1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

58 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 613,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự giới thiệu của Ban giám hiệu, Bạn chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -  -

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -  -

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện chương trình đạo tạo Đại học thì quá trình thực tập tốt nghiệp được xem là khâu quan trọng giúp sinh viên củng cố kiến thức tiếp thu được trên giảng đường Đại học và cũng là cơ hội để sinh viên thử sức với công việc, va chạm với những tình huống không có trong sách vở, bớt đi sợ bỡ ngỡ khi ra trường

Được sự giới thiệu của Ban giám hiệu, Bạn chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu Bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện chợ đồn, tỉnh Bắc Kạn”

Có được kết quả như hôm nay tôi xin trân thành cảm ơn thầy giáo Th.s Nguyễn Văn Mạn và cô giáo Th.s Phạm Thu Hà là người đã tận tình giúp đỡ, dẫn dắt tôi suốt thời gian thực tập và viết khóa luân tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn sâu sắc các bác, các cô, các chú và các anh chi hiện đang công tác tại Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và cung cấp đầy đủ các số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài

Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập và trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp tôi đã cố gắng hết mình, nhưng do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Tôi rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến từ phía các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin trân thành cảm ơn ! Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2015

Sinh Viên

Ma Thanh Thuyết

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan

Thái Nguyên, 25 tháng 05 năm 2015

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước

Hội đồng khoa học

ThS Phạm Thu Hà Ma Thanh Thuyết

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót

sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(ký, ghi rõ họ tên)

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Dân số, dân tộc và tình trạng đói nghèo ở các xã xung quanh KBT 13

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2011 14

Bảng 2.3 Cây trồng ở vùng đệm 15

Bảng 2.4 Diện tích rừng khu bảo tồn phân theo trạng thái 20

Bảng 4.1 Công thức tổ thành cây tái sinh của tất cả các kiểu rừng trên núi đá tại Khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 27

Bảng 4.2 Mật độ cây tái sinh các kiểu rừng 29

Bảng 4.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 31

Bảng 4.4 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 33

Bảng 4.5 Cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ các kiểu rừng trên núi đá Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 35

Bảng 4.6 Tổng hợp mật độ cây gỗ trạng thái I.1, I.2, I.3, I.4 37

Bảng 4.7 Độ che phủ của thảm tươi ở các kiểu rừng 39

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng KBTL&SCNXL 9

Hình 4.1 Mật độ cây tái sinh các kiểu rừng 29

Hình 4.2 mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao các kiểu rừng 32

Hình 4.3 Mật độ cây của các trạng thái rừng 37

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng 4

2.1.2 Cơ sở lý luận về tái sinh phục hồi rừng 4

2.1.3.Một số khái niệm 5

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6

2.2 2 Tình hình nghiên cứu trong nước 7

2.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 9

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 9

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 12

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp 22

3.4.2 Phương pháp nội nghiệp 24

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Đặc điểm tầng cây tái sinh 27

4.1.1 Tổ thành và mật độ 27

4.1.2 Phân bố, nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh 30

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đế tái sinh tự nhiên 34

Trang 9

4.2.1.Đặc điểm tầng cây cao 34

4.2.2 Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi 38

4.2.3 Đặc điểm địa hình, đất đai thổ nhưỡng 40

4.3 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển thực vật thân gỗ tại khu vực nghiên cứu 41

4.3.1 Giải pháp chung 41

4.3.1 Giải pháp riêng 42

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo lại rừng chỉ có thể giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy đủ về bản chất các quy luật sống của rừng tương ứng với những điều kiện tự nhiên môi trường khác nhau Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái Nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên rừng có khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được các quy luật tái sinh, chúng ta sẽ điều khiển được quy luật đó phục vụ cho sản xuất kinh doanh Vì vậy tái sinh rừng chở thành vẫn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng

Hiện nay trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sử dụng phương thức khai thác - tái sinh không đáp ứng được lợi ích lâu dài của nền kinh tế

và bảo vệ môi trường Các phương thức khai thác - tái sinh không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng Ở Việt Nam, năm

1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 43% Đến năm

1999, theo số liệu thống kê chỉ còn 10,9 triệu ha rừng, trong đó 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng và độ tre phủ tương ứng khoảng 33,2% Do vậy, việc tái sinh tự nhiên là một trong những biện pháp và nhiệm vụ quan trọng [15] Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (KBTL&SCNXL) huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trong địa giới hành chính của

Trang 11

xã Xuân Lạc và chủ yếu là rừng gỗ quý hiếm trên núi đá vôi Mặc dù diện tích nhỏ, nhưng KBTL&SCNXL là hành lang quan trọng nối liền Vườn quốc gia Ba Bể với Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Nà Hang Hiện trạng rừng ở Khu bảo tồn này còn khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động bởi con người, còn lưu giữ nhiều loài động động vật quý hiến đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như Trai, Nghiến, Đinh, Lan Hài và Thông (Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn,2011) Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBTL&SCNXL là một đơn

vị địa lý sinh vật vô cùng đa dạng đối với việc bảo vệ môi trường Nhưng trên thực

tế nơi đây đang chịu tác động bởi sức ép về dân số Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quý cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại Khu bảo tồn đã được tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm Từ khi thành lập, KBTL&SCNXL đã có một số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên rừng, bước đầu cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của một khu bảo tồn Nhưng một số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một cách có hệ thống, đó là đánh giá đặc điểm cây tái sinh phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài quý hiếm để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn thích hợp Để góp phần đánh giá tính đa dạng thực vật trên vùng núi đá tại KBTL&SCNXL, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý tài

nguyên sinh vật tại đây, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự

nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Xác định được đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được một số giải pháp xúc tiến tái sinh và bảo tồn thực vật thân gỗ đặc biệt là các loài quý hiếm

Trang 12

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong khoa học

Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên tiếp cận và làm quen với lĩnh vực nghiên cứu khoa học, củng cố lại kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin Nâng cao kỹ năng làm việc theo nhóm, đánh giá và quyết định lựa chọn các phương án giải quyết vấn đề

- Ý nghĩa trong thực tiễn

Đây là đề tái có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng, đề tài góp phần nghiên cứu về sự đa dạng sinh học của các loài sinh vật trên trái đá Đánh giá tính đa dạng các loài cây thân gỗ trên núi đá giúp ta biết được khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng thích nghi sinh tồn của sinh vật tại nơi đây, cũng như thấy được sự tác động tích cực và tiêu cực của thiên nhiên và con người lên hệ sinh thái trên núi đá

Từ đó, giúp ta xác định được các biện pháp phù hợp tác động vào nhằm bảo tồn, phát triển các hệ sinh thái Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả và bền vững

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian Cấu trúc là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể thực vật Tuy nhiên, khái niệm về cấu trúc không chỉ bao gồm những nhân tố cấu trúc về hình thái mà cả những nhân tố cấu trúc về sinh thái Giữa cấu trúc và sinh thái rừng

có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau Bất kỳ một quy luật cấu trúc quần thể nào cũng đều có nội dung sinh thái học bên trong của nó Không quán triệt quan điểm sinh thái trong khi nghiên cứu cấu trúc rừng thì sẽ không có cơ sở khoa học để giải thích những quy luật cấu trúc của quần thể thực vật Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi (Phùng Ngọc Lan, 1986) [7]

2.1.2 Cơ sở lý luận về tái sinh phục hồi rừng

Theo Baru (1976), tái sinh phục hồi rừng là “ Phát triển một loạt những biện pháp sử lý để thu được tái sinh, ở điều kiện cường tráng và lành mạnh, đưa lớp cây này đến tuổi thành thục là nền tảng của một phương thức lâm sinh và phương thức này đến lượt nó lại là một trong những cơ sở chủ yếu để kinh doanh rừng với một năng suất bền vững…”

Xét về mặt lý luận, tái sinh rừng luôn bao gồm cả hai thuật ngữ, thứ nhất hoàn trả lại diễn tả sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Thuật ngữ thứ hai là phục hồi chỉ sự phục hồi lại và được hiểu là những xúc tiến điều chế quản lý rừng đã bị suy thoái, xáo trộn và được ngăn chặn Nếu đối chiếu tái sinh rừng và phát triển rừng thì thuật ngữ “hoàn trả” là một quá trình, còn sự “phục hồi” chính là điều kiện Xúc tiến cho rừng tự phục hồi hoặc tác động để rừng phục hồi theo những quy luật diễn thế tự nhiên là một quá trình Bảo

vệ, quản lý cho quá trình đó liên tục, không bị dứt quãng là điều kiện Đây chính là nội dung cơ bản trong kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi [8]

Trang 14

2.1.3.Một số khái niệm

- Tái sinh rừng

Quá trình sinh học mạng tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện ở sự suất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ dưới tán rừng TSR là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Theo nghĩa rộng TSR là sự tái tạo một hệ sinh thái rừng mới đảm bảo cho rừng tồn tại và phát triển

Có hai phương thức TSR, tái sinh tự nhiên ( rừng phát triển không có sự can thiệp của con người), tái sinh nhân tạo (rừng phát triển nhờ sự tác động của con người như khoanh nuôi, trồng, tỉa, chăm sóc)

Theo Phùng Ngọc Lan, (1986), thì tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là

sự tái sinh của hệ sinh thái rừng Tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng [7]

Theo Ngô Quan Dê và cộng sự, (1992), tái sinh tự nhiên là quá trình tạo thành thế hệ mới bằng con đường tự nhiên về cơ bản không có sự tác động của con người Kết quả của phương thức tái sinh này phụ thuộc vào quy luật khách quan của

tự nhiên Tái sinh nhân tạo là phương thức tái sinh có sự tác động tích cực của con người từ khi gieo giống, trồng cây, chăm sóc để tạo rừng mới trên đất rừng Về mặt

kỹ thuật, tái sinh nhân tạo và trồng rừng giống nhau, nhưng khác nhau ở địa điểm tiến hành Trồng rừng là tiến hành trên đất chưa có rừng hoặc có rừng nhưng đã mất

từ lâu, đất không còn tính chất đất rừng Trái lại tái sinh nhân tạo tiến hành trên đất còn mang tính chất đất rừng Cây tái sinh có triển vọng là cây tái sinh có chiều cao bằng hoặc vượt chiều cao thảm tươi, cây bụi xung quanh nó và có phẩm chất từ trung bình trở lên Khi vận dụng quy luật này cần thống nhất ba yêu cầu sau Thứ nhất, cây đó qua thời gian cây mạ; thứ hai, chiều cao cây tái sinh phải bằng hoặc vượt chiều cao lớp thảm tươi, cây bụi xung quanh nó; thứ ba, cây có sinh lực tốt, không cong queo, sâu bệnh [3]

- Phục hồi rừng

Võ Đại Hải và cộng sự thì phục hồi rừng trước hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ sẽ tạo điều kiện cho sự xuất hiện các

Trang 15

thành phần cây khác của rừng như tầng cây bụi, tầng cỏ khuyết, khu hệ động vật, vi sinh vật… và các yếu tố khác của rừng như chế độ nhiệt, chế độ ẩm… Vì vậy khái niệm phục hồi rừng sẽ có ý nghĩa rộng lớn là phục hồi lại cả quần lạc sinh vật hay một hệ sinh thái rừng hoàn chỉnh Trong thực tế quá trình phục hồi rừng được đánh giá bằng sự xuất hiện và chất lượng của thế hệ mới các cây gỗ [4]

Phục hồi rừng là một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép tán Quá trình phục hồi

sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học liên tục và cũng vì thế mà chúng ta có thể

sử dụng chúng liên tục được [4]

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1.1 Nghiên cứu cấu trúc rừng

Trên thế giới việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng Các công trình của các tác giả Richards, Baru, Catinot, Odum, Van Stennis v.v được coi là những nền tảng cho những nghiên cứu về cấu trúc rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên nhiệt đới

Rừng tự nhiên có tầng tán không phân biệt rạch ròi, vì thế việc phân chia còn nhiều hạn chế Đối với rừng mưa nhiệt đới nhiều tác giả chia làm 3 tầng, đó là tầng cây cao thường hình thành tầng vượt tán, tầng tán chính, tầng dưới tán Một số tác giả còn chia rừng làm 5 tầng Tầng trội, tầng chính, tầng dưới tán, tầng cây bụi

và thảm tươi

2.2.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Quá trình tái sinh ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa nhiệt đới thường chỉ tập chung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi Van steenis (1956), đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưu sáng.[14]

Trang 16

Đối với rừng nhiệt đới, các nhân tố như ánh sáng, độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cây tái sinh

G.N Baur, (1976), cho rằng: Sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển cây con Nhưng đối với sự nảy mầm và quá trình sinh trưởng của cây mầm ảnh hưởng đó lại không rõ [8]

Xanniknow, (1967) Vipper, (1973) dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, (1992), trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy rằng cỏ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâm phần thưa, rừng đã bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng chống lớn, tao điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển mạnh Trong điều kiện đó, chúng sẽ là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm tươi phát triển chậm tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên.[10]

Tóm lại, nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới cho chúng ta hiểu biết về phương pháp nghiên cứu và quy luật tái sinh tự nhiên của một số vùng, đặc biệt là

sự vận dụng hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý rừng bền vững

2.2 2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Nghiên cứu cấu trúc rừng

Rừng tự nhiên nước ta thuộc kiểu rừng nhiệt đới, rất phong phú và đa dạng

về thành phần loài, phức tạp về cấu trúc Trong những năm gần đây, cấu trúc rừng ở nước ta đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Sở dĩ như vậy vì cấu trúc là cơ

sở cho việc định hướng phát triển rừng, đề ra biện pháp lâm sinh hợp lý

Thái Văn Trừng (1978), khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta, đã đưa ra mô hình cấu trúc rừng, những tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết Tác giả đã vận dụng và có sự cải tiến bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt của Davit – Risa, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được phóng với tỷ lệ lớn hơn Ngoài ra, tác giả còn dựa vào bốn tiêu chuẩn để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là: dạng sống ưu thế của những thực vật tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái

Trang 17

sinh thái của nó và trạng thái của tán lá Dựa vào đó, tác giả chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu [11]

Đào Công Khanh (1996), [6], Bảo Huy (1993) [5] đã căn cứ vào tổ thành loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp lâm sinh

Lê Sáu (1996) [9] dựa vào hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng kết hợp với hệ thống phân loại Loeschau, chia rừng ở khu vực Kon Hà Nừng thành 6 trạng thái

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về mô hình hóa các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp

kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến các yếu tố sinh thái nên chưa thực

sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài

2.2.2 2 Nghiên cứu tái sinh rừng

Vấn đề tái sinh ở nước ta chưa được nghiên cứu nhiều Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, các báo cáo khoa học và một phần được công bố trên các tạp chí

Tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới là một vấn đề rất đa dạng và phong phú Quá trình này bị chi phối bởi nhiều yếu tố như vị trí địa lý, biện pháp tác động đến tầng cây cao, nguồn ngốc hình thành rừng…Chính vì thế cho dù quy trình tái sinh có quy luật nhất định, vốn có tồn tại khách quan, nhưng do các tác động trên làm cho chúng trở nên phức tạp Tái sinh là vấn đề quan trọng, quyết định đến bảo vệ và phát triển rừng bền vững, vì thế nghiên cứu quá trình tái sinh là một việc làm không thể thiếu trong các nghiên cứu về cấu trúc tự nhiên

Nguyễn Duy Chuyên (1988) khi nghiên cứu quy luật phân bố tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An, đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết, từ đó làm cơ sở định hướng giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu [2]

Tác giả Lê Đồng Tấn (1999) [12] và cộng sự đã nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La Tác giả đã kết luận mật độ cây tái sinh giảm dần từ trân đồi lên đỉnh đồi, tổ hợp loài cây ưu thế trên ba

vị trí địa hình và ba cấp độ đốc là khác nhau, sự khác nhau chính là tổ thành các loài trong tổ hợp đó

Tác giả Phạm Ngọc Thường (2003) [13] nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên và phục hồi sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho thấy

Trang 18

khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng có số lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm cây gỗ là khá cao

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng trên đây mới đề cập đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Những vẫn đề này gần đây được nhiều tác giả quan tâm hơn Xu hướng nghiên cứu cũng chuyển dần từ định tính sang định lượng, từ nghiên cứu lý thuyết sang nghiên cứu thực tiễn

2.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

2.3.1.1 Vị chí địa lý khu vực nghiên cứu

Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 với tổng diện tích tự nhiên

là 1.788 ha nằm trên địa phận hai thôn Nà Dạ và Bản Khang thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn

35 km Nằm giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) và Vườn Quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn)

KBT Nam Xuân Lạc nằm trong tọa độ địa lý: Từ 220 17’- 22 019’ đến 120 45' - 130 10' vĩ độ Bắc Từ 105028’-105033’ kinh độ Đông

Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng KBTL&SCNXL

Trang 19

- Phía Đông giáp thôn Nà Áng xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Nam giáp thôn Phia Khao và thôn Khuổi Kẹn xã Bản Thi huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

2.3.1.2 địa hình

Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, chủ yếu là rừng trên núi đá vôi ở miền bắc Việt Nam, với độ cao trung bình từ 400 m đến 800 m so với mực nước biển, đỉnh Tam Sao cao nhất 1.159 m và chia thành 2 vùng rõ rệt

- Vùng núi đá: Đây là vùng rừng phân bố tập trung trên núi đá vôi, nơi có địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh núi cao, dốc lớn từ 25 ÷ 300, có nơi đến 450, tài nguyên rừng khu vực này nhìn chung là ít bị tác động bởi người dân địa phương

- Vùng núi đất: Nằm tập trung ở các thung lũng giữa các đỉnh núi cao, độ cao trung bình từ 400 ÷ 600 m, vùng này có tiềm năng để phát triển nông - lâm nghiệp

2.3.1.3 Đặc điểm địa chất và thổ nhưỡng

Địa chất có nguồn gốc trầm tích với các sản phẩm chủ yếu là kết von cùng với đá vôi khó phong hoá Khu vực này còn tiếp giáp với khu quặng (Chì và Kẽm) hiện đang được khai thác

Trong khu vực gồm có hai nhóm đất chính sau:

- Đất thung lũng dốc tụ: hình thành ở các thung lũng thấp giữa các dãy núi, hứng các sản phẩm xói mòn rửa trôi từ trên xuống, đất tốt tầng đất dày

- Đất nâu đỏ trên núi đá vôi: tầng đất dày tơi xốp, đất có hàm lượng dinh dưỡng cao, tầng đất mỏng

Trang 20

- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1450 giờ/năm

- Gió: Hướng gió thịnh hành vào mùa hạ là hướng Đông - Nam, về mùa đông

là hướng Đông - Bắc Tốc độ gió trung bình đạt 1m/s, song vào những lúc có dông, bão tốc độ gió có thể đạt 27-28 m/s

- Độ ẩm không khí: Dao động khoảng 75 - 82%, cao nhất là 88% tập trung vào tháng 7 trong năm

- Sương muối: Thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau nhưng mức độ không cao, ít gây ảnh hưởng đến sản xuất nông - lâm nghiệp

2.3.1.5 Đặc điểm thủy văn

Trong khu vực có 1 con suối chính bắt nguồn từ xã Sơn Phú, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang chảy theo hướng Tây Bắc qua các thôn Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưn…của xã rồi đổ ra hồ Ba Bể, có chiều dài khoảng 9 km Ngoài ra còn suối

Tả Han và các khe nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh núi đổ vào suối Tả Han Do hiện tượng Cáxtơ nên một số khe, suối chảy ngầm trong lòng núi đá

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.2.1 Dân số, dân tộc và nguồn lao động

Khu bảo tồn cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng huyện Chợ Đồn 35 km về phía Bắc giao thông đi lại khó khăn Khu bảo tồn tiếp giáp và nằm trên địa bàn của

Trang 21

xã Xuân Lạc, Đồng Lạc và Bản Thi, với tổng số 1.732 hộ, 7.608 khẩu, phần lớn là đồng bào Dao, Tày và Mông

Theo quy hoạch của UBND tỉnh Bắc Kạn thì vùng đệm của KBT có diện tích 7.508 ha thuộc 9 thôn: Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưng (xã Xuân Lạc), Khuổi Kẹn, Kéo Nàng, Phia Khao (Bản Thi) và Nà Án, Cốc Tộc (xã Đồng Lạc) Dân số vùng đệm là 1.709 người, 410 hộ Mật độ dân số ở xã Bản Thi là 29 người/km2, Xuân Lạc là 35 người/km2 và Đồng Lạc là 65 người/km2 Có 6 hộ với 32 nhân khẩu hiện đang sinh sống bên trong vùng lõi của KBT gồm 4 hộ ở xã Bản Thi và 2 hộ ở xã Xuân Lạc

Dân tộc thiểu số chiếm 89,5% ở các xã xung quanh KBT với các dân tộc Dao, Mông, Tày, Nùng và Hoa, trong đó phần lớn là người Dao, Tày và Mông Trước đây họ cư trú rải rác trên các sườn núi và thung lũng, từ những năm 1980 bắt đầu định cư tập trung thành bản làng theo chương trình Định canh định cư của chính phủ Mỗi dân tộc có đặc trưng văn hóa riêng và và có nhiều điểm tương đồng nên các sinh hoạt văn hóa ở vùng đệm khá phong phú

Trang 22

Bảng 2.1 Dân số, dân tộc và tình trạng đói nghèo ở các xã xung quanh KBT

Diện tích

tự nhiên (ha)

Số thôn

nghèo (hộ (%))

Thành phần dân tộc

Số

hộ

Số khẩu

Kinh (số khẩu (%))

Thiểu số (số khẩu (%))

Tên dân tộc thiểu số

6,808

(Nguồn: UBND các xã vùng đệm, tháng 11/2012)

Trang 23

Ở 9 thôn vùng đệm của KBT người Kinh chiếm khoảng 5% còn lại là dân tộc thiểu số Các hộ người Kinh chủ yếu là buôn bán, khai thác khoáng sản, công nhân viên nhà nước Các hộ người Kinh tập trung ở xã Bản Thi với 35% chủ yếu là công nhân khai thác khoáng sản nơi có mỏ quặng Sunfua Kẽm lộ thiên với trữ lượng lớn Các hộ sinh sống bên trong vùng lõi của KBT đều là người Dao, họ sống

và canh tác bên trong KBT từ lâu đời, chủ yếu là làm rẫy và thu hái lâm sản theo mùa Ở xã Đồng Lạc chỉ có 19 hộ người Kinh chiếm 3% còn lại xã Xuân Lạc gần như 100% là người dân tộc thiểu số

2.3.2.2 Tình hình kinh tế và thu nhập của người dân sống xung quanh KBT

Nguồn thu nhập chính của cư dân vùng đệm KBT là lúa nước và các loại cây trồng nông nghiệp như ngô, sắn, khoai tàu, các loại đậu Do địa hình đất dốc nên loại hình canh tác chính là nương rẫy Mặc dù nông dân có kinh nghiệm trồng lúa nước nhưng năng xuất nhìn chung không cao Năng suất một số cây trồng chính ở vùng đệm trong năm 2011 như sau:

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2011

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Đồng Lạc 222 46 1.080 74 43 311

(Nguồn: UBND các xã Bản Thi, Đồng Lạc và Xuân Lạc)

Ngoài nguồn thu từ các loại cây trồng nông nghiệp; cây công nghiệp ngắn ngày cũng đóng vai trò quan trọng trong thu nhập của người dân vùng đệm như cây Dong riềng, Sắn Các loại cây dài ngày chưa phát triển, cây ăn quả chủ yếu là Hồng

và Chuối Cây lâm nghiệp chủ yếu là Xoan và Mỡ được trồng rải rác ở khu vực nương rẫy Trong những năm gần đây UBND huyện Chợ Đồn bắt đầu khuyến khích người dân trồng cây Keo để thay thế cây Mỡ

Trang 24

Đất trồng lúa và các loại cây hoa màu chiếm 7% diện tích tự nhiên (bình quân chưa đến 0,2 ha/người) Đất cho các loại cây lâu năm chỉ có 18 ha dùng để trồng cây Hồng không hạt Các loại cây lâm nghiệp được trồng xen ở khu vực canh tác nương rẫy và trong rừng sản xuất

Đất rừng chiếm 70% diện tích tự nhiên ở 3 xã vùng đệm với đầy đủ 3 loại rừng, trong đó rừng đặc dụng KBT Nam Xuân Lạc chiếm 14% diện tích đất lâm nghiệp Rừng sản xuất có diện tích lớn nhất, chiếm 56% diện tích đất lâm nghiệp (7.147 ha) còn lại là rừng phòng hộ chiếm 30%

Phần lớn diện tích đất canh tác ở vùng đệm chưa có sổ đỏ, công tác đo đạc và cấp sổ đỏ tiến hành chậm nên nhiều hộ không có sổ đỏ không tiếp cận được với các nguồn tín dụng tại địa phương Các loại cây trồng chính và diện tích của chúng được trình bày ở Bảng 2.3 Qua số liệu ở Bảng 2.3 cho thấy 2 loại cây lương thực chính được trồng ở cả vùng đệm là lúa và ngô Diện tích lúa rẫy chiếm số lượng tương đối lớn đất canh tác, nhưng thiếu số liệu thống kê do việc phát nương làm rẫy

bị nghiêm cấm Phần lớn lúa rẫy được canh tác ở khu vực rừng sản xuất Các loại đậu là cây trồng mang lại thu nhập cao nhất trong các loại cây trồng nông nghiệp ở vùng đệm Các loại rau chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của người dân vùng đệm, được trồng nhiều ở xã Đồng Lạc, ở các xã khác có diện tích không đáng kể

Bảng 2.3 Cây trồng ở vùng đệm

TT Xã Cây nông nghiệp, hoa màu (ha) Cây dài ngày (ha)

Trang 25

2.3.2.3 Tập quán sinh hoạt, sản xuất

Khái quát chung

Cư dân trong vùng chủ yếu sống tập trung thành các bản, những hộ ở trên cao rải rác đã chuyển xuống thấp sống định cư cùng bản làng, phần lớn trong số họ đến định cư ở khu vực này vào những năm 1979 - 1980 là các hộ nghèo người Mông và Dao Một trong những tập quán cần được thay đổi của cả người Dao và người Mông

là săn bắt động vật rừng Thường các gia đình đều có súng săn tự tạo Họ đi săn không chỉ vì mục đích thực phẩm, thu nhập mà đây còn là tập quán

Một số hộ sinh sống trong KBT chủ yếu phát nương làm rẫy để canh tác nông nghiệp và sử dụng tài nguyên từ KBT Hiện nay còn 4 hộ người Dao xã Bản Thi và 2 hộ người Dao xã Xuân Lạc với 32 nhân khẩu sống trong KBT Các hộ này vẫn còn săn bắt như dựng những lều lán để tiếp tay cho những thợ săn, sau khi săn bắn được họ đem bán cho những nhà hàng bên Chợ Đồn Hơn nữa, 53 hộ tại thôn

Nà Dạ phần lớn có diện tích canh tác nương rẫy trong Khu bảo tồn

Trồng trọt

Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích Trong

đó đất trồng lúa, màu bình quân 383m2/khẩu Sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa nước, ngô, lúa nương, sắn…

Vấn đề an toàn lương thực cũng vẫn chưa đảm bảo đối với một số hộ nghèo, thiếu ăn vào những lúc giáp hạt (tháng 2-4) trước khi đến mùa gặt

Ruộng nước được phân bố nơi thấp gần khu dân cư, ven suối và một số diện tích nhỏ ruộng bậc thang Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, giống chưa được cải thiện Lúa nương được canh tác trên các sườn đồi, núi thấp Do đất dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất không cao và bấp bênh Diện tích lúa nương thường không ổn định do

sự du canh qua nhiều vùng khác nhau quanh các điểm dân cư

Các loại rau màu như Ngô, Sắn… thường được trồng trên những nơi đất cao, bằng phẳng nhưng không có điều kiện khai hoang ruộng nước Do diện tích ruộng nước chỉ hơn 1sào/người, chủ yếu là ruộng 1 vụ, người dân phải làm nương rẫy để bổ

Trang 26

sung nguồn lương thực Diện tích đất nương rẫy hiện nay tuy không cao nhưng nếu luân chuyển hàng năm thì diện tích rừng bị chuyển đổi sẽ tăng nhanh đáng kể

Chăn nuôi

Diện tích trong khu vực phù hợp với chăn nuôi nhưng chưa phát triển và chưa được trú trọng đầu tư Thành phần đàn gia súc tương đối đơn giản, chủ yếu là trâu, bò, ngựa, lợn, gà… Ngựa là vật nuôi quan trọng đối với người dân vùng cao, trong khi chưa có đường giao thông thì ngựa còn là phương tiện vận chuyển hữu hiệu Công tác thú y chưa phát triển, các thôn bản chưa có cán bộ thú y hoặc cán bộ chưa được học qua trường lớp chính quy Có một số hộ đã xây dựng ao nuôi cá, tuy nhiên số hộ chăn nuôi cá không nhiều, đa số chỉ là các ao tạm thời, chưa có kỹ thuật chăn nuôi cá tốt Điều kiện tự nhiên ở địa phương rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

Tuy nhiên, chăn thả rông gia súc được xem như là một mối đe dọa Trâu và

Bò thả rông quanh năm và chỉ đưa về nhà vào mùa sản xuất Gia súc chăn thả trong khu bảo tồn không chỉ từ các thôn có ranh giới với khu bảo tồn, thậm trí cả từ các

xã lân cận Để thay đổi thói quen chăn thả rông gia súc, cần có sự hỗ trợ tập huấn về

kỹ thuật trồng cỏ, quy hoạch các vùng chăn thả cố định

Thuỷ lợi

Trên các khu vực canh tác nông nghiệp điều kiện nguồn nước không khó khăn, nhưng do chưa được đầu tư nên hệ thống thuỷ lợi chưa phát triển Người dân địa phương thường đắp các phai đập nhỏ làm hệ thống tự chảy phục vụ sản xuất và sinh hoạt Các công trình tự tạo này chỉ tồn tại được trong mùa khô, đến mùa mưa chúng bị nước cuốn trôi và rất cần đầu tư cho hệ thống thủy lợi để tăng năng suất cây trồng, tăng vụ trên diện tích đã có, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần cho người dân tham gia vào công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học

Lâm nghiệp

Trong khu vực không có hoạt động sản xuất lâm nghiệp của các Lâm trường Khai thác gỗ của nhân dân mà chủ yếu là thu hái lâm sản tự phát Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các loài động vật để phục vụ làm

Trang 27

nhà và làm nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Từ khi thành lập khu bảo tồn, thực hiện giao đất giao rừng (một số thôn), lực lượng kiểm lâm đã cắm bản cùng người dân tham gia bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và săn bắn thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên, công khai như trước Hiện nay, người dân chủ yếu thu hái nguồn lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ

Hoạt động khai thác củi đun: Gỗ củi là chất đốt chủ yếu ở vùng nông thôn, người dân thường lấy cành khô, cây khô từ Khu bảo tồn, đặc biệt để có củi khô thì sau những lần đi lấy củi họ đều chặt một số cây tươi trong khu vực để lần sau lại có củi khô Theo ước tình trung bình một tháng mỗi hộ sử dụng khoảng từ 300 - 350

kg củi khô (sử dụng nhiều củi hay ít phụ thuộc vào mùa, đặc biệt vào mùa đông sử dụng củi để sưởi ấm) Nếu lượng củi này chỉ khai thác trên rừng thì tương tự như hoạt động đốt phá rừng và rất lâu sau rừng mới được hồi phục Ngoài lượng củi do các thôn nằm trong và giáp khu bảo tồn khai thác ra hàng năm lượng củi do các thôn khác trong xã vào Khu bảo tồn khai thác cũng rất lớn Chính vì thế cần thiết phải có các hoạt động nhằm hạn khai thác với số lượng củi đun lớn thông qua xây dựng các loại bếp đun cải tiến tiết kiệm củi)

Hoạt động khai thác gỗ: Hiện tại còn một số ít người dân vẫn lén lút vào khu bảo tồn chắt trộm gỗ để làm nhà, đóng đồ gia dụng cho gia đình, và tìm mọi kẽ hở của lực lượng kiểm lâm để tiêu thụ Các loài cây gỗ thường được người dân khai thác như Nghiến, Trai, Dâu rừng việc khai thác được thực hiện ngay trong rừng và vận chuyển về nhà Đây là hoạt động khai thác tài nguyên trái pháp luật và không bền vững làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn tài nguyên rừng Hầu hết các thôn đều có khai thác nhưng do có sự tuyên truyền, quản lý chặt chẽ của lực lượng Kiểm lâm nên hoạt động này ngày một giảm dần Hoạt động này sẽ được làm tốt hơn khi năng lực quản lý của lực lượng kiểm lâm được tăng lên

Hoạt động khai thác măng: Măng, nấm, mộc nhĩ được người dân thu hái để

sử dụng và bán, không chỉ những người dân sống trong khu bảo tồn (6 hộ với 32 nhân khẩu) thu hái mà cả những người dân ở ngoài vùng đệm vào KBT khai thác

Trang 28

Cây thuốc: Người dân địa phương đặc biệt là người dân tộc thiểu số thường thu hái

các loại thảo dược để dùng cho mục đích chữa bệnh Nhìn chung việc thu hái cây thuốc của các thầy lang là không nhiều và không ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng sinh học, sự bền vững

vì nó phụ thuộc vào nhu cầu của người bệnh đi tìm thầy lang Một tác nhân lớn gây ảnh hưởng đến sự phục hồi của các loại cây thuốc là chiến dịch thu mua cây thuốc quý như Ba kích, Sâm cau, Sâm trâu, khúc khắc, Hoàng đằng, huyết đằng, Tầm gửi của các tay buôn,

họ gom hàng và chuyển đi tiêu thụ ở nơi khác hoặc bán sang Trung Quốc

Săn bắt động vật rừng: Tất cả các loài thú, rùa, rắn đều là đối tượng bị săn bắn Những người này săn bắn bằng nhiều cách khác nhau: súng săn tự chế, bẫy đặt trên mặt đất, bẫy thòng lọng và bẫy bằng đèn ánh sáng Các loài hiện nay thường bị săn bắt hoặc gài bẫy là chồn, hon, sóc, dúi, cầy, hươu, nai, rắn, rùa và các loài chim

2.3.2.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng tại các xã vùng đệm

Giao thông

Các xã vùng Khu bảo tồn đã có đường giao thông đến trung tâm xã, từ trung tâm xã đi các thôn đều bằng đường đất, tuy nhiên do đường đất, độ dốc cao, nền địa

chất kém bền vững nên hiện tượng sạt lở, thậm chí trượt núi gây tắc đường không

có khả năng khắc phục ngay Hiện nay để đi một số thôn trong xã phải đi bộ Việc giao lưu văn hoá, hàng hoá gặp nhiều khó khăn, không muốn nói là cách biệt với bên ngoài Mặc dù xã đã chú trọng xây dựng đường liên thôn, xã, nhưng đường hẹp, dốc, lầy lội vào mùa mưa đi lại rất khó khăn

Y tế, giáo dục

Các xã đều đã có trạm y tế và cán bộ y tế, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân địa phương và cần tăng cường cán bộ y tế tuyến xã để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân Các dịch bệnh lớn hầu như không xảy ra do làm tốt công tác phòng bệnh

Điện lưới quốc gia

Hiện có khoảng 75% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia dùng vào sinh hoạt Điện lưới quốc gia đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ khâu sản xuất mang lại diện mạo của vùng nông thôn miền núi trong thời kỳ đổi mới Số hộ còn lại chủ yếu dùng điện thắp sáng từ máy thuỷ điện nhỏ, bình quân từ 2-3 hộ/1 máy

Trang 29

2.3.2.5 Khái quát về tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu

* Diện tích rừng

Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc có 1.788,0 ha đất lâm nghiệp có rừng nằm trên địa phận 2 thôn, bao gồm thôn Bản Khang với 1.001,0 ha thuộc tiểu khu (254, 255) và thôn Nà Dạ với 787,0 ha thuộc tiểu khu 257 thuộc xã Xuân Lạc

Diện tích rừng của khu bảo tồn được phân bỗ ở 2 phân khu, đó là:

- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với 1.646,0 ha, trong đó rừng phục hồi 449,3

ha, rừng hỗn giao nứa/vầu và gỗ 317,3 ha, rừng nghèo 680,4 ha và rừng trên núi đá 199,0 ha

- Phân khu phục hồi sinh thái với 142,0 ha, trong đó rừng phục hồi 77,9 ha

và rừng hỗn giao 64,1 ha

Diện tích rừng thuộc khu bao tồn phân theo trạng thái được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.4 Diện tích rừng khu bảo tồn phân theo trạng thái

Theo báo cáo tổng thể quy hoạch Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

2012, hệ sinh thái (HST) rừng ở khu bảo tồn đã bị suy giảm nhiều về chất lượng, các trạng thái rừng IIIA2, IIIA3 còn nhiều và phân bố tập trung trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu bảo tồn Rừng nguyên sinh chưa bị tác động đều đạt từ trạng thái rừng IIIb trở lên vớiởit ưữ lư ơợng trên 200m3/ha Các loài cây gỗ phổ biến gồm những cây cao trên 30m, đường kính 70 đến 80 cm, nhiều cây đến trên 100 cm, mật độ

15 - 20 cây/ha Rừng có tán đứt quãng không liên tục, độ tàn che 0,3 - 0,5 Các loài

Ngày đăng: 17/06/2016, 09:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ hiện trạng KBTL&SCNXL - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Hình 2.1. Bản đồ hiện trạng KBTL&SCNXL (Trang 18)
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2011 - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2011 (Trang 23)
Bảng 2.3. Cây trồng ở vùng đệm - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 2.3. Cây trồng ở vùng đệm (Trang 24)
Bảng 2.4. Diện tích rừng khu bảo tồn phân theo trạng thái - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 2.4. Diện tích rừng khu bảo tồn phân theo trạng thái (Trang 29)
Bảng 4.1. Công thức tổ thành cây tái sinh của tất cả các kiểu rừng trên núi đá - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 4.1. Công thức tổ thành cây tái sinh của tất cả các kiểu rừng trên núi đá (Trang 36)
Hình 4.1 Mật độ cây tái sinh các kiểu rừng - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Hình 4.1 Mật độ cây tái sinh các kiểu rừng (Trang 38)
Bảng 4.2  Mật độ cây tái sinh các kiểu  rừng - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 4.2 Mật độ cây tái sinh các kiểu rừng (Trang 38)
Bảng 4.3. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao. - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 4.3. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao (Trang 40)
Hình 4.2. mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao các kiểu rừng - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Hình 4.2. mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao các kiểu rừng (Trang 41)
Bảng 4.5 Cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ các kiểu rừng trên núi đá tại Khu - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 4.5 Cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ các kiểu rừng trên núi đá tại Khu (Trang 44)
Hình 4.3. Mật độ cây của các kiểu rừng - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Hình 4.3. Mật độ cây của các kiểu rừng (Trang 46)
Bảng 4.6. Tổng hợp mật độ cây gỗ trạng thái I.1, I.2, I.3, I.4. - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 4.6. Tổng hợp mật độ cây gỗ trạng thái I.1, I.2, I.3, I.4 (Trang 46)
Bảng 4.7. Độ che phủ của thảm tươi ở các kiểu rừng. - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 4.7. Độ che phủ của thảm tươi ở các kiểu rừng (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w