BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tên đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp 5A, 5B Trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn - thể loại văn tả người” Họ và tên giáo viên: Nguyễn Thị Cúc, N
Trang 1BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tên đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp 5A, 5B Trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn - thể loại văn tả người”
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Dung
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Cầu Khởi A
1 Lý do chọn đề tài:
Trong môn Tiếng Việt, phân môn Tập làm văn có vị trí rất quan trọng.
Nhằm hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng quan sát lập dàn ý, tích lũykiến thức, tìm hiểu đề bài, viết đoạn văn hoàn chỉnh, bồi dưỡng năng lực quansát, rèn kỹ năng trình bày, rèn chữ viết cho học sinh Thực tế năm học này(2014-2015), chúng tôi được giao nhiệm vụ dạy lớp 5A, 5B chúng tôi nhận thấychất lượng phân môn Tập làm văn trong lớp chưa cao, nếu thực trạng này kéodài thì ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học sinh Do đó năm học 2014-2015
chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp giúp học sinh học lớp 5A, 5B Trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn - thể loại văn tả người” để
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài này là tìm ra cơ sở lí luận, tìm ra các giải pháp giúphọc sinh học tốt phân môn Tập làm văn - thể loại văn tả người nhằm nâng caochất lượng dạy và học
3 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
- Học sinh học lớp 5A, 5B Trường Tiểu học Cầu Khởi A
- Biện pháp dạy phân môn Tập làm văn- thể loại văn tả người có hiệuquả
- Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã vận dụng những phương pháp sau:Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra,hỏi đáp, phương pháp luyện tập- thực hành
4 Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Rèn học sinh lớp 5A, 5B học tốt phân môn Tập làm văn
+ Rèn kỹ năng tìm hiểu đề bài, phân tích đề bài, quan sát tìm ý, lập dàn
ý chi tiết cho từng đề bài tả người theo yêu cầu của giáo viên
+ Rèn kỹ năng viết đoạn, viết hoàn chỉnh bài văn Rèn cho học sinh đạtđược kiến thức kỹ năng môn học
5 Hiệu quả áp dụng:
Qua việc áp dụng một số biện pháp, học sinh lớp chúng tôi thực hiệnđược các kỹ năng: phân tích đề bài, lập dàn ý hoàn chỉnh, xây dựng đoạn văn,liên kết đoạn văn thành bài văn, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
6 Phạm vi áp dụng:
Đề tài này không chỉ vận dụng ở lớp 5A, 5B mà còn vận dụng cho khối
5 của Trường Tiểu học Cầu khởi A và các trường trong cụm
Cầu Khởi, ngày 09 tháng 03 năm 2015
Nhóm thực hiện:
Nguyễn Thị Cúc
Nguyễn Thị Dung
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Lớp 5 là lớp cuối cấp của bậc Tiểu học, việc nâng cao khả năng sử dụngTiếng Việt trong công tác giảng dạy ở trường Tiểu học là yêu cầu hết sức cầnthiết Cùng tất cả các môn học bắt buộc, môn Tiếng Việt giúp học sinh chiếmlĩnh tri thức khoa học một cách dễ dàng, giúp các em hình thành và phát triểnnhân cách toàn diện đáp ứng với yêu cầu phát triển con người Việt Nam Ngoài
ra nó còn giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, giữ gìn sự trong sáng của TiếngViệt
Vì vậy, chỉ có học tốt Tiếng Việt các em mới có điều kiện để học tập, tưduy và giao tiếp Trong đó, Tập làm văn là một phân môn có ý nghĩa quan trọngtrong chương trình giảng dạy môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học Học tốt phân mônTập làm văn giúp các em rèn luyện kỹ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viếtđoạn Giúp các em mở rộng hiểu biết về cuộc sống Việc phân tích đề bài, lậpdàn ý, chia đoạn trong văn miêu tả góp phần học tốt các môn học khác
Là một giáo viên nhiều năm dạy lớp 5, chúng tôi nhận thấy học sinh lớp
5 học phân môn Tập làm văn chưa tốt Nguyên nhân chủ yếu là do các em chưađọc kỹ đề bài, chưa xác định được trọng tâm của đề bài, dùng từ chưa thích hợpvới thể loại, ý văn còn lộn xộn, dài dòng
Thực tế năm học này được giao nhiệm vụ dạy lớp 5A, 5B chúng tôinhận thấy chất lượng phân môn Tập làm văn trong lớp chưa cao
Đứng trước thực tế như vậy chúng tôi rất băn khoăn và nếu thực trạngnày kéo dài thì ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học sinh Do đó trong năm học
2014-2015 chúng tôi chọn: “Biện pháp giúp học sinh lớp 5A, 5B Trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn - thể loại văn tả người” để
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài này là tìm ra cơ sở lí luận, tìm ra các giải pháp giúphọc sinh học tốt phân môn Tập làm văn - thể loại văn tả người nhằm nâng caochất lượng dạy và học
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh học lớp 5A, 5B Trường Tiểu học Cầu Khởi A
- Biện pháp dạy phân môn Tập làm văn- thể loại văn tả người có hiệuquả
4 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này chỉ nghiên cứu thể loại văn tả người của phân môn Tập làmvăn lớp 5 Trường Tiểu học Cầu Khởi A
5 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã vận dụng những phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Đọc sách giáo khoa, tài liệu chuẩn kiến thức và kỹ năng các môn học,sách giáo viên, các tài liệu hướng dẫn triển khai thay sách, tài liệu tham khảomôn Tiếng Việt để nắm được nội dung, chương trình sách giáo khoa, cácphương pháp dạy học phân môn Tập làm văn ở Tiểu học nói chung, lớp 5 nóiriêng
Trang 3Tạp chí Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo số 4/ 2004, tập 2 Giúpchúng tôi nắm vững được phương pháp dạy phân môn Tập làm văn.
Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học của PTS Lê Phương Nga vàNguyễn Trí Giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy và học
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên theo chương trình mới của Nhà xuất bản
Hà Nội Nhằm giúp chúng tôi thấy được tầm quan trọng của phân môn Tập làmvăn trong quá trình dạy học
5.2 Phương pháp quan sát:
Phương pháp này được sử dụng tích cực rộng rãi trong suốt quá trìnhdạy và học Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã quan sát trực tiếp qua nét mặt,ánh mắt, cách làm bài, tinh thần học tập của học sinh trong giờ học Tập làm văn
để có biện pháp giáo dục các em học tốt hơn
5.3 Phương pháp điều tra, hỏi đáp:
Đầu năm học tiến hành điều tra để phân loại trình độ từng học sinhnhằm có biện pháp phù hợp với từng đối tượng
* Dự giờ:
- Dự chuyên đề phân môn Tập làm văn
- Dự giờ đồng nghiệp
* Đàm thoại:
- Điều tra học sinh phân loại ra trình độ
- Trò chuyện với đồng nghiệp
Trao đổi, trò chuyện với những giáo viên dạy khối lớp 5 để hiểu thêm vềcái mới, cái khó của chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học và họchỏi kinh nghiệm từ những giáo viên giỏi
6 Giả thuyết khoa học:
Nếu giáo viên có đầu tư và thực hiện tốt các giải pháp nâng cao chấtlượng trong các giờ dạy Tập làm văn thì chất lượng của môn Tiếng Việt nóichung và kĩ năng tả người của phân môn Tập làm văn nói riêng sẽ được nângcao hơn
Trang 4II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ mục tiêu của môn Tiếng Việt, hình thành và phát triển ởhọc sinh các kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môitrường xã hội
Dạy Tập làm văn giúp học sinh mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồidưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mỹ, hình thành nhân cách con người
Dạy môn Tập làm văn ở lớp 5 để học sinh biết cách quan sát, lập dàn ý
và viết được bài văn tả người
Rèn kỹ năng làm văn chủ yếu qua bài luyện tập thực hành Học sinhthường trải qua khâu cơ bản là: Xây dựng dàn ý, lập dàn bài chi tiết, chuyển mộtphần của dàn ý thành đoạn văn, làm bài văn, rồi được học tập, rút kinh nghiệmqua giờ trả bài viết
Học sinh thực hành tả người theo những đề bài mở, trong đó đối tượngmiêu tả rất gần gũi với các em, phát huy vốn sống, vốn hiểu biết của các em
* Các văn bản chỉ đạo:
Với tinh thần đổi mới phương pháp giáo dục cho phù hợp với sự pháttriển của đất nước, đồng thời dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập củahọc sinh Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những công văn hướng dẫn thực hiệnchương trình sách giáo khoa và chỉ đạo dạy học phù hợp với từng đối tượng họcsinh như:
Theo chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (ban hành kèm theoquyết định 16/2006/QĐ- BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng BộGiáo dục Đào tạo và tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình theo "Chuẩn kiếnthức, kĩ năng" các môn học ở Tiểu học
Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 Thông tưBan hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học
Tài liệu hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn họccấp Tiểu học (Kèm theo công văn số 5842/BGD&ĐT - VP ngày 01 tháng 9 năm
2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Công văn số 9832/BGD&ĐT-GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 của BộGiáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp
4, 5 trong đó có phân môn Tập làm văn
2 Cơ sở thực tiễn:
a/ Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Năm học 2014-2015, chúng tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy lớp 5Agồm 28 học sinh, 5B gồm 27 học sinh Kết quả việc học Tiếng Việt của các emchưa cao, đặc biệt là đối với phân môn Tập làm văn
Đối với thể loại văn tả người nhiều em làm bài chưa đạt, bài viết của các
em còn sơ sài, lỗi dùng từ đặt câu, sắp xếp ý chưa phù hợp, câu văn chưa chặtchẽ
Khả năng quan sát đối tượng miêu tả còn hạn chế, vốn kiến thức viếtvăn còn nghèo nàn do các em lười đọc sách văn học, sách tham khảo, đặt câukhông đủ ý, dùng từ chưa thích hợp với văn tả người, viết còn sai lỗi chính tảnhiều
Trang 5Bài văn còn rập khuôn theo những bài văn mẫu, không tự quan sát thực
tế cuộc sống dẫn đến bài văn của các em từ ngữ còn khô khan, chưa sử dụngđược các giác quan để quan sát, các hình ảnh so sánh, nhân hóa trong bài làm
Còn một số em chưa hoàn thành một bài văn viết ở lớp đúng hẹn chogiáo viên giảng dạy
Thực tế đầu năm học còn một số em viết bài văn chưa đạt, đây là nỗi lolắng của chúng tôi vì nếu học sinh viết không đạt yêu cầu thì ảnh hưởng khôngnhỏ đến chất lượng môn Tiếng Việt
b/ Sự cần thiết về nội dung đề tài:
Với kết quả khảo sát chung, chất lượng môn Tập làm văn còn đạt tỷ lệthấp
Nếu kéo dài thực trạng này thì học sinh sẽ không học tốt môn Ngữ văn ởbậc Trung học cơ sở được
Từ những thực trạng trên bản thân chúng tôi là giáo viên dạy lớp 5A, 5Bchúng tôi nhận thấy muốn nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn ở lớp 5phải phụ thuộc rất lớn vào năng lực và sự nhiệt tình của giáo viên Khi giảng dạygiáo viên cần hướng dẫn các hoạt động nhịp nhàng giữa thầy và trò sao cho thầygiữ vai trò chủ đạo, tổ chức và điều khiển quá trình dạy học trên lớp Trò chủđộng chiếm lĩnh kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, thoải mái, không hề áp đặthoặc gò ép
3 Nội dung đề tài:
a/ Vấn đề đặt ra:
Nhìn chung, vấn đề dạy Tập làm văn hiện nay rất được chú trọng vì phânmôn Tập làm văn có một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với học sinh Tiểu học.Ngành Giáo dục đã tổ chức các chuyên đề và cũng có nhiều phương pháp mớiđặt ra nhằm nâng cao chất lượng viết cho các em Phải làm sao cho các em biếtquan sát, tìm ý, biết sắp xếp các ý thành dàn bài chi tiết để từ đó phát triển thànhđoạn văn hay bài văn hoàn chỉnh
Từ thực tế giảng dạy trên lớp và khảo sát chất lượng đầu năm của họcsinh lớp 5A, 5B, bản thân chúng tôi thấy rằng ở mức độ viết hoàn chỉnh bài vănchỉ có một số học sinh Có em không cần quan tâm mình viết có đủ ý hay không
mà chỉ viết được nhiều câu là tốt rồi
Với thực trạng như vậy, chúng tôi đã tìm ra được một số nguyên nhânsau:
- Về học sinh:
Khi quan sát tìm ý học sinh ghi chép chưa cụ thể, nên khi lập dàn ý họcsinh chỉ lập một cách qua loa, chưa có sự chuẩn bị bài chu đáo cho bài văn viết
Trang 6Đến lớp nhiều em chưa tìm hiểu kĩ đề bài nên viết bài văn chưa hoànchỉnh Do học sinh chưa nắm vững cấu tạo của bài văn tả người Vì vậy một sốbài văn tả người diễn đạt chưa đúng đối tượng miêu tả.
Từ những nguyên nhân trên, dẫn đến các em học chưa tốt môn Tập làmvăn Do đó, đầu năm học 2014-2015, trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đãkhảo sát và thống kê chất lượng bài làm của học sinh lớp 5A, 5B như sau:
Số học sinh viết chưa đạt của hai lớp là:
Lớp 5A Viết sai lỗichính tả. Dùng từ chưahợp lý Câu văn chưachặt chẽ Chưa đạt vềnội dung
Lớp 5B Viết sai lỗichính tả. Dùng từ chưahợp lý Câu văn chưachặt chẽ Chưa đạt vềnội dung
Từ việc điều tra trên cho thấy học sinh chưa đạt yêu cầu chiếm tỉ lệ cao
Do đó chúng tôi quyết định chọn đề tài “Biện pháp giúp học sinh lớp 5A, 5B Trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn thể loại văn tả người” để nghiên cứu trong năm học này Đây là một việc làm thiết thực mà
trong mỗi giáo viên đứng lớp như chúng tôi băn khoăn, suy nghĩ nên dạy như thếnào để nâng cao hiệu quả các giờ dạy trên lớp nói chung và dạy Tập làm văn chohọc sinh lớp 5 bậc Tiểu học nói riêng
b/ Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:
Để đưa chất lượng môn Tập làm văn thể loại miêu tả người, chúng tôimạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau:
Đối với học sinh chậm các kĩ năng giáo viên hướng dẫn trực tiếp chocác em về kỹ năng lập dàn bài, tìm ý, làm nháp và sửa chữa Tạo không khí lớphọc thoải mái, phát huy tính tích cực trong học tập
Trang 7Thực tế cho thấy nếu học sinh có vốn hiểu biết rộng về văn học thì các
em sẽ phản ánh một vấn đề nào đó bằng văn bản dễ dàng và súc tích hơn so vớinhững em hiểu biết ít về văn học, vốn từ nghèo nàn Vì thế, học sinh cần tích lũykiến thức khi học, khi đọc và cả kiến thức trong cuộc sống Để khi làm bài vănmiêu tả mới có thể đi sâu, tả kỹ mà không mang tính liệt kê, hay kể lể miên mannhưng lại gây được hứng thú cho người đọc
Để giúp học sinh tích lũy kiến thức, chúng tôi đã yêu cầu các em lậpquyển “Sổ ghi chép” và ghi từng mảng cụ thể
Những câu văn hay, những đoạn văn hay, lời hay ý đẹp, gương người tốtviệc tốt…Việc rèn cho học sinh có thói quen viết sổ tay ghi chép giúp các emthu thập ý, câu, đoạn văn hay bổ sung vốn từ nghèo nàn của mình và còn giúpcác em hạn chế được lỗi dùng từ, lỗi chính tả…
* Tìm hiểu đề:
Chúng tôi thường nhắc nhở học sinh, muốn làm bài Tập làm văn tốt
trước tiên phải hiểu kỹ đề, hiểu các yêu cầu của đề: Đề thuộc thể loại gì? Đề bài
yêu cầu cần tả ai? Người ấy làm nghề gì? Tác phong, tính cách ra sao?
Muốn xác định đúng yêu cầu của đề bài, học sinh cần đọc kỹ đề bài,bám sát yêu cầu của đề Biết tìm ý, xây dựng dàn bài chi tiết trên cơ sở dàn bàichung để miêu tả đúng đối tượng cần miêu tả
* Quan sát chọn lọc chi tiết và lập dàn ý:
Để làm tốt một bài văn tả người, các em cần quan sát kỹ người cần tả vàlựa chọn những chi tiết phù hợp nổi bật, riêng biệt của người đó để miêu tả rõràng, đầy đủ
Muốn tìm ý tốt, phong phú, chúng tôi yêu cầu các em phát triển nhiều ýtưởng khác nhau Một chi tiết không thể thiếu mà giáo viên cần khẳng định chohọc sinh là: Khi tả đặc điểm về hình dáng, tính cách của một người luôn phụthuộc vào nghề nghiệp của người đó
Sau khi tìm ý, các em cần sắp xếp ý theo một trình tự hợp lý Mỗi bài
văn của học sinh cần có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đúng yêu cầu
đề bài và diễn đạt phong phú
* Mở bài:
Giới thiệu đối tượng miêu tả bằng cách quan sát trực tiếp hay gián tiếp
Có em mở bài bằng một hai câu văn, cũng có em mở bài bằng cả đoạn văn Dẫu
có mở bài bằng cách nào thì cũng không được tách rời nội dung đã xây dựng Ởđây, tùy nghệ thuật vào bài của mỗi em mà giáo viên góp ý, không gò bó, áp đặt
Ví dụ: Để bài: “Tả thầy giáo (hoặc cô giáo) mà em kính yêu”
+ Có em mở bài trực tiếp: Trong những năm học vừa qua, người cô mà
em quý yêu nhất là cô Thu Cúc, đã dạy em năm lớp Một
+ Có em mở bài dài hơn, sinh động và gây ấn tượng vì đã thể hiện đượctình cảm thật chân thành và xúc động:
“ Em chào cô ạ !
Trước mặt tôi, vẫn nét mặt hiền từ vui vẻ cô đáp lại nhẹ nhàng:
Chào em, mới về thăm ngoại hả Lan?
Cô Thanh là người tôi rất kính yêu Sau bao năm xa cách, giờ gặp lại,bao kỷ niệm xưa như sống lại trong tôi”
Trang 8VD: “Tả hình dáng và tính tình của cô giáo, thầy giáo mà em kính yêu”
Thời gian trôi qua đã lâu nhưng em vẫn nhớ mãi gương mặt hiền hòa vàgiọng nói dịu dàng của cô Thu Cúc, cô giáo dạy em hồi lớp Một Cô có đôi mắtnâu đen luôn ánh lên vẻ dịu dàng Khuôn mặt trái xoan và làn da trắng mịn.Sóng mũi cao, môi hình trái tim không tô son mà vẫn đỏ hồng Khi cô cười, mộtlúm đồng tiền hiện bên má trái rất có duyên
Đến lớp cô chỉ mặc áo dài trắng, mỗi lần cô giảng bài giọng nói của côtrầm ấm và truyền cảm làm sao! Cô đã ngoài ba mươi tuổi, nhờ vóc người mảnhmai, nhỏ nhắn và mái tóc dài đen mượt thả xuống ngang vai trông cô trẻ hơntuổi rất nhiều Em khắc ghi mãi hình ảnh ngày đầu đến lớp cô đã dắt em đến tậnchỗ ngồi âu yếm dặn dò…
* Kết bài:
Có hai cách kết bài khác nhau (kết bài mở rộng và kết bài không mởrộng) nhưng tất cả đều phải xuất phát từ nội dung chính Cũng như mở bài, các
em nêu cảm xúc, cảm nghĩ của mình về đối tượng được tả
Khi hướng dẫn học sinh viết văn thì biện pháp chủ yếu của chúng tôi làgiúp học sinh chọn những phần kết bài nào hay để vận dụng vào trong khi làmbài
VD: Kết bài không mở rộng:
Người cô thật đáng kính ấy đã chắp đôi cánh ước mơ cho tôi bước vàođời với hành trang kiến thức thật vững vàng
VD: Kết bài có mở rộng:
“Cô tôi như thế đấy! Tôi nhớ mãi về cô Đến nay, hình ảnh cô, với bao
kỷ niệm luôn sống mãi trong tôi Tình cảm sâu sắc, đằm thắm giữa tôi và cô khó
mà quên được”
c Viết thành một đoạn hoàn chỉnh:
Đây là khâu quan trọng nhất, cũng là khâu khó nhất Trên cơ sở của dànbài mà các em đã lập, các em viết thành câu, đoạn và bài hoàn chỉnh Giáo viêncần lưu ý cho học sinh lời văn phải gãy gọn, ý rõ ràng, rành mạch, trong sáng.Giúp các em diễn đạt có hình ảnh, biết sử dụng biện pháp nghệ thuật như sosánh, nhân hóa, liên tưởng …để làm nổi bật về đặc điểm hình dáng, tính tình củangười cần tả Qua đó biểu lộ được cảm xúc của mình đối với người được tả
Ví dụ: Tả hình dáng của bố em.
Bố em là một nông dân Năm nay bố em hơn bốn mươi tuổi, dáng hơigầy nhưng chắc khỏe, da đen cháy vì phơi nắng Những sợi tóc đen và bạc đanxen lẫn nhau Mắt một mí có vẻ hiền hiền Miệng rộng, khi cười mấy cái răngcửa hàm trên hơi chìa ra, vẻ cởi mở Bố hay mặc bộ quần áo bà ba, mỗi khi ravườn ống quần và tay áo thường xoắn cao gọn gàng và chiếc nón cối rộng vành
úp chụp lên đầu
Trang 9Ngoài ra, cần giúp học sinh biết sắp xếp ý và sử dụng từ ngữ, viết câu cócảm xúc, lôi cuốn sự chú ý của người đọc Muốn vậy, học sinh phải biết liêntưởng, so sánh để lựa chọn những từ ngữ giàu hình ảnh và gợi cảm Thườngxuyên vận dụng vào bài văn các từ ngữ mở rộng như từ ghép, từ láy, hạn chế sửdụng từ đơn và lối viết văn không gãy gọn Giáo viên chú trọng rèn học sinh biếtcách sắp xếp ý trong bài văn cho chặt chẽ với nhau Nghề nghiệp của một ngườiluôn liên quan đến hình dáng, tính cách, hoạt động và thể hiện rõ bản chất củangười đó.
Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ điều này để tách rời ra
Đặc biệt lưu ý: Khi viết bài Tập làm văn tả người là phải đọc và rà soátbài sau khi viết xong để tránh các lỗi sai về chính tả, các lỗi về dùng từ như: Lặplại, hoặc dùng từ không chính xác và bố cục bài văn chưa chặt chẽ…
Ngoài ra hạn chế được lỗi dấu câu thông thường do sơ sót mắc phảitrong khi viết
Muốn khắc phục dần khuyết điểm này, trong quá trình viết cần chú ýsuy nghĩ vận dụng cho đúng, lập dàn bài chi tiết trước khi hoàn thành bài văn.Sau khi viết xong cần đọc và rà soát lỗi
d Cung cấp từ ngữ tả hình dáng của người:
+ Miêu tả mái tóc: Đen nhánh, đen mượt, hoa râm, muối tiêu, bạc phơ,
óng ả, óng mượt, lơ thơ, xơ xác,…
+ Miêu tả đôi mắt: Một mí, hai mí, bồ câu, đen láy, đen nhánh, linh hoạt,
sinh động, long lanh, sáng ngời, hiền hậu, mơ màng,
+ Miêu tả cánh mũi: Cao, thấp, to, nhỏ, dọc dừa,…
+ Miêu tả đôi má: Phúng phính, bầu bầu, bầu bĩnh, hóp, hồng hào, ửng
hồng, lúm đồng tiền,…
+ Miêu tả cái miệng: Nho nhỏ, nhỏ nhắn, xinh xinh, móm mém, môi
son,…
+ Miêu tả hàm răng: Trắng, trắng ngà, trắng tinh, răng sún, răng khểnh,
răng giả, răng sữa,…
+ Miêu tả cái càm: Càm chẻ, nhọn, quai hàm bậm, vuông vức, có chòm
râu,…
+ Miêu tả vành tai: To, nhỏ, mỏng, dày,…
+ Miêu tả làn da: Trắng trẻo, nõn nà, mịn màn, trắng hồng, đỏ thắm, đen
xì, ngăm ngăm, nhẵn nhụi, nhăn nheo,…
+ Ngực: Nở nang, căn phòng, hằn rõ xương sườn,
+ Bụng: To, nhỏ, thon, phệ, tròn vo,
+ Lưng: Ngắn, dài, thẳng, cong, khom, hơi còng,
+ Miêu tả vóc người: Vạm vỡ, mập mạp, nho nhã, còm nhom, tầm
thước, cao lớn, lùn tịt,…
+ Vai: Rộng, hẹp, nở nang, chắc nịch,
đ Cung cấp từ ngữ tả tính tình của người:
+ Tính nết: Hiền, hiền lành, hiền hòa, hiền hậu, ôn hòa, bình tĩnh, chững
chạc, thật thà, thẳng thắn, trung thực, bạo dạn, đoan trang, nghiêm trang, thậntrọng, siêng năng, chăm chỉ, cần cù, chịu khó, vui vẻ, vô tư, bao dung, vị tha, lễphép,
Trang 10+ Thể hiện qua lời nói: Niềm nở, ngọt ngào, nhỏ nhặn, lễ độ, thì thầm,
hài hước, dễ thương, dễ mến, khe khẽ, lanh lợi,…
+ Thể hiện qua tiếng cười: Ha ha, khanh khách, khúc khích, hề hề, sằn
sặc, giòn giã, toe tét, chúm chím, tũm tĩm,…
+ Thể hiện qua tiếng khóc: Oa oa, hu hu, hích hích, mếu máo, sướt
mướt, nghẹn ngào, nức nỡ, rưng rưng, đầm đìa,…
+ Thể hiện qua cử chỉ: Trìu mến, mơ màng, đăm đắm, chăm chú, ngơ
ngác, lim dim, khoan thai, chậm chạp, hấp tấp, nhanh nhẹn, rảo bước, tung tăng,lon ton, hấp ta hấp tấp, uể oải, chiễm chệ,…
+ Tình cảm ảnh hưởng đến hình dáng và tính tình: Vui mừng, vui
sướng, mừng rỡ, mừng quýnh, buồn rầu, buồn bã, buồn bực, buồn cười, buồnthiu, buồn phiền, rầu rĩ, giận dữ, giận hờn, hờn dỗi, ghét cay ghét đắng, thươngmến, yêu thương, thương hại, thương xót, thương nhớ, đau khổ, đau đớn, đaulòng, đau buồn,…
e Cung cấp từ ngữ tả về hoạt động của người:
+ Về việc làm: Thành thạo, thạo nghề, cặm cụi, say sưa, mải mê, hăng
say, thông thả, tháo vác, vụn về, loay hoay, vất vả,…
+ Về kết quả: Thành công, thành đạt, nổi tiếng, danh tiếng, xuất sắc, thất
bại, thua kém, phê phán, phê bình, thiệt thòi,…
* Biện pháp dạy phân môn Tập làm văn đối với học sinh chậm các kĩ năng:
- Đối với học sinh viết sai lỗi chính tả:
Học sinh viết sai lỗi chính tả là những học sinh chưa hiểu về quy tắc viếtchính tả và chưa có kỹ năng viết đúng theo phương ngữ địa phương
+ Giáo viên phân loại đối tượng học sinh theo từng mức độ
+ Hướng dẫn học sinh viết đúng, viết đẹp theo hình thức cá nhân + Luyện viết từ khó nhiều lần để học sinh viết đúng
Ví dụ:
Học sinh viết sai:
tằm thướtsinh sắnniếp nhăngdui dẻ
Sửa lỗi chính tả:
tầm thướcxinh xắnnếp nhănvui vẻ
- Đối với học sinh dùng từ chưa hợp lý:
Để hướng dẫn học sinh dùng từ hợp lý, biết chọn lọc từ ngữ sinh độngtrong văn miêu tả Giáo viên cần giúp học sinh hiểu nghĩa từ hướng dẫn kỹ để họcsinh biết cách dùng từ đặt câu
Ví dụ:
+ Bé đi “chưa cứng” cần sửa lại: Bé đi “chưa vững”
+ Dáng đi của ông “cong cong” cần sửa lại: Ông em lưng “hơi còng”
nên đi lại khó khăn
- Đối với học sinh câu văn chưa chặt chẽ:
* Lỗi do câu thiếu chủ ngữ
Trang 11Ví dụ: “Năm nay vừa lên hai tuổi, dễ thương.” Sửa lại: “Bé Mai năm nay vừa lên hai tuổi trông rất dễ thương.”
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhận biết câu văn trên thiếu bộ phậnnào? Để học sinh sửa cho đúng, giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh tìm bộ phận
thứ nhất trong câu “Ai, cái gì ?”.
* Lỗi do thiếu vị ngữ
Ví dụ: “Ba mẹ em và anh em” sửa lại “Ba mẹ em và anh em là người thân của em”.
Giáo viên cần chỉ rõ cho học sinh câu văn trên còn thiếu bộ phận vị ngữ
Đặt câu hỏi cho học sinh tìm bộ phận thứ hai trong câu “ Ai làm gì? Ai như thế nào?”
- Đối với học sinh chưa đạt về nội dung
Ví dụ:
Mở bài “trực tiếp”:
Em có một đứa em trai tên là Gia Luân Sửa lại là: Em có một em traiđang tuổi tập nói, tập đi, bé tên là Gia Luân
Mở bài gián tiếp:
Ví dụ: Một hôm nọ, chúng em không ai quên được hình ảnh một bạn KimAnh Sửa lại là: Hôm gặp lại nhau, em không sao quên được hình ảnh bạn KimAnh, một bạn gái vui tính, hiền từ, luôn chia sẻ cùng em những lúc vui buồn
Viết được đoạn mở bài cho bài văn tả người theo hai kiểu trực tiếp vàgián tiếp, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh trả lời các câu hỏi: Người emđịnh tả là ai? Tên là gì? Em có quan hệ với người ấy như thế nào? Em gặp gỡ,quen biết hoặc nhìn thấy người ấy trong dịp nào? ở đâu? Em kính trọng, yêuquý, ngưỡng mộ…người ấy như thế nào?
Kết bài:
Hướng dẫn học sinh viết được đoạn kết bài cho bài văn tả người theo haikiểu mở rộng và không mở rộng
- Kết bài không mở rộng: Nêu nhận xét chung hoặc nói lên tình cảm của
em với người được tả
Ví dụ:
Em rất diễm phúc có được một người bà đáng kính, thấy được hạnh phúc
đó, em luôn luôn giúp bà trong lúc tuổi già sức yếu để bà vui lòng sống mãi mãibên em
- Kết bài mở rộng: Từ hình ảnh, hoạt động của người được tả, suy rộng
ra các vấn đề khác
Ví dụ: Tả một người thân trong gia đình
Ông được con cháu trong nhà vâng lời, được bà con hàng xóm quý mến
Ai cũng khen ông thọ và đẹp lão Nếu được một điều ước như trong những câuchuyện cổ tích mà ông hay kể, em sẽ ước ông khỏe mãi, sống mãi bên em
Lập dàn bài chi tiết:
Đề bài 1: Tả hình dáng, tính tình của em bé đang tuổi tập đi.
Mở bài:
Giới thiệu em bé được tả tên gì? Trai hay gái? Có quan hệ gì với em?
Bé Hoàng thường được gọi là Cún con