MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI......................................................................................... 1 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ................................................................................. 2 3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ................................................................................. 2 4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU .............................................................................. 2 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................ 2 6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI ................................................................................... 3 7. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ................................................................................. 3 NỘI DUNG ................................................................................................................ 4 CHƢƠNG 1: BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HÓA HỌC .......................................................... 4 1.1. Bài tập hóa học ................................................................................................... 4 1.1.1. Khái niệm bài tập hóa học 2 ......................................................................... 4 1.1.2. Tác dụng của bài tập hóa học 12 .................................................................. 5 1.1.3. Phân loại bài tập hóa học 12 ........................................................................ 7 1.1.4. Qui trình giải bài tập hóa học 12 ................................................................ 10 1.1.5. Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học vận dụng… ................................................................................................................................... 11 1.2. Vấn đề phát triển năng lực và phẩm chất ngƣời học .................................... 12 1.2.1. Bản chất của năng lực trí tuệ 3 .................................................................. 12 1.2.2. Tư duy hóa học ............................................................................................... 14 1.3. Quan hệ giữa BTHH và việc phát triển năng lực phẩm chất của học sinh 9 .............................................................................................................................. 18 1.4. Tình hình đổi mới phƣơng pháp dạy học và bài tập hóa học theo hƣớng phát triển năng lực phẩm chất của ngƣời học hiện nay ...................................... 20 1.4.1. Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm .................................................................. 20 1.4.2. Về phương pháp dạy học ............................................................................... 20 1.4.3. Về bài tập hóa học .......................................................................................... 23 CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHẨM CHẤT HÓA HỌC CHO HỌC SINH ............................................. 24 2.1. Chuẩn bị cho ngƣời giáo viên hóa học, ngƣời giáo viên hóa học cần phải làm gì để dạy theo hƣớng phát triển năng lực 5 ................................................ 24 2.1.1. Giáo viên ......................................................................................................... 24 2.1.2. Người học sinh phải làm gì để học giỏi môn hóa học một cách thông minh ................................................................................................................................... 26 2.2. Những biện pháp phát triển năng lực phẩm chất hóa học cho học sinh thông qua BTHH ..................................................................................................... 27 2.2.1. Phẩm chất tư duy 7, 12 ............................................................................. 27 2.2.2. Sử dụng bài tập 4, 6, 10 ......................................................................... 38 2.3. Hệ thống bài tập hóa học chƣơng trình hóa vô cơ lớp 10 ở trƣờng trung học phổ thông 1, 6, 4, 13, 14 ...................................................................... 48 2.3.1. Chương halogen ............................................................................................. 48 2.3.2. Chương oxi ..................................................................................................... 59 CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ......................................................... 73 3.1. Mục đích thực nghiệm sƣ phạm ..................................................................... 73 3.2. Đề kiểm tra thực nghiệm sƣ phạm và giáo án (xem phần phụ lục) ............. 74 3.3. Kiểm tra kết quả thực nghiệm, xử lý kết quả thực nghiệm ......................... 74 3.3.1 Kết quả kiểm tra .............................................................................................. 74 3.3.2. Nhận xét chung .............................................................................................. 80 I. Kết luận ................................................................................................................ 82 II. Kiến nghị ............................................................................................................. 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 84 PHỤ LỤC
Trang 1PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT CHO HỌC SINH
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA VÔ CƠ LỚP 10
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƯ PHẠM
Đà Nẵng, 04/ 2016
Trang 2KHOA HÓA HỌC
================
Đề tài:
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT CHO HỌC SINH
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA VÔ CƠ LỚP 10
Trang 3TRƯỜNG ĐHSP Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
KHOA HÓA
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Phan Thị Thanh Nhàn
Lớp : 12SHH
1 Tên đề tài:
Phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua hệ thống bài tập hóa học chương trình hóa vô cơ lớp 10 ở trường trung học phổ thông
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị:
- Hệ thống câu hỏi tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để luyện tập và kiểm tra – đánh giá kiến thức của học sinh
- Gần 200 học sinh trường trung học phổ thông thuộc thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam
- Máy vi tính, phần mềm tin học
3 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh trung học phổ thông
- Sưu tầm và xây dựng bài tập tự luận và bài tập trắc nghiệm khách quan
- Sử dụng hệ thống bài tập tự luận và bài tập trắc nghiệm khách quan để luyện và kiểm tra – đánh giá học sinh THPT
- Xử lí kết quả số liệu thực nghiệm bằng toán học thống kê kết hợp với phần mềm tin học
4 Giáo viên hướng dẫn: ThS Phan Văn An
5 Ngày giao đề tài: 9/2015
6 Ngày hoàn thành: 5/2016
Trang 4(Ký và ghi rõ họ, tên) (Ký và ghi rõ họ, tên)
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho khoa ngày tháng năm 2016
Kết quả điểm đánh giá Ngày tháng năm 2016 CHỦ NHIỆM HỘI ĐỒNG (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 5Với lời biết ơn sâu sắc, e xin chân thành cảm ơn thầy giáo – Thạc sĩ Nguyễn Văn An đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin cảm ơn các thầy, cô trong khoa Hóa – Trường Đại học Sư Phạm –
Đà Nẵng đã dìu dắt, nâng đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Qua đây em cũng xin lời cảm ơn đến các giáo viên và các em học sinh ở hai trường THPT: Thái Phiên – Đà Nẵng, Thái Phiên – Quảng Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Và cuối cùng e xin chân thành cảm ơn cô chủ nhiệm cùng tất cả các bạn sinh viên lớp 12SHH đã động viên, giúp đỡ e trong thời gian học tập vừa qua
Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế và những thiếu sót nhất định Em kính mong được sự góp ý và sự hướng dẫn thêm từ các thầy cô Em xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Phan Thị Thanh Nhàn
Trang 61 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
7 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HÓA HỌC 4
1.1 Bài tập hóa học 4
1.1.1 Khái niệm bài tập hóa học [2] 4
1.1.2 Tác dụng của bài tập hóa học [12] 5
1.1.3 Phân loại bài tập hóa học [12] 7
1.1.4 Qui trình giải bài tập hóa học [12] 10
1.1.5 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học vận dụng… 11
1.2 Vấn đề phát triển năng lực và phẩm chất người học 12
1.2.1 Bản chất của năng lực trí tuệ [3] 12
1.2.2 Tư duy hóa học 14
1.3 Quan hệ giữa BTHH và việc phát triển năng lực phẩm chất của học sinh [9] 18
Trang 71.4.1 Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm 20
1.4.2 Về phương pháp dạy học 20
1.4.3 Về bài tập hóa học 23
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHẨM CHẤT HÓA HỌC CHO HỌC SINH 24
2.1 Chuẩn bị cho người giáo viên hóa học, người giáo viên hóa học cần phải làm gì để dạy theo hướng phát triển năng lực [5] 24
2.1.1 Giáo viên 24
2.1.2 Người học sinh phải làm gì để học giỏi môn hóa học một cách thông minh 26
2.2 Những biện pháp phát triển năng lực phẩm chất hóa học cho học sinh thông qua BTHH 27
2.2.1 Phẩm chất tư duy [7], [12] 27
2.2.2 Sử dụng bài tập [4], [6], [10] 38
2.3 Hệ thống bài tập hóa học chương trình hóa vô cơ lớp 10 ở trường trung học phổ thông [1], [6], [4], [13], [14] 48
2.3.1 Chương halogen 48
2.3.2 Chương oxi 59
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 73
3.2 Đề kiểm tra thực nghiệm sư phạm và giáo án (xem phần phụ lục) 74
3.3 Kiểm tra kết quả thực nghiệm, xử lý kết quả thực nghiệm 74
3.3.1 Kết quả kiểm tra 74
3.3.2 Nhận xét chung 80
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 9- Học sinh: HS - Thực nghiệm: TN
- Điều kiện tiêu chuẩn: đktc - Bài tập hóa học: BTHH
- Điện phân dung dịch: đpdd - Màng ngăn: m.n
Trang 10Đà Nẵng 74 Bảng 3.2: Bảng kết quả kiểm tra bài oxi – ozon ở trường THPT Thái Phiên – Quảng Nam 75 Bảng 3.3: Bảng kết quả kiểm tra bài axit sunfuric – muối sunfat ở trường
THPT Thái Phiên – Đà Nẵng 76 Bảng 3.4: Bảng kết quả kiểm tra bài axit sunfuric – muối sunfat ở trường THPT Thái Phiên – Quảng Nam 77 Bảng 3.5: Bảng kết quả kiểm tra một tiết ở trường THPT Thái Phiên – Đà Nẵng 78 Bảng 3.6: Bảng kết quả kiểm tra một tiết ở trường THPT Thái Phiên – Quảng Nam 79
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Hình 3.1 Biểu đồ kết quả kiểm tra bài oxi - ozon ở trường THPT Thái Phiên –
Đà Nẵng Error! Bookmark not defined Hình 3.2: Biểu đồ kết quả kiểm tra bài oxi – ozon ở trường THPT Thái Phiên – Quảng Nam 76 Hình 3.3 Biểu đồ kết quả kiểm tra bài axit sunfuric – muối sunfat ở trường THPT Thái Phiên – Đà Nẵng Error! Bookmark not defined Hình 3.4: Biểu đồ kết quả kiểm tra bài axit sunfuric – muối sunfat ở trường THPT Thái Phiên – Quảng Nam Error! Bookmark not defined Hình 3.5: Biểu đồ kết quả kiểm tra một tiết ở trường THPT Thái Phiên – Đà Nẵng 79 Hình 3.6: Biểu đồ kết quả kiểm tra một tiết ở trường THPT Thái Phiên –
Quảng Nam 80
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xã hội công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, nguồn lực con người có ý nghĩa rất quan trọng Ngành giáo dục phải có vai trò và nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ tương lai đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Như vậy nhiệm vụ cơ bản trước mắt của giáo dục là phải làm cho học sinh nắm vững kiến thức, hiểu đúng bản chất của kiến thức, mối quan hệ của kiến thức và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Môn hóa học là môn khoa học trong nhóm môn khoa học tự nhiên Môn hóa học ở phổ thông cung cấp cho học sinh những tri thức hóa học phổ thông tương đối hoàn chỉnh về các chất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ giữa công nghệ hóa học, môi trường và con người Để học giỏi môn hóa học học sinh cần có những phẩm chất và năng lực như: có hệ thống kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc; có trình độ tư duy hóa học phát triển (năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, suy luận logic,…), có kĩ năng thực hành và vận dụng linh hoạt sáng tạo kiến thức hóa học đã có để giải quyết các vấn đề trong hóa học cũng như trong thực tiễn… Vì vậy phát triễn năng lực nhận thức và rèn luyện các kĩ năng là những yêu cầu cơ bản, quan trọng nhất của quá trình bồi dưỡng học sinh
Trong dạy học hóa học, bài tập hóa học vừa là mục đích vừa là nội dung và cũng vừa là phương pháp dạy học, vừa là phương tiện dạy học hiệu quả Hiện nay học sinh được tiếp xúc với khối lượng lớn các bài tập hóa học thông qua sách vở, báo, internet Vì thế người giáo viên cần phải nghiên cứu bài tập hóa học trên cơ sở
tư duy của học sinh, áp dụng hệ thống bài tập trong dạy học hóa học một cách linh hoạt, khéo léo, hợp lý nhằm phát triển tối đa năng lực và phẩm chất của học sinh Thông qua bài tập hóa học có thể tổng hợp được kiến thức dưới nhiều dạng khác nhau để học sinh rèn luyện, phát triển tư duy, khái quát kiến thức dưới dạng tổng quát nhất
Trên cơ sở đó tôi đã chọn đề tài: “Phát triển năng lực và phẩm chất cho học
sinh thông qua hệ thống bài tập hóa học chương trình hóa vô cơ lớp 10 ở trường trung học phổ thông”
Trang 122 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập Hóa vô cơ chương trình lớp 10
- Sử dụng hệ thống bài tập đó nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh trung học phổ thông
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về bài tập hóa học, về vấn đề phát triển năng lực phẩm chất học sinh, quan hệ giữa bài tập hóa học và việc phát triễn năng lực phẩm chất của học sinh
- Tìm hiểu tình hình đổi mới phương pháp dạy học và bài tập hóa học theo hướng phát triển năng lực phẩm chất của người học hiện nay
- Nghiên cứu nội dung và những biện pháp phát triển năng lực phẩm chất hóa học của học sinh
- Lựa chọn, xây dựng và sử dụng vào dạy học hệ thống bài tập hóa vô cơ lớp
10 ở trường trung học phổ thông
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng, tính hiệu quả của hệ thống bài tập đã sử dụng nhằm nâng cao năng lực phẩm chất của học sinh
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 10 nhằm phát triển năng lực phẩm chất của học sinh trung học phổ thông
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành các nhiệm vụ đã đặt ra, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài như nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, năng lực trí tuệ, tư duy về bài tập hóa học
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra về tình hình đổi mới phương pháp dạy học và bài tập hóa học theo hướng phát triển năng lực phẩm chất của người học hiện nay
+ Trao đổi với giáo viên có nhiều kinh nghiệm dạy học
Trang 13- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và áp dụng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lý kết quả, đánh giá chất lượng, tính khả thi của
đề tài
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hợp lý hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 10 nhằm phát triển năng lực phẩm chất của học sinh trung học phổ thông
7 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Những dạng bài tập tổng hợp chương oxi lớp 10
Vấn đề phát triển năng lực nhận thức
Mối quan hệ giữa bài tập hóa học và phát triển tư duy
Khả năng sử dụng các phương pháp dạy học và bài tập hóa học phát triển
năng lực phẩm chất cho học sinh
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HÓA HỌC 1.1 Bài tập hóa học
Trong dạy học hóa học ở trường phổ thông, bài tập hóa học được coi là một trong những phương pháp dạy học có hiệu quả cao Có thể nói quá trình học tập là quá trình giải một hệ thống bài tập đa dạng Trong thực tế, một bài giảng, một giờ lên lớp có hiệu quả, có thỏa mãn yêu cầu nâng cao tích cực, sáng tạo của học sinh hay không phụ thuộc rất lớn vào hệ thống bài tập (bao gồm cả câu hỏi, bài toán, bài tập nhận thức,…) có lý thú, có được biên soạn tốt hay không
1.1.1 Khái niệm bài tập hóa học [2]
Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ “bài tập” (tiếng Anh) nghĩa là “Exercise”, tiếng Pháp – “Exercice” dùng để chỉ một loạt hoạt động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ)
Trong giáo dục, theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ
“bài tập” có nghĩa là “bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học” Theo Thái Duy Tuyên “bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái
có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra”
Về mặt lí luận dạy học hóa học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán mà khi hoàn thành chúng học sinh nắm được hay hoàn thiện một tri thức hay một kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng hay trả lời viết kèm theo thực nghiệm Ở nước
ta, sách giáo khoa và sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan niệm này
Câu hỏi – đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành một loạt hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trả lời viết hay có kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm
Trang 15Thường trong các câu hỏi, giáo viên yêu cầu học sinh phải nhớ lại nội dung các định luật, các quy tắc, định nghĩa, các khái niệm, trình bày lại một mục trong sách giáo khoa
Bài toán – đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng HS phải tiến hành một hoạt động sáng tạo Bất luận hình thức hoàn thành bài toán – nói miệng, hay viết, hay thực hành (thí nghiệm) – bất kì bài toán nào cũng đều có thể xếp vào một trong hai nhóm: định lượng (tính toán) hay định tính
Người ta thường lựa chọn những bài toán và câu hỏi đưa vào một bài tập có tính toán đến một mục đích dạy học nhất định, là nắm hay hoàn thiện một dạng tri thức hay kĩ năng Chẳng hạn, có thể ra bài tập nhằm mục đích hình thành kĩ năng lập công thức muối, viết phương trình phản ứng, nêu ra các chất đồng phân, giải những bài toán hóa học thuộc một kiểu nào đó, nêu đặc điểm của một nguyên tố theo vị trí của nó trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Tùy theo tính chất của hoạt động cần tiến hành (tái hiện hay sáng tạo) mà bài tập có thể chỉ gồm toàn những câu hỏi hay toàn những bài toán hay hỗ hợp câu hỏi lẫn bài toán
Tóm lại, bài tập hóa học được xem như là một phương tiện dạy hoc then chốt trong quá trình dạy học, dùng bài tập trong quá trình hình thành kiến thức, khai thác kiến thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học và kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập… Như vậy có thể xem bài tập là một vũ khí sắc bén cho giáo viên, học sinh trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
1.1.2 Tác dụng của bài tập hóa học [12]
1.1.2.1 Bài tập hóa học giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc, bền vững hơn
Khi giải một bài tập học sinh phải đi từ việc nghiên cứu đầu bài đến tìm đáp
án Để làm được điều này học sinh phải trải qua một quá trình quan sát, tổng hợp, phán đoán…
Quá trình giải bài tập không phải bắt đầu từ con số “0” mà phải dựa vào kinh nghiệm thực tiễn, những kiến thức mà học sinh đã tích lũy từ trước Các em phải nhớ, hiểu và vận dụng được những kiến thức và kinh nghiệm đó thì mới giải được bài tập
Trang 16Bài tập hóa học không nằm dưới dạng khái niệm, định nghĩa hay định luật hoặc lý thuyết chung chung mà nó phản ánh những trạng thái nhất định của lý thuyết và thực tiễn Trong trường hợp này kiến thức không còn là những khái niệm trừu tượng mà đã được cụ thể hóa
Ví dụ: khi học bài “khái quát nhóm halogen”, học sinh muốn giải thích được
“vì sao F chỉ có số oxi hóa -1, trong khi các halogen khác ngoài số oxi hóa -1 còn có các số oxi hóa +1, +3, +5, +7” các em phải vận dụng thuyết cấu tạo nguyên tử, khái niệm độ âm điện đã học
1.1.2.2 Bài tập hóa học có khả năng phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
Trong bất kì bài tập nào cũng có mâu thuẫn, những điều đã biết và những điều chưa biết Khi giải bài tập trí tuệ của học sinh phải vận động đi từ những điều kiện đã biết để tìm ra câu trả lời Hoạt động trí tuệ của học sinh rất đa dạng: quan sát, vận dụng trí nhớ, các thao tác tư duy như so sánh, tổng hợp, khái quát, suy luận…cho nên sau những lần giải bài tập thành công, niềm tin và năng lực của học sinh càng được phát triển và củng cố Đó là một trong những cơ sở quan trọng để các em mạnh dạng bước vào con đường sáng tạo
Ví dụ: Khi thực hành, một học sinh lắp dụng cụ điều chế khí clo như hình vẽ sau:
a Hãy viết phương trình phản ứng điều chế khí clo từ MnO2 và HCl?
b Phân tích những chỗ sai khi lắp bộ dụng cụ thí nghiệm như hình vẽ?
Để giải được bài tập này học sinh cần phải:
Trang 17- Tìm logic nội dung của bài toán, tìm hiểu từ ngữ, hiểu sơ bộ ý đồ của tác giả
- Tìm hiểu giả thiết và yêu cầu của đề bài
- Hình dung tiến trình luận giải và phải biết phải bắt đầu từ đâu?
- Đâu là chỗ có vấn đề của bài toán
- Có cách nào hay hơn không (thông qua tính đặc biệt của đề bài…)
1.1.2.3 Bài tập hóa học mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm nặng nề khối lượng kiến thức của học sinh
Ví dụ: Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể người cần được cung cấp 1,5 10-4 g nguyên tố iot Nếu nguồn cung cấp chỉ là KI thì khối lượng KI cần dùng cho một người cho một ngày là bao nhiêu
Bài tập này không phải là khó đối với học sinh, tuy nhiên mục đích cho học sinh nhận thấy hóa học không là kiến thức khó hiểu, khó nhớ mà phải là những kiến thức có liên quan đến cuộc sống con người rất thiết thực
1.1.2.4 Bài tập hóa học là phương tiện giáo dục tốt
Người thầy không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho học sinh, mà còn giáo dục cho học sinh một nhân cách sống Vì thế người thầy phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều phương tiện khác nhau, trong đó bài tập có thể xem là phương tiện hiệu quả và thường dùng nhất trong hóa học Thế mạnh của bài tập là ở chỗ rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực, lòng say mê hóa học và niềm tin vào khoa học, sức mạnh của bản thân Niềm tin này có được là do trong quá trình độc lập vận dụng kiến thức, độc lập tìm được đáp số đã giúp các em có những phương pháp giải quyết đúng đắn các vấn đề đặt ra
Ngoài ra bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc,…)
1.1.3 Phân loại bài tập hóa học [12]
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau Vì vậy, cần có cách nhìn tổng quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại
1 Dựa vào nội dung toán học của bài tập
- Bài tập định tính (không có tính toán)
- Bài tập định lượng (có tính toán)
Trang 182 Dựa vào nội dung của bài tập hóa học
- Bài tập định lượng
- Bài tập lý thuyết
- Bài tập thực nghiệm
- Bài tập tổng hợp
3 Dựa vào tính chất hoạt động của học sinh
- Bài tập lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm)
- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
4 Dựa vào chức năng của bài tập
- Bài tập tái hiện kiến thức (hiểu, biết, vận dụng)
- Bài tập rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá)
5 Dựa vào kiểu hay dạng bài tập
- Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
- Bài tập xác định thành phần phần trăm của hỗn hợp
- Bài tập nhận biết các chất
- Bài tập tách các chất ra khỏi hỗn hợp
- Bài tập điều chế các chất
- Bài tập bằng hình vẽ,…
6 Dựa vào khối lượng kiến thức
- Bài tập đơn giản (cơ bản)
- Bài tập phức tạp (tổng hợp)
7 Dựa vào cách thức kiểm tra
- Bài tập trức nghiệm
- Bài tập tự luận
8 Dựa vào phương pháp giải bài tập
- Bài tập tính theo phương pháp và phương trình
- Bài tập biện luận
- Bài tập dùng các giá trị trung bình
- Bài tập dùng đồ thị,…
9 Dựa vào mục đích sử dụng
Trang 19- Bài tập dùng để kiểm tra đầu giờ
- Bài tập dùng để củng cố kiến thức
- Bài tập dùng để ôn luyện tổng kết
- Bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi
- Bài tập để phụ đạo học sinh yếu…
10 Dựa theo các bước của quá trình dạy hoc
- Bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học
- Bài tập vận dụng khi giảng bài mới
- Bài tập củng cố, hệ thông hóa kiến thức
- Bài tập về nhà
- Bài tập kiểm tra
Ngoài ra có thể dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức có thể chia thành
- Bài tập tái hiện: bài tập yêu cầu học sinh nhớ lại, tái hiện kiến thức, kĩ năng
đã học
- Bài tập sáng tạo: Bài tập yêu cầu học sinh phải áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong tình huống mới, phải vận dụng phối hợp các kiến thức để giải quyết vấn đề Ở mức độ cao hơn, bài tập sáng tạo đòi hỏi HS giải quyết vấn đè theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, một phương pháp mới
Trong thực tế dạy học, có 2 cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả là phân loại theo nội dung và theo dạng bài
TỔNG QUÁT VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC
BTĐT BTĐL BTĐT BTĐL
NCTLM HTKTKN KTĐG NCTLM HTKTKN KTĐG Ghi chú:
- BTHH: Bài tập hóa học - BTĐL: Bài tập định lượng
Trang 20- BTĐG: Bài tập đơn giản - NCTLM: Nghiên cứu tài liệu mới
- BTNC: Bài tập nghiên cứu - HTKTKN: Hoàn thiện kiến thức kĩ năng
- BTĐT: Bài tập định tính - KTĐG: Kiểm tra đánh giá
1.1.4 Qui trình giải bài tập hóa học [12]
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau:
1/ Nghiên cứu đầu bài
- Đọc kĩ đầu bài
- Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đầu bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ cho dễ sử dụng)
- Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thuyết cơ bản
- Viết các phương trình phản ứng có thể xảy ra
2/ Xây dựng tiến trình luận giải
Thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đến cái đã cho Bằng cách xét một vài các bài toán phụ liên quan Tính logic của bài toán có chặt chẽ hay không là
ở giai đoạn này Nếu giáo viên biết rèn luyện cho học sinh tự xây dựng cho mình một tiến trình luận giải tốt, tức là giáo viên đã dạy cho học sinh bằng bài tập Thông qua đó học sinh không chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy luận, lập luận để giải bất kì một bài tập nào khác Điều này được thông qua một số dạng câu hỏi như sau (giáo viên gợi ý sau đó tập dần cho học sinh
tự đặt câu hỏi)
3/ Thực hiện tiến trình giải
Quá trình này ngược với quá trình giải, mà thực chất là trình bày lời giải một cách tường minh từ giả thiết đến các cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn
là đặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phương trình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần)
4/ Kiểm tra đánh giá việc giải
Bằng cách khảo sát lời giải đã được tìm, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đến kết quả bằng cách khác không? Tối ưu hơn không? Tính đặc biệt của bài toán là gì? Trên thực tế ngay cả với những học sinh giỏi, sau khi tìm ra cách giải
và trình bày lập luận của mình một cách sáng sủa, cũng xem như việc giải đã kết
Trang 21thúc Như vậy chúng ta đã bỏ lỡ một giai đoạn quan trọng và rất bổ ích cho việc học hỏi Việc nhìn lại cách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, học sinh
có thể củng cố kiến thức và phát triển khả năng giải bài tập của mình Người giáo viên phải hiểu và làm cho học sinh hiểu: không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng còn lại một cái gì để suy nghĩ Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thể hoàn thiện cách giải và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâu sắc hơn
1.1.5 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học vận dụng
- Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả của quá trình nhận thức bao gồm “một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng
và khái niệm lĩnh hội được giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòi hỏi tương ứng”
- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích lũy thêm kỹ năng, kỹ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của học sinh
- Theo M.A Đanilôp “Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động
lý thuyết cũng như thực tiến Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động Còn kỹ xảo là hành động
mà những hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hóa Kỹ xảo là mức
độ cao của sự nắm vững kỹ năng Nếu như kỹ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tự kiểm tra, sự tự giác, tỉ mỉ thì kỹ xảo là hành động đã được tự động hóa, trong đó sự
tự kiểm tra, tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một tổng thể, dễ dàng và nhanh chóng
- Sự nắm vững kiến thức được phân biệt ở 3 mức độ: Biết, hiểu và vận dụng được
+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến thức khác, kể lại một hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu mà học sinh cần đạt được trong giờ học tập
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được
nó vào hệ thống kinh nghiệm của bản thân Nói cách khác, hiểu một kiến thức là
Trang 22nêu đúng ngoại hàm và nội diện của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và hệ thống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống quen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìm được những kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm
vụ mới Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơn càng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo làm cho mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc và gần gũi Mặt khác trong khi vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng kỹ xảo được hình thành và củng cố, hứng thú học tập của học sinh được nâng cao
- Để đảm bảo cho học sinh nắm được kiến thức hóa học một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kỹ năng vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau Trong đó việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đến khó
là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theo nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy kiến thức sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức
ấy giải quyết các bài toán khác nhau Ở đây chúng ta thấy rõ quan hệ biện chứng giữa nắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của học sinh:
1.2 Vấn đề phát triển năng lực và phẩm chất người học
1.2.1 Bản chất của năng lực trí tuệ [3]
Ở nước ta với trình độ khoa học kĩ thuật còn thấp, việc “nâng cao dân trí”, việc hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng của trường phổ thông phải được thực hiện để biến thành hiện thực
“Năng lực trí tuệ” là một vấn đề phức tạp và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Có người cho rằng năng lực trí tuệ là sự bừng tỉnh, là sự mò mẫm có phương hướng nhưng một số nhà tâm lí học xem trí tuệ là một nhận thức của con người bao gồm cả kinh nghiệm, đó là vì năng lực trí tuệ biểu hiện dưới hiều mặt như:
Trang 23- Mặt nhận thức: như mau biết, nhanh hiểu, mau nhớ, mau hiểu, biết truy xét, tìm ra nhanh các qui luật
- Khả năng tưởng tượng: như óc tưởng tượng phong phú, hình dung ngay và đúng điều người khác nói
- Ở hành động: như sự nhanh trí, tháo vát, linh hoạt và sáng tạo
- Ở phẩm chất: như óc tò mò, lòng say mê, hứng thú làm việc, sự kiên trì, miệt mài…
- Tổng hợp các năng lực trí tuệ của con người (như quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy) mà đặc trưng cơ bản nhất là tư duy độc lập và sáng tạo nhằm ứng phó tình huống mới gọi là trí thông minh
Trí thông minh có liên quan đến các chức năng tâm lý sau:
+ Nhận thức được đặc điểm bản chất của tình huống mới do người khác nêu ra hoặc tự mình đưa ra được vấn đề cần giải quyết
+ Sáng tạo ra công cụ mới, phương pháp mới, cách thức mới phù hợp với hoàn cảnh mới (trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm tiếp thu được trước đó)
Vì vậy trí thông minh không chỉ bộc lộ qua nhận thức mà qua cả hành động (lý luận và thực tiễn)
Một số nhận xét về việc phát triển năng lực trí tuệ
- Thực chất của việc phát triễn năng lực trí tuệ là hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo của người học thông qua giải bài tập nhận thức
- Việc hình thành và phát triển năng lực trí tuệ phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, thống nhất và có hệ thống
- Phát triển năng lực trí tuệ phải song song với việc giáo dục tình cảm rèn luyện phẩm chất tốt đẹp cho người học
- Muốn phát triển năng lực trí tuệ phải xây dựng nội dung học tập hợp lý Tức
là nội dung kiên thức phù hợp với đối tượng và luôn học hỏi ở mức độ phát triển cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn
- Giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh suy nghĩ, chủ động, độc lập và sáng tạo trong quá trình bài tập nhận thức
Trang 241.2.2 Tư duy hóa học
1/Khái niệm tư duy [8]
Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú ý đến sự phát triển tư duy cho học sinh thông qua việc điều khiển tối ưu qua trình dạy học, còn các thao tác tư duy cơ bản là công cụ của quá trình nhận thức Vậy tư duy là gì? Tư duy có các thao tác cơ bản nào?
Thông thường, tư duy được hiểu là suy nghĩ Đó là quá trình sắp xếp, nhào nặn những điều đã có trong đầu để tìm ra những cái gì mới mẻ, nhằm trả lời các vấn đề, các câu hỏi đặt ra
Dưới góc độ tâm lý học, tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong hiện thực khách quan mà trước đó chủ thể nhận thức chưa biết, chỉ nảy sinh trước các tình huống có vấn đề,
tư duy hướng vào việc tìm kiếm cái mới thông qua sự kết hợp của hai kiểu tư duy:
tư duy phê phán và tư duy sáng tạo
Những thao tác tư duy: Trong giáo dục học người ta thường sử dụng các tháo tác tư duy sau:
- Phân tích, tổng hợp
- So sánh (tuần tự và đối chiếu)
- Trừu tượng hóa và khái quát hóa
Tư duy là tài nguyên vốn có tột cùng của con người, bởi vì trong cuộc sống, lao động và học tập… biết tư duy sẽ tăng thêm hiệu quả công việc, khẳng định thêm
sự “tồn tại” của chính con người Tuy nhiên nguồn tài nguyên này không có sẵn mà được hình thành trong cuộc sống của mỗi người qua sự tích cực tương tác giữa họ với các thành tựu của nền văn minh nhân loại Vì vậy giáo dục tư duy là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các hệ thống giáo dục, trong đó giáo dục phổ thông càng có vai trò quan trọng hơn hết
Trang 25- Tính định hướng: thể hiện ở ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và con đường tối ưu để đạt mục đích đó
- Bề rộng: thể hiện ở khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác
- Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật hiện tượng
- Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức
và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo
- Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều
- Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề
- Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra
mô hình khái quát Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các vấn
đề cùng loại
3/ Tư duy hóa học [9]
Tư duy hóa học được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức hóa học nghiên cứu các chất và các quy luật chi phối quá trình biến đổi các chất Khi tương tác với nhau, xảy ra sự biến đổi nội tại của mỗi chất để tạo thành các chất mới Sự biến đổi này tuân theo những nguyên lý, quy luật, những mối quan hệ định tính và định lượng hóa học Việc sử dụng các thao tác tư duy, sự suy luận đều phải tuân theo quy luật này
Cơ sở của tư duy hóa học là sự liên hệ quá trình phản ứng với sự tương tác giữa các tiểu phân của thế giới vĩ mô (phân tử, nguyên tử, ion, electron…), mối liên
hệ giữa đặc điểm cấu tạo với tính chất các chất, các quy luật biến đổi giữa các loại chất và mối quan hệ giữa chúng
Đặc điểm của tư duy hóa học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa sự biến đổi bên trong (quá trình phản ứng hóa học) với các biểu hiện bên ngoài (dấu hiệu nhận biết, điều kiện xảy ra phản ứng), giữa cái cụ thể: sự tương tác giữa các chất với cái trừu tượng như quá trình góp chung electron, trao đổi ion trong phản ứng hóa học Nghĩa là những hiện tượng cụ thể quan sát được liên hệ với những
Trang 26hiện tượng không nhìn thấy được mà chỉ nhận thức được bằng sự suy luận logic và được biểu diễn bằng ngôn ngữ hóa học – đó là các kí hiệu, công thức hóa học biểu diễn mối quan hệ bản chất các hiện tượng nghiên cứu
Qua quá trình dạy học hóa học, học sinh có thể được trang bị và rèn luyện 6 loại tư duy:
- Tư duy độc lập
Trong hóa học tư duy độc lập đối với học sinh là rất cần thiết, học sinh có thể rèn tư duy độc lập khi được thực hiện các nhiệm vụ vừa sức với mình Điều này dễ gây hứng thú với học sinh, tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt vấn đề một cách tự nhiên theo đúng quy luật của quá trình nhận thức
Khi dạy một số vấn đề trong chương trình hóa học phổ thông mà những bài học này mang tính giới thiệu thực tế hay mở rộng như “Sản xuất axit sunfuric”,
“Chu trình Nitơ trong tự nhiên”, “Phân bòn hóa học”, “muối iot”, “ozon-chất gây ô nhiễm hay chất bảo vệ”,…giáo viên có thể cho học sinh về nhà tự tìm hiểu, hay tìm hiểu thêm theo yêu cầu, lấy hình ảnh, phản ứng hoặc phương trình hóa học để chứng minh những nhận định của chính học sinh trong quá trình tìm hiểu bài
- Tư duy logic
Tư duy logic là một trong những kĩ năng không thể thiếu trong lĩnh hội các môn khoa học tự nhiên Đối với môn hóa học việc rèn tư duy logic cho học sinh còn
là nhiệm vụ quan trọng Thông qua các bài tập hóa học, học sinh rèn luyện tư duy logic, điều này được thể hiện rất rõ Ví dụ: Vì sao ta hay dùng bạc để “đánh gió” khi
bị bệnh cảm? Đây là một hiện tượng rất hay gặp trong thực tế, mọi người hay áp dụng theo kinh nghiệm nhưng không phải ai cũng hiểu được bản chất hóa học của
nó Để giải thích được hiện tượng này, học sinh cần phải vận dụng những kiến thức
về hóa học và sinh học, kết hợp với suy đoán Học sinh phải suy đoán được chất màu đen trên dây bạc là Ag2S, do đó suy đoán ra phản ứng kết hợp giữa Ag và S trong hợp chất Khi đã giải thích được hiện tượng đầu, học sinh sẽ dễ dàng giải thích được hiện tượng sau, đồng thời dữ kiện sau cũng chính là một gợi ý để học sinh dự đoán ra Ag2S Như vậy học sinh sẽ trả lời được khi bị bệnh cảm, trong cơ
thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H2S tương đối cao Chính lượng H2S sẽ làm
Trang 27cho cơ thể mệt mỏi Khi ta dùng Ag để đánh gió thì Ag sẽ tác dụng với khí H2S Do
đó, lượng H2S trong cơ thể giảm và dần sẽ hết bệnh Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ
có màu đen xám:
4Ag + 2H2S + O2 → 2Ag2S↓đen + 2H2O
- Tư duy trừu tượng
Với trình độ của khoa học ngày nay, các nguyên tử chưa được nhìn thấy bằng mắt, vậy làm sao để có thể mô tả được các hiện tượng xảy ra trong hóa học bằng bản chất của các hiện tượng đó Tư duy trừu tượng được sử dụng như một công cụ đắc lực hỗ trợ cho quá trình nhận thức Qua tư duy trừu tượng các phân tử
có thể kết hợp với nhau được mô tả bằng công thức hóa học, quá trình diễn ra trong phản ứng hóa học được mô tả bằng các phương trình hóa học, sự cho nhận electron được mô tả bằng các quá trình oxi hóa khử Với sự giúp sức của công nghệ thông tin, quá trình tạo tư duy trừu tượng cho học sinh được dễ dàng hơn
- Tư duy biện chứng
Môn hóa học là một môn khoa học mang tính thực tiễn cao, nó mô tả các tất yếu khách quan các hiện tượng dưới góc độ hóa học Tất cả các hiện tượng đều xảy
ra trong một quy luật biện chứng Vậy rèn luyện tư duy biện chứng cho học sinh cũng là nhiệm vụ của môn hóa học
- Tư duy phê phán
Trong học tập tư duy phê phán sẽ giúp cho người học luôn tìm ra những hướng đi mới trong suy nghĩ và hành động, tránh rập khuôn, máy móc Khoa học luôn phát triển theo quy luận phủ định của phủ định, tuy nhiên luôn có tính kế thừa
để phát triển
- Tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là một hình thức tư duy cao nhất trong quá trình tư duy, việc
tư duy sáng tạo giúp cho người học không gò bó trong không gian tri thức của người thầy đặt ra
Trang 281.3 Quan hệ giữa BTHH và việc phát triển năng lực phẩm chất của học sinh [9]
Theo thuyết hoạt động có đối tượng thì năng lực chỉ có thể hình thành và phát triển trong hoạt động Để giúp học sinh phát triển tư duy mà đỉnh cao là tư duy sáng tạo, bước đầu cần tạo cho các em khả năng suy nghĩ, làm việc độc lập Chỉ khi có được tư duy độc lập thì các tư duy khác mới bắt đầu hình thành và phát triển
Người học phải rèn luyện dần từ dễ đến khó để phát triển tư duy độc lập Rồi học dần những thao tác, những cách làm việc khoa học như quan sát, so sánh, dự đoán bằng suy nghĩ theo từng bước tương tự như phân tích tổng hợp Làm thực nghiệm để quy nạp, tập phát thiện ra mâu thuẫn tức là luyện tập các thao tác tư duy logic và biện chứng
Khi làm bài tập hoặc nghiên cứu khoa học, học sinh có được cách làm việc
tự lực, tự trả lời các câu hỏi nảy sinh trong học tập cũng như trong cuộc sống Cứ thế tư duy độc sẽ phát triển theo từng bước dần dần hình thành tư duy phê phán, năng lực phát hiện vấn đề rồi từ đó hình thành tư duy sáng tạo, giải quyết được vấn
đề một cách mới mẻ
Học sinh chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi họ thực sự tư duy Vì thế phát triển năng lực tư duy có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh Bằng cách tư duy người học có thể nắm bắt được kiến thức một cách dễ dàng hơn, vận dụng kiến thức vào thực tế linh hoạt và mềm dẻo hơn
Trong học tập hóa học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho học sinh là hoạt động giải bài tập hóa học Vì vậy giáo viên cần phải tạo điều kiện để thông qua hoạt động này thì năng lực trí tuệ được phát triển, học sinh
sẽ có những phẩm chất tư duy mới thể hiện ở:
- Năng lực phát hiện vấn đề mới
- Tìm ra hướng đi mới
- Tạo ra kết quả học tập mới
Để có được những kết quả trên, người giáo viên cần ý thức được mục đích của việc giải bài tập hóa học không phải chỉ tìm ra được đáp án đúng mà còn là phương tiện khá hiệu quả để rèn luyện tư duy hóa học cho học sinh Bài tập hóa học
Trang 29phải đa dạng, phong phú về loại và được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học như nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, luyện tập, kiểm tra…Thông qua hoạt động giải bài tập mà các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…thường xuyên được rèn luyện và phát triển, các năng lực: quan sát, trí nhớ, óc tưởng tượng, suy nghĩ độc lập,…không ngừng được nâng cao, tạo hứng thú và lòng say mê học tập Qua đó học sinh phát triển năng lực nhận thức,
tư duy logic, biện chứng, khái quát; phát huy khả năng suy luận, tích cực
Với những bài tập có nhiều cách giải sẽ giúp rèn luyện trí thông minh cho học sinh thông qua việc học sinh tự chọn một cách giải độc đáo hiệu quả Bên cạnh
đó, học sinh còn thường xuyên được rèn luyện ý thức tự giác trong học tập, nâng cao khả năng hiểu biết của bản thân, giúp học sinh năng động, sáng tạo, thấy được giá trị lao động qua những bài tập thực hành, thực nghiệm, liên quan đến thực tế đời sống và sản xuất Thông qua hoạt động giải bài tập sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện và phát triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu biết thế giới của học sinh lên tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh
Sơ đồ Quan hệ giữa giải BTHH và phát triển tư duy
BTHH Hoạt động giải BTHH
Nghiên cứu
đề bài
Tiến trình luận giải
Đánh giá việc giải
Thực hiện tiến trình giải
Phê phán
Hình tượng
Khái quát
Đa hướng
Sáng tạo
Phát triển tư duy
Trang 301.4 Tình hình đổi mới phương pháp dạy học và bài tập hóa học theo hướng phát triển năng lực phẩm chất của người học hiện nay
1.4.1 Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm
Nhiều trường học đã xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, phòng học khang trang, phòng thực hành bộ môn, có thư viện, có phòng máy tính cho học sinh, có phòng dạy giáo án điện tử phục vụ cho công tác dạy học Xây dựng các phòng thí nghiệm, phòng máy, trang thiết bị, mô hình, tranh ảnh, các hóa chất, dụng cụ thí nghiệm,… đầy đủ Tuy nghiên vẫn còn nhiều trường ở vùng quê, vùng núi khó khăn chưa có điều kiện để trang bị Học sinh học lý thuyết chay, ít có điều kiện thực hành Trong khi đó những trường có điều kiện thì chưa tận dụng triệt để, nhiều giáo viên cả năm học lên lớp mà đến phòng thí nghiệm mượn đồ dùng, dụng cụ dạy học chỉ có vài lần Học sinh sẽ cảm thấy căng thẳng, áp lực và khó tiếp thu bài nếu không có sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện dạy học trực quan Điều đó làm cho chất lượng giáo dục chưa thực sự đạt hiệu quả tích cực
1.4.2 Về phương pháp dạy học
1/ Phương pháp dạy
- Giờ lý thuyết học bài mới
Đa số giáo viên còn nặng nề các phương pháp dạy học truyền thống, chưa mạnh dạn sử dụng nhiều các phương pháp, phương tiện dạy học tích cực Bên cạnh
đó còn ngại đặt vấn đề khi vào bài mới vì họ cho rằng đều đó làm mất thời gian, do
đó học sinh cảm thấy áp lực học tập nặng nề và không có hứng thú học Thực tế thấy rằng học sinh sẽ cảm thấy hứng thú, monh muốn tìm hiểu vấn đề và giáo viên đặt ra để tự mình thỏa mãn những thắc mắc Hóa học là một môn khoa học gắn liền với thực nghiệm, nhiều giáo viên ở các trường không có điều kiện phải tự sáng chế
đồ dùng dạy học, trong khi đó nhiều giáo viên có điều kiện vẫn chưa sử dụng triệt
để những thuận lợi đó cho bài giảng của mình Như vậy làm sao có thể thuyết phục học sinh tin tưởng vào khoa học và tạo dựng cho các em niềm say mê, yêu thích môn học?
- Giờ thực hành
Trang 31Hiện nay các phương pháp dạy học mới đang chú trọng giờ thực hành, tăng
số tiết thực hành Các trường đã đảm bào được các buổi thực hành, cho học sinh làm những thí nghiệm đơn giản, ít độc hại Tuy nhiên, giáo viên rất ít đặt ra những tình huống có vấn đề để buộc học sinh phải suy nghĩ, làm thực nghiệm để thuyết phục bản thân Do đó, giờ thực nghiệm vẫn chỉ làm theo yêu cầu mà chưa kích thích
được óc sáng tạo, trí thông minh, chưa phát triển năng lực phẩm chất của học sinh
- Giờ ôn tập, luyện tập
Trong giờ ôn tập giáo viên dành phần lớn thời gian để giải quyết các bài tập Tuy vậy những bài tập do giáo viên đưa ra chỉ dừng lại ở mặt bằng chung của học sinh trong lớp Do trình độ học sinh không đồng đều cộng với quỹ thời gian hạn chế nên người giáo viên chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu của đại bộ phận học sinh trong lớp Cho nên để có điều kiện phát triển, bồi dưỡng trí thông minh, năng lực, phẩm chất cho học sinh là một điều hết sức khó khăn
- Kiểm tra – đánh giá
Yêu cầu cần thiết của một đề kiểm tra là phải phân loại được học sinh Tuy nhiên không ít trường học vì chạy theo thành tích, không để học sinh trường mình lưu ban nên đã ra đề dễ dàng Điều này là một nguyên tắc phản giáo dục, nó không những không giúp giáo viên phát hiện được nhân tài thật sự mà còn làm thui chột ý thức phấn đấu của học sinh Bên cạnh đó nhiều giáo viên vẫn chưa đưa được bài tập thực nghiệm vào trong bài kiểm tra, do đó việc phát triển kĩ năng sống cho học sinh còn nhiều hạn chế
- Cách tổ chức lớp khi làm bài tập
Vẫn còn một số giáo viên làm bài mẫu hoặc gọi học sinh biết làm lên bảng rồi cho học sinh làm bài áp dụng chứ ít khi cho học sinh độc lập suy nghĩ hay thảo luận và lên thuyết trình
Đối với cách dạy thông thường thì chỉ cần tổ chức cho học sinh hoạt động tìm ra đáp số của bài toán Để phát triển tư duy và rèn tính thông minh cho học sinh thì làm như thế là chưa đủ, mà phải cho học sinh trả lời các câu hỏi sau: Thông qua bài này lĩnh hội được những kiến thức gì cho mình? Các “bẫy” đặt ra trong bài toán nhằm phát triển các thao tác tư duy là gì? Nếu thay đổi hoặc bớt một số dữ kiện thì
Trang 32bài toán có giải được không? Ngoài cách giải trên còn có cách nào khác ngắn gọn
và hay hơn nữa không? Chỉ khi nào làm được những điều trên thì học sinh mới hiểu hết tác dụng của từng bài toán
Khi giải bài toán, một số giáo viên đã tổ chức cho mọi đối tượng HS cùng tham gia tranh luận Khi nói lên được một ý hay, giải bài toán đúng với phương pháp hay sẽ tạo ra cho học sinh niềm vui, một sự hung phấn cao độ, kích thích tư duy, nổ lực suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn thế nữa
2/ Phương pháp học
Một số học sinh có phương pháp học tập tích cực, hiệu quả, tự giác, tự rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, tìm tòi sáng tạo, tự lực tiếp thu kiến thức, vận dụng trong giải bài tập và thực tiễn, đạt thành tích tối ưu Một số học sinh học tập ở nơi yên tĩnh, đúng giờ giấc, đặt ra mục tiêu cụ thể trong học tập, biết cách sử dụng sơ đồ tư duy
để ghi nhớ kiến thức hiệu quả, luôn trau dồi kiến thức cho bản thân Bên cạnh đó vẫn còn các tiêu cực trong phương pháp học tập của học sinh
Đa số học sinh trước khi đến lớp không đọc trước bài mới, chưa tìm hiểu rõ
về nội dung kiến thức chuẩn bị ở nhà Một số học sinh còn không quan tâm đến việc học của bản thân, về nhà không làm bài tập, không học bài cũ, học để đối phó Trong tiết học một số học sinh còn thụ động, chưa tích cực tham gia các hoạt động trong giờ học Đa số học sinh biết vận lý thuyết để giải bài tập nhưng hiểu rõ bản chất của vấn đề, chưa biết được mục đích của các bài toán đó là gì?
Đa số học sinh chỉ học trong sách giáo khoa, chưa biết tìm tòi những kiến thức mới trong thực tiễn, học sinh tiếp thu kiến thức từ giáo viên và từ sách giáo khoa là chính Khi giải bài tập, học sinh chỉ quan tâm đến việc tìm ra kết quả của bài toán mà không tìm hiểu, suy nghĩ bài toán đó cung cấp ta kiến thức gì
Đa số học sinh còn lười học, học để đối phó, không phát huy được khả năng
tư duy, sự tìm tòi sáng tạo Học sinh học tập với tinh thần mệt mỏi, không thích thú, không sưu tầm những kiến thức, bài tập hay, có thắc mắc không dám hỏi Chính vì vậy, dẫn đến kết quả học tập kém, không phát huy được hết tìm lực của bản thân
Trang 331.4.3 Về bài tập hóa học
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay yêu cầu phải đôi mới về bài tập hóa học, trong đó loại bỏ dần những bài tập nặng về tính toán mà chỉ sử dụng những bài tập nêu đúng bản chất hóa học và tăng cường bài tập thực nghiệm
Thực tiễn cho thấy bài tập hóa học không chỉ có tác dụng ôn tập, củng cố kiến thức đã học mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triển năng lực tư duy
và rèn luyện trí thông minh cho học sinh Tuy nghiên việc sử dụng bài tập hóa học như là một phương pháp dạy hiệu nghiệm thì chưa được chú ý đúng mức
Qua việc tìm hiểu có một số nhận xét sau về tình hình sử dụng bài tập hóa học
- Về các dạng bài tập: hay dùng câu hỏi lý thuyết, bài tập lý thuyết định tính trong dạy học Đặc biệt bài toán hóa học là dạng bài không thể thiếu Còn những dạng bài tập như bài tập có thí nghiệm, hình vẽ hay bài tập thực nghiệm định lượng hầu như không được chú ý
- Mục đích sử dụng bài tập: bài tập giúp học sinh nhớ lý thuyết, rèn luyện kĩ năng và đáp ứng nhu cầu kiểm tra, thi cử vẫn là mục đích sử dụng cao nhất Tiếp theo là bài tập giúp học sinh vận dụng và mở rộng kiến thức Riêng bài tập nhằm mục đích giúp học sinh tự tìm tòi kiến thức và rèn kĩ năng tự học thì ít được sử dụng Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực phẩm chất của học sinh
- Giáo viên và học sinh hầu hết đều quan tâm đến kết quả của bài toán nhiều hơn quá trình giải toán Tất nhiên trong quá trình giải, các thao tác tư duy được vận dụng, các kỹ năng suy luận, kỹ năng tính toán, kỹ năng viết và cân bằng phương trình hóa học được rèn luyện Thế nhưng, nếu chú ý rèn tư duy cho học sinh trong quá trình giải thì việc giải để đi đến đáp số đơn giản hơn rất nhiều
Trang 34CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC PHẨM CHẤT HÓA HỌC CHO HỌC SINH 2.1 Chuẩn bị cho người giáo viên hóa học, người giáo viên hóa học cần phải làm gì để dạy theo hướng phát triển năng lực [5]
- Có lòng yêu trẻ, yêu nghề, tận tình chỉ dạy học sinh, có như vậy thì giáo viên mới có thể làm tốt công việc của mình với tâm trạng thoải mái và có hiệu quả
- Giáo viên phải nắm rõ tình hình học sinh trong lớp để có phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng
- Trong quá trình dạy học người giáo viên cần phải biết nêu các vấn đề xung quanh bài học, đề ra công việc cho học sinh có tính chất nghiên cứu để làm tăng tính tò mò, kích thích niềm hăng say học tập bộ môn
- Giáo viên phải biết khéo léo kết hợp giữa lời giảng và thí nghiệm để học sinh dễ tiếp thu bài học Giáo viên có thể sử dụng thí nghiệm để gợi mở một vấn đề trong giờ học bài mới hoặc dùng nó để chứng minh bài học…
- Giáo viên vận dụng sáng tạo việc sử dụng hình vẽ, hình ảnh, mô hình để cụ thể hóa những máy móc phức tạp, giúp học sinh dễ tiếp thu và nắm vững nội dung kiến thức Giáo viên cần chú ý biểu diễn hình vẽ chính xác, các phép vẽ đúng và hợp lý
- Khi sử dụng phương pháp thuyết trình để truyền đạt kiến thức, giáo viên phải chú ý đảm bảo tính khoa học, giáo dục và tính thiết thực của bài giảng, phải chặt chẽ về mặt logic, phải đảm bảo cho học sinh ghi chép được và biết cách ghi chép Muốn làm được điều đó, người giáo viên phải có sức truyền cảm và thuyết phục trong lời nói của mình: ngôn ngữ nói phải được chọn lọc, chính xác, ý tứ trong
Trang 35sáng, dễ hiểu, biểu thị cảm xúc khi nói, những công thức hóa học mới, danh pháp mới phải viết lên bảng để học sinh nắm được…
- Đối với việc ra bài tập: giáo viên phải biết chọn lọc, ra những bài tập điển hình, có đủ loại và có tính mục đích rõ rang, có bài tập chung cho cả lớp cũng có những bài tập riêng cho học sinh khá giỏi, Ra bài tập phải có kiểm tra, nhận xét, khuyến khích, động viên
- Thường xuyên ra bài tập với mức độ thích hợp để học sinh bắt buộc phải tự giác học tập, có kiểm tra, đánh giá
- Khi xây dựng bài tập hóa học cho học sinh, giáo viên cần phải xem xét các bài tập đó như những nấc thang Giáo viên là người hướng dẫn để học sinh bước qua những nấc thang đó đễ dàng, vững chắc, tránh bở qua những nấc quan trọng
- Giáo viên chú trọng xây dựng bài tập thực nghiệm giúp học sinh cảm thấy Hóa học trở nên gần gũi với cuộc sống, làm đa dạng hóa kiến thức của học sinh Từ
kĩ xảo trong quá trình làm và biểu diễn thí nghiệm
- Giáo viên thường xuyên kiểm tra với nhiều hình thức (kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, làm toán nhanh…) để ôn tập, củng cố kiến thức và đôn đốc việc học của học sinh Việc kiểm tra đúng mức sẽ giúp giáo viên phát hiện những khó khăn, sai sót trong quá trình làm bài của học sinh, từ đó có kế hoạch điều chính uốn nắn kịp thời Việc kiểm tra, đánh giá còn giúp tích lũy thêm kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân giáo viên
- Trong giờ học, giáo viên cần đưa vào nững bài tập đố vui, các trò chơi Giáo viên kết hợp với tổ chuyên môn tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, tổ chức các câu lạc bộ, các buổi chuyên đề, dã ngoại để giảm bớt căng thẳng và làm tăng hứng thú học tập cho học sinh
Trang 36Một người giáo viên dạy giỏi là người biết truyền đạt những gì cho học sinh
và truyền đạt như thế nào Hiệu quả công tác dạy học cho giáo viên sẽ được phản ánh rõ rệt qua kết quả học tập của học sinh
2.1.2 Người học sinh phải làm gì để học giỏi môn hóa học một cách thông minh
Trước hết người học sinh cần có sự đam mê, nhờ có sự đam mê người học mới cảm thấy thích khi học môn này Từ đó chuyên tâm hơn, thích mày mò tìm hiểu hơn, thích làm bài tập hóa học hơn Nhớ là khi làm bài tập hóa học môn hóa, người học nên tìm hiểu nhiều cách học khác nhau, nếu cách làm dài hơn của giáo viên thì hãy chép lại cách của giáo viên để tham khảo, có thể áp dụng vào bài toán khác,…
- Chất lượng dạy học phụ thuộc vào cả người dạy và người học Tuy nhiên, muốn học giỏi môn hóa cũng như bất cứ môn học nào trước hết học sinh phải nỗ lực và tự rèn luyện bản thân mình
- Học sinh phải chăm chỉ học tập, trong lớp chú ý nghe giảng bài, không nói chuyện, làm việc riêng để tiết kiệm thời gian phải học lại kiến thức ở nhà, đồng thời
có chỗ nào chưa hiểu thì có thể kịp thời phát hiện và trao đổi với giáo viên
- Học sinh phải thường xuyên làm bài tập và làm nhiều bài tập, giải các bài tập trong sách giáo khoa, sách tham khảo từ những bài tập đơn giản đòi hỏi trình độ biết, hiểu và vận dụng kiến thức đến những bài tập đòi hỏi phải biết tư duy, dần dần nâng lên mức độ khó hơn
- Phải tích cực, tự giác và nỗ lực hết mình giải bài tập Nếu không giải được thì mới nhờ đến sự hướng dẫn của sách tham khảo hay của giáo viên Học sinh phải luôn có thắc mắc, luôn tự đặt câu hỏi “tại sao”, giải đáp được các câu hỏi đó sẽ giúp học sinh hiểu kĩ và sâu rộng vấn đề
- Khi giải quyết một bài tập, trước hết phải đọc kĩ đề, tóm tắt và tìm ra những điểm mấu chốt, từ đó tư duy phương pháp giải Phải biết tìm tòi tối đa các cách giải,
từ đó kết luận phương pháp giải nhanh gọn, đạt hiệu quả cao nhất
- Học sinh phải tích cực nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo để mở rộng thêm kiến thức Chủ động nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đời sống, sản xuất và các vấn đề mang tính toàn cầu Điều đó không chỉ giúp mở rộng kiến thức thực tế mà còn giúp học sinh nâng cao hứng thú, say mê khoa học hóa học
Trang 37- Luôn tích cực, chú ý, nhận xét những câu trả lời, cách giải của các bạn trong lớp, qua đó rèn luyện khả năng tư duy, học hỏi từ bạn bè và củng cố lại kiến thức của bản thân
- “Học bài nào xào bài ấy”, không để đến khi kiểm tra mới tích cực học tập
- Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, chính vì vậy để học tốt môn học này học sinh phải có niềm say mê thực nghiệm Trước hết cần pải tham gia tích cực các giờ thực hành, cố gắng tìm tòi, nghiên cứu các thí nghiệm
- Tích cực tham gia các câu lạc bộ, các buổi sinh hoạt nội khóa, chuyên đề do trường lớp tổ chức sẽ giúp học sinh mở mang trí óc, nâng tầm hiểu biết sâu rộng hơn
2.2 Những biện pháp phát triển năng lực phẩm chất hóa học cho học sinh thông qua BTHH
Ví dụ: Trong thí nghiệm về tính tan nhiều của HCl trong nước, đầu tiên phải
điều chế khí HCl Thường dùng cách cho tinh thể NaCl tác dụng với axit H2SO4đậm đặc và đun nóngvà thu bằng cách ngửa bình Học sinh quan sát HCl thu được, rút ra nhận xét: HCl là chất khí, không màu, nặng hơn không khí, nếu có một ít HCl thoát ra, giáo viên để quỳ tím ẩm vào thì quỳ tím ẩm chuyển thành màu đỏ
b Quan sát một công thức
Đầu tiên học sinh cần phải quan sát công thức đó là đơn chất (chỉ có một nguyên tố) hay hợp chất (có từ hai nguyên tố trở lên) Nếu là hợp chất thì thuộc dạng gì: axit, bazơ, muối hay oxit, tính oxi hóa khử ra sao Từ đó học sinh suy luận tính chất hóa học của chất đó Như vậy, việc quan sát giúp cho học sinh có cái nhìn bao quát về một chất, tùy theo điều kiện đề bài, học sinh suy luận, tìm cách giải
Trang 38Ví dụ: Viết và cân bằng phương trinh phản ứng khi cho FeO tác dụng với dung
dịch axit H2SO4 đặc nóng
Quan sát FeO, học sinh nhận thấy đó là một hợp chất thuộc dạng oxit bazơ, trong đó Fe có số oxi hóa +2, do đó FeO có thể thể hiện tính oxi hóa cũng như tính khử Khi tác dụng với chất có tính oxi hóa mạnh như H2SO4 đặc nóng thì FeO sẽ thể hiện tính khử
Phương trình phản ứng: 2FeO + 4 H2SO4 → Fe2(SO4)3 + SO2 + 4H2O
c Quan sát thí nghiệm
Trước hết, học sinh cần phải quan sát những dụng cụ, hóa chất trong thí nghiệm Những dụng cụ đó để làm gì, có tác dụng như thế nào, những hóa chất nào được sử dụng Sau đó giáo viên chuẩn bị cho học sinh quan sát, hướng dẫn học sinh cần phải quan sát cái gì, các tính chất của nó như thế nào về trạng thái, màu sắc, mùi,… Quan sát tốt thí nghiệm sẽ củng cố niềm tin vào khoa học, qua đây học sinh học hỏi được cách tổ chức, sắp xếp và tiến hành thí nghiệm của giáo viên, các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết
Ví dụ: Quan sát thí nghiệm Cu tác dụng với dung dịch H2SO4 đặc, nóng Những dụng cụ và hóa chất cần thiết gồm: ống nghiệm, kẹp ống nghiệm, giá đựng ống nghiệm, đèn cồn, dung dịch H2SO4 đặc, nóng, đồng, bông tẩm xút, cánh hoa hồng Giáo viên chuẩn bị cho học sinh quan sát, yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng xảy ra Học sinh quan sát được, có khí không màu thoát ra, đồng thời tạo thành dung dịch có màu xanh lam, cánh hoa hồng để trên miệng ống nghiệm có hiện tượng bị tẩy màu Và học sinh học được kĩ năng xử lý khí SO2 độc thoát ra bằng bông tẩm xút
d Quan sát hiện tượng tự nhiên
Bài tập về các hiện tượng tự nhiên làm cho học sinh thấy các quá trình hóa học luôn xảy ra trong tự nhiên quanh ta Giải thích được các hiện tượng tự nhiên, học sinh sẽ yêu thích môn hóa học hơn, có niềm tin vào khoa học, đồng thời giáo dục chủ nghĩa duy vật biện chứng cho học sinh
Ví dụ: Hiện tượng mưa axit là gì? Tác hại như thế nào?
Trang 39Giải thích: - Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô,
xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2, Các khí này tác dụng với khí oxi O2 và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác là các oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3
e Quan sát phản ứng hóa học
Học sinh quan sát chất tham gia phản ứng, qua phản ứng hóa học tạo thành sản phẩm có tính chất như thế nào so với chất ban đầu, phản ứng xảy ra dưới điều kiện như thế nào về nhiệt độ, áp suất, xúc tác,…, phản ứng xảy ra một chiều hay thuận nghịch, tùy thuộc vào tỉ lệ chất tham gia xác định sản phẩm tạo thành…
Ví dụ: Phản ứng giữa H2S và NaOH Tùy thuộc vào tỉ lệ số mol giữ NaOH và
H2S mà tạo ra những sản phẩm khác nhau
f Quan sát một bài tập thực nghiệm
Bài tập thực nghiệm giúp nâng cao kĩ năng thực hành, rèn luyện trí thông minh, phát triển năng lực tư duy hóa học của học sinh và nâng cao hứng thú học tập
bộ môn
Ví dụ: Trong phòng thí nghiệm có 4 lọ hóa chất mất nhãn lần lượt chứa một
trong các chất sau: NaCl, NaBr, NaF, NaI Hãy trình bài phương pháp hóa học để nhận biết các lọ dung dịch trên
Phân tích: Trích mẫu thử từ các lọ vào các ống nghiệm riêng lẻ Nhỏ vào các mẫu thử vài giọt dung dịch bạc nitrat AgNO3 quan sát hiện tượng
- Mẫu có xuất hiện kết tủa trắng thì lọ chứa mẫu NaCl
- Mẫu có xuất hiện kết tủa vàng thì lọ chứa mẫu NaBr hoặc NaI
- Mẫu không có hiện tượng gì thì lọ chứa mẫu NaF
Trang 40Tiếp tục trích mẫu thử ở 2 lọ mà thí nghiệm trên cho kết tủa vàng rồi nhỏ vào mẫu thử vài giọt brom và một giọt hồ tinh bột lắc nhẹ
- Mẫu chuyển sang màu xanh thì lọ dung dịch chứa mẫu NaI, còn lại là lọ dung dịch chứa mẫu NaBr
g Quan sát một bài toán bất kì
Học sinh cần đọc kĩ đề bài, tóm tắt bài toán dưới dạng sơ đồ ngắn gọn và logic nhất Phân tích các dữ kiện có trong đề bài, dự đoán các phương trình phản ứng có khả năng xảy ra Sau đó dựa vào số liệu tính toán, tìm ra hướng giải quyết nhanh gọn và hiệu quả nhất
Ví dụ: Khi cho 17,4 gam hỗn hợp Y gồm Fe, Al, Cu vào dung dịch H2SO4 loãng dư thu được dung dịch A , 6,4 gam chất rắn và 9,856 lít khí B ở 27,3oC ,1atm Các phản ứng xảy ra hoàn toàn Tính phần trăm khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp
- Học sinh sẽ tư duy được : Cu không phản ứng 6,4g chất rắn sau phản ứng là Cu Viết phản ứng :