1 Các nghiên cứu về biển và văn hoá của cư dân ven biển từ trong lịch sử đã khẳng định được rằng chính vị trí ven biển đã không chỉ đem lại những lợi ích to lớn cho Việt Nam trong giao t
Trang 1BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH & CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.03/06 – 10
“Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình
đổi mới và hội nhập quốc tế”
-000 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC
ĐẶC ĐIỂM CƯ DÂN VÀ VĂN HÓA VÙNG VEN BIỂN TRONG QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Trang 2DANH SÁCH THAM GIA ĐỀ TÀI
1 TS Trần Hiệp Chủ nhiệm đề tài phụ trách chung, chủ trì
nghiên cứu nội dung 1
2 ThS Đặng Vũ Cảnh Linh Thư ký khoa học, điều phối chung, chủ trì
nghiên cứu nội dung 3
3 GS TS Lê Thị Quý Chủ trì điều tra, khảo sát
4 CN Tống Khắc Hài Chủ trì nghiên cứu nội dung 2
5 TS Nguyễn Tài Đông Chủ trì nghiên cứu nội dung 4
6 TS Phạm Thị Hằng Chủ trì nghiên cứu nội dung 5
7 ThS Lê Xuân Hoàn Chủ trì nghiên cứu nội dung 6
8 GS TS Đặng Cảnh Khanh Nghiên cứu lý luận
9 GS.TS Tô Duy Hợp Nghiên cứu lý luận
10 TS Nguyễn Thị Tố Quyên Nghiên cứu thực trạng
11 TS Trần Xuân Bình Nghiên cứu thực trạng
12 ThS Dương Kiều Hương Nghiên cứu thực trạng
13 ThS Nguyễn Trung Hiếu Phối hợp nghiên cứu, điều tra
14 ThS Vũ Thị Thanh Phối hợp nghiên cứu, điều tra
15 KS Lê Văn Chương Phối hợp nghiên cứu, điều tra
16 CN Phạm Thu Hương Phối hợp nghiên cứu, điều tra
17 CN Trần Thị Hạnh Phối hợp nghiên cứu, điều tra
18 CN Trịnh Thu Phương Phối hợp nghiên cứu, điều tra
19 CN Đặng Kim Ánh Phối hợp nghiên cứu, điều tra
Trang 3MỤC LỤC Trang
6 Ý nghĩa của đề tài
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN 35 1.Khái niệm 35
1.3 Quan hệ giữa cư dân và văn hóa 38
2 Những lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đề tài 40
2.1 Thuyết đối thoại, hòa đồng và tương tác văn hoá 41
2.2 Di sản văn hóa, kế thừa và tiếp biến văn hóa 44
2.4 Thuyết tương tác biểu trưng trong nghiên cứu văn hoá vùng biển 53
2.5 Một nền văn hoá thích nghi với sự thay đổi 60
2.6 Quy chiếu khung lý luận và phương pháp luận những lý thuyết văn
hóa trong thực tiễn nghiên cứu văn hoá cư dân ven biển
64
2.7 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển biển và văn hóa
cư dân vùng ven biển
1 Tôn trọng sự gắn kết với biển 73
2 Tính tiểu nông trong văn hóa biển của người Việt 82
3 Văn hóa của cư dân ven biển - văn hóa của những người canh giữ thành
lũy an ninh quốc phòng cho đất nước
87
Trang 44 Về những mặt hạn chế trong văn hóa biển của người Việt nói chung và
của cư dân vùng ven biển nói riêng
96
II THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN VÙNG VEN BIỂN HIỆN
NAY
102
1 Khái quát về dân số vùng ven biển hiện nay 102
2 Đặc điểm đời sống cư dân ven biển 104
2 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe 135
3 Tâm thế trước các vấn đề xã hội 140
3.1 Đánh giá về các vấn đề xã hội tại địa phương 140
3.3 Ý kiến về các chương trình của Nhà nước 148
IV VĂN HÓA BIỂN VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN
BIỂN HIỆN NAY
158
1 Nhận thức về biển và văn hóa biển 158
2 Văn hóa nghề vùng biển 160
5 Sinh hoạt văn hóa và sự tham gia của người dân 179
CHƯƠNG III :MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP 190
1 Những quan điểm định hướng phát triển con người và văn hóa vùng ven
biển
190
1.1 Cần thống nhất quan điểm, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về
vị trí vai trò của của các vùng ven biển đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
190
Trang 51.2 Phát triển mạnh kinh tế vùng ven biển làm nền tảng vật chất cho sự
phát triển văn hóa, con người
192
1.3 Đẩy mạnh phát triển nguồn lực con người, đáp ứng nhu cầu phát
triển của cư dân và văn hóa vùng ven biển
194
1.4 Kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, khắc phục những hạn
chế trong văn hóa biển của người Việt, hướng tới sự phát triển
197
2 Các giải pháp phát triển con người và văn hóa vùng ven biển 198
2.3 Các giải pháp phát triển nguồn lực con người 201
2.4 Các giải pháp về phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất
lượng sống của cư dân ven biển
203
2.5 Các giải pháp đẩy mạnh giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
vùng biển
206
2.6 Những giải pháp phát triển một không gian văn hóa phù hợp với
chiến lược phát triển biển
207
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 217Phụ lục: Phiếu trưng cầu ý kiến 224
Trang 6là có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả trên bình diện hoạt động thực tiễn lẫn tư duy khoa học cho việc xây dựng và phát triển đất nước
Chúng ta đều biết, thế kỷ XXI đã được nhiều nhà khoa học dự báo là “Thế
kỷ của đại dương”, bởi cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và nhu
cầu của cuộc sống con người, các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền đang có xu hướng cạn kiệt, sẽ không còn đủ sức để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng lớn của con người Trong bối cảnh đó, biển có tầm quan trọng đặc biệt Các nước có biển đều chú ý tới việc xây dựng các chiến lược hướng về biển, khai thác nguồn tài nguyên phong phú của biển cả trên hai phương diện : kinh tế và văn hóa
Việt Nam là một quốc gia ven biển Trong quá trình hình thành và phát triển đất nước, con người Việt Nam từ xa xưa đã có sự gắn kết chặt chẽ với biển bởi địa lý Việt Nam có đường bờ biển chạy dài từ Bắc vào Nam Với chiều dài bờ biển 3260 km dọc biển Đông, trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ, Việt Nam được xếp là quốc gia có đường bờ biển dài thứ 27 trong 165 quốc gia trên thế giới Hiện nay, cả nước ta có 28 tỉnh thành phố nằm ven biển trong
đó có nhiều huyện đảo lớn Nếu tính vùng biển bao gồm cả nội thuỷ, lãnh hải thì diện tích vùng biển đã lên tới 226.000 km2 và vùng đặc quyền kinh tế biển khoảng trên 1 triệu km2
Thực tế cho thấy, lịch sử của dân tộc Việt Nam cũng là lịch sử của mối
quan hệ tương tác giữa con người Việt Nam với núi rừng đồng ruộng và biển
cả Người Việt cổ từ lâu đã biết tận dụng nguồn tài nguyên phong phú của biển để phục vụ cho cuộc sống của mình Các di tích khảo cổ học còn lại ở các vùng ven biển đã cho thấy khả năng to lớn của người Việt trong khai thác tài nguyên biển, đánh cá, làm muối, khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản,
Trang 7giao thương qua biển với nước ngoài Từ lâu chúng ta đã có những đoàn thuyền vượt biển nổi tiếng, những hạm đội có thể đánh tan nhiều kẻ thù đến xâm lược từ phía biển
Những thế kỷ trước đây, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài có dịp đến thăm hoặc sinh sống ở nước ta đều ca ngợi tài năng của người Việt trong kỹ thuật đóng tầu, săn bắt, chế biến hải sản Phát huy vai trò và sức mạnh của một quốc gia có nguồn tài nguyên biển dồi dào, dân tộc ta đã nhiều lần ngăn chặn được các cuộc xâm lăng từ bên ngoài, giữ gìn độc lập dân tộc, duy trì được một cuộc sống xã hội ổn định và phát triển Sách cổ Trung Hoa còn viết lại nhiều về những chiến tích của thủy quân Việt Nam trong các cuộc chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc Câu ngạn ngữ Trung Hoa về “thuyền phương nam, ngựa phương bắc” đã so sánh thủy quân của Việt Nam hùng mạnh ở phía
Nam với kỵ binh của các nước phương Bắc vùng thảo nguyên
Trong lịch sử của mình, dân tộc ta đã không chỉ khai thác các nguồn tài nguyên về biển phục vụ cho cuộc sống của mình mà còn xây dựng và làm hình thành những quan niệm, lối sống và văn hoá về biển Văn hoá và con người vùng biển Việt Nam đã góp phần vào việc tạo dựng nền văn hoá và con người Việt Nam, duy trì và phát triển nền văn minh Việt Nam Văn hoá biển
với những nét đặc thù riêng biệt, từ lâu đã có thể được coi là một “tiểu văn hóa” trong văn hóa chung của người Việt Nam Trong sự tồn tại của “tiểu văn hóa” đặc thù này, chúng ta vừa thấy những nét riêng biệt của văn hóa cư
dân ven biển Việt Nam lại vừa thấy những nét chung nhất của văn hóa Việt Nam Văn hóa biển là sản phẩm của cư dân Việt sống, lao động, sinh hoạt ở biển, gắn liền với những khó khăn trong lao động sản xuất, những niềm vui nỗi buồn của cuộc sống gắn liền với thiên nhiên và xã hội, xây dựng các chuẩn mực và giá trị truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hóa biển, với
tư cách là một bộ phận của văn hóa Việt Nam cũng mang đầy đủ những giá trị đặc trưng của văn hóa Việt Nam, tính nhân văn, sự gắn kết cộng đồng, những đặc trưng trong quan hệ gia đình, làng xóm…Nó vừa có vị mặn mòi
Trang 8Tuy nhiên xuất phát từ những nét đặc thù của cuộc sống gắn liền với những đặc điểm của thiên nhiên và cuộc sống lao động sinh hoạt đặc biệt của vùng biển, văn hóa của cư dân ven biển cũng có những sắc thái, những chuẩn mực và giá trị riêng biệt Điều đó không khiến cho văn hóa biển tách rời mà còn làm phong phú thêm cho khối thống nhất chung của văn hóa Việt Nam Chính vì vậy trong văn hóa chung của người Việt hòa quyện vào nhau những sắc thái của cả rừng vàng và biển bạc, cả văn hóa của các vùng sinh thái, cả đồng bằng, nông nghiệp, cả miền núi lâm nghiệp
Thực tế cũng cho thấy, trong suốt chiều dài lịch sử, bên cạnh việc xây dựng nên một hệ thống những giá trị văn hóa quý báu về biển, những truyền thống lao động, học tập, sinh hoạt gắn liền với biển, chúng ta cũng có không
ít những hạn chế trong nhận thức và tư duy về biển Văn hóa biển của người Việt cũng bao hàm cả những mặt tích cực và những mặt tiêu cực, cả những mặt sáng tạo, phát triển và những mặt bảo thủ trì trệ Điều đó đã khiến cho chúng ta, trong nhiều thời điểm của lịch sử đã không khai thác được hết sức mạnh của một quốc gia có tiềm lực mạnh mẽ về biển
Trang 9So với nhiều quốc gia vùng biển khác, chúng ta còn thua kém về nhiều mặt trong việc khai thác tài nguyên biển Người Việt chưa bao giờ có được một thế hệ những thủy thủ đi biển đường dài kiểu những người Viking Chúng ta cũng chưa có được những thương gia và các đội tầu buôn tầm cỡ có khả năng vượt biển tìm đến những thương cảng sầm uất của thế giới, như nhiều đội tầu của các quốc gia khác Chúng ta cũng chưa bao giờ trở thành một cường quốc hải quân, có đủ lực lượng để làm chủ được vùng biển to lớn của mình Điều này có liên quan đến quan niệm về vị trí, vai trò của biển, việc xây dựng các chuẩn mực về văn hóa biển, cách thức ứng xử đối với biển của người Việt, đặc biệt là của giới cầm quyền của đất nước
Trong nhiều thời điểm của lịch sử, chúng ta chỉ coi trọng nông nghiệp, ít coi trọng khai thác tài nguyên biển Nhiều lần khai hoang, lấn biển nhưng lại không phải nhằm khai thác tài nguyên biển mà chỉ để lấy đất làm ruộng Người Việt trong nhiều trường hợp đã quay lưng lại với biển để cặm cụi và lầm lũi trên cánh đồng với cuộc sống của người nông dân nông nghiệp Hoàng tử An Tiêm bị đầy ra ngoài hoang đảo, cũng chỉ tìm cách nhặt nhạnh những hạt dưa rơi vãi để mang về trồng trọt chứ không tìm cách khai thác biển, đóng tầu, đánh cá, nuôi trồng hải sản
Trong bối cảnh thực tiễn trên, nhu cầu nghiên cứu, xem xét lại những vấn đề cơ bản trong văn hóa biển của người Việt ngày càng trở nên cần thiết Chúng ta đều biết, mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh trong điều kiện mới đòi hỏi chúng ta phải bắt đầu xây dựng từ con người trong các mối quan hệ với văn hóa cho đến phát triển kinh tế - xã hội, mới thực sự đáp ứng được những đòi hỏi từ thực tiễn hiện nay Để thực hiện được điều đó, trước hết, chúng ta cần phải có sự nghiên cứu, tổng kết lại những di sản văn hóa quý báu của cha ông ta trong việc tổ chức xã hội, quan tâm và phát triển con người tại các vùng ven biển nói riêng và cả nước nói chung
Chúng ta cần phải tìm hiểu về văn hóa biển trong lịch sử dân tộc, tìm hiểu những con người Việt Nam gắn liền với các đặc điểm khai thác tài
Trang 10nguyên biển trong truyền thống, đồng thời nghiên cứu sự hình thành những giá trị văn hóa quan trọng như tinh thần đoàn kết, tôn trọng cộng đồng, tập thể, tình yêu đối với lao động, sự bền bỉ và dẻo dai trong lao động, trong mọi cuộc đấu tranh sinh tồn, sự sáng tạo, say mê với học vấn, kiến thức, sự tôn trọng các giá trị gia đình, dòng họ, sự gần gũi, gắn bó với cuộc sống thiên nhiên, tinh thần giữ gìn và bảo vệ môi trường của những cư dân ven biển Chúng ta nghiên cứu để xây dựng con người và văn hóa vùng ven biển trên cơ sở tổng kết những phẩm chất tốt đẹp của cha ông, chống lại những mặt tiêu cực của cuộc sống hiện đại, lối sống cá nhân vị kỷ gắn liền với những mặt trái của cơ chế thị trường Trong khi phương Tây đang sa lầy quá
đà trong việc thực thi những khẩu hiệu về “tự do cá nhân”, sự tự do mà trên thực tế đã diễn ra đồng hành với bạo lực, tội ác, ma túy, sự tan vỡ của gia đình, sự lộng quyền của những cá nhân và nhóm người thiểu số với đa số, thì những phẩm chất và giá trị của con người và văn hóa Việt Nam nói chung và con người, văn hóa vùng ven biển nói riêng vốn có từ lâu đời sẽ là một cơ sở quan trọng, một nguồn sinh lực cho một tương lai mới
Thực tế cho thấy, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã đem lại nhiều thay đổi tích cực cho đời sống cư dân và văn hóa các vùng ven biển, tuy nhiên bên cạnh đó những vùng miền này cũng đang tồn tại không ít những khó khăn, thách thức, trong đó có những tác động và ảnh hưởng tiêu cực từ nền kinh tế thị trường Vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị tích cực lâu đời của cư dân và văn hóa vùng ven biển, cũng như việc xây dựng và xác lập những giá trị tiên tiến, hiện đại cho con người và văn hóa, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này là một trong những quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước gần đây
Mặt khác, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu những mặt hạn chế trong nhận thức và tư duy của người Việt truyền thống về biển và văn hóa biển, khai thác hết sức mạnh và tiềm năng biển, một nguồn lực vô tận cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát triển đất nước
Trang 11Trong những năm gần đây, chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu
về biển và văn hóa biển Các công trình này tiếp cận biển dưới nhiều góc độ khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên, môi trường sinh thái, thổ nhưỡng, khí hậu vùng ven biển, đến những vấn đề lịch sử văn hóa, con người…
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về cư dân và văn hóa ven biển cũng có ý nghĩa quan trọng về mặt nhận thức và tư duy khoa học Nó bổ sung cho những thiếu hụt trong tư duy khoa học của chúng ta trong thời gian qua về mặt chủ đề này Dưới đây chúng ta sẽ điểm lại một số những công trình nghiên cứu quan
trọng có liên quan để chủ đề nghiên cứu về biển, cư dân và văn hóa biển
Mở đầu cho những nghiên cứu về cư dân và văn hóa ven biển có thể kể
đến những công trình nghiên cứu về khảo cổ học Trong bài viết “Biển với cư dân văn hoá tiền sử vùng Đông Bắc”, tác giả Nguyễn Khắc Sử (tạp chí Khảo
cổ học, số 4, 1995) đã cho rằng, các di chỉ khảo cổ đã chứng minh lớp cư dân đầu tiên có mặt ở vùng biển Đông Bắc Việt Nam là cư dân văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn Bởi vậy, theo tác giả, các nền văn hoá ven biển ở Việt Nam cũng sớm được hình thành cùng với các cư dân nói trên Ngay từ những niên đại đồng thau, một số nền văn hoá biển như văn hoá Hạ Long, văn hoá Hoa Lộc, văn hoá Bầu Tró đã được hình thành và phát triển, để lại những dấu ấn đậm nét trong tiến trình phát triển nói chung, phát triển văn hoá nói riêng của
người Việt cổ
Vấn đề có hay không nền văn hoá biển của Việt Nam cũng được tác giả
Nguyễn Khắc Sử đề cập trong bài viết “Văn hoá biển tiền sử Việt Nam Một
mô hình giả thuyết” (Tạp chí Khảo cổ học, Số 3, 1997) Với việc làm rõ khái
niệm về văn hoá biển, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Sử đã phân tích sự hình
thành, lan toả và hội nhập của văn hoá biển ở Việt Nam Theo tác giả, “sự thiết lập văn hoá biển đi liền với sự phân vùng kinh tế xã hội đầu tiên ở Việt Nam… Quan hệ tương tác biển – con người – văn hoá trong tiền sử Việt Nam hiện lên rõ nét Sau khi tiếp cận với biển, con người làm một bước ngoặt, một
Trang 12lối rẽ hay một ngả đường cho khuynh hướng phát triển đa vùng, đa tuyến và
đa trung tâm ở Việt Nam để rồi giao thoa, tiếp biến văn hoá và cuối cùng thống nhất văn hoá Đông Sơn, cơ tầng của văn minh Việt cổ, nhưng vẫn luôn
mở rộng cửa đón nhận và làm phong phú thêm bản sắc văn hoá biển Việt
Nam”
Tuy nhiên, những phân tích trên đây của tác giả chỉ mới đơn thuần dựa trên các di chỉ khảo cổ mà chưa chỉ rõ yếu tố văn hoá biển có ảnh hưởng đến đời sống và hình thành nên đặc điểm của cư dân vùng biển Việt Nam như thế
Batavia
Cũng theo sự phân tích của tác giả, chính sự giao thương với nhiều quốc gia ở những nền văn hoá khác nhau dẫn đến sự giao thoa về văn hoá mà môi trường ven biển có vị trí quan trọng đặc biệt Vị trí địa lý Việt Nam được coi
là ngã tư đường của các cư dân và các nền văn hóa văn minh1, là cầu nối các
nền văn hoá trong khu vực
Tác giả Cao Xuân Phổ trong Văn hoá biển Đông Nam Á (tạp chí Đông
Nam Á, số 4, 1994) cũng đề cập đến điều này Theo tác giả, giao thương đã gắn với truyền đạo một cách hữu thức hoặc vô thức Từ sự giao thương qua đường biển, văn hoá, đặc biệt là tôn giáo của Ấn Độ đã ảnh hưởng lớn đến xã hội Việt Nam Người Việt đã tiếp nhận và phát triển Phật giáo; người Chăm
1 Olov Janse Viet Nam, Carefour des peoples des cilivisations, Fano - 65, Tokyo, 1961
Trang 13đã đi theo đạo Bà La Môn của Ấn Độ Bên cạnh đó, qua đường biển, Việt Nam còn tiếp nhận nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc, ca múa nhạc trong văn hóa của Trung Hoa, Ba Tư, La Mã; tiếp nhận Kito giáo của người phương
Tây
Sự thâm nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam theo đường biển được
tác giả Lê Nguyễn phân tích sâu hơn trong cuốn Xã hội Việt Nam qua bút ký của người nước ngoài (Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2004) Theo tác giả,
các thương cảng phát triển trong thế kỷ XVI – XVII đưa các nhà buôn từ châu Âu vào Việt Nam Cùng với họ là các giáo sĩ thiên chúa giáo Ngày 18 tháng 1 năm 1615, giáo sĩ người Ý Francesco Busomi và giáo sĩ người Bồ Đào Nha Diego Carvalho đã đến Hội An, lập cơ sở truyền giáo ở Đàng
Trong, mở đường cho sự truyền giáo vào xã hội Việt Nam
Như vậy, theo tác giả Lê Nguyễn, tôn giáo và nền văn hoá của nhiều nước khác nhau đã qua đường biển mà thâm nhập vào Việt Nam Bên cạnh những đặc điểm văn hoá nội sinh của cư dân ven biển có được trong quá trình phát triển của mình, sự thâm nhập của văn hoá các nước trên thế giới góp phần quan trọng, làm phong phú đời sống văn hoá của cư dân vùng biển, hình
thành nên những đặc trưng văn hoá riêng có ở nơi đây
Nhấn mạnh tới khía cạnh người Việt không chỉ tận dụng vị trí ven biển
để giao thương, tiếp nhận và phát triển văn hóa mà còn mở rộng bờ cõi đất nước, khai hoang lấn biển, biến vùng ven biển trở thành vùng trồng lúa, Giáo
sư Trần Quốc Vượng trong bài viết “Việt Nam và biển Đông” (Tạp chí Văn
hoá dân gian, số 3, 2000), đã cho rằng dưới các triều đại Lý, Trần, Lê việc mở rộng đất đai ra vùng biển Đông (“Đông tiến”) rất được chú trọng Theo ông,
“Thời nhà Trần năm 1226 đã cho phép các công hầu tập hợp dân nghèo không có tài sản khẩn hoang đất biển Thời Lê Hồng Đức, dân nghèo đã đắp
đê biển Sơn Nam (Nam Định – Ninh Bình) để ngăn mặn, khẩn hoang Sau này, khi lên thay nhà Lê, nhà Mạc đã cho xây dựng thêm kinh đô Dương Kinh (ở Kiến An, Hải Phòng ngày nay) nằm sát bên bờ biển Sang thời nhà
Trang 14Nguyễn, vào thế kỷ XIX, hoạt động khẩn hoang đáng chú ý nhất là của Nguyễn Công Trứ Ông đã cho xây đê ngăn nước mặn để trồng lúa, lập lên hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)” 1
Các nghiên cứu về biển và văn hoá của cư dân ven biển từ trong lịch sử
đã khẳng định được rằng chính vị trí ven biển đã không chỉ đem lại những lợi ích to lớn cho Việt Nam trong giao thương, giao lưu văn hóa, lấn biển mở
rộng đất đai mà còn “có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh quốc phòng của đất nước” Phần lớn những nghiên cứu về mặt an ninh quốc phòng vùng biển đều cho rằng quân xâm lược từ các triều đại phong kiến đến quân thực dân, đế quốc thời hiện đại
thường tìm con đường xâm lược Việt Nam từ biển vào
Bởi vậy, biển cũng chính là nơi có những dấu ấn văn hoá liên quan đến các chiến tích lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam Những chiến tích trên sông Bạch Đằng về sau được Trương Hán Siêu khắc hoạ bằng những áng văn
hùng tráng trong bài phú về sông Bạch Đằng “Bạch Đằng giang phú” Nhớ
lại những dấu ấn văn hoá - lịch sử đó, vào năm 1961, chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đến thăm hang Đầu Gỗ – nơi Trần Hưng Đạo dựng công trường để cắm
cọc trên sông Bạch Đằng Tại nơi đây Người đã nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp,
ta phải biết giữ gìn lấy nó”2
Tiếp nối truyền thống đánh giặc trên biển của cha ông và lời dặn dò của
Hồ Chủ Tịch, quân và dân Việt Nam đã chiến đấu và giành nhiều thắng lợi vẻ vang trên biển Năm 1964, khi Hải quân Việt Nam mới thành lập chưa đầy 10 năm đã đánh tan trục hạm Maddock thuộc hạm đội 7 của đế quốc Mỹ ra khỏi lãnh hải Việt Nam ở vịnh Bắc Bộ Nhưng để lại dấu ấn sâu sắc nhất có lẽ phải
kể đến “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” Với sự anh dũng, am tường sông nước, biết tận dụng sức mạnh của biển cả, đoàn tiếp viện của quân và
1Trần Quốc Vượng, bài viết “Việt Nam và biển Đông”, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3, 2000
2 Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.2
Trang 15dân Việt Nam đã đưa hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực cho chiến trường
miền Nam, góp phần quan trọng vào sự thống nhất đất nước hôm nay
Những nghiên cứu về văn hoá, lịch sử trên đều khẳng định sự phát triển văn hoá, kinh tế và bảo vệ đất nước trong lịch sử Việt Nam luôn gắn liền với biển Quá trình đó hình thành nên những nét đặc trưng riêng có về đời sống văn hoá, dân cư của những người dân vùng biển Việc hiểu và phát huy sức mạnh của những nét đặc trưng đó có ý nghĩa rất lớn vào việc ổn định, phát
triển đời sống kinh tế – văn hoá - xã hội của các địa phương vùng biển
Bên cạnh những nghiên cứu liên quan tới yếu tố biển trong xã hội truyền thống, nhiều công trình nghiên cứu cũng đã cố gắng làm rõ hơn những nét
đặc trưng của văn hoá biển trong cuộc sống đương đại Công trình nghiên cứu Văn hoá dân gian làng ven biển (Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nxb Văn hoá dân
tộc, Hà Nội, 2000) là một trong những công trình rất đáng chú ý về mảng chủ
đề văn hoá biển
Vốn là một công trình nghiên cứu thuộc dự án Điều tra cơ bản sưu tầm
di sản văn hoá dân gian các dân tộc của Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian,
nghiên cứu của nhóm tác giả do giáo sư Ngô Đức Thịnh chỉ đạo đã được tiến hành tại 9 làng ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế bao gồm làng biển Trà Cổ, Quan Lạn, Đồ Sơn, Kẻ Mom, Phương Cần, Cửa Sót, Nhượng Bạn, Cảnh Dương, Thuận An Nghiên cứu đã đi vào các nét văn hoá dân gian của các làng ven biển như phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, di tích lịch
sử Những đặc trưng trong văn hoá dân gian được nêu trong công trình đã là những gợi ý rất tốt, là cơ sở khoa học quan trọng đối với những ai muốn tìm hiểu sâu về đặc điểm văn hoá vùng ven biển trong quá trình phát triển đất
nước hiện nay
Tác giả Lê Hồng Lý trong bài viết về Đôi nét văn hoá dân gian ven biển trong nền kinh tế thị trường (Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3, 2002) cũng đã
khắc hoạ một số đặc điểm về đời sống văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Theo tác giả, nhờ có sự phát triển nền kinh tế thị trường nói chung, sự phát
Trang 16triển của kinh tế biển nói riêng, mà ngày nay đời sống văn hoá của người dân ven biển đã trở nên phong phú, đa dạng Một nét đặc trưng trong sinh hoạt văn hoá của cộng đồng dân cư ven biển được tác giả miêu tả là hội làng ven
lễ hội những năm gần đây được khôi phục, tổ chức trang trọng Chính sự phục hồi một số loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống như lễ hội, sự khôi phục những di tích văn hoá ở các làng ven biển biến những nơi đó trở thành điểm du lịch thu hút khách tham quan, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
và đời sống cho các cư dân vùng biển
Bên cạnh những nghiên cứu về văn hoá của cư dân ven biển còn có khá nhiều nghiên cứu được triển khai tìm hiểu đời sống kinh tế xã hội ở vùng này
bởi nó có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước hiện nay
Trong những năm gần đây, mảng nghiên cứu liên quan đến đời sống kinh tế văn hoá xã hội ở vùng biển thu hút được khá nhiều sự quan tâm Đáng
chú ý là nghiên cứu “Phát triển kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam” thuộc dự án Điều tra kinh tế xã hội vùng ven biển, xây dựng luận cứ khoa học cho định hướng chiến lược phát triển tổng thể kinh tế xã hội
và môi trường vùng ven biển Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 của tác giả Đỗ
Hoài Nam (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003)
Đây là nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích động thái các các yếu
tố tác động đến tiến trình phát triển tổng thể kinh tế xã hội và môi trường ở
Trang 17các tỉnh ven biển nước ta trong 15 năm đổi mới theo quan điểm phát triển bền vững nhằm khẳng định những thành tựu to lớn, những vấn đề và mâu thuẫn nảy sinh cần tiếp tục giải quyết1 Nghiên cứu này được tiến hành theo các tiếp cận của nghiên cứu ven biển Việt Nam bao gồm: Tiếp cận địa lý hành chính; tiếp cận sinh thái và môi trường; tiếp cận địa kinh tế; tiếp cận văn
hoá xã hội và nhân văn
Khi phân tích các nguồn lực của vùng ven biển (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và nguồn lực tài chính), nghiên cứu đã giúp chúng ta nhận diện một số đặc điểm dân cư vùng ven biển Chẳng hạn như nguồn lao động của 28 tỉnh ven biển Việt Nam rất dồi dào, chiếm 51% dân số cả nước (theo kết quả điều tra dân số 1999); tháp dân số ở các tỉnh ven biển khá trẻ, trong đó trẻ em dưới độ tuổi lao động chiếm 40% dân số; nhóm lao động ở độ tuổi 16-35 chiếm 65.2% lực lượng lao động Tốc độ gia tăng nguồn lao động
ở các tỉnh ven biển tương đối cao
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những vấn đề cần quan tâm khi đề cập tới đặc điểm của nguồn nhân lực nói riêng, của dân cư nói chung ở các tỉnh ven biển, đó là: thiếu lực lượng lao động lành nghề, có kỹ năng; đối tượng nữ giới ở các làng chài thường xuyên ở trong tình trạng thiếu việc làm; điều kiện sống của dân cư vùng ven biển chưa được đảm bảo tốt Họ phải đối mặt với tình trạng nghèo đói, thiếu nước sạch, nhà ở thấp kém, số lượng và chất lượng các dịch vụ chăm sóc y tế chưa cao Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng
phác hoạ đôi nét về văn hoá của các tỉnh ven biển ở trình độ học vấn
Để thúc đẩy đời sống cư dân các tỉnh ven biển, nghiên cứu cũng đưa ra các giải pháp tập trung nhiều vào việc đẩy kinh tế như phát triển nguồn nhân lực, ngành du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng Nghiên cứu cũng đưa ra giải pháp về văn hoá nhưng chỉ dừng ở việc xắp xếp,
tổ chức các xã ven biển mà chưa chú trọng tới phát huy những nét đặc trưng
1 Phát triển kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam, Đỗ Hoài Nam, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2003, tr.9
Trang 18văn hoá của cư dân ven biển để góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã
hội Đó sẽ là vấn đề cần chúng ta được tiếp tục nghiên cứu
Những nghiên cứu khác liên quan tới kinh tế của cư dân vùng biển có
thể được kể đến là cuốn Đổi mới và phát triển vùng kinh tế ven biển của tác
giả Lê Cao Đoàn (Nxb Chính trị Quốc gia, 1999) Nghiên cứu này đi sâu phân tích vấn đề đổi mới kinh tế ven biển nước lợ ở địa bàn tỉnh Thái Bình Bên cạnh đó, dựa trên sự phân tích môi trường, địa lý, tự nhiên, tác giả cũng
đề cập tới quá trình khai hoang lấn biển của người Việt Nam Tác giả đặc biệt phân tích sâu hai cuộc khai hoang lấn biển của Nguyễn Công Trứ lập lên huyện Tiền Hải (1828) và huyện Kim Sơn (1829) Tác giả cũng chỉ ra những bài học lịch sử (thành công, hạn chế) của hai cuộc khẩn hoang này
Nếu nghiên cứu của tác giả Lê Cao Đoàn trên đây được tiến hành đối với một địa phương ven biển ở Bắc bộ thì tác giả Trần Hồng Liên và cộng sự
lại dành sự quan tâm tới cư dân vùng biển Nam bộ trong cuốn Cộng đồng ngư dân Việt Nam ở Nam bộ (Trần Hồng Liên chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội,
2004) Cuốn sách đã giúp chúng ta có thể đối chiếu, so sánh những nét khác biệt về cư dân ven biển ở hai vùng văn hoá khác nhau Nghiên cứu này được tiến hành ở hai xã Phước Tỉnh (huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và
xã Vàm Láng (huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang)
Ngoài việc khắc hoạ đặc điểm thiên nhiên, đời sống của người dân hai
xã, các tác giả đã phân tích một số đặc điểm dân cư tập trung ở khía cạnh cơ cấu lao động, cơ cấu nghề nghiệp Khía cạnh văn hoá vật chất và tinh thần cũng được đề cập dưới góc độ mô tả đời sống tín ngưỡng tôn giáo, các sinh hoạt văn hoá tinh thần và phong tục tập quán ở hai xã Nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đời sống kinh tế và văn hoá tinh thần của một bộ
phận dân cư vùng biển Nam bộ
Những đặc điểm về đời sống, cư dân của người dân ven biển được đề
cập trong một số công trình nghiên cứu khác như: Dân số và việc làm đối với lao động nữ vùng ven biển (Phan Thanh, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 2,
Trang 191994); “Việc làm đối với nữ lao động vùng biển” của tác giả Phan Nguyên
(tại Hội thảo khoa học về việc làm do Viện Nghiên cứu Thanh niên phối hợp
với Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ thực hiện tháng 2/1988); “Vai trò của nam chủ hộ ngư dân ven biển trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Đình Tấn và Lê Tiêu La chủ biên, NXb Chính
trị quốc gia, 1999) Tuy những nghiên cứu này chỉ bàn đến một/một vài khía cạnh cụ thể về đời sống cư dân ven biển nhưng nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn
về một số đặc điểm của dân cư nơi đây (đặc điểm dân số, cơ cấu lao động, việc làm…) Đó là những tài liệu hữu ích cho chúng ta trong việc tìm hiểu
đặc điểm cư dân vùng ven biển trong quá trình phát triển đất nước
Năm 2002, Trung tâm nghiên cứu Giới, gia đình và môi trường trong phát triển đã tiến hành một nghiên cứu đặc biệt về đời sống văn hoá, giáo dục
của các cư dân vạn đò tại một số vùng biển như Quảng Ninh, Thừa Thiên
Huế Dự án nghiên cứu có tên gọi là “ Dự án nâng cao nhận thức về cư dân
vạn đò và những dịch vụ cơ bản cho cư dân vạn đò”
Các tác giả của dự án đã nghiên cứu và phân tích cuộc sống lênh đênh trên các luồng nước ven biển của các cư dân vạn đò như Phá Tam Giang và sông Hương ( Thừa Thiên Huế), kiếm sống và cư trú lang bạt tại ngoài khơi
và các đảo nhỏ như ở ven vịnh Hạ Long Trong khi nêu bật những đặc trưng
về cuộc sống trôi nổi lao động kiếm sống vất vả của các cư dân vạn đò, các tác giả nghiên cứu cũng phác hoạ được khá đậm nét những đặc trưng về văn hoá, giáo dục, y tế xã hội của nhóm cư dân ven biển khá đặc biệt này Tổng
kết, dự án, tác giả Hoàng Bá Thịnh đã biên soạn cuốn sách “ Cư dân vạn đò- tiềm năng và thách thức” ( nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội-2006)
Đây là một công trình nghiên cứu được đánh giá tốt, được giải thưởng về
sáng tạo của Ngân hàng Thế giới năm 2004
Trong số những tác giả ngoại quốc viết về Việt Nam và văn hoá cư dân vùng biển Việt Nam phải kể đến các công trình của những nhà nghiên cứu những giáo sĩ như Cristoforo Borri người Ý , sinh năm 1583 đặt chân đến Đại
Trang 20Việt năm 1618 và Diego Carvalho, người Bồ Đào Nha Trong tác phẩm của
mình bằng tiếng Pháp nhan đề “Relation de la novella mission dé Peres de la compagnie de Jesus- au Royaume de Cochinchine”, tạm dịch là “Bút ký về
hội truyền giáo tân lập của các cha thuộc giáo đoàn Jesus tại vương quốc xứ Đằng Trong” Cristoforo Borri đã dành rất nhiều thiện cảm cho các cư dân ven biển và văn hoá của họ trong việc tiếp cận với người phương Tây Ông cho rằng mặc dù nhìn diện mạo bên ngoài, người Việt ở thế kỷ 17 có nét giống người Tầu như da vàng, mũi tẹt, mắt nhỏ và không lùn như người Nhật
nhưng họ cởi mở và rất thân thiện Ông viết “ Trong lúc các quốc gia phương Đông khác nhìn người Châu Âu như kẻ ngoại đạo và ghét cay ghét đắng họ…thì ở Đằng Trong, tất cả đều ngược lại, họ lũ lượt kéo đến tiếp chuyện chúng tôi, đặt ra cho chúng tôi hàng ngàn câu hỏi, mời chúng tôi ăn cơm với
họ, tóm lại họ đối xử với tất cả sự nhã nhặn và lịch sự” (C Borri- trích trong
Tập san đo thành hiếu cổ- BAVH tập 3-4 năm 1931- trang 308) Borri cũng miêu tả rất kỹ lưỡng những sinh hoạt văn hoá của cư dân ven biển miền Nam,
từ nhà ở đến hội hè, cách sinh hoạt, ăn mặc, cách để tóc…Công trình của C
Borri là rất đáng được quan tâm
Nói đến các công trình của các giáo sĩ viết về cư dân ven biển Việt Nam, chúng ta không thể không kể đến Alexandre de Rhodes Đầu năm 1627 ông đến xứ Đằng Ngoài và được tiếp kiến với Chúa Trịnh Tráng Alexandre de Rhodes viết nhiều tác phẩm về Việt Nam và văn hoá biển Việt Nam trong đó
Histoire du Royaume du Tunquin tạm dịch là Lịch sử vương quốc Đằng
Ngoài Alexandre de Rhodes cho rằng mặc dù nhìn chung đời sống kinh tế ở Đàng Ngoài là khá phát triển nhưng Người Việt ít đi buôn bán vùng ngoài Theo Ông, người Việt còn ít quen với nghề hàng hải, không biết sử dụng la bàn, không giám đi khơi xa Triều đình còn nhiều cứng nhắc, không cho phép
cư dân ven biển đi xa, sang những nước khác vì e sợ họ sẽ định cư lâu dài ở
đó, gây thất thu cho công quỹ
Trang 21Trong những công trình nghiên cứu về biển và cư dân vùng biển ở Việt
Nam còn phải kể đến các công trình của người Trung Hoa như Chu Thuấn Thuỷ đến Việt Nam năm 1646 và nhà sư Thích Đại Sán đến Việt Nam bằng
thuyền vào năm 1695 Trong các công trình biên soạn của mình mà nổi tiếng
nhất là Hải ngoại ký sự Thích Đại Sán đã miêu tả khá rõ ràng những nét đặc
trưng của văn hoá, lối sống của người Việt, những phong tục tập quán khi đi
du ngoạn các vùng miền ven biển như Hội An, giao lưu và ngâm vịnh thơ
phú, đàm đạo về thời cuộc với các danh sĩ đất Việt
Trong số tác giả ngoại quốc viết nhiều về Việt Nam phải kể đến học giả
L.Cadiere, chủ bút của tạp chí “Bulentin des amis du vieux Hue ĐÔ THÀNH HIẾU CỔ”(1914-1944) Với trên dưới 250 thiên khảo cứu hoặc tham luận
khoa học về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán của Người Việt, L Cadiere
đã phác hoạ được một bức tranh khá chi tiết về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong đó có những người, vùng biển, đặc biệt là ở vùng Thừa Thiên – Huế Những công trình của ông là hết sức có giá trị trong việc nghiên cứu
văn hoá và cư dân ven biển
Tìm hiểu các nghiên cứu liên quan tới người dân vùng ven biển trên đây chúng ta có thể thấy vấn đề về lịch sử, văn hoá xã hội và kinh tế đã được đề cập tương đối nhiều trong các công trình nghiên cứu Những khía cạnh liên quan tới đặc điểm văn hoá và cư dân vùng ven biển cũng ít nhiều được quan tâm Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến văn hoá ven biển thường dừng lại ở mức độ mô tả quá trình hình thành và phát triển của các đặc điểm
cư dân và văn hoá biển
Những nghiên cứu, làm rõ đặc trưng của cư dân và văn hoá vùng ven biển ở mức độ khái quát và tầm nghiên cứu lý luận còn chưa thực sự sâu sắc Việc nghiên cứu những biến đổi trong đặc điểm cư dân và văn hoá ven biển trong đời sống đương đại cũng chưa nhận được sự quan tâm đáng kể Bên cạnh đó, những nghiên cứu liên quan đến dân cư lại chỉ tập trung vào những đặc điểm liên quan tới kinh tế (dân số, lao động, việc làm) mà chưa xem xét
Trang 22nó một cách toàn diện Đặc biệt, sự ảnh hưởng của yếu tố văn hoá tới đặc điểm dân cư vẫn còn là mảng nghiên cứu bỏ trống Bởi vậy, việc triển khai nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm cư dân và văn hoá vùng ven biển hiện nay có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần phát huy vai trò của các cộng đồng dân cư ven biển vào công cuộc phát triển đất nước hôm nay
Như vậy, mặc dù những nghiên cứu về cư dân và văn hoá vùng ven biển
đã xuất hiện khá nhiều trong những năm gần đây nhưng nhìn chung đó mới chỉ là những nghiên cứu còn tản mạn, bước đầu mang tính định hướng hoặc thăm dò, phục vụ cho những mục tiêu cụ thể mang tính thực tiễn, trước mắt
Do nhiều cách tiếp cận khác nhau vì thế mà kết quả thu được từ những công trình nghiên cứu này cũng còn có những mặt hạn chế Cho đến nay,
chúng ta vẫn chưa có được một công trình quy mô, mang tính hệ thống, liên ngành đi sâu vào lĩnh vực con người và văn hoá cư dân ven biển, nhất là tổng kết một cách hệ thống những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
về miền đất, con người và văn hoá của khu vực đặc biệt này của Tổ quốc Chúng ta cũng chưa có điều kiện đi sâu phân tích để hình dung và đưa ra được một chiến lược chung nhằm phát triển vùng ven biển gắn liền với chiến lược phát triển văn hoá và con người vùng này
* Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu
Để đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn và khoa học trên, các nghiên cứu của chúng ta về cư dân và văn hoá vùng ven biển cần tập trung bổ sung
thêm vào các hướng nghiên cứu chủ yếu như:
- Phân tích về lịch sử hình thành và phát triển của những đặc điểm cư
dân và văn hóa vùng ven biển trong các mối quan hệ, tác động qua lại với các vùng đồng bằng, miền núi, quá trình dịch chuyển và tiếp biến văn hóa từ biển
lên và ngược lại từ các vùng miền khác tới vùng biển
- Phân tích và lý giải về vị trí, vai trò của vùng ven biển, những đặc điểm
cư dân và văn hoá, đặc biệt là tại những địa phương đang có những thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu
Trang 23hóa, từ đó nghiên cứu phương thức tốt nhất để phát huy được sức mạnh của vùng địa lý nhân văn đặc biệt này đối với những yêu cầu của sự phát triển của
đất nước
- Nghiên cứu hướng tới mục tiêu, giải pháp xây dựng những kiểu mẫu,
mô hình về con người và văn hoá vùng biển, phù hợp với những đòi hỏi trong truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại các vùng miền nói riêng và cả nước nói
chung trong điều kiện hiện nay
Gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Chiến lược phát triển kinh tế
-xã hội vùng ven biển cùng nhiều văn bản chính sách quan trọng khác Để Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đi vào thực tiễn, với những hoạt động và giải pháp được triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, sự phối hợp
từ các cấp chính quyền, đoàn thể, cho tới nhân dân các vùng ven biển nói riêng và cả nước nói chung, đáp ứng yêu cầu phát triển khu vực kinh tế và văn hóa trọng điểm, yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu hội nhập quốc tế, cần có những nghiên cứu khoa học, toàn diện và sâu sắc, cung cấp đầy đủ tư duy lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành, biến đổi
và phát triển của con người và văn hóa vùng ven biển từ truyền thống đến hiện đại
3 Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu chung :
Nghiên cứu, phân tích, làm rõ được những đặc điểm, vai trò của cư dân
và văn hoá vùng ven biển trong sự phát triển đất nước Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của cư dân và văn hoá vùng ven biển
Trang 244 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu
cư dân và văn hóa vùng ven biển
Phân tích, làm rõ các khái niệm cơ bản và khái niệm công cụ trong đề tài, xây dựng hệ tiêu chí xác định và đánh giá những đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển Nghiên cứu, phân tích các lý thuyết, cách tiếp cận trong lĩnh vực nghiên cứu con người và văn hóa, công tác quản lý, giữ gìn và phát huy giá trị con người và văn hóa, trong đó lưu ý tới các lí thuyết về đối thoại văn hóa, tiếp biến văn hóa, các lý thuyết liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa, phân tích tới tính dân tộc và tính thời đại của con người và văn hóa vùng ven biển trong bối cảnh hiện nay Nghiên cứu tiền đề khoa học cho việc đề xuất kiện toàn hệ thống văn bản pháp quy Việt Nam về phát triển con người và văn hóa vùng ven biển Nghiên cứu kinh nghiệm, bài học của các nước trong khu vực và trên thế giới về phát triển con người và văn hóa vùng ven biển
Nội dung 2: Những đặc trưng cơ bản của cư dân và văn hóa vùng
ven biển trong lịch sử Việt Nam
Xem xét lịch sử hình thành và phát triển của các cộng đồng cư dân và các đặc điểm văn hóa vùng ven biển Việt Nam trong tương quan so sánh với các vùng miền khác, so sánh giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới Từ nền tảng lí luận của nghiên cứu con người và văn hoá, tập trung phân tích những đặc thù của con người và văn hóa vùng ven biển trong lịch sử thông qua: quá trình lao động sản xuất, nếp sống, sinh hoạt, phong tục
Trang 25tập quán của các cộng đồng dân cư, kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa truyền thống biểu hiện cụ thể từng vùng miền ven biển
Nội dung 3: Điều kiện tự nhiên, những đặc điểm phát triển kinh tế -
xã hội và tác động của chúng đến cộng đồng dân cư và văn hóa các vùng ven
biển hiện nay
Nghiên cứu, phân tích những đặc điểm về tự nhiên, xã hội, những yếu
tố truyền thống và hiện đại, đã và đang tác động đến cuộc sống lao động, sinh hoạt của các cộng đồng cư dân và văn hóa vùng ven biển, từ đó làm rõ những thuận lợi, khó khăn và thách thức trong vấn đề phát triển con người và văn hóa khu vực này trong bối cảnh công nghiệp hóa và toàn cầu hóa hiện nay
Nội dung 4: Thực trạng và xu hướng biến đổi của đặc điểm cư dân và
văn hóa vùng ven biển trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa
Khảo sát một cách toàn diện thực trạng cuộc sống của cư dân và văn hóa vùng ven biển Tập trung phân tích, nhận diện những thay đổi cơ bản trong đặc điểm cư dân và văn hoá vùng ven biển từ sau thời kì đổi mới đến nay thông qua quá trình lao động sản xuất, nếp sống sinh hoạt, văn hóa cộng đồng của các nhóm cư dân sinh sống ở khu vực này Phân tích tính đặc thù, sự giao thoa và biến đổi của văn hóa vùng ven biển qua các hệ chỉ báo như văn hóa lao động, văn hóa kinh doanh, văn hóa du lịch, văn hóa dân chủ, văn hóa giữa các vùng miền, văn hóa giữa các nhóm và tầng lớp xã hội
Nội dung 5 : Hiện trạng công tác quản lý, phát triển nguồn lực con
người và văn hóa vùng ven biển
Nghiên cứu, phân tích hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước, hoạt động quản lý, thực thi những chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển con người và văn hóa vùng ven biển biểu hiện cụ thể qua các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, chính sách y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội Phân tích vai trò của các tổ chức đoàn thể xã hội và cộng đồng trong các hoạt
Trang 26động có liên quan đến chính sách phát triển con người và văn hóa vùng ven biển
Nội dung 6: Những quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển con
người và văn hóa vùng ven biển đáp ứng nhu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay
Để phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá đất nước đến năm 2020, nghiên cứu những cơ sở về lý luận và thực tiễn cho việc xác định mục tiêu phát triển con người và văn hóa vùng ven biển trong đó đặc biệt quan tâm đến việc kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, tiếp thu và vận dụng những bài học kinh nghiệm của các nước thế giới trong việc xác định mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp xây dựng và phát triển con người và văn hóa vùng ven biển Nghiên cứu những giải pháp cụ thể về phát triển con người và văn hóa vùng ven biển trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận
Việc nghiên cứu đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển trong quá trình phát triển đất nước hiện nay được thực hiện trên cách tiếp cận của các khoa học tổng hợp liên ngành, tiếp cận vĩ mô - vi mô, tiếp cận theo quan điểm
hệ thống, quan điểm lịch sử, quan điểm phát triển, tiếp cận trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta
Các khoa học: Lịch sử, Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề liên quan đến giá trị, đạo đức, văn hóa, bản sắc, bản lĩnh, truyền thống dựng nước giữ nước của cư dân ven biển Những đặc điểm, giá trị cần được bảo lưu, những giá trị đã mai một và những giá trị phải bảo vệ, phát huy trong thời đại hiện nay
Các khoa học Xã hội học, Tâm lý học, Triết học, Giáo dục học và Nhân học làm rõ các vấn đề liên quan đến thực trạng cư dân ven biển hiện nay bao
Trang 27gồm những đặc điểm về nhân khẩu học, gia đình, kinh tế, lối sống, định hướng giá trị… Đặc biệt là những đặc trưng cơ bản về văn hóa của cư dân ven biển hiện nay đặt trong quan hệ giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng, quan hệ tác động giữa con người và môi trường sống, với các chính sách và
cơ chế của Đảng và Nhà nước, tiềm năng phát triển của khu vực ven biển trong thời đại mới, những giải pháp xây dựng và phát huy vai trò của dân cư ven biển đối với quá trình phát triển đất nước
Các khoa học kinh tế tham gia nghiên cứu các mô hình nghề nghiệp, cơ cấu và định hướng phát triển kinh tế của cộng đồng dân cư ven biển Từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường cải thiện, nâng cao đời sống của người dân nhằm tạo điền đề cho sự phát triển văn hóa của dân cư vùng ven biển
Các khoa học y tế, giáo dục, văn hóa, truyền thông tham gia nghiên cứu các giải pháp tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe, xây dựng môi trường giáo dục tốt đẹp, lành mạnh, chăm sóc đời sống tinh thần cho người dân vùng ven biển
Hướng tiếp cận vĩ mô: tiếp cận vấn đề con người và giải quyết vấn đề con người từ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tác động của những vấn đề cơ chế, chính sách đến các cộng đồng và các nhóm xã hội
Hướng tiếp cận vi mô: tiếp cận từ nhu cầu của cộng đồng, đặc thù của các nhóm xã hội, vùng miền, đóng góp cho việc xây dựng những chính sách
và cơ chế phát huy tiềm năng của cư dân và văn hóa ven biển trong xây dựng
và bảo vệ đất nước thời kỳ mới
Định hướng lý luận và phương pháp luận của đề tài dựa trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta Ngoài ra đề tài sử dụng hướng tiếp cận theo các quan điểm lịch sử, quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển vận dụng trong việc giải quyết vấn đề ở từng nội dung nghiên cứu
cụ thể
Trang 28 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Triển khai các phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu thực nghiệm trong các nội dung nghiên cứu Để có được dữ liệu và sản phẩm nghiên cứu đạt chất lượng chuyên môn cao, cũng như sự phân tích mang tính
hệ thống, liên ngành và đa ngành, đề tài sẽ sử dụng một số phương pháp cụ thể dưới đây:
1 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: phương pháp này được tiến hành với tất cả các ngành khoa học, các hướng tiếp cận trong quá trình tham gia thực hiện nghiên cứu Phương pháp này chú trọng về quy trình thao tác, phân tích tài liệu theo các tiêu chí khoa học và loại hình tài liệu, đặc biệt chú trọng mô hình của phân tích nội dung tài liệu (Content analysis) nhằm tìm kiếm và phân tích tất cả các kết quả nghiên cứu có sẵn để mô tả, khái quát hóa bức tranh toàn cảnh về chủ đề nghiên cứu từ các góc độ khác nhau Các nguồn tài liệu đã được phân tích như các tài liệu lịch sử, dân tộc học và khảo
cổ học, các số liệu thống kê, qua các báo cáo của các ban, bộ, ngành, đoàn thể, các công trình khoa học có liên quan đến đề tài trước đây ở Việt Nam và các nước trên thế giới
2 Phương pháp Lịch sử, Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học: các phương pháp từ các khoa học liên ngành được áp dụng và thực hiện trong quá trình nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu điền dã, thu thập tư liệu, các phương pháp quan sát, phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm tập trung được phối kết hợp nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến đặc điểm dân cư và văn hóa vùng ven biển
3 Phương pháp điều tra xã hội học, bao gồm:
Phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc được soạn sẵn, thu thập thông tin định lượng, tổng hợp các ý kiến của các nhóm xã hội về cuộc sống, lao động, học tập, sinh hoạt chính trị, tư tưởng, lối sống, định hướng giá trị nhân cách, đạo đức, tiếp cận và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần
Trang 29Phỏng vấn sâu: nhằm thu thập những thông tin định tính, bổ khuyết cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Thảo luận nhóm tập trung được thực hiện nhằm thu thập thông tin làm
rõ các ý kiến, những quan điểm, thái độ của các nhóm đối tượng khác nhau dựa trên nguyên tắc cùng tham gia, trao đổi, thảo luận
Cơ cấu mẫu điều tra khảo sát được thực hiện tại 10 tỉnh bao gồm:
Thanh Hóa (điều tra thử 100 người), Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên Huế và Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Trà Vinh, Kiên Giang đại diện cho 3 miền trên cả nước
Khảo sát định lượng : 400 người / tỉnh x 10 tỉnh = 4000 người
Để đảm bảo được tính đại diện và độ tin cậy của mẫu nghiên cứu, đề tài
sẽ tiến hành chọn mẫu theo nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó kết hợp chọn mẫu theo phương pháp chủ định và phương pháp chọn mẫu xác xuất
4 Phương pháp nghiên cứu tham gia: Các nhóm được nghiên cứu sẽ đóng vai trò chủ thể tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình thực hiện nghiên cứu
5 Kỹ thuật xử lý thông tin:
Toàn bộ số phiếu điều tra được tổng hợp, làm sạch, mã hóa và được nhập bằng chương trình Epi-Infor xử lý bằng chương trình thống kê chuyên dụng trong khoa học xã hội: Spss 16.0
* Vài đặc điểm về mẫu khảo sát
• Đặc điểm địa bàn khảo sát
Với mục tiêu khảo sát đặc điểm cư dân và văn hóa các vùng ven biển,
đề tài đã lựa chọn 9 tỉnh trong mẫu điều tra chính thức mang những nét đặc trưng nổi bật của các vùng biển Việt Nam, đại diện cho ba miền trong cả nước Miền Bắc chọn Hải Phòng, Nam Định và Quảng Ninh Miền Trung chọn Hà Tĩnh, Đà Nẵng và Quảng Nam Miền Nam chọn Khánh Hòa, Vũng Tàu và Kiên Giang Ở mỗi tỉnh, số mẫu điều tra người dân, đại diện hộ gia
Trang 30Quảng Ninh 11.1
Hà Tĩnh 11.0
Đà Nẵng 10.9 Miền Trung
Quảng Nam 11.1 Khỏnh Hũa 11.3 Vũng Tàu 11.1 Miền Nam
Kiờn Giang 11.3
Về nơi sống của người dõn phõn theo khu vực trong mẫu điều tra, kết quả tại biểu đồ 1 phản ỏnh: cú 46.3% sống tại khu vực thành phố ven biển và 53.7% sống tại khu vực nụng thụn ven biển Xột về khu vực địa lý tớnh từ biển trở vào, cú 28.8% số người trả lời đang sống trờn địa bàn trực tiếp giỏp biển và cú 71.2% sống ở vựng biển nhưng khụng trực tiếp giỏp biển
Thành phố, thị xã, thị trấn Nông thôn Giáp biển Không giáp biển
Biểu đồ 1 : Nơi sống của NTL(%)
• Đặc điểm nhõn khẩu học
Về giới tớnh người trả lời, số liệu biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ chờnh lệch giữa hai nhúm nam và nữ là khỏ cao với 73.1% là nữ và chỉ cú 26.9% là nam giới Đõy cũng là một đặc trưng mang tớnh đặc thự của vựng biển khi phần
Trang 31Biểu đồ 3: Nhóm tuổi người trả lời (%)
Trong những năm qua mặc dự sự di cư giữa cỏc vựng miền diễn ra với mức độ lớn và phổ biến ở Việt Nam, tuy nhiờn dường như cỏc vựng ven biển
ớt cú sự thay đổi về cơ cấu tộc người đến sinh sống và định cư Biểu đồ 4 cho
thấy đa số cư dõn biển vẫn là những cư dõn “đồng bằng”, vỡ vậy tỷ lệ dõn tộc
Kinh chiếm gần như tuyệt đối trong mẫu điều tra với tỷ lệ 99.1% và dõn tộc khỏc chỉ cú 0.9%
Trang 32Phần đụng người trả lời khụng theo tụn giỏo nào chiếm 62.2% theo số liệu biểu đồ 5 Trong số 37.8% người dõn cũn lại cú tụn giỏo, thỡ sự phõn bố lại tập trung vào nhúm Phật giỏo (33.6%), tương phản với nhúm Thiờn chỳa giỏo chiếm 3.5% và tụn giỏo khỏc là 0.7% Như vậy cú thể thấy, cựng với nhu cầu tõm linh và những đặc tớnh của phong tục tập quỏn truyền thống, tỷ lệ người dõn tin, theo Phật giỏo ở vựng biển là khỏ cao so với cỏc vựng miền khỏc
Biểu đồ 5: Tôn giáo người trả lời (%)
62,2
33,6
3,5
0.7 0
Không tôn giáo Phật giáo Thiên chúa giáo Tôn giáo khác
So với mặt bằng giỏo dục chung của cả nước thỡ chỉ số về trỡnh độ học vấn của cư dõn ven biển trong mẫu điều tra thuộc loại trung bỡnh Số liệu điều tra cho thấy, người trả lời cú trỡnh độ phổ cập ở cấp học Trung học phổ thụng chỉ chiếm 26.9%, trong khi tỷ lệ khỏ cao tập trung ở nhúm tốt nghiệp Trung học cơ sở (36.8%) và Tiểu học (13.2%) Số người trả lời cú trỡnh độ từ Trung cấp, Cao đẳng và đại học chiếm 21.5% (Trung cấp, Cao đẳng là 5.3% và Đại học là 16.2%), tuy nhiờn nhúm này lại tập trung vào ngành nghề chủ yếu là cỏn bộ, cụng chức tại cỏc địa bàn nghiờn cứu
Trang 333,4 8,5
So sánh về trình độ học vấn của hai nhóm nam và nữ, số liệu trong biểu
đồ 6 thể hiện có sự chênh lệch về tỷ lệ % giữa hai nhóm này Trong khi ở trình độ Tiểu học và THCS nhóm nam có tỷ lệ cao hơn nhóm nữ thì với trình
độ THPT, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học nhóm nữ lại chiếm tỷ lệ cao hơn (chênh lệch giữa các nhóm trong khoảng 5% - 10%) Nói một cách khác, so với nhiều vùng miền thì điều đáng ngạc nhiên là học vấn của nhóm nữ trong
cư dân ven biển lại có tỷ lệ % ở các cấp học cao, cao hơn so với nhóm nam
Đảng viên Đoàn viên Hội PN Hội ND Hội CCB Hội NCT Hội KH Hội khác
Biểu đồ 7: Đoàn thể, hiệp hội của người trả lời (%)
Cùng với sự phát triển khá nhanh của xã hội dân sự ở Việt Nam trong thời gian gần đây, tỷ lệ những người dân vùng biển tham gia các tổ chức đoàn thể, hiệp hội là khá cao Theo số liệu biểu đồ 7, Hội có tỷ lệ người trả lời tham gia đông nhất là Hội Nông dân chiếm 34.4% và Hội Phụ nữ có 21.7%
Tỷ lệ người trả lời tham gia các hội khác thấp hơn như: hội viên Hội Cựu chiến binh là 7.2%, hội viên Hội Người cao tuổi có 6.3%, hội viên các Hội
Trang 346 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu đóng góp về lý luận và thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cụ thể là:
Cung cấp những quan điểm lý luận, hệ thống, toàn diện, khoa học, hiện đại, quan điểm mới của Việt Nam và Thế giới, trên nền tảng lý luận, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề nghiên cứu, quản lý, xây dựng và phát huy những tiềm năng về kinh tế, văn hóa, chính trị, quốc phòng của dân cư và văn hóa ven biển trong sự nghiệp phát tiển đất nước hiện nay
Cung cấp những đánh giá chân thực, khách quan, khoa học về thực trạng cuộc sống của dân cư cũng như những đặc trưng văn hóa của vùng ven biển Những nhân tố, mối liên hệ xã hội đã và đang tác động đến sự biến đổi phát triển của dân cư văn hóa vùng ven biển Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, dự báo xu hướng biến đổi trong tương lai, những thuận lợi, khó khăn và giải pháp khắc phục
Đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp có tính đột phá nhằm phát huy vai trò của cư dân và văn hóa vùng ven biển Những giải pháp cụ thể và dễ áp dụng đối với những cơ quan tổ chức của Đảng và Nhà nước như Ban Tuyên giáo, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Văn hóa - Du lịch - Thể thao
Góp phần nâng cao tiềm lực nghiên cứu, năng lực tổ chức và quản lí nghiên cứu khoa học, phục vụ tốt hơn chức năng, nhiệm vụ chuyên môn đặc thù của các cơ quan chủ trì và phối hợp thực hiện đề tài
Trang 35Đóng góp vào việc đào tạo và huấn luyện cán bộ thuộc các cơ quan chủ trì và phối hợp thực hiện đề tài, thông qua việc gợi ý, động viên, tạo điều kiện, qui hoạch một bộ phận trong các cán bộ này
Những đóng góp của đề tài được biểu hiện dưới dạng văn bản kiến nghị, công trình khoa học, các sản phẩm truyền thông góp phần giúp các cơ quan chính phủ thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước ở các vùng miền kinh tế địa lý đặc thù của đất nước
Kết quả nghiên cứu lý luận và điều tra khảo sát thực tiễn dưới dạng các báo cáo được sử dụng phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng mô hình triển khai thực địa và dự báo tình trạng tương lai cho các cơ quan Đảng và Nhà nước có liên quan: Ban Tuyên giáo, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Văn hóa-Du lịch-Thể thao
Phục vụ công tác thông tin tư liệu, tài liệu tham khảo, giảng dạy cho các trường đại học, viện nghiên cứu và thư viện
Trang 36Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Việc nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa của cư dân biển nói riêng là một chủ đề nghiên cứu khó Để vượt qua được những khó khăn
cơ bản trong nghiên cứu, những người thực hiện cần phải giải quyết được những vấn đề nhận thức chung về lý luận và phương pháp luận, xây dựng được một bộ khung tư duy nhằm định hướng cho những nghiên cứu, đặc biệt là quy chiếu vào những vấn đề phân tích thực tiễn
Dưới đây chúng tôi sẽ xin phép được đi sâu vào phân tích các khái niệm cơ bản của đề tài và một số lý thuyết đã được vận dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu Những khái niệm và lý thuyết được xem xét, phân tích và đối chiếu với những nhu cầu nghiên cứu thực tiễn và cụ thể
của đề tài Nhìn chung là nó đã được “đề tài hóa” cho phù hợp với nội
dung nghiên cứu
1 Các khái niệm
1.1 Cư dân
Cư dân gắn liền với khái niệm con người và phân tích trên phạm vi rộng,
là cộng đồng người sinh sống được xác định trên cơ sở của các yếu tố lịch sử, địa lý, quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, lao động sản xuất, nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, các mối quan hệ gia đình, xóm làng, giữa các nhóm
và tầng lớp xã hội trong những nét khái quát và tương đồng về văn hóa, giá trị
Với các đặc tính dân tộc và thời đại, đặc điểm của cư dân luôn chịu sự chi phối của phương thức sản xuất, trình độ phát triển chung và luôn biến đổi qua các thời kỳ lịch sử Thực tế cho thấy cấp độ biểu hiện chung nhất cư dân
là quốc gia như cư dân Việt Nam và cấp độ biểu hiện cụ thể gắn với vùng
Trang 37miền, và các nhóm xã hội Chúng ta có thể xác định đặc điểm cư dân miền Bắc, miền Trung, miền Nam, mà cũng có thể xác định cư dân vùng đồng bằng, vùng núi, vùng ven biển tùy theo từng tiêu chí và góc độ tiếp cận của những nét tương đồng và dị biệt văn hóa
1.2 Văn hóa
Văn hóa là một trong những khái niệm có nội hàm rộng lớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người và do vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau, tùy vào góc độ tiếp cận của người sử dụng và các ngành khoa học Ở Phương Tây, bản thân thuật ngữ văn hóa được hiểu theo nguồn gốc ngôn ngữ
La tinh cổ (colere) là trồng trọt và cầu cúng Ở phương Đông, chiết tự thuật
ngữ Văn hóa cũng khá tương đồng trong cách hiểu của phương Tây với sự biểu thị chung của hai vấn đề văn trị và giáo hóa
Từ điển bách khoa thư mở (Wikipedia) đã đưa ra khá nhiều những định nghĩa khác nhau về văn hóa Tiếp cận từ góc độ Nhân học theo Edward Burnett Tylor (1832 - 1917): “văn hóa hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học
là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”.1 Tiếp cận từ góc độ lịch
sử, Edward Sapir (1884 - 1939) cho rằng “ văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống” 2 Từ góc độ tâm lý học, William G Summer
(1840 - 1910), khẳng định văn hóa là : “Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa” 3 Cuối
cùng là các nhà xã hội học như William Isaac Thomas (1863 - 1947), “coi
1 http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a
2 http://vi.wikipedia.org sđd
3 http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a
Trang 38hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” 2
Có thế thấy, cho đến nay đã có hàng nghìn định nghĩa khác nhau về văn hoá Trong phạm vi của một đề tài nghiên cứu về văn hóa, chúng tôi tiếp cận khái niệm văn hóa thông qua những đặc trưng và thành tố cơ bản sau :
- Văn hóa thường gắn với lao động, nếp sinh hoạt, lối sống của con người biểu hiện qua phong cách ăn mặc, ăn uống, mối quan hệ ứng xử, niềm tin, giá trị, tri thức được tiếp nhận
- Văn hóa gắn với các loại hình nghệ thuật mang giá trị thẩm mỹ và sáng tạo như thơ ca, âm nhạc, phim ảnh, sân khấu
- Văn hóa là những giá trị vật chất (văn hóa vật thể) và tinh thần (văn hóa (phi vật thể) của con người và xã hội
- Văn hóa được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, một thiết chế kiểu mẫu và đặc thù trong mối tương quan với các thiết chế chính trị, kinh tế, pháp luật, xã hội…
- Văn hóa được biểu đạt thông qua hành vi của một cá nhân Đóng vai trò là thiết chế, văn hóa điều chỉnh các hành vi của con người theo khuôn mẫu của các nhóm xã hội và khuôn mẫu chung mà nền sản xuất xã hội quy định
1 http://vi.wikipedia.org, sđd
2 http://vi.wikipedia.org, sđd
Trang 39- Ở cấp độ vĩ mô, văn hoá biểu hiện dưới dạng chung nhất, phản ánh trình độ phát triển của cộng đồng, xã hội, văn hoá được hiểu với tư cách là nền văn hoá Ở cấp độ cụ thể, văn hoá mang sắc thái đặc thù của các nhóm riêng biệt, (lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ sản xuất, khu vực địa lý ) được hiểu là tiểu văn hoá Thực tế cho thấy tiểu văn hoá không hoàn toàn phủ nhận nền văn hoá mà tạo ra sự khác biệt Tuy nhiên số đông trong xã hội lại thiếu tin tưởng và ít thừa nhận tiểu văn hoá Thậm chí đôi khi nhóm tích cực tạo ra các chuẩn mực, giá trị đối lập với nền văn hoá chung bị coi là phản văn hoá
- Các nền văn hoá luôn vận động trong quá trình vừa học hỏi, xung đột, đấu tranh, vừa giao lưu, tiếp biến, chuyển hoá lẫn nhau, đây là hiện tượng thường xuyên và phổ biến nhất trong lịch sử loài người Lịch sử cũng chứng minh rằng những đặc điểm văn hóa của một cộng đồng luôn biến đổi
và phát triển liên tục thông qua các mối quan hệ nội tại (sự biến đổi của các
mô hình tương tác, giao lưu và tiếp biến văn hóa) và quan hệ bên ngoài giữa các nền văn hóa, giữa các tiểu văn hóa hay giữa tiểu văn hóa và văn hóa chung
- Trong tiếp cận Nhân học và Xã hội học, văn hóa gồm tất cả mọi thứ liên quan đến cuộc sống vốn có của con người, trong đó con người kiến tạo
ra những thành tố cơ bản của văn hóa bao gồm ngôn ngữ, giao tiếp, biểu ợng, giá trị, chuẩn mực đồng thời chính con người hàng ngày chịu sự tác động và chi phối của các thành tố này
tư-1.3 Quan hệ giữa cư dân và văn hóa
Cư dân và văn hóa phản ánh mối quan hệ của con người (theo nghĩa rộng) và những đặc điểm văn hóa được xác định gắn liền với đặc điểm cư dân, chi phối cho những nhận thức và hành vi cộng đồng Thực tế cho thấy, con người trong mọi hoàn cảnh luôn là chủ thể kiến tạo và làm thay đổi về những đặc điểm trong nền văn hóa chung của mình Tuy nhiên, không phải
Trang 40hành vi nào của con người cũng góp phần tạo ra văn hóa Nói một cách khác trong quá trình đấu tranh để phát triển và hoàn thiện, con người cũng có thể phải trả giá với văn hóa khi chính họ là chủ thể đóng góp những hành vi phản văn hóa, phản phát triển và tiến bộ xã hội
Bên cạnh đó, với chức năng chịu sự điều chỉnh của mọi thiết chế xã hội, cụ thể là thiết chế văn hóa, con người luôn được xem là khách thể của mọi quá trình tương tác văn hóa Con người bị chi phối bởi những khuôn mẫu trong nền văn hóa do bản thân họ và cộng đồng đóng góp và sáng tạo ra, buộc phải kiểm soát và điều chỉnh cho những nhận thức và hành vi liên quan đến văn hóa
Mối quan hệ giữa con người và văn hóa là mối quan hệ động, biện chứng, không ngừng biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, vừa đấu tranh vừa thỏa hiệp theo một nguyên lý: con người nằm trong văn hóa và bản thân văn hóa cũng được thể hiện qua chính những hành vi cụ thể của con người Điều quan trọng chính ở chỗ mối quan hệ này phải được xem xét trong bối cảnh của tình huống cụ thể, lấy nguyên lý phát triển, nguyên lý về sự tiến bộ xã hội, giá trị đạo đức nhân văn làm nền tảng cơ sở cho những phân tích cấu trúc về mối quan hệ này và xa hơn đánh giá, nhận định của từng góc độ khoa học
Quan hệ giữa cư dân và văn hóa cũng chịu sự tác động của những nhân
tố bên ngoài, có thể thay đổi theo từng loại hình xã hội và ở từng giai đoạn khác nhau của sự phát triển Những yếu tố tác động đến quan hệ cư dân và văn hóa trong thời đại ngày nay phải được phân tích trong phạm vi tác động
đa dạng và nhiều chiều của các nhân tố như : kinh tế thị trường, cách mạng công nghệ, sự bùng nổ thông tin, truyền thông, toàn cầu hóa và khu vực hóa,
sự tôn trọng và đa dạng văn hóa, các nền văn hóa truyền thống
2 Những lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đề tài
2.1 Thuyết đối thoại, hòa đồng và tương tác văn hoá
Thuyết đối thoại văn hóa cho phép chúng ta nghiên cứu đặc điểm của
cư dân và văn hóa biển như là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa