆT NAM 18
3.1 Kết quả phân tích trường nhiệt độ 18
3.1.1 Biến đổi của nhiệt độ mùa 18
3.1.2 Biến đổi mùa nhiệt theo thời gian 33
3.1.3 Biến đổi của phân bố nhiệt độ mùa 38
3.2 Kết quả phân tích trường mưa 42
3.2.1 Biến đổi của lượng mưa mùa 42
3.2.2 Biến đổi của mùa mưa theo thời gian 53
3.2.3 Biến đổi phân bố mưa mùa 58
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ các trạm quan trắc thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam 11 Hình 2.2 Định dạng của file số liệu nhiệt độ và lượng mưa của các trạm 14
Hình 2.3 Đồ thị hồi quy tuyến tính _15
Hình 3.1 Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình năm của khu vực nghiên cứu
giai đoạn 1971-2010. _21 Hình 3.2 Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa lạnh của các
trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010. _23
Hình 3.3.Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa nóng của các
trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010. _24
Hình 3.4.Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 3 tháng mùa đông của các
trạm
Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010. 26
Hình 3.5.Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 3 tháng mùa hè của các trạm
Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010. 27
Hình 3.6 Nhiệt độ trung bình Tháng Một các trạm khu vực Đông Bắc Việt Nam
giai đoạn 1971-2010 _27 Hình 3.7 Nhiệt độ trung bình Tháng bảy các trạm khu vực Đông Bắc Việt Nam
giai đoạn 1971-2010 _31
Hình 3.8 Xu thế bắt đầu - kết thúc mùa đông tại Đông Bắc Việt Nam với ngưỡng
18 o C và mùa hè với ngưỡng 25 o C (hình dưới) _33
Hình 3.9 Thời điểm xuất hiện của nhiệt độ cao nhất 6 tháng mùa nóng (đơn vị pentad
mùa) -35
Hình 3.10 Thời điểm xuất hiện của nhiệt độ thấp nhất 6 tháng mùa lạnh (đơn vị pentad
mùa) -37
Hình 3.11 Nhiệt độ trung bình 3 tháng chính đông các trạm khu vực Đông Bắc
Việt Nam trong bốn giai đoạn. _37
Trang 6Hình 3.12 Nhiệt độ trung bình 3 tháng chính hè tại các trạm khu vực Đông Bắc
Việt Nam trong bốn giai đoạn. _39
Hình 3.13 Nhiệt độ trung bình Tháng Tư trừ Tháng Ba các trạm khu vực Đông
Bắc Việt Nam trung bình bốn giai đoạn. _40
Hình 3.14 Nhiệt độ trung bình Tháng Chín trừ Tháng Mười tại các trạm khu vực
Đông Bắc Việt Nam trung bình bốn giai đoạn. 41
Hình 3.15: Đồ thị hệ số a của xu thế tuyến tính lượng mưa trung bình năm khu
vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010. _45
Hình 3.16: Biến trình nhiều năm và xu thế của lượng mưa năm tại các trạm khu
vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010 47
Hình 3.17: Biến trình nhiều năm và xu thế của lượng mưa 6 tháng mùa đông tại
các trạm khu vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010 48
Hình 3.18: Biến trình nhiều năm và xu thế của lượng mưa 6 tháng mùa hè tại các
trạm khu vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010 50
Hình 3.19: Biến trình nhiều năm và xu thế của lượng mưa 3 thángchính đông tại
các trạm khu vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010 51
Hình 3.20: Biến trình nhiều năm và xu thế của lượng mưa 3 tháng chính hè tại
các trạm khu vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010 53
Hình 3.21 Hình vẽ biểu diễn xu thế thay đổi của pentad bắt đầu mùa mưa tại các
trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010. _55
Hình 3.22 Hình vẽ biểu diễn xu thế thay đổi của pentad kết thúc mùa mưa tại các
trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010 57
Hình 3.23 Phân bố lượng mưa trung bình thập kỉ của 3 Tháng Năm – Sáu – Bảy
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Vị trí và độ cao các trạm quan trắc trong khu vực Đông Bắc Việt Nam_13
Bảng 3.1 Nhiệt độ tháng và năm các trạm khu vực nghiên cứu giai đoạn
Trang 9DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
APR: April – Tháng Tư
AUG: August – Tháng Tám
DEC: December – Tháng Mười Hai
FEB: February – Tháng Hai
ITCZ: Intertropical Convergence Zone – Dải hội tụ nhiệt đớiJAN: January – Tháng Một
JUL: July – Tháng Bẩy
JUN: June – Tháng Sáu
MAR: March – Tháng Ba
MAY: May – Tháng Năm
NOV: November – Tháng Mười Một
OCT: October – Tháng Mười
SEP: September – Tháng Chín
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong những thập kỉ gần đây, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bấtthường của khí hậu toàn cầu Bề mặt trái đất không ngừng nóng lên làm xáo độngmôi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người ViệtNam được đánh giá là một trong những Quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhấtcủa biến đổi khí hậu trong thế kỉ tới
Ở thời điểm hiện tại có rất nhiều nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Namcũng như trên thế giới Các hướng nghiên cứu chính bao gồm: 1) Nghiên cứu xu thếbiến đổi và tính biến động của các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan trongmối liên hệ với sự biến đổi khí hậu dựa trên số liệu quan trắc từ mạng lưới trạm khítượng; 2) Nghiên cứu ứng dụng các mô hình khí hậu toàn cầu và khu vực để môphỏng khí hậu hiện tại, qua đó đánh giá khả năng nắm bắt các hiện tượng khí hậucực đoan của các mô hình; và 3) Nghiên cứu dự báo hạn mùa và dự tính khả năngxuất hiện các hiện tượng khí hậu cực đoan trong tương lai với các quy mô thời giankhác nhau Trong luận văn này, phương pháp bản đồ và phương pháp thống kê được
sử dụng để xác định những đặc trưng thay đổi của trường nhiệt và trường mưa tạikhu vực Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010 Luận văn tiến hành phân tíchnhững xu thế biến đổi của lượng mưa và nhiệt độ trong những giai đoạn dài (thậpkỉ) để đưa ra những nhận định về biến đổi khí hậu diễn ra ở nơi đây Đặc biệt, luậnvăn tập trung phân tích những biến động mùa khí hậu để làm rõ sự dịch chuyểnmùa Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 phần chính:
Phần 1: Tổng quan về các nghiên cứu biến đổi mùa khí hậu
Phần 2: Số liệu và phương pháp nghiên cứu
Phần 3: Sự biến đổi mùa khí hậu khu vực Đông Bắc Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thốngkhí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động củacác thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàngthập kỉ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệthống khí hậu hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên
của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hoặc sử dụng đất Biến đổi
khí hậu toàn cầu đang là mối đe doạ hiện hữu đối với mọi quốc gia trên thế giớitrong đó có Việt Nam Biến đổi khí hậu cũng có khả năng làm thay đổi quy luật củakhí hậu, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực liên quan đến đời sống con người Những điều này rất đáng lo ngại vì Việt Nam là một trong những quốc gia trênthế giới đạt được những thành quả phát triển ấn tượng nhất trong những năm gầnđây Việt Nam là một trong số ít các quốc gia đi đúng hướng trong việc đạt đượccác mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào năm 2015 Việt Nam đã giảm tỷ lệ đóinghèo từ khoảng 58% vào năm 1993 xuống 18% vào năm 2006 Tuy nhiên nhữngthành quả này giờ đây đang bị đe dọa bởi biến đổi khi hậu Để ứng phó với biến đổicần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội
Các tác động của biến đổi khí hậu có thể kể đến bao gồm các tác động của sựnóng lên phạm vi địa phương, tác động tới tài nguyên nước và tác động tới sức khỏecon người Các tác động của biến đổi khí hậu cho khu vực này có thể kể đến chi tiếtnhư sau:
Tác động của sự nóng lên phạm vi địa phương
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyểncác ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thayđổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ônđới và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
Trang 12Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi và mùa vụ có thể thayđổi ở một số vùng, trong đó vụ đông có thể bị rút ngắn lại, thậm chí không có vụđông, vụ mùa thì kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt
độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cựctiểu, cùng với biến đổi của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năngphát triển sâu bệnh, dịch bệnh, dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơrủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
Vì sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thời gian thích nghi của cây trồngnhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp lại Ranh giới của câytrồng nhiệt đới dịch chuyển về phía núi cao hơn và các vĩ độ phía Bắc Phạm vithích nghi của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về phía núi cao và các vĩ độ phíaBắc Phạm vi thích nghi của các cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp lại
Vào những năm 2070, cây á nhiệt đới ở vùng núi chỉ có thể sinh trưởng ởnhững độ cao trên 100 – 500m và lùi xa hơn về phía Bắc 100 – 200km so vớihiện nay
Nhiệt độ và độ ẩm tăng cao làm gia tăng làm gia tăng sức ép về nhiệt độ với
cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnhnhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côntrùng và vật mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm
Sự gia tăng nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng,giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại, liên quan đến chiphí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản thiết bị, phương tiện, sức bền vậtliệu
Tác động đối với tài nguyên nước
Tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày mộttăng ở một số vùng, miền Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấpnước ở nông thôn, thành thị và dễ xảy ra tình trạng cháy rừng
Hệ thống sông vùng Đông Bắc Việt Nam bao gồm các con sông: sôngThương, sông Thái Bình, sông Bằng Giang, sông Kì Cùng Các con sông này có vai
Trang 13trò đặc biệt trong chế độ thủy văn, cung cấp nguồn nước cho nông nghiệp và cáchoạt động sản xuất ở khu vực này Nghiên cứu của IPCC (2007) cũng cho thấytrong thế kỉ tới, có sự gia tăng của lượng mưa tại khu vực phía bắc Việt Nam Điềunày một mặt gia tăng những lợi ích về tài nguyên nước nhưng mặt khác cũng dẫnđến các nguy cơ gây ngập lụt và sói lở đất.
Tác động đối với sức khoẻ con người
Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đếngia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh.Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm Ở miền Bắc, mùađông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người
Biến đổi khí hậu làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốtxuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côntrùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lâylan…
Thiên tai như bão, tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đấtv.v… gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởnggián tiếp đến sức khoẻ thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật donhững đổ vỡ của kế hoạch dân số, kinh tế - xã hội, cơ hội việc làm và thu nhập.Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu
số ở miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ
Đã có rất nhiều vấn đề quan trọng của biến đổi khí hậu được nghiên cứu, tuynhiên vấn đề được đặt ra: liệu biến đổi khí hậu có làm thay đổi, có làm dịch chuyểnmùa khí hậu hay không? Cụ thể hơn, mùa nhiệt (mùa mưa) sẽ đến sớm hơn haymuộn hơn, lượng mưa thay đổi như thế nào, xu thế của nhiệt độ sẽ thay đổi như thếnào và thay đổi bao nhiêu…? Nghiên cứu, trả lời những vấn đề đó giúp các nhàhoạch định chính sách đưa ra kế hoạch về hoạt động kinh tế, thay đổi cơ cấu câytrồng vật nuôi, có kế hoạch sản xuất, làm việc và sinh hoạt phù hợp góp phần giảiquyết bài toán ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu
Trang 14Trên quan điểm đó, chúng tôi đặt vấn đề: "Nghiên cứu sự biến động mùa khí hậu khu vực Đông Bắc Việt Nam" nhằm hướng tới vấn đề quan trọng này.
1.1 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và mùa khí hậu trên thế giới
Nguồn gốc của khoa học nghiên cứu về khí hậu bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII,đầu thế kỉ XIX, chủ yếu nghiên cứu về các sông băng Tới thập niên 1970, một nhàkhoa học Thụy Điển tên là Horace-Bénédict de Saussure cho rằng khí quyển trái đấtgiống như một chiếc nhà kính, bảo về bề mặt trái đất và các sinh vật sống trong đókhỏi các cực trị nhiệt độ Sau đó, John Tyndall, một nhà khoa học Anh là người đầutiên tiến hành các thí nghiệm để khẳng định hiệu ứng nhà kính Nhưng trong thế kỉXIX, thuật ngữ “hiệu ứng nhà kính” chưa đồng nghĩa với sự ấm lên toàn cầu Thayvào đó, các nhà khoa học lại lo lắng về một khía cạnh ngược lại: sự lạnh đi toàn cầu
và sự quay ngược trở lại thời kì băng hà sẽ đe dọa nền văn minh của loài người Trong thế kỉ XIX, nhà khoa học Thụy Điển Louis Agassiz được xem như họcgiả đầu tiên nghiên cứu về biến đổi khí hậu Agassiz đưa ra các lí thuyết dựa trênthông tin về sự phát triển và rút lui của các sông băng trong các giai đoạn tại Alps
và Châu Âu, Great Lake tại Bắc Mĩ và các khu vực khác Ông cho rằng trái đất đãtrải qua sự thay đổi của nhiệt độ và các điều kiện thời tiết khác nhau Năm 1890,Svante Arhenius, theo sau Tyndall, đã tính toán tác động của CO2 tới nhiệt độ khíquyển Nhưng không giống như những nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở thời điểm
đó, Arrhenius ủng hộ các ý tưởng về sự ấm lên, cũng như ông nghĩ rằng điều đó sẽgiúp cải thiện điều kiện thời tiết và nông nghiệp tại Scandinavia
Sang thế kỉ XX, một nhà khoa học khác là Guy Callendar đã ủng hộ cácnghiên cứu của Arrhenius và tiếp tục nỗ lực để làm rõ các hiểu biết khoa học về vaitrò của carbon dioxide trong biến đổi khí hậu Tuy nhiên những quan điểm YetCallendar đã không được coi trọng Năm 1951, một nhà khoa học bảo thủ cho rằng
“lí thuyết về CO2 sẽ không bao giờ được chấp nhận rộng rãi và sẽ bị bỏ rơi”
Thập kỉ 1950 đánh dấu sự ra đời của các mô hình khí hậu Bắt đầu với nhữngnghiên cứu về nhiệt độ ở các lớp khác nhau trong đại đương của nhà đại dương họcRoger Revelle và các đồng nghiệp tại Scripps Institution of Oceanography Sang
Trang 15thập kỉ 1960, một số vấn đề về biến đổi khí hậu đã bắt đầu được thảo luận trong giớichính trị Năm 1969, thượng nghị sĩ Mĩ Daniel Patrick Moynihan đã gửi bức thư lêntổng thống Mĩ Richard Nixon Trong bức thư nói nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽtăng lên khoảng 7oC cho tới năm 2000 và cùng với sự dâng của mực nước biến sẽđồng nghĩa với “Tạm biệt New York” và “Tạm biệt Washington”.
Năm 1970, diễn ra hàng loạt các cuộc tranh cãi giữa 2 trường phái chính, mộtủng hộ quan điểm ấm lên toàn cầu và trường phái còn lại ủng hộ quan điểm lạnh đitoàn cầu và sự trở lại của một giai đoạn băng hà mới Nhưng những tiến bộ vượt bậccủa công nghệ vệ tinh và mô hình số đã củng cố quan điểm về sự ấm lên toàn cầu.Các mô hình đã cho thấy các hoạt động của con người có một vai trò rất lớn trongviệc làm tăng lượng khí nhà kính CO2 trong khí quyển Cột mốc quan trọng trongnghiên cứu biến đổi khí hậu chỉ thực sự đánh dấu trong năm 1988, khi tổ chức liênchính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) được thành lập Đây là một tổ chức bao gồmcác nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia trên khắp thế giới, đưa ra những báo cáotổng hợp về các nghiên cứu biến đổi khí hậu ở thời điểm hiện tại
Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đãthông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tìnhtrạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển trái đất Tại Hội nghị Kyoto năm
1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua vào đầu Tháng 2/2005 đã đượcnguyên thủ 165 quốc gia trong đó có Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư này bắtđầu có hiệu lực từ 10/2/2005
Theo IPCC [14], kịch bản biến đổi khí hậu là bức tranh toàn cảnh của khí hậutrong tương lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sửdụng trong nghiên cứu những hậu quả của biến đổi khí hậu do con người gây ra vàthường được dùng như là đầu vào cho các mô hình đánh giá tác động Các kết quảcủa IPCC đã được trình bày trong các báo cáo lần thứ nhất năm 1992 đến báo cáolần thứ tư năm 2007
Dựa trên các nghiên cứu về biên độ dao động chạy mô hình với các kịch bảnB1, A1B, và A2 cho thế kỉ 21, tất cả các vùng của châu Á được dự tính sẽ ấm lên
Trang 16trong thế kỉ tới, sự nóng lên có khả năng cao hơn so với trung bình toàn cầu diễn ra
ở các vùng trung tâm Châu Á, cao nguyên Tibet và phía bắc Châu Á Sự ấm lênthấp hơn so với trung tâm toàn cầu có khả năng diễn ra ở Đông Nam Á Các sóngnóng/ các giai đoạn nóng trong mùa hè được dự đoán sẽ tăng lên cả về cường độ lẫnthời gian kéo dài cũng như tần xuất xuất hiện Số ngày lạnh được dự đoán sẽ ít hơntại Đông Á và Đông Nam Á
Mưa mùa đông rất có khả năng tăng lên ở phía bắc Châu Á và cao nguyênTibet, và có khả năng tăng ở Đông Á và phía nam của Đông Nam Á Mưa mùa hè
có khả năng tăng ở bắc châu Á, đông và nam Á và hầu hết các vùng tại đông nam Ánhưng có khả năng giảm ở trung tâm châu Á Cường độ và lượng mưa rất có khảnăng tăng ở Nam Á và đông nam á
Mưa cực đoan kết hợp với gió và xoáy thuận nhiệt đới có khả năng tăng ởĐông Á, Đông nam Á và Nam Á Cường độ hoàn lưu có mùa có xu hướng yếu đi.Khu vực Bắc Á và trung tâm châu Á là những khu vực có số mô hình cholượng mưa tăng nhiều nhất Do đó có thể thấy mưa tăng ở các vĩ độ cao là rất cókhả năng xảy ra Trong khi đó số mô hình cho lượng mưa tăng ở vùng cận nhiệt đớirất ít, tương ứng với lượng mưa giảm ở nơi đây cho thấy khu vực ngoại nhiệt đới rất
có khả năng giảm mưa trong thập kỉ tới
Nghiên cứu gần đây được Hiệp hội các trường đại học công bố tại Trường đạihọc Copenhagen Tháng 3/2009 cho thấy nhiều khả năng tác động của biến đổi khíhậu trong thế kỷ XXI sẽ trầm trọng hơn những con số dự báo của IPCC đã công bốnăm 2007
Do đặc tính của mùa khí hậu thường gắn liền với vị trí, địa điểm cụ thể vàmang tính quy mô nhỏ nên cũng được nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới Sự dịchchuyển mùa cũng là vấn đề thu hút rất nhiều nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên cácnghiên cứu này chưa được công bố rộng rãi trên toàn thế giới mà thường chỉ trongphạm vi bài báo, các tạp chí khoa học trong nước Chính vì vậy, việc tiếp cận nhữngnghiên cứu về biến đổi mùa khí hậu trên thế giới còn khá hạn chế
Trang 17Một số nghiên cứu như Piervitali (2003) [19] về xu thế giảm lượng giáng thủynăm tại Địa Trung Hải Hay Shi (2003), Weng (1999), Gong (2002) cho thấy sựbiến đổi thập kỉ của giáng thủy ở phía Tây Bắc Trung Quốc; lượng mưa mùa thu vàmùa đông tăng lên ở phía Đông Trung Quốc và giảm đi ở phía bắc Trung Quốc Cácphân tích ở phạm vi hẹp cho thấy xu hướng tan sớm của tuyết trong mùa xuân cùngvới sự ấm lên được quan trắc ở các vĩ độ trung bình (Nicholls, 1996) Độ phủ củatuyết trong mùa xuân ở bắc bán cầu đã giảm rất mạnh từ 1988 tới 1994, trùng vớicác mùa xuân ấm hơn (Grosman, 1994) Ở phía đông bắc Hoa Kì, mùa tan băng(frost-free) bắt đầu sớm hơn trung bình khoảng 11 ngày so với thập kỉ 1950 (Karl,1997) Cùng với sự ấm lên toàn cầu, rất nhiều dòng sông băng đã tan băng (ice-free)hoặc trở thành những dòng sông chỉ bị băng che phủ ở những thời điểm nhất địnhtrong năm Ở những khu vực lạnh hơn, sự hiện diện của băng có thể ngắn hơn tớihàng tháng cho tới năm 2050 (Fitzharris,1996) [15] Fickling (2006) [16] cũng chothấy ở Châu Âu, mùa xuân đến sớm hơn và mùa thu bắt đầu muộn hơn do biến đổikhí hậu Điều này khiến cho mùa hè trở nên dài hơn, sự tăng lên của số ngày nắngnóng cũng được quan sát thấy rất rõ
1.2 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và biến đổi mùa khí hậu ở Việt Nam
Trong những năm qua, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, cơquan đi đầu trong các nghiên cứu về biến đổi khí hậu, đã chủ trì thực hiện hàng loạtnghiên cứu về biến đổi khí hậu như: Chiến lược quốc gia giảm phát thải khí nhàkính với chi phí thấp nhất; Vấn đề kinh tế của việc hạn chế phát thải khí nhà kính;Chiến lược quốc gia về cơ chế phát triển sạch; Nghiên cứu tác động của biến đổi khíhậu ở lưu vực sông Hương và chính sách thích nghi ở huyện Phú Vang (tỉnh ThừaThiên Huế); Lợi ích của thích ứng với biến đổi khí hậu từ các nhà máy thủy điệnvừa và nhỏ đồng bộ với phát triển nông thôn; Tác động của biến đổi khí hậu lên tàinguyên nước và các biện pháp thích ứng; Các kịch bản về nước biển dâng và khảnăng giảm thiểu rủi ro do thiên tai ở Việt Nam Viện đã chủ trì biên soạn “Thôngbáo quốc gia lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước Biến đổi khí hậu” và nhiềunghiên cứu khác Những kết quả nghiên cứu đã giúp nâng cao hiểu biết và nhận
Trang 18thức về biến đổi khí hậu Viện cũng đã chủ trì xây dựng và triển khai các chươngtrình quốc gia như: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu,kịch bản biến đổi khí hậuvà nước biển dâng cho Việt Nam, Chương trình khoa họccông nghệ quốc gia về biến đổi khí hậu, các chương trình hợp tác với UNDP, ADB,với WB, với DANIDA, JICA, Hà Lan, USA v.v Trong thời gian gần đây nhất(2008 – 2010), Viện đã chủ trì thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu cấp nhànước KC.08.13 “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tựnhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảmnhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội ở Việt Nam”, thuộcchương trình “Khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môitrường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, KC.08” Một trong những kết quảcủa đề tài là cuốn “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” đã được biên soạnnhằm giới thiệu những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu, thực trạng biến đổi khíhậu toàn cầu và ở Việt Nam, kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, tác động củabiến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực và các khu vực địa lí-khí hậu trong cảnước.
Tương tự với tình hình chung của thế giới, hầu hết các công trình khoa học đãcông bố rộng rãi ở Việt Nam tập trung vào dự báo các kịch bản Biến đổi khí hậutoàn cầu và nước biển dâng Hầu hết các công trình đều sử dụng dự báo của IPCC,UNDP, WB có đề cập đến vùng Nam Á, Đông Nam Á và Việt Nam nhưng ở mức
độ sơ bộ trên phạm vi rộng Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003) [1], Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho công ước chung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Bản dự thảo chương trình Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu trình Chính phủ Nhận định xu thế biến đổi khí hậu ở
Việt Nam: Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3oC vào năm 2100.Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng (từ 0%đến 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô Tính biến động củamưa tăng lên
Trang 19- Nguyễn Đức Ngữ (2008) [6], Biến đổi khí hậu và khô hạn, hoang mạc hóa,
Báo cáo tại Hội thảo Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam,
- Phan Văn Tân, 2009-2010 [10] , Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu
toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó Đề tài cấp Nhà nước, mã số KC08.29/06-10.
Dựa trên các nghiên cứu đó, một cách tổng quan, biến đổi khí hậu ở Việt Nam
có những điểm đáng lưu ý sau:
- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm
ở Việt Nam đã tăng lên 0,7oC Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961
- 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931 - 1960) Nhiệt độtrung bình năm của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh đềucao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6oC Năm
2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ
1931 – 1940 là 0,8 – 1,3oC và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,5oC
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bìnhnăm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911 – 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên cácvùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Trên lãnh thổViệt Nam, xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất khác nhau giữa các khu vực
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạmCửa Ông và Hòn Dấu cho thấy, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng20cm
- Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16đợt không khí lạnh, bằng 56% trung bình nhiều năm 6/7 trường hợp có số đợt
Trang 20không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI-III) thấp dị thường (0-1 đợt) cũng rơivào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 2/1997, 11/1997) Một biểu hiện dịthường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu là đợtkhông khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm
2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp
- Bão: Những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạobão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiềucơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 –
1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây
Các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến sự biến đổi của các hiện tượng và các yếu
tố khí hậu Hoặc đánh giá tính dễ bị tổn thương, rủi ro do tác động của BĐKH đếncác lĩnh vực khác nhau và các phương án thích ứng với BĐKH Mặc dù chưa cónhững nghiên cứu môt cách có hệ thống tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổimùa khí hậu song cũng có một số bài báo đăng trên các tạp chí, hoặc các báo cáo tạicác hội nghị khoa học đề cập đến vấn đề này Chẳng hạn người ta đã nhận thấy dấuhiệu của sự dịch chuyển theo thời gian và không gian của phân bố lượng mưa, củaquỹ đạo bão hoặc đã chỉ ra được sự biến đổi trong cường độ của chúng Tuy nhiênnhững nghiên cứu về sự biến đổi mùa khí hậu ở Việt Nam còn rất ít, đặc biệt sựbiến đổi mùa cho từng tiểu vùng khí hậu gần như là chưa có Tại khu vực Đông BắcViệt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào về biến đổi mùa khí hậu Do đó luậnvăn hướng đến vấn đề quan trọng này
Trang 21CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU2.1 Số liệu nghiên cứu
Khu vực Đông Bắc Việt Nam (sau đây gọi tắt là khu vực Đông Bắc) là mộtphần phía Đông Bắc Bộ, bao gồm một phần đồng bằng duyên hải Bắc Bộ (QuảngNing, Hải Phòng), miền núi và trung du phía đông dãy Tam Đảo cũng nằm trong số
đó (Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh) Vùng này có đặc điểm địa hìnhphía nam tương đối bằng phẳng và thấp (đồng bằng duyên hải Bắc Bộ) Phía đôngbắc có các dãy núi với độ cao1000 m ÷ 2000 m, nằm theo hình nan quạt trên cáchướng Đông Bắc-Tây Nam, Bắc-Nam, rồi Bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam, chụm lạihướng về phía dãy núi Tam Đảo (đó là cánh cung Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn,sông Gâm, và kết thúc là dãy Tam Đảo, tạo thành các sườn dẫn gió mùa Đông Bắc
và gió Bắc thường thổi về mùa đông Vùng này tiếp giáp với vịnh Bắc bộ về phíaĐông Nam, phía Tây được chắn bởi dãy Tam Đảo cao hơn 2000 m, nên chịu ảnhhưởng của khí hậu Đại dương… Vì vậy, khu vực Đông Bắc chịu ảnh hưởng trựctiếp của bão nhiệt đới, về mùa hè, ít chịu ảnh hưởng của gió Lào (gió fơn)
Hình 2.1: Bản đồ các trạm khí tượng khu vực Đông Bắc Việt Nam
Trang 22Trong luận văn này sử dụng số liệu nhiệt độ trung bình ngày và tổng lượngmưa mưa ngày quan trắc tại 12 trạm tại khu vực Đông Bắc từ năm 1971 tới 2010.Danh sách các trạm bao gồm: Bắc Giang, Bảo Lạc, Bãi Cháy, Cao Bằng, Đình Lập,Hữu Lũng, Lạng Sơn, Lục Ngạn, Móng Cái, Nguyên Bình, Phủ Liễn, Sơn Động.File số liệu được định dạng ở dạng Excel với hàng ngang là các tháng và hàng dọc
là các ngày trong tháng Số liệu nhiệt độ cao nhất Tx và nhiệt độ thấp nhất Tm cũngđược sử dụng trong luận văn
Bảng 2.1 Vị trí và độ cao các trạm quan trắc trong khu vực Đông Bắc Việt Nam
(độ kinh đông)
Vĩ độ (độ vĩ bắc)
Độ cao (m)
Trang 23Hình 2.2 Định dạng của file số liệu nhiệt độ và lượng mưa của các trạm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này sử dụng 2 phương pháp phân tích chính đó là phươngpháp bản đồ và phương pháp hồi quy tuyến tính đơn biến Phương pháp bản đồ giúpđưa ra những nhận xét về xu thế thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, của mùa khí hậutheo không gian qua các thập kỉ, còn phương pháp hồi quy được sử dụng nhằm xácđịnh những xu thế tăng hoặc giảm của cả nhiệt độ và lượng mưa một cách địnhlượng thông qua hệ số a của phương trình hồi quy Ngoài ra, phương pháp xác địnhmùa, thời điểm bắt đầu, kết thúc mùa được sử dụng để nghiên cứu sự biến đổi mùatheo thời gian
2.2.1 Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp được sử dụng từ lâu trong việc phân tíchcác trường khí quyển Phương pháp này giúp đưa ra góc nhìn trực quan về xu thế
Trang 24biến đổi của các trường được phân tích, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi ngườiphân tích phải có nhiều kinh nghiệm để nhận định vấn đề.
2.2.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính đơn biến
Phương pháp thống kê được sử dụng rất phổ biến trong khí tượng để đánh giá,phân tích các yếu tố và hiện tượng khí hậu với các đặc trưng thống kê, cũng có thểđược sử dụng để xây dựng các phương trình dự báo Do mục đích của luận văn nàychỉ dừng lại ở phân tích các xu thế biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa trong quákhứ, do đó luận văn chỉ đề cập đến phương pháp hồi quy xu thế tuyến tính đơn biến.Đây cũng là một trong những phương pháp thường được sử dụng trong việc nghiêncứu dao động khí hậu
Hình 2.3 Đồ thị hồi quy tuyến tính
Trước hết , từ chuỗi số liệu lượng mưa ngày của các trạm, đã thành lập chuỗilượng mưa tích lũy cho từng năm Trên cơ sở đó, các phương trình hồi qui tuyếntính một biến dạng đã được xác định, trong đó y là lượng mưa tích
lũy từng năm của mỗi trạm, t là số thứ tự năm, và là các hệ số hồi qui đượcxác định bởi :
Trang 25Xu thế tăng, giảm của chuỗi lượng mưa năm được xác định bởi dấu và trị sốtuyệt đối của hệ số góc của phương trình hồi qui Hệ số dương (hoặc âm) chobiết xu thế tăng ( hoặc giảm) của lượng mưa năm trong giai đoạn xem xét, đồng thờigiá trị tuyệt đối của hệ số càng lớn có nghĩa xu thế biến đổi càng mạnh.
2.2.3 Phương pháp xác định mùa, thời điểm bắt đầu, kết thúc mùa
Căn cứ vào những nghiên cứu trong khí hậu đã và đang được sử dụng [9, 11,14], trong luận văn sử dụng một số khái niệm sau:
- Các tháng mùa lạnh: gồm 6 tháng từ tháng XI năm trước đến tháng IV năm sau
- Các tháng mùa đông: gồm 3 tháng XII- I- II
- Tháng đặc trưng của mùa đông: tháng I
- Các tháng mùa nóng: gồm 6 tháng từ tháng V đến tháng X
- Các tháng mùa hè: gồm 3 tháng VI-VII-VIII,
- Tháng đặc trưng của mùa hè: tháng VII
- Thời điểm bắt đầu mùa đông được xác định là pentad đầu tiên trong thángmười hoặc tháng mười một có nhiệt độ trung bình của pentad đó nhỏ hơn 18oC.Thời điểm kết thúc mùa đông được xác định là pentad đầu tiên trong tháng ba hoặctháng tư có nhiệt độ trung bình 2 pentad liên tiếp đạt trên 18oC Giá trị này được lựachọn là ngưỡng khi nhiệt độ khí quyển hạ xuống do xâm nhập lạnh và cũng là nhiệt
độ đặc trưng của mùa đông
- Thời điểm bắt đầu mùa hè được xác định là pentad đầu tiên trong tháng tưhoặc tháng năm có nhiệt độ trung bình của pentad đó lớn hơn 25oC Thời điểm kếtthúc mùa hè được xác định là pentad cuối cùng trong tháng chín hoặc tháng mười
có nhiệt độ trung bình của pentad đó lớn hơn 25oC Giá trị này được lựa chọn làngưỡng nhiệt độ của miền nhiệt đới và cũng là nhiệt độ đặc trưng của mùa hè
- Thời điểm bắt đầu mùa mưa tại Đông Bắc trong luận văn này được xác định
là pentad (5 ngày) đầu tiên của tháng tư, tháng năm, ở đó lượng mưa trung bìnhpentad lớn hơn hoặc bằng lượng mưa trung bình pentad năm Trong pentad đó, sốngày mưa trên 10 mm/ngày đạt ít nhất 2 ngày, tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo sự
Trang 26xuất hiện của mưa kéo dài Tiêu chuẩn pentad trong tháng tư, tháng năm nhằm loại
đi những đợt mưa dị thường ở các tháng mùa đông, không phải là mưa mùa hè
- Thời điểm kết thúc mùa mưa được định nghĩa là pentad đầu tiên trongTháng Chín, Tháng Mười hoặc Tháng Mười Một sao cho lượng mưa tổng củapentad đó và pentad liền sau đó nhỏ hơn lượng mưa trung bình pentad năm Khoảngthời gian 10 ngày nhằm đảm bảo không xác định nhầm ngày kết thúc này với cácgiai đoạn gián đoạn của mùa mưa
- Để nghiên cứu sự biến đổi thời điểm xuất hiện nhiệt độ cực trị trong mùa,luận văn đưa ra khái niệm pentad mùa Pentad mùa là khoảng thời gian 5 ngày liêntiếp, tính từ ngày bắt đầu mùa đến ngày kết thúc mùa
Trang 27CHƯƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU Ở KHU VỰC
ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
3.1 Kết quả phân tích trường nhiệt độ
3.1.1 Biến đổi của nhiệt độ mùa
Do các đặc điểm địa lý, nhiệt độ của khu vực Đông Bắc khá thấp trong mùađông do chịu tác động của xâm nhập lạnh, nhưng lại không quá cao trong mùa hè
do địa hình núi cao ở phía bắc và giáp biển ở phía nam Các giá trị nhiệt độ trungbình được biểu diễn trong Bảng 3.1 cho thấy khu vực này có nhiệt độ trung bìnhnăm thấp nhất so với cả nước, dao động trong khoảng 22oC tới 23oC Nhiệt độ đođược thấp nhất vào ba Tháng: Tháng Mười Hai, Tháng Một, Tháng Hai với giá trịdao động từ khoảng 13oC tới 18oC Mặt khác, nhiệt độ cao nhất đo được từ ThángSáu tới Tháng Tám với nhiệt độ trong khoảng 26oC tới 29oC Có thể thấy khu vựcĐông Bắc Bắc Bộ có sự dao động nhiệt độ giữa các mùa tương đối lớn, chênh lệchgiữa Tháng có nhiệt độ cao nhất với Tháng có nhiệt độ thấp nhất xấp xỉ 13oC Vớinhiệt độ không quá cao vào mùa hè, hiện tượng nắng nóng rất ít xảy ra tại khu vựcnày, nhưng lại thường xuyên xuất hiện hiện tượng rét đậm, rét hại kéo dài trong cácTháng mùa đông Đặc biệt thời gian gần đây, các đợt lạnh kéo dài lâu hơn và nhiệtđột hạ xuống thấp hơn, ví dụ như đợt rét kỉ lục kéo dài 38 ngày xảy ra năm 2008hay đợt rét kéo dài gần 21 ngày năm 2011 với nhiệt độ giảm xuống 7oC Sự xuấthiện dường như thường xuyên hơn và khắc nghiệt hơn của các đợt rét này đã chothấy những xu hướng trong sự thay đổi của hình thế nhiệt độ tại Đông Bắc Trongbối cảnh biến đổi nhiệt độ chung toàn cầu, có thể thấy đây cũng có thể coi là nhữngtín hiệu của biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra ở quy mô địa phương tại các vùngcủa Việt Nam
Trang 28Bảng 3.1 Nhiệt độ tháng và năm các trạm khu vực nghiên cứu
Bằng 13.8 15.0 18.2 22.2 24.9 26.2 27.2 26.8 25.4 22.6 18.5 15.1 21.3Đinh
Lập 14.1 15.9 18.7 22.5 25.6 27.0 27.1 26.5 25.3 22.7 18.9 15.4 21.6Hữu
Lũng 15.3 16.9 19.3 23.2 27.0 28.5 28.5 27.9 26.8 24.2 20.3 16.9 22.9Lạng
Sơn 13.1 14.8 18.0 22.2 25.4 26.9 27.1 26.6 25.1 22.2 18.1 14.7 21.2Lục
Ngạn 16.2 17.5 20.5 24.6 27.6 28.9 29.1 28.5 27.2 24.4 21.0 17.7 23.6Nguyên
Bình 12.6 14.3 17.7 21.7 24.5 26.0 26.0 25.5 24.0 21.4 17.3 13.8 20.4Phủ Liễn 16.3 17.1 19.4 23.0 26.4 28.2 28.4 27.7 26.8 24.5 21.2 18.1 23.1 Sơn
Đông 15.6 17.2 20.2 24.1 27.1 28.3 28.2 27.5 26.3 24.1 20.3 16.8 23.0
Nhiệt độ trung bình tháng và trung bình năm của các trạm Đông Bắc đượcbiểu diễn trong Bảng 3.1 Có thể thấy, nhiệt độ trung bình năm tại nơi đây dao động
từ 21oC tới 23oC, tháng có nhiệt độ thấp nhất là Tháng Một với nhiệt độ dưới 15oC
và tháng có nhiệt độ cao nhất là Tháng Bẩy với nhiệt độ khoảng 28oC Sự chênhlệch nhiệt độ giữa 2 tháng liền kề nhau là không thật sự lớn, khoảng 2 đến 4oC Do
đó, quá trình chuyển từ mùa đông sang mùa hè ở nơi đây không thật sự rõ ràng Nếulấy nhiệt độ lớn hơn 25oC là các tháng mùa hè và nhỏ hơn 18oC là các tháng mùađông, thì có thể nhận định, mùa đông tại Đông Bắc kéo dài từ Tháng Mười Một tớiTháng Ba, còn mùa hè bắt đầu từ Tháng Tư và kết thúc vào Tháng Mười Tất nhiên,
sự phân chia này mang tính khí hậu và làm tham chiếu để tính toán các quá trìnhbiến đổi mùa diễn ra trong thập kỉ gần đây
Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình năm của các trạm Đông Bắc giai đoạn1971-2010 được biểu diễn trong Hình 3.1 Xu thế chung được nhận thấy rất rõ nét ở tất cảcác trạm là sự tăng của nhiệt độ bề mặt trong toàn bộ giai đoạn Đây có thể coi là một bằng
Trang 29chứng rõ nét nhất của sự ấm lên trên phạm vi khu vực đang diễn ra tại Việt Nam Các trạm
có xu thế tăng mạnh nhất là Hữu Lũng và Bãi Cháy Các trạm còn lại xu thế tăng là tươngđối giống nhau, chỉ trừ trạm Bắc Giang có xu thế tăng không thật rõ ràng Mặc dù trongsuốt giai đoạn chứng kiến hai đợt giảm mạnh của nhiệt độ bề mặt vào những năm 1981-
1986 và 1996-2000, tuy nhiên xu thế chung vẫn là xu thế tăng do có các đợt tăng nhiệt độrất mạnh vào các năm 1980, 1986, 1991 và 2001 Xu thế tăng của nhiệt độ là ổn định trongsuốt 3 thập kỉ đầu, tuy nhiên trong thập kỉ thứ 4, xuất hiện các đợt giảm mạnh của nhiệt độvào cuối thập kỉ Các đợt giảm mạnh của nhiệt độ này do những đợt rét kỉ lục gây lên, điểnhình là các đợt rét năm 2008 và năm 2009 Điều này khiến cho mức tăng có nhiệt độ có xuthế chậm hơn trong thập kỉ này so với các thập kỉ trước đó Những quá trình thay đổi củatrường nhiệt độ được nhận thấy ở hầu hết các trạm diễn ra trong giai đoạn dài nên có thểkhẳng định khu vực Đông Bắc đang diễn ra quá trình biến đổi khí hậu khá rõ nét
Trang 30Hình 3.1 Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình năm của khu vực
nghiên cứu giai đoạn 1971-2010.
Bảng 3.2 Phương trình xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình năm của
các trạm Đông Bắc giai đoạn 1971-2010
Trang 313.1.1.1 Mức độ biến động của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa lạnh
Trang 32Hình 3.2 Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa lạnh
của các trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010.
Tương tự như xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ trung bình 6tháng mùa đông cũng nhận thấy sự tăng nhẹ trong suốt giai đoạn 1971-2010 Xu thếtăng này diễn ra đồng thời trên tất cả các trạm với hệ số hồi quy dao động từ 0.013đến 0.028 So với xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm, xu thế biến đổi của nhiệt
độ trung bình 6 tháng mùa đông là tương đối giống nhau
3.1.1.2 Mức độ biến động của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa nóng
Trang 33Hình 3.3.Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa nóng của các
trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010.
Trang 34Xu thế biến đổi của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa hè được biểu diễn trongHình 3.3 cho thấy, trong mùa hè diễn ra sự tăng nhiệt độ lớn hơn một chút so vớicác tháng mùa đông và cả năm Mặc dù có 1 sự giảm nhẹ trong giai đoạn 2001-
2006, tuy nhiên xu hướng tăng này vẫn cao hơn so với các tháng mùa đông với các
hệ số hồi quy dao động từ 0.02 đến 0.032
3.1.1.3.Mức độ biến động của nhiệt độ trung bình 3 tháng mùa đông
Trang 35Hình 3.4 Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 3 tháng chính đông
của các trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010.
Những biến động ở quy mô thời gian nhỏ hơn được biểu diễn trong Hình 3.4cho thấy, xu thế nhiệt độ của trung bình 3 tháng chính đông tiếp tục là một xu thếtăng và lớn hơn trung bình 6 tháng mùa đông cũng như lớn hơn trung bình cả năm.Các hệ số tương quan nhận được dao động từ 0.018 đến 0.054, lớn hơn rất nhiều sovới các hệ số tương quan nhận được của các xu thế trong các quy mô thời giantrước đó Như vậy có thể khẳng định nhiệt độ mùa đông tăng chủ yếu là do sự tăngnhiệt trong các tháng chính đông
3.1.1.4 Mức độ biến động của nhiệt độ trung bình 3 tháng mùa hè
Trang 36Hình 3.5 Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 3 tháng chính hè
của các trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010.
Tương đồng với xu thế biến đổi nhiệt độ của mùa đông, biến đổi nhiệt độ của
3 tháng chính hè cũng phản ánh một xu thế tăng, tuy nhiên mức tăng nhỏ hơn so với
3 tháng chính đông Điều này cho thấy sự ấm dần lên trong các tháng chính đôngdiễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn trong các tháng chính hè Vùng trung du (gồm các