Dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống văn hiến. Một trong những yếu tố làm nên văn hiến là trí tuệ, học thức và vai trò của những trí thức, những bậc hiền tài ở mọi thời kỳ, thời đại phát triển của lịch sử dân tộc. Ở Việt Nam xuyên suốt lịch sử dân tộc có sự nhất quán trong nhận định vị trí, vai trò của trí thức đối với đất nước. Từ xa xưa ông cha ta đã xếp trí thức ở vị trí hàng đầu “nhất sĩ, nhì nông”, “sĩ- nông- công- thương”. Năm 1442, Thân Nhân Trung đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước hèn và càng xuống thấp”. Hiền tài là sự kết tụ tinh hoa của đất trời, của khí thiêng sông núi, của truyền thống dân tộc. Người xưa đã nói: "Địa linh sinh nhân kiệt". Hiền tài có vai trò quan trọng đối với sự hưng vong của đất nước. Quang Trung – Nguyễn Huệ đã từng nói: “Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”
Trang 1MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống văn hiến Một trong những yếu
tố làm nên văn hiến là trí tuệ, học thức và vai trò của những trí thức, những bậc hiền tài ở mọi thời kỳ, thời đại phát triển của lịch sử dân tộc Ở Việt Nam xuyên suốt lịch sử dân tộc có sự nhất quán trong nhận định vị trí, vai trò của trí thức đối với đất nước Từ xa xưa ông cha ta đã xếp trí thức ở vị trí hàng đầu “nhất sĩ, nhì nông”, “sĩ- nông- công- thương” Năm 1442, Thân Nhân Trung đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước hèn và càng xuống thấp” Hiền tài là sự kết tụ tinh hoa của đất trời, của khí thiêng sông núi, của truyền thống dân tộc Người xưa đã nói: "Địa linh sinh nhân kiệt" Hiền tài có vai trò quan trọng đối với sự hưng vong của đất nước Quang Trung – Nguyễn Huệ đã từng nói: “Dựng nước lấy việc học làm đầu Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”…
Ở Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX), trong số hàng vạn tú tài, cử nhân và gần 3000 nhà khoa bảng có nhiều người xuất thân từ tầng lớp bình dân mà vươn lên thành những sĩ phu đại diện cho trí tuệ của dân tộc có nhiều cống hiến cho sự phát triển của đất nước Họ luôn gắn bó với nhân dân, có mặt cùng với dân tộc, cùng với nhân dân ngay từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước Trí thức Việt Nam luôn có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm, luôn luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc lập của quốc gia, sự thống nhất đất nước Bằng tri thức của mình, nhiều trí thức đã góp phần xây dựng nền văn hóa của dân tộc, phòng chống thiên tai, phát triển sản xuất phục vụ đời sống nhân dân Lịch
sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã ghi nhận tên tuổi của nhiều nhà trí thức có những đóng góp to lớn gắn liền với chặng đuờng phát triển của dân tộc
Trang 2Dân tộc Việt Nam trải qua biết bao cuộc chiến tranh ngoại xâm, nhiều người
đã phải hi sinh và ngã xuống Để có được một đất nước hòa bình và phát triển như ngày hôm nay, không chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết, ý chí kiên cường của người dân Việt Nam, mà trong đó còn có sự đóng góp không nhỏ của những con người tài giỏi, hết lòng vì dân, vì nước Chuyển động của mỗi đất nước phụ thuộc lớn vào trí tuệ và bản lĩnh của tầng lớp trí thức Để hướng tới một nền kinh tế phát triển, một
xã hội dân chủ, văn minh và tích lũy được những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống thì việc đào tạo, sử dụng nhân tài cho việc chấn hưng đất nước cần được coi là một trong những nhân tố tích cực nhất
Nhận thức đuợc vai trò to lớn của tầng lớp trí thức trong lịch sử dân tộc ngay
từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trong thời kỳ quốc gia phong
kiến độc lập từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, em chọn đề tài “Đặc điểm và vai trò của trí thức Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX” làm đề tài tiểu luận môn học Lịch
sử Việt Nam chuyên đề
Trang 3CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ
TRÍ THỨC VIỆT NAM TỪ THẾ KÝ X ĐẾN THẾ KỶ XIX
1 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức trong thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập (thế kỷ X-thế kỷ XIX)
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, các triều đại phong kiến Đại Việt hết sức quan tâm đến việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức của dân tộc
1.1 Thời Đinh, Lý, Trần (thế kỷ thứ X-thế kỷ XV)
Thời nhà Đinh (968 – 980)
Sau khi dành được độc lập, triều Đinh chăm lo củng cố chính quyền và đào tạo nhân tài cho đất nước Thời kỳ này xuất hiện một số trí thức: Thiền sư Đỗ Pháp Thuận; Ngô Chân Lưu( đứng đầu Phật giáo); Đặng Huyền Quang…
Thời Lý (1009 - 1225)
Những người trí thức đầu tiên của nước ta phần nhiều là nhà sư Họ không dừng lại ở cương vị một người tu hành mà tham gia vào những hoạt động nội trị trong đó có hoạt động giáo dục chủ yếu là giáo dục Phật Học bằng chữ Phạm và chữ Hán Giáo dục nho học chỉ mới bắt đầu Năm 1070 Nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu tới năm 1075 mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài cho đất nước, các kỳ thi
nho học xen lẫn với các kỳ thi tam giáo (nho giáo, đạo giáo và đạo phật) Tầng lớp
trí thức xuất hiện đảm nhận các chức vụ của bộ máy chính quyền Điển hình là sư
Vạn Hạnh; Lý Đạo Hành; Tô Hiến Thành
Thời Trần (1226 – 1400)
Giáo dục nho học tiếp tục phát triển ngày một quy củ hơn Các vua Trần đều quan tâm đến việc mở trường lớp, tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người hiền tài
Trang 4Năm 1247, nhà Trần mở khoa thi Tiến Sỹ và đạt danh hiệu Tam Khôi dành cho 3 người đỗ đầu trong kỳ thi Đinh là Trang Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa Ngoài Quốc Tử Giám, năm 1253 nhà Trần còn lập thêm Quốc Học Viện ở kinh đô Thăng Long
Năm 1281 lập nhà học ở Phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay) Trong thời gian này xuất hiện nhiều nhà khoa bảng tiêu biểu cho đỉnh cao trí tuệ của dân tộc là 9 Trạng Nguyên:
- Nguyễn Quan Quang Quê xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đỗ Trạng nguyên năm 1246 thời Vua Trần Thái Tông
- Nguyễn Hiền Quê xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Trạng nguyên năm 1247 đời Vua Trần Thái Tông Lúc đó ông mới 13 tuổi
- Trần Quốc Lặc Quê xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm 1256 đời Vua Trần Thái Tông
- Trương Xán Quê xã Hoàng Bồ, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Đỗ trạng nguyên năm 1256 đời Vua Trần Thái Tông
- Trần Cố Quê xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm 1266 đời Vua Trần Thái Tông
- Bạch Liêu Quê làng Yên Xá, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Đỗ trạng nguyên năm 1266 đời Vua Trần Thái Tông
- Đào Tiêu Quê xã Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đỗ trạng nguyên năm 1275 đời Vua Trần Thánh Tông
- Mạc Đĩnh Chi Quê làng Lũng Đống, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm 1304 đời vua Trần Anh Tông
- Đào Sư Tích Quê Thị trấn Cổ Lễ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ trạng nguyên Năm 1374 đời vua Trần Duệ Tông
Ngoài ra cũng cần phải kể đến một số trí thức nổi tiếng như: Trần Hưng Đạo; Trần Thánh Tông; Lê Văn Hưu; Trương Hán Siêu; Chu Văn An; Nguyễn Trãi (Đỗ
Trang 5Thái Học Sinh thời nhà Trần); Lê Văn Thịnh (quê Bắc Ninh) Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Nguyễn Thuyên, Nguyễn Phi Khanh, Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng
1.2 Từ thời Lê đến thời Nguyễn(thế kỷ XV – thế kỷ XIX)
Thời Lê Sơ (1427 – 1526)
Sau hơn 20 năm bị gián đoạn do chiến tranh xâm lược của nhà Minh, sau khi giành được độc lập, dưới triều các vua Lê, một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc đã được mở ra, thời kỳ nước Đại Việt phát triển hưng thịnh vào bậc nhất trong lịch sử Nền văn hóa dân tộc phát triển nhanh chóng và đạt được những thành tựu rực rỡ, giáo dục Nho học phát triển mạnh, việc thi cử đi vào nền nếp Nhà Lê đã liên tục tổ chức nhiều kỳ thi nhằm tuyển chọn đội ngũ quan lại đảm nhận các chức vụ các cấp Nhà Vua cho mở rộng Quốc Tử Giám, lập thêm nhiều phòng học, láy thêm học trò định lại cách thi cử, ban hành luật lệ thi hương Nhà Lê đặt lễ xướng danh, lễ vinh quy, khắc tên những người đỗ đạt vào bia đá Tính riêng 38 năm dưới triều Vua Lê Thánh Tông, nhà nước đã mở 12 khoa thi Hội, lấy 501 tiến sỹ trong đó có 20 trạng nguyên Đây là giai đoạn cực thịnh của giá dục, thi cử thời phong kiến
- Nguyễn Trực Quê xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội Đỗ trạng nguyên năm 1442 đời Vua Lê Thái Tông
- Nguyên Nghiêu Tư Quê xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm 1448 đời Vua Lê Nhân Tông
- Lương Thế Vinh Quê xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Đỗ trạng nguyên năm 1463, đời Vua Lê Thánh Tông Tác giả Bộ Đại hành toán pháp (2 quyển)
- Vũ Kiệt Quê xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm 1472 đời vua Lê Thánh Tông
- Vũ Tuấn Chiêu Quê xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội Đỗ trạng nguyên năm 1475 đời Vua Lê Thánh Tông, lúc đó ông 50 tuổi
Trang 6- Phạm Đôn Lễ Quê xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Đỗ trạng nguyên năm 1481 đời Vua Lê Thánh Tông
- Nguyễn Quang Bật Quê huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm 1484 đời Vua Lê Thánh Tông
- Trần Sùng Dĩnh Quê xã An Lân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm 1487 đời Vua Lê Thánh Tông Lúc đó ông 23 tuổi
- Vũ Duệ Quê xã Trình Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Đỗ trạng nguyên năm 1490 đời Vua Lê Thánh Tông
- Vũ Dương Quê xã An Châu, huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm 1493 đời Vua Lê Thánh Tông Lúc đó ông 22 tuổi
- Nghiêm Viên Quê xã Bồng Chi, Quế Võ, Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm
1496 đời Vua Lê Thánh Tông
- Đỗ Lý Khiêm, xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Đỗ trạng nguyên năm 1499 đời Vua Lê Hiền Tông
- Lê Ích Mộc Quê xã Quảng Thanh, Thủy Nguyên, Hải Phòng Đỗ trạng nguyên năm 1502 đời Vua Lê Hiền Tông
- Lê Nại Quê xã Mộ Trạch, Cẩm Bình, Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm
1505 đời Vua Lê Uy Mục
- Nguyễn Giản Thanh Quê xã Hương Mặc, Từ Sơn, Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm 1508 đời Vua Lê Uy Mục
- Hoàng Nghĩa Phú Quê xã Đa Sĩ, huyện Thanh Oai, Hà Nội Đỗ trạng nguyên năm 1511 đời Vua Lê Tương Dực
- Nguyễn Đức Lương Quê xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, Hà Nội Đỗ trạng nguyên năm 1514 đời Vua Lê Tương Dực
- Ngô Miễn Thiệu Quê xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm 1518 đời Vua Lê Chiêu Tông Lúc đó ông 20 tuổi
Trang 7- Hoàng Văn Tán Quê xã Đài Xuân, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm 1523 đời Vua Lê Cung Đế
- Trần Tất Văn Quê xã Thái Sơn, huyện An Lão, Hải Phòng Đỗ trạng nguyên năm 1526 đời vua Lê Cung Hoàng
Ngoài ra còn có một số trí thức: Nguyễn Trãi, Phan Phù Tiên, Nguyễn Trực (đỗ trạng nguyên), Ngỗ Sĩ Liên (người Hà Đông), Lê Thánh Tông, Vũ Hữu (đỗ Hoàng Giáp), Nguyễn Như Đỗ (đỗ Bảng Nhãn), Lương Như Hộc (đỗ Thám Hoa) Trần Ích Phát (Quê Chính Linh- Hải Dương) ông là thầy giáo có ba học trò đỗ trạng nguyên
Dưới Triều Mạc (1527 – 1592)
Nền giáo dục Nho học vẫn tiếp tục phát triển Tính từ khóa Ký Sửu năm thứ
3 Minh Đức (năm 1529) đến khoa Nhâm Thìn năm thứ XV Hồng Ninh (năm 1592), triều Mạc đã tổ chức được 21 khoa thi lấy đỗ 484 tiến sĩ trong đó có 11 trạng nguyên Nhiều người đã trở thành danh nhân đóng góp xây dựng nền văn hóa dân tộc như các trạng nguyên:
- Đỗ Tông Quê xã Long Hưng, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Đỗ trạng nguyên năm 1529 đời Vua Mạc Thái Tổ Lúc đó ông 26 tuổi
- Nguyễn Thiến, quê xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội, đỗ trạng nguyên năm 1532 đời Vua Mạc Đăng Doanh
- Nguyễn Bỉnh Khiêm, quê xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng Đỗ trạng nguyên năm 1535 đời Vua Mạc Đăn Doanh
- Giáp Hải, quê xã Dĩnh Trị, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Đỗ trạng nguyên năm 1538 đời Vua Mạc Thái Tông
- Nguyễn Kỳ, quê làng Bình Dân, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên Đỗ trạng nguyên năm 1541 đời Vua Mạc Phúc Hải
- Dương Phúc Tư, quê xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Đỗ trạng nguyên năm 1547 đời vua Mạc Phúc Nguyên
Trang 8- Trần Văn Bảo, quê xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, trinh Nam Định Đỗ trạng nguyên năm 1550 đời Vua Mạc Thúc Nguyên Lúc đó ông 27 tuổi
- Nguyễn Lương Thái, quê xã Bình Ngô, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Đỗ trạng nguyên năm 1553 đời Vua Mạc Tuyên Tông
- Phạm Trấn, quê xã Phạm Tuấn, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm 1556 đời Vua Mạc Thúc Nguyên
- Phạm Duy Quyết, quê xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đỗ trạng nguyên năm 1562 đời Vua Mạc Mẫu Hợp
- Vũ Giới, quê xã Phú Lương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Đỗ trạng nguyên năm 1577 đời Vua Mạc Mẫu Hợp
Thời nhà Mạc còn có một số trí thức nổi tiến như: Lại Mẫn, Đặng Vô Canh, Mạc Đôn Nhượng, Mạc Ngọc Liễn…
Thời Lê Trung Hưng (1595 – 1789)
Từ giữa thế kỷ XVI xã hội Việt Nam diễn ra những cuộc chiến tranh dành quyền lực kéo dài giữa các triều đại Lê và Mạc, Trình và Nguyễn đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đội ngũ trí thức Nho học Ở Đàng trong, các chúa Nguyễn
lo mở mang bờ cõi, tổ chức khai hoang Vì vậy việc giáo dục thi cử ở Đàng trong hầu như không được chú ý Mãi đến những năm 1674, 1695 mới mở một vài khoa thi chủ yếu tuyển chọn những quan lại làm việc hành chính số người đi học và đi thi rất ít Tuy nhiên cũng có nhiều trí thức điển hình như : các trạng nguyên:
Đinh Phùng, Nguyễn Trường Tộ; Thù Khoa Huân; Nguyễn Thông; Tống Duy Tân Lê Quý Đôn, Ngô Thi Sĩ, Bùi Hữu Ích, Hồ Sỹ Đống, Ngô Thì Nhậm…
2 Đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX
Trí thức Việt Nam luôn có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm, có vai trò quan trọng từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước Vai trò của đội ngũ tri thức được thể hiện trong từng đặc điểm của đội ngũ ấy Xem xét quá trình hình
Trang 9thành đội ngũ tri thức Việt Nam trong thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập (từ thế
kỷ X đến thế kỷ XIX) có thể thấy được những đặc điểm sau:
2.1 Nguồn gốc xuất thân của trí thức Việt Nam thời phong kiến rất đa dạng
Nguồn gốc xuất thân của trí thức Việt Nam thời phong kiến rất đa dạng gồm tăng lữ, quan lại và tầng lớp bình dân
Ở Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ (1075-1919) trong số hàng vạn tú tài, cử nhân và gần 3000 nhà khoa bảng có nhiều người xuất thân từ tầng lớp bình dân mà vươn lên thành những sĩ phu đại diện cho trí tuệ của dân tộc có nhiều cống hiến cho
sự phát triển của đất nước
2.2 Trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc rất sâu đậm
Trí thức Việt Nam luôn luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc lập của quốc gia, sự thống nhất đất nước Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của trí thức được thể hiện:
- Họ luôn gắn bó với nhân dân, có mặt cùng với dân tộc, cùng với nhân dân ngay từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước Bằng tri thức của mình, nhiều trí thức đã góp phần xây dựng nền văn hóa của dân tộc, phòng chống thiên tai, phát triển sản xuất phục vụ đời sống nhân dân
- Họ giữ vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ đất nước, chống kẻ thù xâm lược, tham gia một cách tích cực vào các cuộc khởi nghĩa của quần chúng nhân dân
- Tinh thần dân tộc của trí thức nho học Việt Nam còn được thể hiện: tuy tiếp thu văn hóa Hán, tiếp thu nho giáo, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình Toàn bộ các tác phẩm văn học chữ Hán của trí thức thời phong kiến đã khẳng định nền độc lập dân tộc, động viên khích lệ lòng yêu nước và ý trí chống xâm lược và xây dựng lòng tự tôn dân tộc
2.3 Trí thức Việt Nam đóng vai trò to lớn đối với sự hưng thịnh hay suy vong của đất nước.
Trang 10Sự hưng thịnh của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào vai trò và thái độ của giới trí thức đối với XH Trong nội dung bài ký đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất năm 1442, Thân Nhân Trung đã viết: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao Nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp"
Từ chỗ nhận thức như vậy, các nhà nước phong kiến đã thi hành nhiều chính sách đào tạo sử dụng trí thức vào quản lý XH, xây dựng đất nước, phát triển văn hóa Cụ thể là, mở nhiều trường lớp khuyến khích học tập coi trọng tuyển chọn hiền tài thông qua thi cử Có chính sách trọng thưởng, đãi ngộ sử dụng đối với những người đỗ đạt có nhiều cống hiến cho đất nước Trí thức có mặt trên tất cả lĩnh vực của đời sống XH như chính trị, kinh tế, văn hóa hay nghệ thuật Họ thực
sự là lực lượng đóng góp xây dựng nền văn hiến vẻ vang lâu đời của dân tộc ta
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã ghi nhận tên tuổi của nhiều nhà trí thức có những đóng góp to lớn gắn liền với chặng đuờng phát triển của dân tộc Tiêu biểu:
- Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhà quân sự và chính trị thiên tài của dân tộc ta, đồng thời là một trí thức có học thức uyên thâm thông suốt cổ kim, ông
đã tổng kết những cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta trong suốt nhiều thế kỷ trở về trước, từ đó rút ra những quy luật của những cuộc chiến tranh giữ nước
- Nguyễn Trãi, Nhà trí thức kiệt xuất của nước Đại Việt nửa đầu thế kỷ thứ
XV, ông không những tinh thông toàn bộ kiến thức đương thời mà còn hiểu biết sâu rộng về đời sống xã hội trong nước, ngoài nước, thấu suốt những đau khổ và nguyện vọng của nhân dân; nắm được chỗ mạnh chỗ yếu của kẻ địch Từ đó, ông
đã có những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc xây dựng đất nước
- Lê Quý Đôn: là nhà bác học lớn, đã sáng tác và để lại cho đời sau 40 tác phẩm đồ sộ gồm hàng trăm quyển sách về triết học, sử học, dân tộc học, địa lý,