1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta: Isoptera) và đề xuất biện pháp phòng trừ các loài gây hại chính ở khu phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam

19 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 346,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Keywords: Động vật học; Mối; Phố cổ Hội An; Cây gây hại; Biện pháp phòng trừ Content CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nhiên cứu mối trên thế giới Theo kết quả ngh

Trang 1

Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta: Isoptera) và đề xuất biện pháp phòng trừ các loài gây hại chính ở khu phố cổ Hội An, tỉnh

Quảng Nam Nguyễn Mạnh Cường

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Động vật học; Mã số: 60 42 10

Người hướng dẫn: TS Trịnh Văn Hạnh

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Cung cấp các dẫn liệu có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài mối ở

khu vực phố cổ Hội An tính đến nay Xác định được các loài gây hại chính, đồng thời cung cấp các dẫn liệu sinh học, sinh thái học của các loài dùng làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trừ chúng cho khu vực phố cổ Hội An và mở rộng cho các địa phương khác Đề xuất các biện pháp, kỹ thuật phòng trừ các loài gây hại chính tại khu

phố cổ Hội An

Keywords: Động vật học; Mối; Phố cổ Hội An; Cây gây hại; Biện pháp phòng trừ Content

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nhiên cứu mối trên thế giới

Theo kết quả nghiên cứu của Wasmann (1893) về phân loại và sinh học 4 loài Termes

redemani, Termes azarelli, Termes feae và Termes xenotermitis được tìm thấy ở India và

Ceylon trong khu hệ mối Đông Phương và một vài loài thuộc khu hệ Brasil, kèm theo một số dẫn liệu về sinh vật sống chung với mối (termitophiles) Sau đó, rất nhiều nghiên cứu khác về mối cũng được công bố Haviland (1898) nghiên cứu hệ thống học và sinh học mối ở Indonesia và Malaysia Silvestri (1903) đã phát hiện 39 loài thuộc 2 giống ở khu vực Trung và Nam Mỹ Sau đó, Holmgren (1906, 1910) cũng mô tả tổng cộng 19 giống, 65 loài mối cho khu hệ này Tác giả cũng chính là người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại học hiện đại về mối trong đó sử dụng hình thái hàm trên làm yếu tố phân loại Sự sắp xếp, thành lập các họ mà ông đưa ra về cơ bản vẫn được sử dụng cho đến ngày này

Trang 2

1.2 Tình hình nghiên cứu về mối ở Việt Nam

Hướng nghiên cứu thứ 2 về mối đối với cây trồng là điều tra đa dạng sinh học của mối

ở các khu bảo tồn và vườn Quốc gia, cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá đa dạng sinh học và đề xuất các biện pháp bảo tồn

Đi sâu theo hướng này có các nghiên cứu của Bùi Công Hiển và cộng sự (2003) điều tra về thành phần loài mối Vườn Quốc gia Ba Vì Một năm sau đó, Bùi Công Hiển và Nguyễn Văn Quảng (2004) đã công bố danh sách loài mối phát hiện được tại Vườn Quốc gia Côn Đảo Nguyễn Văn Quảng và Nguyễn Thị My (2004) đã tổng kết nghiên cứu đa dạng mối tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng bằng báo cáo khoa học về số lượng loài mối tìm thấy trong khu vực này Trong năm 2005, Nguyễn Văn Quảng đã công bố kết quả điều tra về mối tại A Lưới, Khu bảo tồn Thiên nhiên Dakrong và khu vực Hương Sơn, Hà Tĩnh [9][19][20][21] Tác giả cũng đã chủ trì nhóm nghiên cứu thành phần loài mối và sự phân bố của mối tại VQG Cát Tiên và năm 2006 đã công bố công trình nghiên cứu này về khu hệ mối

ở khu vực điều tra

1.3 Nghiên cứu phòng trừ loài mối thuộc giống mối Coptotermes ở trong nước

Coptotermes là giống mối gây hại nặng nề cho các công trình kiến trúc ở nhiều nước

trên thế giới

Mối Coptotermes có thể tấn công trực tiếp các vật liệu, đồ dùng bằng gỗ hoặc đi xuyên qua mạch vữa-xi măng mác thấp, đi ngầm dưới lớp bê tông, nhựa đường vào làm tổ trong các công trình kiến trúc, gây ảnh hưởng đến sự ổn định, an toàn và mỹ quan công trình

Mối Coptotermes tấn công các vật liệu có nguồn gốc Xenlulose như: cây sống, gỗ xẻ,

đồ vật bằng gỗ, hồ sơ tài liệu, bao bì v.v Mối Coptotermes thường chọn nơi có độ ẩm thích

hợp, kín đáo và yên tĩnh bên trong các công trình kiến trúc để làm tổ Tổ có thể nằm sâu trong đất từ 0,5 - 1,5m Một số nghiên cứu còn cho biết đã tìm thấy tổ của chúng ở độ sâu 1,8 -

3,0m Ngoài loại tổ chìm trong đất khá phổ biến, Coptotermes còn xây dựng tổ không có liên

hệ gì với đất cả, được gọi là tổ trên không (Aerial colonies) Khi một cặp mối cánh thành công

trong việc tìm thấy một vị trí có điều kiện thích hợp để xây tổ như nguồn thức ăn, độ ẩm trong một toà nhà

Mối Coptotermes có 3 thành phần chính: mối sinh sản, mối lính và mối thợ, ngoài ra

còn có mối non

Mối cánh có 2 loại: mối cánh nguyên thuỷ (còn gọi là mối cánh thực thụ) và mối cánh ngắn (còn gọi là mối cánh thay thế hay mối cánh bổ sung)

Trang 3

1.4 Các biện pháp xử lý mối trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Biện pháp ngâm tẩm gỗ

1.4.2 Biện pháp phòng diệt mối bằng cách trộn hoá chất vào đất nền 1.4.3 Biện pháp xông hơi

1.4.4 Biện pháp xử lý nhiệt

1.4.5 Biện pháp ngăn chặn mối bằng cơ học

1.4.6 Biện pháp diệt mối bằng cách lây nhiễm hoá chất

1.4.7 Biện pháp diệt mối bằng cách lây nhiễm vi sinh vật gây bệnh 1.4.8 Biện pháp diệt mối bằng bả độc

1.5 Nghiên cứu về mối tại Hội An, tỉnh Quảng Nam

Trang 4

CHƯƠNG 2 - THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian nghiên cứu

Các nghiên cứu, điều tra, các thí nghiệm và phân tích mẫu mối theo nội dung nghiên cứu của luận văn được thực hiện từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 10 năm 2012 Ngoài ra, chúng tôi còn kế thừa một số kết quả đã nghiên cứu trước đó của chúng tôi, có liên quan đến nội dung của luận văn

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi điều tra, khảo sát và thu mẫu tại khu vực phố cổ Hội An, trên 9 tuyến phố với 102 công trình kiến trúc (gồm 98 nhà dân và 4 hội quán) và trên cây trồng tại 3 tuyến phố Trần Phú, Phan Châu Trinh và Nguyễn Thái Học

2.3 Khái quát đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

Hội An nằm ở vùng hạ lưu cuối sông Thu Bồn - con sông dài và lớn nhất Quảng Nam, đồng thời là một trong những con sông có lượng nước lớn nhất ở miền Trung, trung bình hàng năm đổ ra biển một lượng nước xấp xỉ 20 km3 Sông xuất phát từ nguồn Chiên Đàn, chảy theo hướng Đông đến Giao Thủy gặp sông Vu Gia rồi hợp thủy để cùng chảy qua một số vùng đất khác Ngoài việc nối liền với miền Tây Quảng Nam bằng các sông lớn như Vu Gia, Thu Bồn,

Hội An còn thông với Đà Nẵng ở phía Bắc bằng sông Cổ Cũ (Lộ Cảnh Giang) và thông với

Tam Kỳ ở phía Nam bằng sông Trường Giang (đây là 2 con sông chạy song song với bờ biển) nên thuận lợi về giao thông đường thủy - một yếu tố vô cùng quan trọng từng làm cho đô thị

- thương cảng Hội An hình thành và phát triển thịnh đạt

2.3.2 Đặc điểm khí hậu

- Hội An mỗi năm có hai mùa khá rõ rệt: Mùa mưa (từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau);

mùa khô (từ tháng 2 đến tháng 9) Lượng mưa trung bình năm là: 2.066 mm, Số ngày có mưa trung bình năm: 147 ngày, Lượng mưa lớn nhất năm: 3.307 mm (1974), Lượng mưa ngày lớn

nhất: 332mm, Tháng có ngày mưa trung bình nhiều nhất: tháng 10

2.3.3 Các nguồn tài nguyên du lịch – văn hóa

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2 4 1 Phương pháp điều tra thu thập mẫu

+ Thu mẫu mối trong công trình kiến trúc:

+ Thu mẫu mối hại cây trồng:

Trang 5

2.4.2 Phương pháp định loại vật mẫu

Mẫu mối thu được định hình trong cồn 75-800, đánh số tạm thời, ghi chép các đặc điểm quan sát được trong quá trình thu mẫu vào sổ nhật ký Sau đó, đưa về phòng thí nghiệm của Viện Sinh thái và bảo vệ công trình để làm sạch, thay cồn, ghi nhãn cho mỗi mẫu với đầy

đủ các thông tin cần thiết như: ký hiệu mẫu, địa điểm thu, nơi thu mẫu, thời gian thu, tên người thu mẫu, sinh cảnh tại nơi thu mẫu Mẫu được lưu trữ để phục vụ cho công tác định loại Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các mẫu thu được trước đây tại khu vực phố cổ Hội An, trong bộ sưu tập mẫu mối của Viện sinh thái và Bảo vệ công trình, Viện Khoa học thuỷ lợi Việt Nam

Dụng cụ để định loại mẫu mối gồm: Kính hiển vi quang học, kính lúp soi nổi, kim phân tích, panh mềm

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái mối

Các đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài mối được quan sát, nghiên cứu, mô tả, ghi chép tại hiện trường và chụp ảnh

Các đặc điểm sinh học, sinh thái mối được bổ sung các dẫn liệu thu được từ các tài liệu động vật chí Việt Nam, Trung Quốc

2.4.4 Nghiên cứu phạm vi hoạt động của mối Coptotermes

Nghiên cứu phạm vi hoạt động của tổ mối bằng phương pháp đánh dấu mối Để đánh dấu các cá thể mối, chúng tôi sử dụng chất đánh dấu là Sudan Red 7B, chất này đã được xác định là không ảnh hưởng đến sinh lý, tập tính của mối (N.Y Su và R H Scheffrahn, 1988 [63]) Đánh dấu mối bằng cách: pha Sudan red 7B trong axeton theo tỷ lệ 1g/100ml, lắc đều cho đến khi tan hết, tẩm dung dịch trên vào giấy lọc cho tới khi bão hoà, để axeton tự bay hơi

hết trong 30 phút Nuôi mối Coptotermes trong các hộp nuôi, cung cấp thêm nước và độ ẩm

cho mối bằng các ống nước có gắn nút bông, cho mối ăn thức ăn bằng giấy lọc đã tẩm chất đánh dấu ở trên Quan sát sự thay đổi màu sắc của mối thợ, mối lính và mối non cho đến khi

cơ thể của chúng bị nhuộm toàn màu đỏ

2 4 5 Phương pháp xác định mức độ gây hại của mối

+ Công trình bị mức độ mối hại nghiêm trọng là khi công trình bị mối phá hủy khả năng chịu lực của các cấu kiện gỗ chịu lực lớn hơn 10% hoặc có hơn 70% các cấu kiện gỗ trong công trình bị mối hại

+ Công trình bị mức độ mối hại nặng là khi công trình bị mối hại từ 5 đến 10% các cấu kiện gỗ chịu lực hoặc có từ 50 đến 70% các cấu kiện gỗ trong công trình bị mối hại

+ Công trình bị mức độ mối hại vừa là khi công trình bị mối hại từ 1 đến 5% các cấu

Trang 6

kiện gỗ chịu lực hoặc có từ 20 đến 50% các cấu kiện gỗ trong công trình bị mối hại

+ Công trình bị mức độ mối hại nhẹ là khi công trình bị mối hại dưới 1% các cấu kiện

gỗ chịu lực hoặc có từ 1 đến 20% các cấu kiện gỗ trong công trình bị mối hại

2.4.6 Phương pháp lựa chọn, đề xuất các biện pháp phòng trừ các loài mối gây hại

chính trên khu vực nghiên cứu

Các phương pháp xử lý mối trên thế giới và ở Việt Nam được tìm hiểu qua các tài liệu

và qua thực tế sử dụng Các ưu nhược điểm của các phương pháp xử lý được đánh giá bằng cách quan sát trực tiếp và xử lý thống kê

2 4 7 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được tính toán và xử lý theo phương pháp thống kế sinh học (Chu Văn Mẫn, 2001) Sử dụng các hàm thống kê t-Test và ÷2

-Test trong phần mềm Microsoft Excel để kiểm định độ tin cậy của giá trị thu được

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả điều tra, thu mẫu, thành phần loài và phân bố của mối ở khu vực nghiên cứu

3.1.1 Thành phần loài mối chung

Kết quả trình bày trong bảng 3.1 cho thấy, có 9 loài thuộc 3 giống và 3 họ được tìm thấy trong quá trình điều tra, trong đó có 7 loài đã định được tên và 2 loài chưa định được tên

Họ Kalotermitidae có một giống là Cryptotermes, họ Rhinotermitidae có một giống là

Coptotermes và họ Termitidae có một giống là Microtermes

Khi tính toán tỷ lệ % số lượng mẫu thu được của các giống, chúng tôi thu được kết quả thể hiện sự sai khác đáng kể Trong tổng số 157 mẫu thu được, số mẫu của các loài thuộc

giống Coptotermes chiếm tỷ lệ cao nhất (84,1% tổng số mẫu), các giống Cryptoterme và

Microtermes chiếm tỷ lệ lần lượt là 13,4% và 2,5% tổng số mẫu

Trong số các giống thu được, giống Coptotermes có số loài nhiều nhất (6 loài, chiếm 66,7% tổng số loài), tiếp đến là giống Cryptotermes (2 loài, chiếm 22,2%), Microtermes (1

loài, chiếm 11,1%) Như vậy ở bậc phân loại giống trong khu vực điều tra, ưu thế thuộc về

một giống Coptotermes

Tính toán tỷ lệ % số mẫu thu được của từng loài trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi

thấy loài Coptotermes formosanus bắt gặp nhiều nhất với số mẫu thu được là 49/157 mẫu, tương ứng với 31,2% tổng số mẫu), tiếp đến là loài Coptotermes haviland (28 mẫu, chiếm

Trang 7

17,8%); Coptotermes ceylonicus (25 mẫu, chiếm 16%) Các loài còn lại chiếm tỷ lệ ít hơn,

dao động trong khoảng từ 2,5 đến 9 % tổng số mẫu

3.1.2 Thành phần loài mối trên các sinh cảnh khác nhau

Từ kết quả của bảng 3.2 cho thấy trên các sinh cảnh khác nhau thì thành phần loài mối

cũng khác nhau Trên cây trồng có 4 loài mối gây hại thuộc hai giống Coptotermes và

Microtermes, trên công trình kiến trúc có 8 loài mối gây hại thuộc hai giống Coptotermes và Cryptotermes Có 3 loài mối có mặt ở cả hai sinh cảnh là: Coptotermes ceylonicus; Coptotermes havilandi ; Coptotermes formosanus Có 1 loài chỉ gặp ở cây trồng là Microtermes pakistanicus và có 5 loài chỉ gặp ở công trình kiến trúc là Cryptotermes domesticus; Cryptotermes sp; Coptotermes emersoni; Coptotermes travian; Coptotermes sp

Loài có tỷ lệ bắt gặp cao nhất ở cả hai sinh cảnh đều là Coptotermes formosanus

Sự có mặt của các loài mối ở các sinh cảnh khác nhau có thể xem là do đặc tính thích nghi sinh thái của loài và tác động của điều kiện ngoại cảnh, trong đó có hoạt động của con người Trong nhiều trường hợp, hoạt động của con người đã làm cho điều kiện thích nghi của loài trở nên thuận lợi Ví dụ việc trồng cây quanh đường phố và quanh các công trình kiến trúc như nhà ở, khu di tích ở Hội An đã tạo điều kiện cho khả năng tồn tại và phát triển của

một số loài mối thuộc giống Coptotermes Chúng có thể làm tổ trong thân cây và đi vào phá

hại công trình kiến trúc và ngược lại mối từ các tổ trong công trình kiến trúc cũng có thể đi ra kiếm ăn và gây hại cho cây Đây là điều cần lưu ý đối với công tác phòng trừ các loài mối phổ biến ở nhiều sinh cảnh khác nhau

3.2 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học các loài mối ở khu vực nghiên cứu

3.2.1 Loài Coptotermes ceylonicus Homlgren, 1911

Sinh học, sinh thái học:

Coptotermes ceylonicus Holmgre thường làm tổ trong đất hoặc bên trong các cấu kiện

gỗ Thường gặp ở độ sâu 0,25m đến 1m trong đất nền các công trình di tích Tổ có dạng hình cầu hoặc hình dạng thay đổi tùy theo khe rỗng nơi mối làm tổ Ở nơi làm tổ chính hoặc tổ phụ

của C.ceylonicus thường có nhiều đường mui; mối lính, mối thợ thường di chuyển trong các

đường mui kín này

Tại Hội An, mối cánh C.ceylonicus Holmgre bay giao hoan phân đàn từ tháng 4 đến

tháng 7 hàng năm nhưng phổ biến nhất từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 6 Thời gian bay từ 17h30 phút đến 20h trong ngày

Loài mối này gây tác hại nhiều đến gỗ trong công trình Di tích Bên cạnh đó chúng còn tấn công rễ một số loại cây sống

Trang 8

Lúc mối bay giao hoan điều kiện nhiệt độ thường từ 28 – 290C, độ ẩm từ 95 – 100%

3.2.2 Loài Coptotermes emersoni Ahmad, 1953

Sinh học, sinh thái học:

Về hình thái và cấu trúc tổ của loài này rất giống loài Coptotermes formosanus Loài

Coptotermes emersoni thường làm tổ trong đất hoặc bên trong các cấu kiện gỗ Tổ thường có

chiều sâu từ 0,25 – 1m trong đất nền công trình kiến trúc Tổ có dạng hình cầu hoặc hình dạng thay đổi tuỳ theo khe rỗng nơi mối làm tổ Ở khu vực tổ chính hay tổ phụ của loài

Coptotermes emersoni thường có nhiều đường mui; mối lính, mối thợ thường di chuyển trong

các đường mui kín này Ngoài ra mối cũng đắp đường mui trên cây sống để ăn những bộ phận

gỗ đã bị mục

Nói chung, loài này có nhiều đặc điểm giống với loài Coptotermes formosanus Mối cánh của loài Coptotermes emersoni bay giao hoan phân đàn từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm

nhưng phổ biến nhất từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5 Thời gian bay từ 17h30’ đến 20h trong ngày Hoạt động bay giao hoan và tìm kiếm nơi xây dựng tổ cũng giống như loài

Coptotermes formosanus

3.2.3 Loài Coptotermes havilandi Homlgren, 1991

Sinh học, sinh thái học:

Coptotermes havilandi Homlgren thường làm tổ ven các chân tường trong các nền nhà

hoặc trong các cấu kiện gỗ của công trình Mối cánh bay giao hoan phân đàn từ cuối tháng 3 đến tháng 6 hàng năm Thời điểm bay trong ngày từ 16 - 19h30ph, khi trời oi bức, có cơn mưa hoặc trời mưa là lúc mối cánh thường bay ra Sau khi rụng cánh được 3 – 4 ngày mối cánh bắt đầu đẻ trứng Thời gian từ lúc đẻ trứng đến lúc trứng nở từ 25 – 34 ngày Mối non sau hơn ba tháng có thể phân biệt được đẳng cấp giữa mối lính và mối thợ

Tổ mối C havilandi là một khối xốp rỗng màu nâu đen hoặc xám tro Thành phần chủ

yếu của khối xốp này là bột gỗ, đất, cát được trộn lẫn với nước bọt của mối Tổ mối ở trong nền đất thường có dạng hình cầu Tổ là khối xốp được sắp xếp thành nhiều lớp xít nhau, khối bên ngoài rỗng hơn khối bên trong

3.2.4 Loài Coptotermes formosanus Wasmann, 1896

Sinh hoc, sinh thái học:

Mối cánh của loài này thường bay giao hoan phân đàn vào lúc từ 17h30 – 18h trong ngày, đôi khi có thể thấy chúng bay vào lúc 21h Mỗi tổ mối có thể sản sinh ra hàng vạn cá thể mối cánh trong một năm Một tổ mối có thể có nhiều đợt bay giao hoan phân đàn Hàng

năm mối cánh Coptotermes formosanus thường bay giao hoan từ tháng 4 đến tháng 7 Sau khi

Trang 9

bay giao hoan, mối cánh cặp đôi rồi dẫn nhau đi tìm nơi làm tổ Sau 2 – 3 ngày chúng bắt đầu

đẻ trứng Sau khoảng 28 ngày trong tổ bắt đầu có con non, khoảng 90 ngày sau chúng bắt đầu

đi kiếm ăn

3.2.5 Loài Coptotermes travian Haviland, 1898

Sinh hoc, sinh thái học:

Cấu trúc tổ cũng là khối xốp màu nâu hoặc nâu đen như các loài thuộc giống Coptotermes khác Tổ thường làm trong thân cây gỗ, một số ít thì làm tổ trong ụ đất Đường mui thường là đường liên tục trên bề mặt thân cây, dưới lớp vỏ cây Từ các tổ trong cây ở gần công trình kiến trúc chúng hay tấn công các cấu kiện gỗ trong công trình

Coptotermes travian thường ăn hết phần gỗ chết của các cây sống, gỗ khúc ở kho bãi

và đục rỗng ruột các cây cổ thụ Nó cũng gây hại công trình kiến trúc nhưng không phổ biến bằng các loài khác Mối cánh bay giao hoan từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm

3.2.6 Loài Cryptotermes domesticus Haviland, 1898

Sinh học, sinh thái học:

Loài này thường chỉ tấn công các loại gỗ mềm Ban đầu chúng tấn công phần bên ngoài, sau tấn công vào phần gỗ bên trong Nhiều nơi khảo sát chúng tôi thấy những thanh xà

gỗ có kích thước 400 x 300mm đã bị loài này ăn rỗng gần như hoàn toàn Loài này không làm

tổ trong các loại gỗ tương đối cứng như dổi, chò chỉ… Gỗ giác của các loại gỗ cứng như lim hay gỗ xoan ngâm đã sử dụng lâu năm cũng bị loài này tấn công

những hạt phân hình hạt cải cứng do chúng luôn đùn ra ngoài Ở nơi có đống phân của loài mối này, chắc chắn bên trên sẽ có tổ mối ở trong gỗ Khi hết thức ăn chúng bỏ đi cũng là khi gỗ đã bị ăn rỗng, nếu dùng tay bóp nhẹ có thể bóc lớp gỗ mỏng lộ lõi gỗ bên trong Nhẹ thì chúng làm mất mĩ quan công trình, nặng thì chúng làm mất khả năng chịu lực của cấu kiện

gỗ mềm

Mối cánh của loài này bay giao hoan phân đàn vào khoảng tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Thời gian bay giao hoan thường vào lúc chiều tối, khoảng 17h Những ngày trời âm u, mối cánh có thể bay sớm hơn Sau khi kết đôi khoảng 7 – 10 ngày, mối cái bắt đầu đẻ trứng Thời gian đầu mối chỉ đẻ 5 – 20 trứng Một đàn mối chỉ có khoảng 100 cá thể Tuy số lượng

cá thể của 1 đàn nhỏ nhưng trong một cấu kiện gỗ có thể có nhiều đàn mối nên tác hại của chúng đối với gỗ cũng đáng kể

3.2.7 Loài Microtermes pakistanicus Ahmad

Sinh học, sinh thái học

Tổ của các loài thuộc giống mối Microtermes này thường làm chìm trong đất Tổ có

Trang 10

cấu trúc nhiều khoang phân tán, đường kính khoang tổ chỉ vài cm đến 10cm Vườn nấm có màu trắng đến xám đen, kích thước vườn nấm và lỗ vườn nấm nhỏ Hoàng cung là khe hẹp trong đất, khoang bên trong cũng có dạng thấu kính, trong một hoàng cung có 1 hoặc nhiều chúa Trong diện tích 1m2

có thể có 4 hoàng cung đều có vua chúa, đây có thể là 4 tổ khác nhau

Thức ăn của loài mối này có thể là lá cây, phân súc vật, cấu kiện gỗ, lớp biểu bì chết trên thân cây

3.3 Phạm vi hoạt động của mối Coptotermes

Từ bảng 3.3 chúng tôi thấy, mối nhử được, đánh dấu, thả ra ở nhà N1 không bắt lại đ-ược ở các bẫy đặt tại nhà N2, N3, N4 và N5 Tương tự như vậy, mối nhử đđ-ược ở nhà N4, đánh dấu, thả ra không bắt lại được ở nhà N1, N2, N3 và N5 Điều này cho thấy quần thể mối

ở nhà N1, N3 và nhà N4 là các quần thể độc lập, không liên hệ với quần thể mối ở các khu nhà khác Nhưng mối nhử được ở khu nhà N2, đánh dấu, thả ra bắt lại được ở khu nhà N5 và ngược lại, chứng tỏ mối ở hai khu nhà này có liên hệ với nhau và là cùng một quần thể Như

vậy trong khu vực nghiên cứu này có 4 quần thể mối C formosanus, đó là các quần thể ở nhà

N1, phân bố trên diện tích 270m2, quần thể ở nhà N3 diện tích 100 m2, quần thể ở nhà N4, diện tích 150m2

và quần thể ở nhà N(2+5), diện tích 530m2

Như vậy, trong một khu vực xây dựng có thể có một số tổ mối C formosanus và một

tổ loài này lại có thể có phạm vi hoạt động ở một số công trình khác nhau Đó là nguyên nhân

mối C formosanus thường hoạt động trở lại sau khi sử dụng hoá chất để xử lý trực tiếp và cục

bộ cho một bộ phận nằm trong vùng phân bố của một quần thể

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy rõ hơn về tập tính kiếm ăn cũng như phạm vi hoạt

động kiếm ăn rất rộng và phức tạp của mối Coptotermes formosanus Tập tính của loài C

formosanus cho thấy một trong các cơ sở khoa học của phương pháp lây nhiễm và đặc biệt là

phương pháp bả độc, đang được quan tâm nghiên cứu áp dụng hiện nay Kết quả này cũng giúp nhận biết và phán đoán khả năng xâm hại của mối vào trong công trình

3.4 Mức độ gây hại của các loài mối

Căn cứ vào bảng 3.4 chúng tôi thấy mức độ gây hại của từng loài mối trong khu phố

cổ Hội An không giống nhau Trong đó loài gây hại nghiêm trọng là Coptotermes

formosanus, loài gây hại nặng là Coptotermes ceylonicus và Coptotermes havilandi, loài gây

hại vừa là Coptotermes emersoni, Coptotermes travian và Cryptotermes domesticus Ngoài ra còn các loài gây hại nhẹ là: Coptotermes sp, Cryptotermes sp và Microtermes pakistanicus

Ở khu phố cổ Hội An mối chủ yếu gây hại cấu kiện gỗ ở mái nhà hoặc sàn gỗ của tầng

Ngày đăng: 18/06/2016, 04:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm