Tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tội phạm học Đề cương nghiên cứu Tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương. 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 được coi là: “Đại hội đổi mới tư duy”(1), tạo nền thuận lợi cho các kỳ đại hội sau này, đã đề ra đường lối đổi mới đất nước một cách toàn diện, sâu sắc. Đại hội xác định xoá bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước. Nhờ đó mà trong những năm tiếp theo đất nước ta không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội… Trong công cuộc đổi mới của đất nước, không chỉ thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh….mà còn không ngừng phấn đấu phát triển để trở thành những trung tâm kinh tế, văn hóa của đất nước, trong đó có tỉnh Hải Dương. Hải Dương nằm trong khu vực đồng bằng sông hồng, với diện tích 1648,4km2, dân số 1.711.400 người. Là nơi có nền kinh tế đang phát triển, nơi giao lưu của những trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng nên Hải Dương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng kéo theo những tiêu cực đáng kể. Đó là sự thiếu kinh nghiệm, kém ổn định của trật tự kỷ cương xã hội. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm phát sinh, phát triển, gây cản trở cho sự phát triển của đất nước, trong đó phải kể đến nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Điển hình trong nhóm tội phạm này là tội chống người thi hành công vụ. Loại tội phạm này đang diễn ra với quy mô rộng ở khắp nơi trên toàn quốc.Trong đó có tỉnh Hải Dương. Tại địa bàn tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây, diễn biến của loại tội phạm này hết sức phức tạp, tính chất và mức độ của tội phạm ngày càng nghiêm trọng, gây nguy hại to lớn cho ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, của nhân viên cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong thời gian qua, việc nghiên cứu tội chống người thi hành công vụ được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Tác giả Hoàng Yến với đề tài luận văn thạc sĩ “tội chống người thi hành công vụ, thực trạng, nguyên nhân, giải pháp” năm 1997; tác giả Lê Thế Tiêm với đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học “đấu tranh phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ” năm 1994; tác giả Trần Thu Hường với đề tài khoá luận tốt nghiêp đại học “tội chống người thi hành công vụ theo Bộ Luật hình sự 1999 và đấu tranh phòng chống tội phạm này trên địa bàn Hà Nội” năm 2001…. Tội chống người thi hành công vụ cũng được đề cập trong các văn bản quan trọng của nhà nước như: Bộ luật hình sự 1985; Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết 04HĐTP ngày 29111986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985, báo cáo tổng kết ngành toà án. Ngoài ra, tội chống người thi hành công vụ còn được đề cập trong giáo trình giảng dạy luật hình sự của các trường Đại học: Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học Quốc Gia Hà Nội và trong các bài viết của tác giả được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành: Tạp chí luật học, Tạp chí toà án nhân dân, Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân… Các công trình nghiên cứu trên đã có nhiều đóng góp cho việc làm sáng rõ dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ, tình hình tội phạm này trên đia bàn toàn quốc nói chung và ở thủ đô Hà Nội nói riêng. Là sinh viên chuyên ngành hình sự, em cũng muốn được tìm hiểu, nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ, cụ thể ở khía cạnh dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ theo pháp luật hiện hành, thực trạng, nguyên nhân, điều kiện và giải pháp đấu tranh phòng chống tội này trên địa bàn tỉnh Hải Dương, với mong muốn được đóng góp vốn kiến thức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu nghiên cứu tội chống người thi hành công vụ. Bởi vậy em chọn đề tài “Tội chống người thi hành công vụ theo Bộ luật hình sự 1999 và đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương’’ làm đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học của mình. 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ, tìm ra những điểm khác biệt với một số hành vi cùng loại là dấu hiệu của một số tội danh khác, phân biệt giữa tội tội chống người thi hành công vụ và một số tội phạm có liên quan. Đồng thời đề tài đi vào phân tích thực trạng, lý giải nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương gắn liền với những đặc thù kinh tế, chính trị, xã hội ở đây. Từ đó đưa ra một số giải pháp phòng ngừa và chống tội phạm. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ theo quy định của Bộ luật hình sự 1999; thực trạng, nguyên nhân và điều kiện của tội chống người thi hành công vụ; một số giải pháp phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương. 4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tội chống người thi hành công vụ của đề tài là tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 và một số dấu hiệu của tội phạm này được quy định tại điều 93, Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, hoạt động của tội phạm trên địa bàn thành phố Hải Dương và đấu tranh phòng chống tội phạm này từ năm 2002 đến nay. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả khoá luận tốt nghiệp đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp thống kê hình sự, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích các luận cứ khoa học để làm sáng tỏ vấn đề được nghiên cứu. 5. Kết cấu của khoá luận Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn khoá luận được chia thành 3 chương: Chương I: Dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ theo Bộ luật hình sự 1999 Chương II: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm chống người thi hành công vụ. Chương III: Một số giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương. CHƯƠNG I TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ VÀ DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI NÀY THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 1. Khái niệm tội chống người thi hành công vụ Trong Bộ luật hình đầu tiên của nước ta năm 1985, tội chống người thi hành công vụ được quy định tại chương VIII: Các tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính, mục C, Điều 205 như sau: “Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và điều 109, hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác…” Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 đã quy định tội chống ngư¬ời thi hành công vụ tại Điều 257, chương XX: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Bộ luật hình sự 1999 quy định nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính thành một chương riêng là sửa đổi mang tính tích cực so với Bộ luật hình sự 1985. Việc quy định như vậy đã cụ thể hơn, rõ ràng hơn, thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm của các tội phạm này, từ đó đề ra đường lối xử lý phù hợp hơn, tương ứng với tính chất của nhóm tội phạm. Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 quy định: 1. “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”… Qua đó, có thể hiểu tội chống ng¬ười thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ cũng như ép buộc họ phải thực hiện hành vi trái pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội. Từ khi Bộ luật hình sự 1999 được ra đời đến nay chưa có văn bản ban hành kèm theo nào hướng dẫn áp dụng tội chống ngư¬¬ời thi hành công vụ. Vì vậy, việc hướng dẫn áp dụng tội phạm này vẫn theo quy định của Nghị quyết 04 HĐTP ngày 29111986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985. Nội dung của Nghị quyết 04HĐTP quy định: “Công vụ là công việc mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện”. “Người thi hành công vụ là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là công dân được làm nhiệm vụ tuần tra canh gác… theo kế hoạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phục vụ lợi ích chung của nhà nước và xã hội như cán bộ thuế, cảnh sát, đội viên, dân phòng…” Hướng dẫn của nghị quyết đã chỉ ra dấu hiệu để xác định một người đang thi hành công vụ bao gồm: Có chức năng và quyền hạn hoặc do cơ quan nhà nước trao cho quyền hạn. Công việc đang thực hiện phải là công việc phục vụ lợi ích chung của nhà nước và xã hội. Đang thi hành công vụ Trên thực tế chúng ta có thể nhận biết được một người đang thi hành công vụ căn cứ vào các dấu hiệu rõ ràng về đồng phục đặc trưng của công vụ, giấy tờ hợp pháp, đeo phù hiệu hoặc thẻ nghề nghiệp… trong trường hợp không có những dấu hiệu đó thì người đang thi hành công vụ phải được mọi người hoặc ít nhất là người thực hiện hành vi phạm tội hoặc người phạm tội biết rõ tư cách của mình. Do vậy nghị quyết còn hướng dẫn “Người đang thi hành công vụ vì nghĩa vụ công dân (như đuổi bắt kẻ phạm tội đang chạy trốn) tuy không phải người thi hành công vụ nhưng nếu do công vụ mà bị giết thì họ có thể được hưởng các chính sách xã hội như đối với người thi hành công vụ”. Nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ, có một vấn đề cần được chú ý đến, cần được làm rõ. Đó là có những trường hợp hành vi chống người thi hành công vụ không cấu thành tội chống người thi hành công vụ mà có thể cấu thành tội khác hoặc chỉ bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng cũng có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử lý về mặt hành chính. ở đây việc làm rõ khi nào hành vi chống người thi hành công vụ không cấu thành tội chống người thi hành công vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đường lối xử lý đối với người có hành vi này. Trên thực tế, có những trường hợp một người tuy được giao thực hiện công vụ, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định nhưng đã vượt quá giới hạn được giao dẫn đến việc xâm phạm từ phía người khác. Cũng có trường hợp người thi hành công vụ đã không thực hiện đúng, không thực hiện đầy đủ công việc được giao, thậm chí họ còn làm trái công vụ đó, lợi dụng tính chất công quyền của công vụ để sử dụng vào mục đích tư lợi, gây phương hại đến quyền lợi của người khác, dẫn đến ự phản ứng trở lại từ phía người đó và hậu quả là người được giao nhiệm vụ không hoàn thành được công vụ. Trong trường hợp đó thi thành vi gọi là chống người thi hành công vụ có thể không cấu thành tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự 1999. 2. Dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ theo bộ luật hình sự 1999 2.1. Khách thể của tội chống người thi hành công vụ Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Tội chống người thi hành công vụ là một trong những tội xâm phạm đến hoạt động bình thường của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Do vậy, nhóm các quan hệ xã hội bị hành vi chống người thi hành công vụ xâm hại là các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính. Đó có thể là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhưng cũng có thể là các quan hệ hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chức năng, nhiệm vụ của mình, hay các quan hệ phát sinh trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong những trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. Ví dụ: quan hệ phát sinh trong lĩnh vực giữ gìn trật tự đường phố trên địa bàn các xã, phường mà nhà nước trao cho các đội quản lý trật tự, tổ dân phòng quản lý. Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể bị hành vi phạm tội tác động của tội chống người thi hành công vụ là người thi hành công vụ. Trong thực tiễn, tội phạm thường có hành vi chống người thi hành công vụ là cán bộ thuế vụ, cảnh sát giao thông, đội viên dân phòng, cán bộ công an, kiểm sát, toà án và các cán bộ chính quyền địa phương khác. 2.2. Mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ Mặt khách quan của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Thông qua những biểu hiện đó mà con người có thể trực tiếp nhận biết được tội phạm. Đó là: Hành vi nguy hiểm cho xã hội Hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả. Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Thời gian, địa điểm…) và công cụ, phương tiện, thủ đoạn… Theo Điều 257 Bộ luật hình sự 1999, hành vi chống người thi hành công vụ được biểu hiện tập trung ở những dạng hành vi sau: Hành vi dùng vũ lực chống người thi hành công vụ Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ là hành vi dùng sức mạnh vật chất tấn công người đang thi hành công vụ nhằm cản trở người thi hành công vụ. Hành vi dùng vũ lực có thể bằng chân, tay để đấm, đá, trói hoặc cũng có thể thông qua công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội như:Con dao, cây gậy… Ví dụ: Khoảng 23 giờ ngày 632003 Nguyễn Quang Hà, Trần Việt Hùng, Nguyễn Công Hoàng, Vũ Đức Hoài đang tiêm chích ma tuý tại nhà Hoài. Thấy công an đẩy cửa xông vào hô bắt. Hoàng đã lấy cây gậy ở góc nhà quật vào người một đồng chí công an rồi đẩy đồng chí này ngã rồi định bỏ chạy nhưng đã bị đồng chí đó túm chân lại và bị bắt giữ. Qua diễn biến các tình tiết vụ án trên có thể thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự Hoàng về tội chống người thi hành công vụ là có căn cứ. Xem xét những biểu hiện chống đối của Hoàng, có thể thấy hành vi của y đã dùng vũ lực chống lại người đang thi hành công vụ. Hoàng biết rõ công an huyện đang thực hiện việc bắt quả tang đối với mình nhưng vẫn có hành vi chống đối: Dùng gậy quật vào người và đẩy ngã một đồng chí công an để chạy trốn. Hành vi đe doạ dùng vũ lực chống lại người đang thi hành công vụ “Hành vi đe doạ dùng vũ lực chống lại người thi hành công vụ là việc dùng cử chỉ, lời nói có tính răn đe, uy hiếp tinh thần khiến cho người thi hành công vụ sợ hãi phải chấm dứt việc thi hành công vụ….sự đe doạ là thực tế và có cơ sở để người bị đe doạ tin rằng lời đe doạ sẽ biến thành hiện thực”(1) Ví dụ: Sáng ngày 342004, Đỗ Văn Quang sau khi trộm cắp được một bọc áo tại 1 quầy hàng bán quần áo tại chợ Sen, Chí Linh, Hải Dương. Anh Ngô Quân Bình cán bộ quản lý kiêm bảo vệ chợ Sen có mặt tại đó đã đề nghị Quang về trụ sở công an huyện để giải quyết. Quang rút dao ra tiến lại gần anh Bình. Anh Bình bỏ chạy, Quang đuổi theo và doạ sẽ đâm anh Bình nếu còn quay lại. Được sự giúp đỡ của đông đảo mọi người ở chợ, anh Bình không bị Quang đuổi tiếp, y đã bị mọi người giữ lại và lấy được con dao(2). Qua vụ án trên cho thấy việc Quang cầm dao đuổi theo và doạ đâm anh Bình khiến anh Bình hoàn toàn có căn cứ để tin rằng việc đe doạ trên sẽ trở thành hiện thực, sự chống đối của Quang mang tính chất quyết liệt khiến cho anh Bình đã không thực hiện được nhiệm vụ của mình là bảo vệ trật tự trong chợ. Trong tội chống người thi hành công vụ, hành vi đe doạ dùng vũ lực có thể ngay tức khắc (như rút dao dí vào cổ cán bộ chiến sĩ công an và yêu cầu nếu mọi người khác không tránh ra cho người đó chạy thì người đó sẽ đâm chiến sĩ công an này) nhưng cũng có thể có khảng cách về mặt thời gian như ví dụ trích từ bản án số 1210 ngày 20112004 của TAND TP Hải Dương. ở ví dụ này, sức mãnh liệt của sự đe doạ chưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị đe doạ. Người bị đe doạ còn có điều kiện để suy nghĩ cân nhắc và quyết định hành động. Hành vi ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật là hành vi chống chế người thi hành công vụ phải làm những việc trái với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ (như: buộc phải trả lại tang vật phạm pháp, huỷ hoá đơn xử phạt) hoặc không làm những việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ (như: Để xe chở hàng lậu đi qua trạm gác…) Trên thực tế, biểu hiện của hành vi ép buộc này thường là sử dụng những thông tin có ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người thi hành công vụ như bí mật đời tư hoặc có thể là hành vi vi phạm pháp luật của người đang thi hành nhiệm vụ…nếu như người bị đe doạ (người thi hành công vụ) không thoả mãn yêu cầu của người kia đưa ra nhằm giúp cho người đó thực hiện hành vi trái pháp luật như: không thực hiện việc xử lý vi phạm, xử lý các hành vi vi phạm ở mức độ thấp, không thực hiện nghĩa vụ mà người thi hành công vụ phải thực hiện và có điều kiện để thực hiện. Ví dụ: Chiều ngày 282005 sau khi phát hiện một xe chở gỗ trái phép, hai đồng chí cán bộ kiểm lâm Hải Dương đã kịp thời đuổi theo và ngăn lại, yêu cầu đưa xe về trụ sở cơ quan Kiểm lâm làm việc để kiểm tra và xử lý. Chủ hàng là Hoàng Văn Tuấn rút tiền ra mua chuộc nhưng không được. Sau đó Tuấn rút tiền trong cặp ra một tấm ảnh trong đó có ảnh hai đồng chí cán bộ kiểm lâm này và đồng chí cán bộ kiểm lâm khác đang có những hành động không đẹp mắt với mấy cô tiếp viên trong một nhà hàng Karaoke và nói “nếu không để xe đi thì tập ảnh này sẽ được công bố trên báo của thành phố”. Trước lời đe doạ đó, hai đồng chí cán bộ kiểm lâm đã giải quyết cho xe chở gỗ của Tuấn đi và nhận lại tập ảnh. Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ Qua nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh các dạng hành vi chống người thi hành công vụ hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn khác nhau. Bởi vậy mà một điều luật trong phạm vi giới hạn của nó không thể liệt kê được đầy đủ tất cả thủ đoạn đó. Tuy nhiên, để đảm bảo việc xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, đặc biệt là hành vi phạm tội thì cần phải được quy định trong Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự vận động không ngừng của thế giới vật chất nói chung cũng như sự vận động của tội phạm nói riêng, các nhà làm luật đã đưa ra quy định chung có thể coi là một dạng của hành vi chống người thi hành công vụ: “Thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ”, để đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm trong thực tiễn. Đây là điểm mới bổ sung so với Bộ luật hình sự 1985 về cầu thành tội phạm nhằm mô tả bao quát đầy đủ hơn các dạng hành vi phạm tội trong thực tế. “Dùng thủ đoạn khác như các dạng hành vi đã phân tích ở trên nhưng không phải là nh ững hành vi đó. Ví dụ như: bôi nhọ, vu khống… (cởi bỏ quần áo trước người đang thi hành công vụ, vu khống cán bộ đòi hối lộ hay quan hệ tình dục, tự gây thương tích hoặc giả gây thương tích để vu khống cho cán bộ hành hung… hoặc sử dụng súc vật để cản trở việc thi hành công vụ như việc đuổi chó ra cắn chiến sĩ công an đến bắt người…) Ví dụ: Khoảng 17 giờ ngày 1652005, sau khi nhận được điện báo có vụ tiêm chích ma tuý tại nhà Nguyễn Thị Mai, xã X huyện Kim thành – Hải Dương, đồng chí Đỗ Văn Long trưởng công an huyện cùng ba đồng chí khác tiến hành bao vây bắt quả tang. Ba đồng chí kia ở ngoài canh trừng cửa trước, cửa sau, còn đồng chí Long vào trong. Thấy vậy, Mai chốt ngay cửa lại, tự cởi bỏ quần áo ôm chặt anh Long. Thị đã bị anh Long đẩy ngã, lập tức thị giở trò kêu la “có người cưỡng bức tôi”… Anh Long hô các chiến sĩ vào vây bắt. Nhân lúc đó bọn tiêm chích lẻn qua cửa sau chạy trốn.Nhưng sau khi bị đuổi đến cuối xã thì chúng bị bắt. Như ví dụ trên, ta có thể thấy rằng hành vi tự cởi bỏ quần áo trước mặt chiến sĩ công an đang thi hành nhiệm vụ (bắt quả tang ổ tiêm chích mà tuý) và ôm chặt chiến sĩ công an của Nguyễn Thị Mai đã khiến cho việc thi hành công vụ của các chiến sĩ công an gặp khó khăn. Qua thực tế, chúng ta có thể thấy thủ đoạn mà người thực hiện hành vi phạm tội rất phức tạp, đa dạng. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng những thủ đoạn đó phải thực sự làm cho người thi hành công vụ khó có khả năng thực hiện và hoàn thành được nhiệm vụ của mình, tránh trường hợp người phạm tội có những hành vi tác động nhưng không đủ khả năng cản trở người thi hành công vụ. Người thi hành công vụ vẫn khắc phục được tình trạng đó để hoàn thành công vụ. Nhưng họ đã lợi dụng sự việc đó để không thi hành đúng công vụ dẫn đến không hoàn thành được nhiệm vụ được giao, thì cần xem xét để xử lý hành vi đó của người thi hành công vụ. Nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng (như thiệt hại về tài sản hoặc làm cho uy tín của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội bị giảm sút) có thể bị xử lý về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 185 BLHS) Tóm lại, các dạng hành vi khách quan của tội chống người thi hành công vụ biểu hiện rất phức tạp trên thực tế. Việc xem xét để đánh giá đúng mức độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp xử lý khác nhiều khi rất khó khăn. Theo quy định tại Điều 257 khoản 1 Bộ luật hình sự tội phạm được coi là hoàn thành kể từ khi người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi kể trên. 2.3. Mặt chủ quan của tội chống người thi hành công vụ Xét về mặt lý luận thì tội phạm là một thể thống nhất giữa mặt chủ quan và khách quan. Mặt khách quan là biểu hiện bên ngoài của tội phạm mà ta có thể nhận biết được. Mặt chủ quan là biểu hiện tâm lý bên trong của người phạm tội. Với ý nghĩa là một mặt của hiện tượng thống nhất, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại độc lập mà nó luôn gắn liền với măt khách quan của tội phạm. Thông qua mặt khách quan ta có thể đánh giá nhận biết được thái độ chủ quan của người phạm tội. Những hoạt động tâm lý đó bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Lý trí và ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện bên ngoài của tội phạm như thế nào (lỗi) Điều gì thúc đẩy người đó thực hiện hành vi phạm tội (động cơ) Người phạm tội nhằm đạt được điều gì qua việc thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội (mục đích) Trong các nội dung biểu hiện của mặt chủ quan thì lỗi là biểu hiện cơ bản được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Nó có ý nghĩa quyết định trong việc xác định trách nhiệm hình sự của một người. Mục đích và động cơ tuy là dấu hiệu của mặt chủ quan nhưng không phải là dấu hiệu của mặt chủ quan nhưng không phải luôn có ý nghĩa quyết định đối với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. ở tội chống người thi hành công vụ, động cơ và mục đích là dấu hiệu để phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác. Lỗi của người phạm tội Lỗi là trạng thái tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra, và được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý. Đối với tội chống người thi hành công vụ, lỗi được xác định trong măt chủ quan của cấu thành tội phạm là cố ý trực tiếp. Nghĩa là người phạm tội nhận thức được đầy đủ hành vi trái pháp luật của mình là đang chống lại người thi hành công vụ và mong muốn thực hiện việc chống lại này khiến cho người đang thi hành công vụ không hoàn thành công vụ được giao. Trong trường hợp người phạm tội không biết hoặc có nghi ngờ về tính hợp pháp của người đang thi hành công vụ thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định người đó có lỗi không. Tuy nhiên, việc xem xét nhận thức của người phạm tội trong những trường hợp này cần phải cẩn trọng. Bởi nhiều trường hợp người phạm tội tuy nhận thức được rõ ràng là người thi hành công vụ nhưng vẫn cố tình thể hiện là mình không biết. Ví dụ: Ngày 332005, sau khi nhận được lệnh bắt Trần Thanh Bình vì tội nhận hối lộ, ba đồng chí công an huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương thi hành lệnh bắt và mời công an xã chứng kiến. Khi đến nhà Bình đồng chí Nguyễn Văn Thịnh giới thiệu thành phần người có mặt thi hành lệnh bắt giam. Lúc đó Trương Thị Hải – vợ Bình chạy ra hô:“ối làng nước ơi công an bắt người vô cớ”. Ngay lúc đó bảy người hàng xóm chạy sang nhà Bình. Em trai Bình là Trần Thanh Trung đòi kiểm tra giấy tờ. Sau đó trung vò nát tập giấy tờ trong tay và nói “công an bắt người vô cớ, không có bằng chứng lại còn làm lệnh giả nữa, mọi người trói chúng lại đánh cho một trận”. Qua ví dụ trên, có thể thấy rõ ràng Hải, Trung nhận thức được đó là những người đang thi hành công vụ nhưng vấn cố tình giả vờ như không biết và thực hiện việc cản trở người thi hành công vụ, khiến cho các thời đã gây ra một dư luận xấu và gây mất trật tự trị an xã hội. Động cơ và mục đích của người phạm tội Động cơ của người phạm tội rất phong phú da dạng nhưng thường mang tính chất cá nhân, tư lợi, lợi ích có thể là vật chất cụ thể hoặc uy tín ảnh hưởng của cá nhân họ trước một bộ phận quần chúng, có thể cũng qua đó mà có được lợi ích vật chất. Người thực hiện hành vi phạm tội nhằm chống lại người đang thi hành công vụ để cản trở hoặc ép buộc người đó không thực hiện công vụ thì người này có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác. Ví dụ như dùng gậy đập vào đầu của người đang thi hành công vụ nhằm cướp tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản. Hoặc trường hợp người thực hiện tội phạm có hành vi chống lại nhân viên nhà nước, cán bộ chính quyền đang thi hành công vụ nhưng nhằm mục đích chống lại chính quyền nhân dân thì có thể phạm tội khủng bố hoặc tội phá rối an ninh. Như vậy, trong tội chống người thi hành công vụ, dấu hiệu mục đích trong mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội này một số tội khác. 2.4. Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Chủ thể của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 bộ luật hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản 1 là đến 3 năm tù. (Tội ít nghiêm trọng). Như vậy chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là người từ đủ 16 tuổi trở lên có NLTNHS và đã thực hiện hành vi quy định tại Điều 257 (hành vi chống người thi hành công vụ. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Theo nguyên tắc lãnh thổ quy định tại Điều 5 BLHS: “Bộ luật hình sự áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Do vậy khi người phạm tội không là công dân Việt Nam nhưng đã thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ trên lãnh thổ Việt Nam thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam. Trong trường hợp người nước ngoài phạm tội mà họ được hưởng các quyền miễn trừ tư pháp theo luật quốc tế thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo con đường ngoại giao. 3. Những tình tiết tăng nặng định khung quy định tại khoản 2 Điều 257 BLHS Bộ luật hình sự 1999 Điều 257 đã kế thừa tình tiết tăng nặng định khung “gây hậu quả nghiêm trọng” của Điều 205 Bộ luật hình sự 1985, đồng thời quy định thêm một số tình tiết tăng nặng định khung: “Phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần, xúi dục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; tái phạm nguy hiểm”, nhằm quy định một cách đầy đủ hơn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, từ đó đề ra mức hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội thực hiện. 3.1. Phạm tội có tổ chức Phạm tội có tổ chức là trường hợp phạm tội trong đó có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng phạm tội. Sự cấu kết ở đây thể hiện sự liên kết chặt chẽ về mặt chủ quan, sự phân hoá vai trò về mặt khách quan của những người phạm tội. Thậm chí ở đây còn có sự điều khiển chung thống nhất cho phép người phạm tội có điều kiện chuẩn bị tốt hơn về mọi mặt, có khả năng thực hiện tội phạm liên tục, lâu dài, cản trở triệt để hơn việc thi hành công vụ của người đang thi hành công vụ. Ví dụ: Ngày 1672003, công an thành phố Hải Dương đã truy bắt được một nhóm tội phạm gồm 7 tên, do Nguyễn Văn Khang cầm đầu. Theo kết quả điều tra của công an thành phố và lời khai của Khang: Nhóm tội phạm này được thành lập vào cuối năm 2002, tiến hành cướp tài sản 16 lần trong và ngoài tỉnh Hải Dương. Trước khi tiến hành cướp, bọn chúng đều vạch kế hoạch chu đáo, chuẩn bị kĩ lưỡng về công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian thực hiện tội phạm, có tới 4 lần bị công an, tổ trưởng tổ dân phố phát hiện kịp thời và tiến hành đuổi bắt. Nhưng do có sự thống nhất của chúng là nếu công an đuổi thì cứ phân tán chạy chốn, nếu bị cản thì đâm thẳng, nên lần thứ 4 này mới bị bắt. Trong 3 lần trước, khi bị công an đuổi bắt, chặn đường, chúng đã lao xe thẳng vào 2 đồng chí công an, dùng côn quật 1 đồng chí bị chấn thương sọ não và sau đó đã chết…. Như vậy, với sự câu kết chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo về phương thức chạy chốn…. Nhóm tội phạm này đã 4 lần tấn công, cản trở người thi hành công vụ, đến lần thứ 4 mới bị bắt. 3.2. Phạm tội nhiều lần Đây là trường hợp phạm tội mà trướ đó người này đã phạm tội đó ít nhất 1 lần nhưng chưa bị xét xử. Trong trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ nhiều lần, người phạm tội đã thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ từ 2 lần trở lên và chưa bị xét xử. Mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đó đều thoả mãn đầy đủ những dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Trở lại với ví dụ phần 1.3.1, ta nhận thấy rằng hành vi chống người thi hành công vụ xảy ra 4 lần và mỗi lần đều thoả mãn đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng chưa bị xét xử lần nào. Như vậy, nhóm tội phạm này đã phạm tội chống người thi hành công vụ theo điểm b khoản 2 Điều 257 Bộ luật Hình sự. 3.3. Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội Khác với trường hợp phạm tội có tổ chức, các vụ án này xảy ra không có tổ chức, phân công nhiệm vụ phạm tội. Những người phạm tội do thiếu hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật còn kém nên đã bị người khác xúi giục, kích động, lôi kéo và đã nảy sinh hành vi chống lại cán bộ và nhân viên thừa hành nhiệm vụ. Trong trường hợp này người phạm tội đã có những hành vi xúi giục, kích động đến người khác khiến người này phạm tội. Người phạm tội có thể xúi giục, nghĩ ra việc phạm tội, thúc đẩy cho tội phạm đó được thực hiện thông qua người khác nhằm thực hiện ý định phạm tội đã có. Sự xúi giục này được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn như lôi kéo, kích động, cưỡng ép, lừa dối. Việc xúi giục, kích động, lôi kéo có mức độ nghiêm trọng khác, tuỳ thuộc và một hoặc một số người nhất định và tuỳ và từng trường hợp. Ví dụ: Nguyễn Việt Thắng là chủ một xưởng gỗ tại xã B, huyện Nam Sách, Hải Dương. Xưởng gỗ đi vào hoạt động hơn 1 năm mà chưa có giấy phép hoạt động. Thắng đã thuê những thanh niên trong cùng thôn, xã làm việc cho mình. Ngày 17.6.2004, hai đồng chí cán bộ công an huyện Nam Sách đến đề nghị Thắng về trụ sở công an giải quyết. Thắng cho người gọi hàng xóm, người nhà của những người làm việc tại xưởng đến bảo là: “đã nộp đầy đủ thuế rồi mà công an còn đòi tiền thêm, đuổi đánh côn an đi”… Những người này do bị kích động, bị thắng lừa dói là “công an đến đòi tiền vô lý” nên đã đuổi đánh hai đồng chí công an huyện. Họ tưởng rằng việc “đòi tiền vô lí đó” nhằm làm cho xưởng gỗ hoạt động khó khăn, con em họ thất nghiệp, cậy quyền áp bức dân…. Hành vi kích động, lừa dối của Thắng không chỉ xâm hại đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, hoạt động công vụ của các chiến sĩ công an nhân dân mà còn xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ. Hành vi đó đã gây ra dư luận xấu, mất niềm tin vào pháp luật của quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. 3.4. Gây hậu quả nghiêm trọng Nghị quyết 04HĐTP ngày 29.11.1986 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Hậu quả nghiêm trọng có thể là người thi hành công vụ không hoàn thành được nhiệm vụ, việc chấp hành pháp luật ở địa phương hoặc khu vực trở nên lỏng lẻo, kẻ xấu lợi dụng cơ hội reo rắc dư luận ảnh hưởng xấu”. Ví dụ: Lê Ngọc Duy sau khi trộm cắp tài sản nhà chịNguyễn Thị Thu đã bị phát hiện và báo công an. Khi bị công an huyện Thanh Hà đuổi bắt, Duy đã chốn vào nhà chị gái là Lê Thị Minh. Minh mở cổng sau cho Duy chạy thoát và còn thả chó ngăn không cho các chiến sĩ công an vây bắt Duy. Đến 3 hôm sau Duy đã bị bắt. Như vậy, Minh đã biết hành vi giúp đỡ người phạm tội chạy chốn của mình là trái pháp luật, việc này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là người phạm tộ (Duy) đã chạy thoát, tới 3 ngày sau mới bị bắt, công an huyện đã không hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Bị cáo Lê Thị Minh bị kết án về tội chống người thi hành công vụ theo khoản 2 điểm b Điều 257 Bộ luật Hình sự. 3.5. Tái phạm nguy hiểm Điều 49 khoản 2 Bộ luật Hình sự 1999 quy định: “Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm”. a. Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. b. Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do ý. Theo qui định Khoản 2 Điều 257 Bộ luật Hình sự thì mức độ cao nhất của khung hình phạt trong trường hợp này chỉ là 7 năm tù (tội nghiêm trọng). Do đó việc xem xét có phải là tái phạm nguy hiểm tại điểm a khoản 2 Điều 49 sẽ không đặt ra. Như vậy, trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ với tình tiết tái phạm nguy hiểm có nghĩa là người phạm tội đã tái phạm về bất cứ tội gì, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội chống người thi hành công vụ. 4. Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với một số tội khác Khi nghiên cứu phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự 1999, ta có thể nhận thấy có một số tình tiết tăng nặng định khung ở một số tội có qui định đối tượng tác động của tội phạm là người thi hành công vụ như: Tội giết người (Điều 93), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104). Do vậy, ta có thể so sánh tội chống người thi hành công vụ (Điều 257) với các tội trên để làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lí của những tội này, thấy được vai trò vô cùng quan trọng của người thi hành công vụ vì lợi ích nhà nước, xã hội, giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. 4.1 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội giết người qui định tại điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự 4.1.1. Về khái niệm Theo nghiên cứu ở mục 1.1 về khái niệm tội chống người thi hành công vụ, tội chống người thi hành công vụ được hiểu là “hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật”. Điều 93 Bộ luật Hình sự không mô tả dấu hiệu cụ thể của tội giết người mà chỉ định danh. Tuy nhiên qua nghiên cứu và thực tiễn xét xử có thể định nghĩa “giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật” và trong trường hợp được quy định tại khoản 1 điểm d thì đối tượng tác động của tội phạm là người đang thi hành công vụ. 4.1.2. Về dấu hiện pháp lí + Khách thể: Như đã phân tích ở phần 2.1 khách thể của tội chống người thi hành công vụ là xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Còn khách thể tội giết người quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự là xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng con người. Đối tượng của tội phạm là người đang sống, đang tồn tại trong thể giới khách quan. Như vậy, khách thể và đối tượng tác động của tội giết người và tội chống người thi hành công vụ khác. Nhưng cũng có trường hợp người phạm tội không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người thi hành công vụ. Như vậy, chỉ với hành vi chống người thi hành công vụ, người phạm tội cùng một lúc đã xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Nếu người phạm tội giết người thi hành công vụ nhằm cản trở việc thi hành công vụ thì họ sẽ bị xử lí theo qui định tại Điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự , Vì như vậy mới phản ánh được đầy đủ bản chất và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. + Mặt khách quan: Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ, ta thấy hành vi khách quan của tội này rất phong phú và phức tạp, có thể là dùng vũ lực như đánh, đấm, bắt trói, hoặc đe doạ dùng vũ lực, thủ đoạn khác tác động đến người thi hành công vụ, thậm chí ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật với những công cụ phương tiện phạm tội khác nhau như vũ khí, tài liệu, ảnh, giấy tờ…. Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật gây ra cái chết cho con người với tư cách thực thể đang sống, đang tồn tại. Hành vi tước đoạt tính mạng có thể là dạng hành động như: đâm, chém, bắn… hoặc không hành động như: bác sĩ đã cố tình không cho bệnh nhân uống thuốc đã dã đến hậu quả là người bệnh tử vong. Nếu như ở tội chống người thi hành công vụ, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức là người thi hành công vụ không hoàn thành công việc mà mình được giao; thì ở tội giết người, hậu quả chết người là dấu hiện bắt buộc. Trường hợp không gây ra hậu quả chết người thì việc xác định tội danh sẽ tuỳ thuộc vào lỗi của người phạm tội trong mặt chủ quan của tội phạm và mức độ nghiêm trọng của hậu quả. + Mặt chủ quan ở cả tội giết người và tội chống người thi hành công vụ, người phạm tội đều có lỗi cố ý. ở tội chống người thi hành công vụ, lỗi được xác định là cố ý trực tiếp. Đối với tội giết người, lỗi cố ý ở đây có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Khi hậu quả chết người xảy ra ở tội giết người, việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội. Nhưng nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội. Nếu là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt. Còn nếu là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu thương tích xảy ra thoả mãn đòi hỏi của cấu thành tội phạm này). Như vậy, khi người phạm tội giết người thi hành công vụ nhưng hậu quả chết người không xảy ra thì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp cũng tương tự như trên đã phân tích. + Về chủ thể Trong tội chống người thi hành công vụ, chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, tức là từ đủ 16 tuổi trở lên.Còn trong tội giết người: chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên. Nhìn chung khi so sánh mức hình phạt của tội chống người thi hành công vụ và tội giết người cho ta thấy rằng mức hình phạt đối với tội giết người cao hơn so với tội chống người thi hành công vụ (tội giết người mức cao nhất là tử hình, tội chống người thi hành công vụ mức cao nhất là 7 năm tù) phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm. 4.2. Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác qui định tại điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự 4.2.1. Về khái niệm Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác. Tội chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ hoặc ép buộc họ phải thực hiện hành vi trái pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội. 4.2.2. Về dấu hiệu pháp lí + Khách thể: Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ. Theo giải thích của tổ chức y tế thế giới (WHO): Sức khoẻ là “tình trạng thoải mái của con người về thể lực, tinh thần và xã hội”. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được hiểu là làm biến đổi tình trạng thoải mái đó theo chiều hướng tiêu cực. Khách thể của tội chống người thi hành công vụ là trật tự quản lí hành chính Nhà nước. Có thể phân biệt rõ khách thể của hai tội phạm này. Tuy nhiên có trường hợp mỗi tội phạm này không chỉ xâm hại đến một quan hệ xã hội với tư cách là kháchthể trực tiếp của tội phạm mà còn có thể xâm hại đến những quan hệ xã hội khác. Ví dụ: Bằng hành vi chống người thi hành công vụ, người phạm tội đã gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người thi hành công vụ… Người phạm tội đã không chỉ xâm hại đến trật tự quả lí hành chính Nhà nước mà còn xâm phạm đến quyền cơ bản của con người. + Mặt khách quan: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích là hành vi có khả năng gây thương tích hoặc tổn thương khác làm tổn hại đến sức khoẻ của người khác. Người phạm tội có thể sử dụng dao, súng… Khi xâm phạm đến thân thể của người khác, người phạm tội có thể gây ra những vết thương ở phần mềm, gãy xương hoặc làm mất một phần cơ thể. Có trường hợp khi xâm phạm đến thân thể của nạn nhân, người phạm tội không gây ra thương tích nhưng để lại tổn hại cho sức khoẻ của họ. Ở tội chống người thi hành công vụ, hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện dưới dạng: Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ; Đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ; ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật; Thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ. Qua nghiên cứu cho thấy hành vi dùng vũ lực trong tội chống người thi hành công vụ cũng là một dạng của hành vi khách quan trong tội cố ý gây thương tích, bởi hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động đến người thi hành công vụ cũng chứa đựng khả năng gây tổn hại cho sức khoẻ của người đó. Trường hợp gây thương tật cho người thi hành công vụ thoả mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự, người phạm tội sẽ bị xử lí theo tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Về mặt hậu quả: Cũng như tội giết người, hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là dấu hiệu bắt buộc, còn trong tội chống người thi hành công vụ thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc. + Mặt chủ quan. Lỗi của người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác và lỗi của người chống người thi hành công vụ đều được xác định là lỗi cố ý. + Chủ thể: Chủ thể của tội phạm là người không thuộc những trường hợp được quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự, và đạt độ tuổi nhất định. Chủ thể của tội phạm chống người thi hành công vụ phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Còn chủ thể của tội cố ý gây thương tích phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên, hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên tuỳ thuộc người đó bị áp dụng khung hình phạt nào để quyết định hình phạt. 2.2.3. Về hình phạt Tội chống người thi hành công vụ có 2 khung hình phạt, khung cơ bản với mức hình phạt tới 3 năm từ, khung tăng nặng với mức cao nhất là 7 năm tù. Tội cố ý gây thương tích có 4 khung hình phạt, trong đó khung cơ bản cao nhất là phạt tù đến 3 năm, khung tăng nặng cao nhất là chung thân. Tóm lại, qua việc phân biệt tội chống người thi hành công vụ và một số tội phạm khác có liên quan như đã nêu ở trên, việc xác định mối liên hệ giữa các tội phạm này trong nhiều trường hợp là rất phức tạp và khó khăn. Do đó, khi xác định tội danh đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải nghiên cứu, đồng thời phải căn cứ đúng theo các dấu hiệu cấu thành của từng tội phạm cụ thể thì mới định tội danh một cách chính xác. 5. Đường lối xử lý đối với tội chống người thi hành công vụ Theo nguyên tắc xử lý tội phạm thì: “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật” nhằm không chỉ trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Xác định trách nhiệm pháp lí mà người đó “gánh vác” khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm này, qua đó bảo vệ và duy trì trật tự an toàn xã hội. Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định hai khung hình phạt: Khung cơ bản với mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến ba năm. Khung tăng nặng có mức hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Đối chiếu với hai khung hình phạt trên ta nhận thấy ở Điều 205 Bộ luật Hình sự 1985 quy định mức hình phạt đối với tội chống người thi hành công vụ có sửa đổi rõ ràng. Tội chống người thi hành công vụ ở cả hai bộ luật đều quy định hai khung hình phạt nhưng điểm mới cần nói ở đây là: Thứ nhất, Bộ luật Hình sự 1999 đã nâng mức hình phạt cải tạo không gian giữ (khoản 1 – khung cơ bản) từ 1 năm lên 3 năm để tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, và nhằm bảo đảm hiệu quả quá trình giáo dục của loại và mức hình phạt này. Đồng thời tại khoản 2 đã hạ mức tối đa của khung hình phạt từ 10 năm xuống còn 7 năm, tương ứng với mức độ thực tế của tội phạm. Thứ hai, Bộ luật hình sự 1999 đã bổ sung một số tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2 ngoài tình tiết phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng quy định trong Bộ luật Hình sự 1985. Đó là các tình tiết: Phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần; xúi giục lôi kéo, kích động người khác phạm tội; tái phạm nguy hiểm. Những tình tiết này thường hay gặp trong các vụ án chống người thi hành công vụ. Bởi vậy, Bộ luật Hình sự 1999 quy định bổ sung thêm các tình tiết này có ý nghĩa tích cực trong việc truy cứu đúng trách nhiệm hình sự người phạm tội, khắc phục những thiếu sót trong Bộ luật Hình sự 1985 về việc quy định tội chống người thi hành công vụ. CHƯƠNG II TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 1. Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương Tình hình phạm tội là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp, thay đổi theo quá trình lịch sử, được thể hiện ở tổng số tội phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định. Tình hình tội phạm được phản ánh thông qua các chỉ số về định lượng và định tính biểu thị qua các khái niệm: thực trạng, diễn biến, cơ cấu của tội phạm. Nếu như các chỉ số về định tính phản ánh nội dung của tình hình tội phạm thông qua cơ cấu, tính chất, thì các chỉ số về định lượng biểu thị thông quan thực trạng và diễn biến, tức là toàn bộ số tội phạm xảy ra và số đối tượng đó được xem xét trong sự vận động và biến đổi theo thời gian đối với từng vùng lãnh thổ hành chính hay trên phạm vi toàn quốc. 1.1. Thực trạng, diễn biến của tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn cả nước 1.1.1. Về số vụ và số người phạm tội Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ diễn ra thường xuyên, tuy không nhiềulắm so với các nhóm tội phạm khác nhưng loại phạm này xảy ra trên khắp địa bàn các tỉnh trong cả nước. Trong 5 năm, kể từ năm 2002 đến năm 2006, cả nước xảy ra 2837 vụ với 4731 bị cáo và ngày càng có xu hướng gia tăng cả về số vụ và số người phạm tội. Theo điều tra, nghiên cứu về tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn cả nước (từ 2002 đến 2006) đã tổng hợp được bảng số liệu sau: Năm Khởi tố Đề nghị truy tố Truy tố Xét xử số vụ bị can số vụ bị can số vụ bị can số vụ bị can 2002 572 941 532 833 517 796 505 764 2003 648 1037 602 950 600 936 593 921 2004 566 962 557 921 553 928 525 853 2005 660 1163 624 1131 619 1116 601 1093 2006 682 1118 619 1119 613 1087 613 1100 Tổng số: 3074 5241 2934 4954 2902 4863 2837 4731 (Nguồn: Phòng tổng hợp – TANDTC) Qua bảng số liệu trên ta thấy diễn biến của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trong những năm gần đây biến động phức tạp cả về quy mô số vụ và số người phạm tội, gây ra hậu quả cho xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nếu năm 2002 chỉ có 505 vụ phạm tội với 764 bị cáo bị xét xử về tội chống người thi hành công vụ, thì đến năm 2006 con số này thứ tự là 613 vụ và 1100 bị cáo. Qua con số này đã chứng minh số vụ phạm tội và số bị cáo phạm tội chống người thi hành công vụ trên phạm vi cả nước cứ năm sau cao hơn năm trước. Số lượng vụ phạm tội và số lượng người phạm tội chống người thi hành công vụ như đã nêu trên mới chỉ là con số cơ bản nhất, qua đó có thể thấy được tiến trình phát triển của loại tội này dưới góc độ thống kê hình sự. Do nhiều nguyên nhân nên số lượng thực tế của loại tội phạm này khó xác định chính xác. Và cũng do nhiều nguyên nhân mà việc xác định loại tội này gặp nhiều khó khăn. Đó là các trường hợp chống người thi hành công vụ nhưng bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc các biện pháp khác mà thống kê hình sự không thể ghi nhận. Hoặc cũng có trường hợp chống
Trang 1Tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 được coi là: “Đại hội đổi mới tưduy”(1), tạo nền thuận lợi cho các kỳ đại hội sau này, đã đề ra đường lối đổi mới đấtnước một cách toàn diện, sâu sắc Đại hội xác định xoá bỏ cơ chế kinh tế kế hoạchhoá tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước Nhờ đó mà trong những năm tiếp theođất nước ta không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá
xã hội…
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, không chỉ thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ ChíMinh….mà còn không ngừng phấn đấu phát triển để trở thành những trung tâmkinh tế, văn hóa của đất nước, trong đó có tỉnh Hải Dương
Hải Dương nằm trong khu vực đồng bằng sông hồng, với diện tích 1648,4km2, dân
số 1.711.400 người Là nơi có nền kinh tế đang phát triển, nơi giao lưu của nhữngtrung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng nên Hải Dương có nhiềuđiều kiện thuận lợi để phát triển các mặt của đời sống xã hội
Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng kéo theo những tiêu cựcđáng kể Đó là sự thiếu kinh nghiệm, kém ổn định của trật tự kỷ cương xã hội Đâychính là điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm phát sinh, phát triển, gây cản trởcho sự phát triển của đất nước, trong đó phải kể đến nhóm các tội xâm phạm trật tựquản lý hành chính Điển hình trong nhóm tội phạm này là tội chống người thi hànhcông vụ Loại tội phạm này đang diễn ra với quy mô rộng ở khắp nơi trên toànquốc.Trong đó có tỉnh Hải Dương
Trang 2Tại địa bàn tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây, diễn biến của loại tội phạmnày hết sức phức tạp, tính chất và mức độ của tội phạm ngày càng nghiêm trọng,gây nguy hại to lớn cho ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bìnhthường của các cơ quan nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, củanhân viên cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu tội chống người thi hành công vụ được rấtnhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Tác giả Hoàng Yến với đề tài luận văn thạc sĩ
“tội chống người thi hành công vụ, thực trạng, nguyên nhân, giải pháp” năm 1997;tác giả Lê Thế Tiêm với đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học “đấu tranh phòng chốngtội phạm chống người thi hành công vụ” năm 1994; tác giả Trần Thu Hường với đềtài khoá luận tốt nghiêp đại học “tội chống người thi hành công vụ theo Bộ Luậthình sự 1999 và đấu tranh phòng chống tội phạm này trên địa bàn Hà Nội” năm2001…
Tội chống người thi hành công vụ cũng được đề cập trong các văn bản quan trọngcủa nhà nước như: Bộ luật hình sự 1985; Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướngdẫn áp dụng một số quy định của phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985, báocáo tổng kết ngành toà án
Ngoài ra, tội chống người thi hành công vụ còn được đề cập trong giáo trình giảngdạy luật hình sự của các trường Đại học: Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại họcQuốc Gia Hà Nội và trong các bài viết của tác giả được đăng trên các tạp chí khoahọc chuyên ngành: Tạp chí luật học, Tạp chí toà án nhân dân, Tạp chí Viện kiểm sátnhân dân…
Các công trình nghiên cứu trên đã có nhiều đóng góp cho việc làm sáng rõ dấu hiệupháp lý của tội chống người thi hành công vụ, tình hình tội phạm này trên đia bàn
Trang 3toàn quốc nói chung và ở thủ đô Hà Nội nói riêng Là sinh viên chuyên ngành hình
sự, em cũng muốn được tìm hiểu, nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ,
cụ thể ở khía cạnh dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ theo phápluật hiện hành, thực trạng, nguyên nhân, điều kiện và giải pháp đấu tranh phòngchống tội này trên địa bàn tỉnh Hải Dương, với mong muốn được đóng góp vốnkiến thức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu nghiên cứu tội chống người thi hànhcông vụ Bởi vậy em chọn đề tài “Tội chống người thi hành công vụ theo Bộ luậthình sự 1999 và đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương’’làm đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học của mình
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lý của tội chống ngườithi hành công vụ, tìm ra những điểm khác biệt với một số hành vi cùng loại là dấuhiệu của một số tội danh khác, phân biệt giữa tội tội chống người thi hành công vụ
và một số tội phạm có liên quan
Đồng thời đề tài đi vào phân tích thực trạng, lý giải nguyên nhân và điều kiện củatình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương gắn liền vớinhững đặc thù kinh tế, chính trị, xã hội ở đây Từ đó đưa ra một số giải pháp phòngngừa và chống tội phạm
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hànhcông vụ theo quy định của Bộ luật hình sự 1999; thực trạng, nguyên nhân và điềukiện của tội chống người thi hành công vụ; một số giải pháp phòng chống loại tộiphạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tội chống người thi hành công vụ của đề tài là tộichống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 và một số dấu hiệu của
Trang 4tội phạm này được quy định tại điều 93, Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, hoạt độngcủa tội phạm trên địa bàn thành phố Hải Dương và đấu tranh phòng chống tội phạmnày từ năm 2002 đến nay
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả khoá luận tốt nghiệp đã sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp thống kê hình sự, phươngpháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích các luận cứkhoa học để làm sáng tỏ vấn đề được nghiên cứu
5 Kết cấu của khoá luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn khoá luậnđược chia thành 3 chương:
- Chương I: Dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ theo Bộ luậthình sự 1999
- Chương II: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm chống người thihành công vụ
- Chương III: Một số giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm chống người thihành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 5Trong Bộ luật hình đầu tiên của nước ta năm 1985, tội chống người thi hành công
vụ được quy định tại chương VIII: Các tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng vàtrật tự quản lý hành chính, mục C, Điều 205 như sau:
“Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụcũng như dùng mọi thủ đoạn ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếukhông thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và điều 109, hoặc gây tổn hại cho sứckhoẻ của người khác…”
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 đã quyđịnh tội chống ngư¬ời thi hành công vụ tại Điều 257, chương XX: Các tội xâmphạm trật tự quản lý hành chính Bộ luật hình sự 1999 quy định nhóm các tội xâmphạm trật tự quản lý hành chính thành một chương riêng là sửa đổi mang tính tíchcực so với Bộ luật hình sự 1985 Việc quy định như vậy đã cụ thể hơn, rõ ràng hơn,thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm của các tội phạm này, từ đó đề ra đường lối xử
lý phù hợp hơn, tương ứng với tính chất của nhóm tội phạm
Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 quy định:
1 “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trởngười thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vitrái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáutháng đến ba năm”…
Qua đó, có thể hiểu tội chống ng¬ười thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đedoạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụthực hiện công vụ của họ cũng như ép buộc họ phải thực hiện hành vi trái pháp luật,gây trở ngại cho hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước và tổ chức xãhội
Trang 6Từ khi Bộ luật hình sự 1999 được ra đời đến nay chưa có văn bản ban hành kèmtheo nào hướng dẫn áp dụng tội chống ngư¬¬ời thi hành công vụ Vì vậy, việchướng dẫn áp dụng tội phạm này vẫn theo quy định của Nghị quyết 04/ HĐTP ngày29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụngmột số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985.
Nội dung của Nghị quyết 04/HĐTP quy định:
“Công vụ là công việc mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho mộtngười thực hiện”
“Người thi hành công vụ là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước, tổchức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là công dânđược làm nhiệm vụ tuần tra canh gác… theo kế hoạch của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phục vụ lợi ích chung của nhà nước và xã hội như cán bộ thuế, cảnhsát, đội viên, dân phòng…”
Hướng dẫn của nghị quyết đã chỉ ra dấu hiệu để xác định một người đang thi hànhcông vụ bao gồm:
- Có chức năng và quyền hạn hoặc do cơ quan nhà nước trao cho quyền hạn
- Công việc đang thực hiện phải là công việc phục vụ lợi ích chung của nhà nước và
xã hội
- Đang thi hành công vụ
Trên thực tế chúng ta có thể nhận biết được một người đang thi hành công vụ căn
cứ vào các dấu hiệu rõ ràng về đồng phục đặc trưng của công vụ, giấy tờ hợp pháp,đeo phù hiệu hoặc thẻ nghề nghiệp… trong trường hợp không có những dấu hiệu đó
Trang 7thì người đang thi hành công vụ phải được mọi người hoặc ít nhất là người thựchiện hành vi phạm tội hoặc người phạm tội biết rõ tư cách của mình Do vậy nghịquyết còn hướng dẫn “Người đang thi hành công vụ vì nghĩa vụ công dân (như đuổibắt kẻ phạm tội đang chạy trốn) tuy không phải người thi hành công vụ nhưng nếu
do công vụ mà bị giết thì họ có thể được hưởng các chính sách xã hội như đối vớingười thi hành công vụ”
Nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ, có một vấn đề cần được chú ýđến, cần được làm rõ Đó là có những trường hợp hành vi chống người thi hànhcông vụ không cấu thành tội chống người thi hành công vụ mà có thể cấu thành tộikhác hoặc chỉ bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng cũng có thể không bị truy cứutrách nhiệm hình sự hay xử lý về mặt hành chính ở đây việc làm rõ khi nào hành vichống người thi hành công vụ không cấu thành tội chống người thi hành công vụ có
ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đường lối xử lý đối với người có hành vinày
Trên thực tế, có những trường hợp một người tuy được giao thực hiện công vụ, cóchức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định nhưng đã vượt quá giới hạn được giaodẫn đến việc xâm phạm từ phía người khác Cũng có trường hợp người thi hànhcông vụ đã không thực hiện đúng, không thực hiện đầy đủ công việc được giao,thậm chí họ còn làm trái công vụ đó, lợi dụng tính chất công quyền của công vụ để
sử dụng vào mục đích tư lợi, gây phương hại đến quyền lợi của người khác, dẫn đến
ự phản ứng trở lại từ phía người đó và hậu quả là người được giao nhiệm vụ khônghoàn thành được công vụ Trong trường hợp đó thi thành vi gọi là chống người thihành công vụ có thể không cấu thành tội chống người thi hành công vụ theo quyđịnh tại Điều 257 Bộ luật hình sự 1999
2 Dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ theo bộ luật hình sự 19992.1 Khách thể của tội chống người thi hành công vụ
Trang 8Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tộiphạm xâm hại.
Tội chống người thi hành công vụ là một trong những tội xâm phạm đến hoạt độngbình thường của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
Do vậy, nhóm các quan hệ xã hội bị hành vi chống người thi hành công vụ xâm hại
là các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính Đó có thể là các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạtđộng chấp hành, điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Nhưngcũng có thể là các quan hệ hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xâydựng và củng cố chức năng, nhiệm vụ của mình, hay các quan hệ phát sinh trongquá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt độngquản lý hành chính nhà nước trong những trường hợp cụ thể do pháp luật quy định
Ví dụ: quan hệ phát sinh trong lĩnh vực giữ gìn trật tự đường phố trên địa bàn các
xã, phường mà nhà nước trao cho các đội quản lý trật tự, tổ dân phòng quản lý
Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể bị hành vi phạm tội tácđộng của tội chống người thi hành công vụ là người thi hành công vụ Trong thựctiễn, tội phạm thường có hành vi chống người thi hành công vụ là cán bộ thuế vụ,cảnh sát giao thông, đội viên dân phòng, cán bộ công an, kiểm sát, toà án và các cán
bộ chính quyền địa phương khác
2.2 Mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặctồn tại bên ngoài thế giới khách quan Thông qua những biểu hiện đó mà con người
có thể trực tiếp nhận biết được tội phạm Đó là:
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả
Trang 9- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Thời gian, địađiểm…) và công cụ, phương tiện, thủ đoạn…
Theo Điều 257 Bộ luật hình sự 1999, hành vi chống người thi hành công vụ đượcbiểu hiện tập trung ở những dạng hành vi sau:
* Hành vi dùng vũ lực chống người thi hành công vụ
Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ là hành vi dùng sức mạnh vật chất tấncông người đang thi hành công vụ nhằm cản trở người thi hành công vụ Hành vidùng vũ lực có thể bằng chân, tay để đấm, đá, trói hoặc cũng có thể thông qua công
cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội như:Con dao, cây gậy… Ví dụ:
Khoảng 23 giờ ngày 6/3/2003 Nguyễn Quang Hà, Trần Việt Hùng, Nguyễn CôngHoàng, Vũ Đức Hoài đang tiêm chích ma tuý tại nhà Hoài Thấy công an đẩy cửaxông vào hô bắt Hoàng đã lấy cây gậy ở góc nhà quật vào người một đồng chí công
an rồi đẩy đồng chí này ngã rồi định bỏ chạy nhưng đã bị đồng chí đó túm chân lại
và bị bắt giữ
Qua diễn biến các tình tiết vụ án trên có thể thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sựHoàng về tội chống người thi hành công vụ là có căn cứ Xem xét những biểu hiệnchống đối của Hoàng, có thể thấy hành vi của y đã dùng vũ lực chống lại ngườiđang thi hành công vụ Hoàng biết rõ công an huyện đang thực hiện việc bắt quảtang đối với mình nhưng vẫn có hành vi chống đối: Dùng gậy quật vào người vàđẩy ngã một đồng chí công an để chạy trốn
*Hành vi đe doạ dùng vũ lực chống lại người đang thi hành công vụ
“Hành vi đe doạ dùng vũ lực chống lại người thi hành công vụ là việc dùng cử chỉ,lời nói có tính răn đe, uy hiếp tinh thần khiến cho người thi hành công vụ sợ hãi
Trang 10phải chấm dứt việc thi hành công vụ….sự đe doạ là thực tế và có cơ sở để người bị
đe doạ tin rằng lời đe doạ sẽ biến thành hiện thực”(1)
Ví dụ: Sáng ngày 3/4/2004, Đỗ Văn Quang sau khi trộm cắp được một bọc áo tại 1quầy hàng bán quần áo tại chợ Sen, Chí Linh, Hải Dương Anh Ngô Quân Bình cán
bộ quản lý kiêm bảo vệ chợ Sen có mặt tại đó đã đề nghị Quang về trụ sở công anhuyện để giải quyết Quang rút dao ra tiến lại gần anh Bình Anh Bình bỏ chạy,Quang đuổi theo và doạ sẽ đâm anh Bình nếu còn quay lại Được sự giúp đỡ củađông đảo mọi người ở chợ, anh Bình không bị Quang đuổi tiếp, y đã bị mọi ngườigiữ lại và lấy được con dao(2)
Qua vụ án trên cho thấy việc Quang cầm dao đuổi theo và doạ đâm anh Bình khiếnanh Bình hoàn toàn có căn cứ để tin rằng việc đe doạ trên sẽ trở thành hiện thực, sựchống đối của Quang mang tính chất quyết liệt khiến cho anh Bình đã không thựchiện được nhiệm vụ của mình là bảo vệ trật tự trong chợ
Trong tội chống người thi hành công vụ, hành vi đe doạ dùng vũ lực có thể ngay tứckhắc (như rút dao dí vào cổ cán bộ chiến sĩ công an và yêu cầu nếu mọi người kháckhông tránh ra cho người đó chạy thì người đó sẽ đâm chiến sĩ công an này) nhưngcũng có thể có khảng cách về mặt thời gian như ví dụ trích từ bản án số 1210 ngày20/11/2004 của TAND TP Hải Dương ở ví dụ này, sức mãnh liệt của sự đe doạchưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị đe doạ Người bị đe doạ còn
có điều kiện để suy nghĩ cân nhắc và quyết định hành động
* Hành vi ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật
ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật là hành vichống chế người thi hành công vụ phải làm những việc trái với chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của họ (như: buộc phải trả lại tang vật phạm pháp, huỷ hoá đơn xửphạt) hoặc không làm những việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ(như: Để xe chở hàng lậu đi qua trạm gác…)
Trang 11Trên thực tế, biểu hiện của hành vi ép buộc này thường là sử dụng những thông tin
có ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người thi hành công vụ như bímật đời tư hoặc có thể là hành vi vi phạm pháp luật của người đang thi hành nhiệmvụ…nếu như người bị đe doạ (người thi hành công vụ) không thoả mãn yêu cầu củangười kia đưa ra nhằm giúp cho người đó thực hiện hành vi trái pháp luật như:không thực hiện việc xử lý vi phạm, xử lý các hành vi vi phạm ở mức độ thấp,không thực hiện nghĩa vụ mà người thi hành công vụ phải thực hiện và có điều kiện
* Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ
Qua nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh các dạng hành vi chống người thi hànhcông vụ hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn khác nhau Bởi vậy mà một điều luậttrong phạm vi giới hạn của nó không thể liệt kê được đầy đủ tất cả thủ đoạn đó Tuynhiên, để đảm bảo việc xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, đặc biệt là hành
vi phạm tội thì cần phải được quy định trong Bộ luật hình sự và các văn bản hướngdẫn thi hành Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự vận độngkhông ngừng của thế giới vật chất nói chung cũng như sự vận động của tội phạmnói riêng, các nhà làm luật đã đưa ra quy định chung có thể coi là một dạng củahành vi chống người thi hành công vụ: “Thủ đoạn khác cản trở người thi hành công
Trang 12vụ thực hiện công vụ”, để đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm trong thực tiễn Đây làđiểm mới bổ sung so với Bộ luật hình sự 1985 về cầu thành tội phạm nhằm mô tảbao quát đầy đủ hơn các dạng hành vi phạm tội trong thực tế “Dùng thủ đoạn khácnhư các dạng hành vi đã phân tích ở trên nhưng không phải là nh
ững hành vi đó Ví dụ như: bôi nhọ, vu khống… (cởi bỏ quần áo trước người đangthi hành công vụ, vu khống cán bộ đòi hối lộ hay quan hệ tình dục, tự gây thươngtích hoặc giả gây thương tích để vu khống cho cán bộ hành hung… hoặc sử dụngsúc vật để cản trở việc thi hành công vụ như việc đuổi chó ra cắn chiến sĩ công anđến bắt người…) Ví dụ:
Khoảng 17 giờ ngày 16/5/2005, sau khi nhận được điện báo có vụ tiêm chích matuý tại nhà Nguyễn Thị Mai, xã X huyện Kim thành – Hải Dương, đồng chí Đỗ VănLong trưởng công an huyện cùng ba đồng chí khác tiến hành bao vây bắt quả tang
Ba đồng chí kia ở ngoài canh trừng cửa trước, cửa sau, còn đồng chí Long vàotrong Thấy vậy, Mai chốt ngay cửa lại, tự cởi bỏ quần áo ôm chặt anh Long Thị đã
bị anh Long đẩy ngã, lập tức thị giở trò kêu la “có người cưỡng bức tôi”… AnhLong hô các chiến sĩ vào vây bắt Nhân lúc đó bọn tiêm chích lẻn qua cửa sau chạytrốn.Nhưng sau khi bị đuổi đến cuối xã thì chúng bị bắt
Như ví dụ trên, ta có thể thấy rằng hành vi tự cởi bỏ quần áo trước mặt chiến sĩcông an đang thi hành nhiệm vụ (bắt quả tang ổ tiêm chích mà tuý) và ôm chặtchiến sĩ công an của Nguyễn Thị Mai đã khiến cho việc thi hành công vụ của cácchiến sĩ công an gặp khó khăn
Qua thực tế, chúng ta có thể thấy thủ đoạn mà người thực hiện hành vi phạm tội rấtphức tạp, đa dạng Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng những thủ đoạn đó phải thực sựlàm cho người thi hành công vụ khó có khả năng thực hiện và hoàn thành đượcnhiệm vụ của mình, tránh trường hợp người phạm tội có những hành vi tác độngnhưng không đủ khả năng cản trở người thi hành công vụ Người thi hành công vụvẫn khắc phục được tình trạng đó để hoàn thành công vụ Nhưng họ đã lợi dụng sựviệc đó để không thi hành đúng công vụ dẫn đến không hoàn thành được nhiệm vụ
Trang 13được giao, thì cần xem xét để xử lý hành vi đó của người thi hành công vụ Nếu gây
ra hậu quả nghiêm trọng (như thiệt hại về tài sản hoặc làm cho uy tín của cơ quannhà nước, tổ chức xã hội bị giảm sút) có thể bị xử lý về tội thiếu trách nhiệm gâyhậu quả nghiêm trọng (Điều 185 BLHS)
Tóm lại, các dạng hành vi khách quan của tội chống người thi hành công vụ biểuhiện rất phức tạp trên thực tế Việc xem xét để đánh giá đúng mức độ để truy cứutrách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp xử lý khác nhiều khi rất khó khăn.Theo quy định tại Điều 257 khoản 1 Bộ luật hình sự tội phạm được coi là hoànthành kể từ khi người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi kể trên
2.3 Mặt chủ quan của tội chống người thi hành công vụ
Xét về mặt lý luận thì tội phạm là một thể thống nhất giữa mặt chủ quan và kháchquan Mặt khách quan là biểu hiện bên ngoài của tội phạm mà ta có thể nhận biếtđược Mặt chủ quan là biểu hiện tâm lý bên trong của người phạm tội Với ý nghĩa
là một mặt của hiện tượng thống nhất, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại độclập mà nó luôn gắn liền với măt khách quan của tội phạm Thông qua mặt kháchquan ta có thể đánh giá nhận biết được thái độ chủ quan của người phạm tội Nhữnghoạt động tâm lý đó bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Lý trí và ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện bên ngoài của tội phạmnhư thế nào (lỗi)
- Điều gì thúc đẩy người đó thực hiện hành vi phạm tội (động cơ)
- Người phạm tội nhằm đạt được điều gì qua việc thực hiện hành vi gây nguy hiểmcho xã hội (mục đích)
Trong các nội dung biểu hiện của mặt chủ quan thì lỗi là biểu hiện cơ bản đượcphản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm Nó có ý nghĩa quyết định trong việc
Trang 14xác định trách nhiệm hình sự của một người Mục đích và động cơ tuy là dấu hiệucủa mặt chủ quan nhưng không phải là dấu hiệu của mặt chủ quan nhưng khôngphải luôn có ý nghĩa quyết định đối với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội củatội phạm ở tội chống người thi hành công vụ, động cơ và mục đích là dấu hiệu đểphân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác.
*Lỗi của người phạm tội
Lỗi là trạng thái tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội củamình và hậu quả do hành vi đó gây ra, và được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ýhoặc vô ý
Đối với tội chống người thi hành công vụ, lỗi được xác định trong măt chủ quan củacấu thành tội phạm là cố ý trực tiếp Nghĩa là người phạm tội nhận thức được đầy
đủ hành vi trái pháp luật của mình là đang chống lại người thi hành công vụ vàmong muốn thực hiện việc chống lại này khiến cho người đang thi hành công vụkhông hoàn thành công vụ được giao
Trong trường hợp người phạm tội không biết hoặc có nghi ngờ về tính hợp phápcủa người đang thi hành công vụ thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định người
đó có lỗi không Tuy nhiên, việc xem xét nhận thức của người phạm tội trongnhững trường hợp này cần phải cẩn trọng Bởi nhiều trường hợp người phạm tội tuynhận thức được rõ ràng là người thi hành công vụ nhưng vẫn cố tình thể hiện làmình không biết Ví dụ:
Ngày 3/3/2005, sau khi nhận được lệnh bắt Trần Thanh Bình vì tội nhận hối lộ, bađồng chí công an huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương thi hành lệnh bắt và mời công an
xã chứng kiến Khi đến nhà Bình đồng chí Nguyễn Văn Thịnh giới thiệu thành phầnngười có mặt thi hành lệnh bắt giam Lúc đó Trương Thị Hải – vợ Bình chạy rahô:“ối làng nước ơi công an bắt người vô cớ” Ngay lúc đó bảy người hàng xómchạy sang nhà Bình Em trai Bình là Trần Thanh Trung đòi kiểm tra giấy tờ Sau đó
Trang 15trung vò nát tập giấy tờ trong tay và nói “công an bắt người vô cớ, không có bằngchứng lại còn làm lệnh giả nữa, mọi người trói chúng lại đánh cho một trận”
Qua ví dụ trên, có thể thấy rõ ràng Hải, Trung nhận thức được đó là những ngườiđang thi hành công vụ nhưng vấn cố tình giả vờ như không biết và thực hiện việccản trở người thi hành công vụ, khiến cho các thời đã gây ra một dư luận xấu và gâymất trật tự trị an xã hội
*Động cơ và mục đích của người phạm tội
Động cơ của người phạm tội rất phong phú da dạng nhưng thường mang tính chất
cá nhân, tư lợi, lợi ích có thể là vật chất cụ thể hoặc uy tín ảnh hưởng của cá nhân
họ trước một bộ phận quần chúng, có thể cũng qua đó mà có được lợi ích vật chất
Người thực hiện hành vi phạm tội nhằm chống lại người đang thi hành công vụ đểcản trở hoặc ép buộc người đó không thực hiện công vụ thì người này có thể không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ mà bị truy cứutrách nhiệm hình sự về tội khác Ví dụ như dùng gậy đập vào đầu của người đangthi hành công vụ nhằm cướp tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướptài sản Hoặc trường hợp người thực hiện tội phạm có hành vi chống lại nhân viênnhà nước, cán bộ chính quyền đang thi hành công vụ nhưng nhằm mục đích chốnglại chính quyền nhân dân thì có thể phạm tội khủng bố hoặc tội phá rối an ninh
Như vậy, trong tội chống người thi hành công vụ, dấu hiệu mục đích trong mặt chủquan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội này một số tội khác
2.4 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luậthình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theoluật định Chủ thể của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm
Trang 16Tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 bộ luật hình sự có mức caonhất của khung hình phạt tại khoản 1 là đến 3 năm tù (Tội ít nghiêm trọng) Nhưvậy chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là người từ đủ 16 tuổi trở lên cóNLTNHS và đã thực hiện hành vi quy định tại Điều 257 (hành vi chống người thihành công vụ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội này
Theo nguyên tắc lãnh thổ quy định tại Điều 5 BLHS: “Bộ luật hình sự áp dụng đốivới mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Do vậy khi người phạm tội không là công dân Việt Nam nhưng đã thực hiện hành
vi chống người thi hành công vụ trên lãnh thổ Việt Nam thì phải chịu trách nhiệmhình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam Trong trường hợp người nước ngoài phạmtội mà họ được hưởng các quyền miễn trừ tư pháp theo luật quốc tế thì vấn đề tráchnhiệm hình sự của họ được giải quyết theo con đường ngoại giao
3 Những tình tiết tăng nặng định khung quy định tại khoản 2 Điều 257 BLHS
Bộ luật hình sự 1999 Điều 257 đã kế thừa tình tiết tăng nặng định khung “gây hậuquả nghiêm trọng” của Điều 205 Bộ luật hình sự 1985, đồng thời quy định thêmmột số tình tiết tăng nặng định khung: “Phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần, xúidục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; tái phạm nguy hiểm”, nhằm quy địnhmột cách đầy đủ hơn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, từ đó đề ra mức hìnhphạt tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội thực hiện.3.1 Phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là trường hợp phạm tội trong đó có sự cấu kết chặt chẽ giữanhững người cùng phạm tội Sự cấu kết ở đây thể hiện sự liên kết chặt chẽ về mặtchủ quan, sự phân hoá vai trò về mặt khách quan của những người phạm tội Thậmchí ở đây còn có sự điều khiển chung thống nhất cho phép người phạm tội có điều
Trang 17kiện chuẩn bị tốt hơn về mọi mặt, có khả năng thực hiện tội phạm liên tục, lâu dài,cản trở triệt để hơn việc thi hành công vụ của người đang thi hành công vụ Ví dụ:
Ngày 16/7/2003, công an thành phố Hải Dương đã truy bắt được một nhóm tộiphạm gồm 7 tên, do Nguyễn Văn Khang cầm đầu Theo kết quả điều tra của công
an thành phố và lời khai của Khang: Nhóm tội phạm này được thành lập vào cuốinăm 2002, tiến hành cướp tài sản 16 lần trong và ngoài tỉnh Hải Dương Trước khitiến hành cướp, bọn chúng đều vạch kế hoạch chu đáo, chuẩn bị kĩ lưỡng về công
cụ, phương tiện phạm tội, thời gian thực hiện tội phạm, có tới 4 lần bị công an, tổtrưởng tổ dân phố phát hiện kịp thời và tiến hành đuổi bắt Nhưng do có sự thốngnhất của chúng là nếu công an đuổi thì cứ phân tán chạy chốn, nếu bị cản thì đâmthẳng, nên lần thứ 4 này mới bị bắt Trong 3 lần trước, khi bị công an đuổi bắt, chặnđường, chúng đã lao xe thẳng vào 2 đồng chí công an, dùng côn quật 1 đồng chí bịchấn thương sọ não và sau đó đã chết…
Như vậy, với sự câu kết chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo về phương thức chạy chốn….Nhóm tội phạm này đã 4 lần tấn công, cản trở người thi hành công vụ, đến lần thứ 4mới bị bắt
3.2 Phạm tội nhiều lần
Đây là trường hợp phạm tội mà trướ đó người này đã phạm tội đó ít nhất 1 lầnnhưng chưa bị xét xử
Trong trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ nhiều lần, người phạm tội
đã thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ từ 2 lần trở lên và chưa bị xét
xử Mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đó đều thoả mãn đầy đủ những dấu hiệu củacấu thành tội phạm
Trang 18Trở lại với ví dụ phần 1.3.1, ta nhận thấy rằng hành vi chống người thi hành công
vụ xảy ra 4 lần và mỗi lần đều thoả mãn đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạmnhưng chưa bị xét xử lần nào
Như vậy, nhóm tội phạm này đã phạm tội chống người thi hành công vụ theo điểm
b khoản 2 Điều 257 Bộ luật Hình sự
3.3 Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội
Khác với trường hợp phạm tội có tổ chức, các vụ án này xảy ra không có tổ chức,phân công nhiệm vụ phạm tội Những người phạm tội do thiếu hiểu biết, ý thứcchấp hành pháp luật còn kém nên đã bị người khác xúi giục, kích động, lôi kéo và
đã nảy sinh hành vi chống lại cán bộ và nhân viên thừa hành nhiệm vụ
Trong trường hợp này người phạm tội đã có những hành vi xúi giục, kích động đếnngười khác khiến người này phạm tội Người phạm tội có thể xúi giục, nghĩ ra việcphạm tội, thúc đẩy cho tội phạm đó được thực hiện thông qua người khác nhằmthực hiện ý định phạm tội đã có Sự xúi giục này được thực hiện bằng nhiều thủđoạn như lôi kéo, kích động, cưỡng ép, lừa dối Việc xúi giục, kích động, lôi kéo cómức độ nghiêm trọng khác, tuỳ thuộc và một hoặc một số người nhất định và tuỳ vàtừng trường hợp
Ví dụ: Nguyễn Việt Thắng là chủ một xưởng gỗ tại xã B, huyện Nam Sách, HảiDương Xưởng gỗ đi vào hoạt động hơn 1 năm mà chưa có giấy phép hoạt động.Thắng đã thuê những thanh niên trong cùng thôn, xã làm việc cho mình Ngày17.6.2004, hai đồng chí cán bộ công an huyện Nam Sách đến đề nghị Thắng về trụ
sở công an giải quyết Thắng cho người gọi hàng xóm, người nhà của những ngườilàm việc tại xưởng đến bảo là: “đã nộp đầy đủ thuế rồi mà công an còn đòi tiềnthêm, đuổi đánh côn an đi”… Những người này do bị kích động, bị thắng lừa dói là
“công an đến đòi tiền vô lý” nên đã đuổi đánh hai đồng chí công an huyện Họ
Trang 19tưởng rằng việc “đòi tiền vô lí đó” nhằm làm cho xưởng gỗ hoạt động khó khăn,con em họ thất nghiệp, cậy quyền áp bức dân….
Hành vi kích động, lừa dối của Thắng không chỉ xâm hại đến hoạt động bìnhthường của cơ quan nhà nước, hoạt động công vụ của các chiến sĩ công an nhân dân
mà còn xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ Hành vi đó
đã gây ra dư luận xấu, mất niềm tin vào pháp luật của quần chúng nhân dân, gâymất trật tự trị an xã hội
3.4 Gây hậu quả nghiêm trọng
Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29.11.1986 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tốicao hướng dẫn: “Hậu quả nghiêm trọng có thể là người thi hành công vụ khônghoàn thành được nhiệm vụ, việc chấp hành pháp luật ở địa phương hoặc khu vực trởnên lỏng lẻo, kẻ xấu lợi dụng cơ hội reo rắc dư luận ảnh hưởng xấu”
Ví dụ: Lê Ngọc Duy sau khi trộm cắp tài sản nhà chịNguyễn Thị Thu đã bị pháthiện và báo công an Khi bị công an huyện Thanh Hà đuổi bắt, Duy đã chốn vàonhà chị gái là Lê Thị Minh Minh mở cổng sau cho Duy chạy thoát và còn thả chóngăn không cho các chiến sĩ công an vây bắt Duy Đến 3 hôm sau Duy đã bị bắt
Như vậy, Minh đã biết hành vi giúp đỡ người phạm tội chạy chốn của mình là tráipháp luật, việc này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là người phạm tộ (Duy) đã chạythoát, tới 3 ngày sau mới bị bắt, công an huyện đã không hoàn thành được nhiệm vụcủa mình Bị cáo Lê Thị Minh bị kết án về tội chống người thi hành công vụ theokhoản 2 điểm b Điều 257 Bộ luật Hình sự
3.5 Tái phạm nguy hiểm
Điều 49 khoản 2 Bộ luật Hình sự 1999 quy định:
Trang 20“Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm”.
a Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa đượcxoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý
b Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do ý
Theo qui định Khoản 2 Điều 257 Bộ luật Hình sự thì mức độ cao nhất của khunghình phạt trong trường hợp này chỉ là 7 năm tù (tội nghiêm trọng) Do đó việc xemxét có phải là tái phạm nguy hiểm tại điểm a khoản 2 Điều 49 sẽ không đặt ra
Như vậy, trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ với tình tiết tái phạmnguy hiểm có nghĩa là người phạm tội đã tái phạm về bất cứ tội gì, chưa được xoá
án tích mà lại phạm tội chống người thi hành công vụ
4 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với một số tội khác
Khi nghiên cứu phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự 1999, ta có thể nhận thấy
có một số tình tiết tăng nặng định khung ở một số tội có qui định đối tượng tác độngcủa tội phạm là người thi hành công vụ như: Tội giết người (Điều 93), tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104)
Do vậy, ta có thể so sánh tội chống người thi hành công vụ (Điều 257) với các tộitrên để làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lí của những tội này, thấy được vai trò vô cùngquan trọng của người thi hành công vụ vì lợi ích nhà nước, xã hội, giải quyết đúngđắn vụ án hình sự
4.1 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội giết người qui định tại điểm dkhoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự
4.1.1 Về khái niệm
Trang 21Theo nghiên cứu ở mục 1.1 về khái niệm tội chống người thi hành công vụ, tộichống người thi hành công vụ được hiểu là “hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũlực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ hoặc
ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật”
Điều 93 Bộ luật Hình sự không mô tả dấu hiệu cụ thể của tội giết người mà chỉđịnh danh Tuy nhiên qua nghiên cứu và thực tiễn xét xử có thể định nghĩa “giếtngười là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật” vàtrong trường hợp được quy định tại khoản 1 điểm d thì đối tượng tác động của tộiphạm là người đang thi hành công vụ
4.1.2 Về dấu hiện pháp lí
+ Khách thể:
Như đã phân tích ở phần 2.1 khách thể của tội chống người thi hành công vụ là xâmphạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước Còn khách thể tội giết người quyđịnh tại Điều 93 Bộ luật Hình sự là xâm phạm đến quyền được sống, quyền đượctôn trọng và bảo vệ về tính mạng con người Đối tượng của tội phạm là người đangsống, đang tồn tại trong thể giới khách quan
Như vậy, khách thể và đối tượng tác động của tội giết người và tội chống người thihành công vụ khác Nhưng cũng có trường hợp người phạm tội không chỉ xâmphạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước mà còn xâm phạm đến tính mạng,sức khoẻ của người thi hành công vụ
Như vậy, chỉ với hành vi chống người thi hành công vụ, người phạm tội cùng mộtlúc đã xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Nếu ngườiphạm tội giết người thi hành công vụ nhằm cản trở việc thi hành công vụ thì họ sẽ
Trang 22bị xử lí theo qui định tại Điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự , Vì như vậy mớiphản ánh được đầy đủ bản chất và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.+ Mặt khách quan:
Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ, ta thấy hành
vi khách quan của tội này rất phong phú và phức tạp, có thể là dùng vũ lực nhưđánh, đấm, bắt trói, hoặc đe doạ dùng vũ lực, thủ đoạn khác tác động đến người thihành công vụ, thậm chí ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật với những công
cụ phương tiện phạm tội khác nhau như vũ khí, tài liệu, ảnh, giấy tờ…
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của ngườikhác một cách trái pháp luật gây ra cái chết cho con người với tư cách thực thể đangsống, đang tồn tại Hành vi tước đoạt tính mạng có thể là dạng hành động như: đâm,chém, bắn… hoặc không hành động như: bác sĩ đã cố tình không cho bệnh nhânuống thuốc đã dã đến hậu quả là người bệnh tử vong
Nếu như ở tội chống người thi hành công vụ, hậu quả không phải là dấu hiệu bắtbuộc, tức là người thi hành công vụ không hoàn thành công việc mà mình đượcgiao; thì ở tội giết người, hậu quả chết người là dấu hiện bắt buộc Trường hợpkhông gây ra hậu quả chết người thì việc xác định tội danh sẽ tuỳ thuộc vào lỗi củangười phạm tội trong mặt chủ quan của tội phạm và mức độ nghiêm trọng của hậuquả
+ Mặt chủ quan
ở cả tội giết người và tội chống người thi hành công vụ, người phạm tội đều có lỗi
cố ý ở tội chống người thi hành công vụ, lỗi được xác định là cố ý trực tiếp Đốivới tội giết người, lỗi cố ý ở đây có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Khi hậu quả chếtngười xảy ra ở tội giết người, việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp không có
ý nghĩa trong việc định tội Nhưng nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì việc xác
Trang 23định lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội Nếu làlỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết ngườichưa đạt Còn nếu là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu thương tích xảy ra thoả mãn đòi hỏi củacấu thành tội phạm này).
Như vậy, khi người phạm tội giết người thi hành công vụ nhưng hậu quả chết ngườikhông xảy ra thì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp cũng tương tự nhưtrên đã phân tích
+ Về chủ thể
Trong tội chống người thi hành công vụ, chủ thể của tội phạm là người có năng lựctrách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, tức là từ đủ 16 tuổi trở lên.Còn trongtội giết người: chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên
Nhìn chung khi so sánh mức hình phạt của tội chống người thi hành công vụ và tộigiết người cho ta thấy rằng mức hình phạt đối với tội giết người cao hơn so với tộichống người thi hành công vụ (tội giết người mức cao nhất là tử hình, tội chốngngười thi hành công vụ mức cao nhất là 7 năm tù) phù hợp với tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm
4.2 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại đến sức khoẻ của người khác qui định tại điểm k khoản 1 Điều 104 Bộluật Hình sự
4.2.1 Về khái niệm
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi
cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổnthương khác
Trang 24Tội chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặccác thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ hoặc ép buộc họ phải thựchiện hành vi trái pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động bình thường của cơ quan nhànước và tổ chức xã hội.
Khách thể của tội chống người thi hành công vụ là trật tự quản lí hành chính Nhànước Có thể phân biệt rõ khách thể của hai tội phạm này Tuy nhiên có trường hợpmỗi tội phạm này không chỉ xâm hại đến một quan hệ xã hội với tư cách làkháchthể trực tiếp của tội phạm mà còn có thể xâm hại đến những quan hệ xã hộikhác Ví dụ: Bằng hành vi chống người thi hành công vụ, người phạm tội đã gâythương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người thi hành công vụ… Người phạmtội đã không chỉ xâm hại đến trật tự quả lí hành chính Nhà nước mà còn xâm phạmđến quyền cơ bản của con người
+ Mặt khách quan:
Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích là hành vi có khả năng gây thươngtích hoặc tổn thương khác làm tổn hại đến sức khoẻ của người khác Người phạmtội có thể sử dụng dao, súng… Khi xâm phạm đến thân thể của người khác, ngườiphạm tội có thể gây ra những vết thương ở phần mềm, gãy xương hoặc làm mất một
Trang 25phần cơ thể Có trường hợp khi xâm phạm đến thân thể của nạn nhân, người phạmtội không gây ra thương tích nhưng để lại tổn hại cho sức khoẻ của họ.
Ở tội chống người thi hành công vụ, hành vi khách quan của tội phạm được thể hiệndưới dạng: Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ; Đe doạ dùng vũ lực chốngngười thi hành công vụ; ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái phápluật; Thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ
Qua nghiên cứu cho thấy hành vi dùng vũ lực trong tội chống người thi hành công
vụ cũng là một dạng của hành vi khách quan trong tội cố ý gây thương tích, bởihành vi dùng sức mạnh vật chất tác động đến người thi hành công vụ cũng chứađựng khả năng gây tổn hại cho sức khoẻ của người đó Trường hợp gây thương tậtcho người thi hành công vụ thoả mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm quy địnhtại Điều 104 Bộ luật Hình sự, người phạm tội sẽ bị xử lí theo tội cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Về mặt hậu quả: Cũng như tội giết người, hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là dấu hiệu bắt buộc, còn trong tội chốngngười thi hành công vụ thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc
+ Mặt chủ quan
Lỗi của người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
và lỗi của người chống người thi hành công vụ đều được xác định là lỗi cố ý
+ Chủ thể:
Chủ thể của tội phạm là người không thuộc những trường hợp được quy định tạiĐiều 13 Bộ luật Hình sự, và đạt độ tuổi nhất định
Trang 26Chủ thể của tội phạm chống người thi hành công vụ phải là người từ đủ 16 tuổi trởlên Còn chủ thể của tội cố ý gây thương tích phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên,hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên tuỳ thuộc người đó bị áp dụng khung hình phạt nào đểquyết định hình phạt.
5 Đường lối xử lý đối với tội chống người thi hành công vụ
Theo nguyên tắc xử lý tội phạm thì: “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịpthời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật” nhằm không chỉ trừng trịngười phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành những công dân có ích cho xã hội.Xác định trách nhiệm pháp lí mà người đó “gánh vác” khi thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòng và chống tộiphạm này, qua đó bảo vệ và duy trì trật tự an toàn xã hội
Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định hai khung hình phạt:
Trang 27- Khung cơ bản với mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù
từ 6 tháng đến ba năm
- Khung tăng nặng có mức hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
Đối chiếu với hai khung hình phạt trên ta nhận thấy ở Điều 205 Bộ luật Hình sự
1985 quy định mức hình phạt đối với tội chống người thi hành công vụ có sửa đổi
rõ ràng Tội chống người thi hành công vụ ở cả hai bộ luật đều quy định hai khunghình phạt nhưng điểm mới cần nói ở đây là:
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự 1999 đã nâng mức hình phạt cải tạo không gian giữ(khoản 1 – khung cơ bản) từ 1 năm lên 3 năm để tương xứng với tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, và nhằm bảo đảm hiệu quả quá trình giáo dụccủa loại và mức hình phạt này Đồng thời tại khoản 2 đã hạ mức tối đa của khunghình phạt từ 10 năm xuống còn 7 năm, tương ứng với mức độ thực tế của tội phạm
Thứ hai, Bộ luật hình sự 1999 đã bổ sung một số tình tiết định khung tăng nặng ởkhoản 2 ngoài tình tiết phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng quy định trong Bộ luậtHình sự 1985 Đó là các tình tiết: Phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần; xúi giụclôi kéo, kích động người khác phạm tội; tái phạm nguy hiểm Những tình tiết nàythường hay gặp trong các vụ án chống người thi hành công vụ Bởi vậy, Bộ luậtHình sự 1999 quy định bổ sung thêm các tình tiết này có ý nghĩa tích cực trong việctruy cứu đúng trách nhiệm hình sự người phạm tội, khắc phục những thiếu sót trong
Bộ luật Hình sự 1985 về việc quy định tội chống người thi hành công vụ
Trang 28Tình hình phạm tội là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tínhgiai cấp, thay đổi theo quá trình lịch sử, được thể hiện ở tổng số tội phạm cụ thể đãxảy ra trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.
Tình hình tội phạm được phản ánh thông qua các chỉ số về định lượng và định tínhbiểu thị qua các khái niệm: thực trạng, diễn biến, cơ cấu của tội phạm Nếu như cácchỉ số về định tính phản ánh nội dung của tình hình tội phạm thông qua cơ cấu, tínhchất, thì các chỉ số về định lượng biểu thị thông quan thực trạng và diễn biến, tức làtoàn bộ số tội phạm xảy ra và số đối tượng đó được xem xét trong sự vận động vàbiến đổi theo thời gian đối với từng vùng lãnh thổ hành chính hay trên phạm vi toànquốc
1.1 Thực trạng, diễn biến của tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn cảnước
1.1.1 Về số vụ và số người phạm tội
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ diễn rathường xuyên, tuy không nhiềulắm so với các nhóm tội phạm khác nhưng loạiphạm này xảy ra trên khắp địa bàn các tỉnh trong cả nước Trong 5 năm, kể từ năm
2002 đến năm 2006, cả nước xảy ra 2837 vụ với 4731 bị cáo và ngày càng có xuhướng gia tăng cả về số vụ và số người phạm tội
Theo điều tra, nghiên cứu về tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn cảnước (từ 2002 đến 2006) đã tổng hợp được bảng số liệu sau:
Năm Khởi tố Đề nghị truy tố Truy tố Xét xử
số vụ bị can số vụ bị can số vụ bị can số vụ bị can
2002 572 941 532 833 517 796 505 764
Trang 29vụ, thì đến năm 2006 con số này thứ tự là 613 vụ và 1100 bị cáo Qua con số này đãchứng minh số vụ phạm tội và số bị cáo phạm tội chống người thi hành công vụ trênphạm vi cả nước cứ năm sau cao hơn năm trước.
Số lượng vụ phạm tội và số lượng người phạm tội chống người thi hành công vụnhư đã nêu trên mới chỉ là con số cơ bản nhất, qua đó có thể thấy được tiến trìnhphát triển của loại tội này dưới góc độ thống kê hình sự Do nhiều nguyên nhân nên
số lượng thực tế của loại tội phạm này khó xác định chính xác Và cũng do nhiềunguyên nhân mà việc xác định loại tội này gặp nhiều khó khăn Đó là các trườnghợp chống người thi hành công vụ nhưng bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặccác biện pháp khác mà thống kê hình sự không thể ghi nhận Hoặc cũng có trườnghợp chống người thi hành công vụ gây thương tích cho nạn nhân hoặc chết người,
do đó không bị xử lí về tội này mà bị xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khoẻ của người khác, hoặc tội giết người Ngoài ra còn có những trườnghợp chống người thi hành công vụ vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà không đượccác cơ quan chức năng thống kê
1.1.2 Về nhân thân người phạm tội
Trang 30Qua nghiên cứu về nhân thân người phạm tội chống người thi hành công vụ trênphạm vi cả nước trong 5 năm (2006- 2006) đã cho thấy:
1 Số người phạm tội là nữ giới chỉ chiếm khoảng 8%
2 Độ tuổi phạm tội chủ yếu từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỉ lệ khoảng 60%, tỉ lệ phạmtội từ trên 30 đến 45 tuổi chiếm khoảng gần 40%, còn lại số người phạm tội trên 45tuổi chiếm tỉ lệ nhỏ nhất, khoảng gần 10%
3 Tội phạm thuộc mọi tầng lớp và lứa tuổi Nhân dân lao động chiếm đa số, chiếmkhoảng 67%, chưa có việc làm ổn định 33%, có những người phạm tội đã từng làcán bộ lãnh đạo các cơ quan nhà nước, thậm chí một số người là đảng viên
4 Tỉ lệ tái phạm tội chiếm từ 26 đến 32%
5 Trình độ văn hoá: Từ phân tích trong 4731 người phạm tội chống người thi hànhcông vụ trong 2837 vụ phạm tội từ năm 2002 đến năm 2006 trong cả nước cho thấy:
- Số người không biết chữ chiếm: 6%
- Số người có trình độ văn hoá tiểu học: 22%
- Số người có trình độ văn hoá trung học cơ sở: 49%
- Số người có trình độ văn hoá trung học phổ thông: 24%
- Số người có trình độ văn hoá, đại học, cao đẳng, trên đại học: 8% (Nguồn: PhòngTổng hợp Toà án nhân dân tối cao)
1.2 Thực trạng, diễn biến của tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàntỉnh Hải Dương
Trang 31(Nguồn: Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương)
Qua số liệu về số vụ và số người phạm tội trong 5 năm (2002- 2006) đã cho thấy,tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã có sự tăng giảmkhông đồng đều cả về số vụ và số người phạm tội Nếu năm 2002 có 6 vụ và 7 bịcáo bị xét xử sơ thẩm về tội này, thì năm 2003 và các năm tiếp theo các con số nàythứ tự là 5 vụ và 7 bị cáo; năm 2004: 8 vụ, 11 bị cáo; năm 2005: 3 vụ và 16 bị cáo
và năm 2006 là 7 vụ với 11 bị cáo
Khi nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ trong phạm vi cả nước nóichung và trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, có thể nhận thấy rằng trong tổng số
3074 vụ phạm tội với 5241 bị can (từ năm 2002 đến năm 2006), thì Hải Dươngchiếm khoảng 1,17% số vụ phạm tội với 1,37% số bị can bị khởi tố Mặc dù số vụphạm tội bị khởi tố và số bị can bị khởi tố chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ so với cả nước nhưngtính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này gây ra là khôngnhỏ cho một địa phương như tỉnh Hải Dương
Trang 32Khi so sánh giữa tội chống người thi hành công vụ với tổng số các vụ phạm tội xảy
ra trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong 5 năm vừa qua (2002 – 2006) có thể nhậnthấy: Tội chống người thi hành công vụ chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với các tội phạmkhác Cụ thể là chỉ chiếm 0,77% số vụ phạm tội và 1,11% số bị can bị khởi tố
1.3 Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trênđịa bàn tỉnh Hải Dương
Thông qua các con số tuyệt đối và hệ số tỉ lệ của nó về số lượng vụ việc phạm tội và
số người phạm tội mới chỉ cho chúng ta thấy được phần “lượng” của tình hình tộiphạm Để thấy được phần “chất” của tình hình tội phạm thì cần phải đi vào nghiêncứu ở góc độ cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm, từ đó có thể đánh giá đượcđầy đủ tính chất là hiện tượng xã hội tiêu cực của tình hình tội phạm
Qua nghiên cứu thực tế các tội phạm chống người thi hành công vụ đã xảy ra trênđịa bàn tỉnh Hải Dương, cho thấy các hành vi phạm tội diễn ra ngày càng mở rộng
về quy mô và lĩnh vực chống đối như: Chống người thi hành công vụ khi giải quyếtcác tranh chấp mâu thuẫn trong quần chúng nhân dân, chống người thi hành công
vụ tiến hành đấu tranh chống các tội phạm kinh tế, trong khi truy bắt tội phạm hình
sự, truy bắt các tên lưu manh, côn đồ hung hãn… Những dạng hành vi này xảy rakhá thường xuyên, trên mọi lĩnh vực từ đó hình thành nên các “điểm nóng” nơi tậptrung cao độ mâu thuẫn, tranh chấp giữa nội bộ quần chúng nhân dân trong thời kỳđổi mới về gây rối trật tự cộng, chống người thi hành công vụ
Ở Hải Dương, hành vi chống người thi hành công vụ trong những năm vừa qua xảy
ra nhiều nhất trong lĩnh vực tranh chấp đất đai và tập trung chủ yếu ở các huyệnCẩm Giàng, Nam Sách, Tứ Kỳ, Chí Linh, Thanh Hà… hành vi chống người thihành công vụ này ban đầu thường là một người, một nơi, sau đó lôi kéo nhữngngười xung quanh hoặc những người từ nơi khác tham gia Những người tham giavào vụ phạm tội thường là những người thân thích của người phạm tội ban đầu (bố,
Trang 33mẹ, vợ chồng, con, anh em…) hoặc là những người có cùng quyền lợi và mục đíchcủa người phạm tội Những trường hợp khác tham gia vào vụ chống đối thường là
do bị xúi giục, lôi kéo, kích động
Cũng giống như các tội phạm có sử dụng vũ lực khác, tội phạm chống người thihành công vụ trên địa bàn Hải Dương cũng sử dụng các loại vũ khí để chống trả.Thậm chí thủ đoạn chống người thi hành công vụ ngày càng trở nên khó đối phóhơn Ví dụ như: trường hợp chiến sĩ cảnh sát khi đang truy bắt đối tượng phạm tộitiêm trích ma tuý có nhiễm HIV, tên này đã dùng kim vừa mới sử dụng của hắnchọc liên tục vào tay người chiến sĩ ấy hoặc có trường hợp dùng axit để tạt vào mặtcán bộ chiến sĩ thi hành công vụ
1.3.1 Nhân thân người phạm tội
Sau khi nghiên cứu, tổng hợp kết quả điều tra về thân nhân người phạm tội chốngngười thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy, người thực hiện hành
vi phạm tội bao gồm nhiều tầng lớp, lứa tuổi Qua phân tích số người phạm tội đượclấy từ 36 vụ phạm tội xảy ra từ năm 2002-2006, thì số người phạm tội là nhân dânlao động chiếm đa số Điều này phù hợp với tình hình chung của cả nước (khoảng70%) Ở Hải Dương, tội phạm chống người thi hành công vụ chủ yếu là nông dân
và những người lao động chưa có việc làm ổn định
Về giới tính, trong tổng số 72 người phạm tội trong 5 năm vừa qua, có 14 người là
nữ Giống như đa số các tội phạm khác, tỉ lệ tội phạm là nữ chiếm số lượng nhỏ hơnnam giới (chiếm 25% so với tổng số tội phạm chống người thi hành công vụ trong 5năm qua)
Về độ tuổi, cũng như tình hình tội phạm trong cả nước, tội phạm có độ tuổi từ 18đến 30 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (55,56% tổng số tội phạm) Tội phạm là người chưathành niên trong 5 năm vừa qua không có trong thống kê số liệu Tội phạm từ 30đến 45 tuổi chiếm 31,9%, tội phạm trên 45 tuổi chiếm số lượng ít (12,5%)