Định Hoá là một huyện miền núi nằm phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Thị trấn Chợ Chu là trung tâm văn hóa, chính trị của huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. Những năm gần đây, thị trấn đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế xã hội nhưng chất lượng môi trường bị suy giảm. Trong đó rác thải sinh hoạt đang là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm. Việc quản lí chất thải rắn là một đòi hỏi tất yếu được đặt ra và vấn đề này yêu cầu phải được giải quyết kịp thời, đảm bảo trước hết cho việc vệ sinh chung, cho cảnh quan đô thị, cho sức khoẻ cộng đồng và còn đảm bảo cho việc giảm thiểu những tác động xấu tới môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý chất thải rắn, trước thực tế còn nhiều khó khăn của công tác quản lý này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, con người khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ, thoả mãn các nhu cầu của mình Đồng thời con người cũng phát thải ra ngoài môi trường tự nhiên các loại chất thải khác nhau Khi mức phát thải nhỏ, môi trường tự nhiên
có thể tự làm sạch các chất thải để duy trì trạng thái cân bằng Tuy nhiên, khi xã hội loài người phát triển tới trình độ cao với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa hết sức mạnh mẽ, con người đã thải ra môi trường quá nhiều chất thải, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với xu thế phát triển kinh tế – xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ với nhịp độ rất cao Sự phát triển đó giúp tạo ra công ăn việc làm, cải thiện mức sống, chất lượng cuộc sống của người dân Khi mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt Rác thải sinh hoạt (RTSH) phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường
bị ô nhiễm Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa kết hợp gia tăng dân số ở mức cao đang tạo sức ép lên khả năng chịu tải của môi trường
Định Hoá là một huyện miền núi nằm phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên Thị trấn Chợ Chu là trung tâm văn hóa, chính trị của huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên Những năm gần đây, thị trấn đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế đó là chất lượng môi trường bị suy giảm Trong đó rác thải sinh hoạt đang là vấn đề nổi
Trang 2cộm cần được quan tâm Rác thải không những làm ảnh hưởng đến môi trường, đến mỹ quan của thị trấn, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân nơi đây Việc quản lí chất thải rắn là một đòi hỏi tất yếu được đặt ra
và vấn đề này yêu cầu phải được giải quyết kịp thời, đảm bảo trước hết cho việc
vệ sinh chung, cho cảnh quan đô thị, cho sức khoẻ cộng đồng và còn đảm bảo cho việc giảm thiểu những tác động xấu tới môi trường
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý chất thải rắn, trước thực tế còn nhiều khó khăn của công tác quản lý này, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản
lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt của thị trấn Chợ Chu
- Đánh giá công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt của thị trấn
- Đề xuất một số biện pháp cải thiện công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phần bảo vệ môi trường thị trấn
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu
- Sử dụng phiếu điều tra hộ gia đình, tổng số 90 phiếu cho toàn Thị trấn nhằm thu thập đầy đủ các số liệu phản ảnh thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt; tình hình quản lý, xử lý rác thải ở địa phương
- Các biện pháp đề xuất phải có tính khả thi
- Số liệu trung thực, khách quan
Trang 3Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về rác thải sinh hoạt
2.1.1 Các khái niệm liên quan
- Khái niệm về chất thải
"Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra" Chất thải là các chất hoặc vật liệu mà người chủ hoặc người tạo ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị thải bỏ
Chất thải thường được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, giao thông vận tải, tại hộ gia đình, tại các cơ quan, trường học, nhà hàng, khách sạn
- Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn (CTR) là các loại vật chất ở thể rắn như các vật liệu, đồ vật
bị loại thải ra từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt
Chất thải rắn gồm các chất hữu cơ như: thức ăn thừa, giấy, cattong, nhựa, vải, cao su, da, lá rụng sân vườn, gỗ và các chất vô cơ như: thuỷ tinh, lon thiếc, nhôm, kim loại khác, đất cát (Nguyễn Đình Hương, 2003) [6]
- Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt (RTSH) là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông
vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…
- Khái niệm về xử lý chất thải
Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kĩ thuật để xử lý chất thải mà không làm ảnh hưởng đến môi trường; tái tạo lại các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm
Trang 4phát huy hiệu quả kinh tế Xử lý chất thải là một công tác quyết định đến chất lượng bảo vệ môi trường
2.1.2 Nguồn gốc, thành phần, tính chất của RTSH
2.1.2.1 Các nguồn tạo thành chất thải rắn
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của CTR là cơ sở quan trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý CTR thích hợp
Có nhiều cách phân loại nguồn gốc phát sinh CTR sinh hoạt khác nhau nhưng phân loại theo cách thông thường nhất là:
- Khu dân cư
- Khu thương mại
- Cơ quan, công sở
- Khu xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng
- Khu công cộng
- Nhà máy xử lý chất thải
- Công nghiệp
- Nông nghiệp
- Hộ gia đình, biệt thự, chung cư
- Nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn, nhà trọ, các trạm sữa chữa và dịch vụ
- Trường học, bệnh viện, văn phòng, công sở nhà nước
- Khu nhà xây dựng mới, sữa chữa nâng cấp mở rộng đường phố, cao ốc, san nền xây dựng
- Đường phố, công viên, khu vui chơi giải trí, bãi tắm
- Nhà máy xử lý nước cấp, nước thải và các quá trình xử lý chất thải công nghiệp khác
- Công nghiệp xây dựng, chế tạo, công nghiệp nặng, nhẹ, lọc dầu, hoá
Trang 5- Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn cây ăn quả, nông trại
- Thực phẩm dư thừa, giấy, can nhựa, thuỷ tinh, can thiếc, nhôm
- Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim loại, chất thải nguy hại
- Thực phẩm bị thối rữa, sản phẩm nông nghiệp thừa, rác, chất độc hại [16]
Bảng 2.1 Nguồn gốc các loại chất thải [7]
Nguồn phát
Khu dân cư Hộ gia đình, biệt thự, chung cư Thực phẩm dư thừa, giấy, can nhựa,
thủy tinh, nhôm
Khu thương mại Nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn,
dựng
Khu nhà xây dựng mới, sửa chửa chữa nâng cấp mở rộng đường phố, cao ốc, san nền xây dựng
Gỗ, bê tông, thép, gạch, thạch cao, bụi
Dịch vụ công
cộng đô thị
Hoạt động dọn rác vệ sinh đường phố, công viên, khu vui chơi giải trí, bãi tắm
Rác cành cây cắt tỉa, chất thải chung tại khu vui chơi, giải trí
Các khu
công nghiệp
Công nghiệp xây dựng, chế tạo, công nghiệp nặng- nhẹ, lọc dầu, hóa chất, nhiệt điện
Chất thải do quá trình chế biến công nghiệp, phế liệu, và các rác thải sinh hoạt
Nông nghiệp Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn cây ăn
trái, nông trại
Thực phẩm bị thối rửa, sản phẩm nông nghiệp thừa, rác, chất độc hại
(Nguồn: Nguyễn Văn Phước - Giáo trình Quản Lý Chất Thải Rắn)
2.1.2.2 Thành phần chất thải rắn
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thông thường thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn…
Trang 6Bảng 2.2: Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số đô thị năm 2000
(tính theo % trọng lượng) [11]
Thành phần Hà Nội Việt Trì Thái
Nguyên Đà Nẵng Hạ Long
(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA, 2001)
Bảng 2.3 Thành phần và tính chất thường thấy của rác thải sinh hoạt
Nguồn: Solid waste, Engineering Principles and Management Issues,
Trang 72.1.2.3 Tính chất của RTSH
a/ Tính chất vật lý của rác thải sinh hoạt
Những tính chất vật lý quan trọng nhất của CTR đô thị là trọng lượng riêng Độ ẩm, kích thước, sự cấp phối hạt, khả năng giữa ẩm tại thực địa, độ xốp của rác nén của các vật chất trong thành phần CTR
- Khối lượng riêng
Trọng lượng riêng của CTR là trọng lượng của một đơn vị vật chất tính trên một đơn vị thể tích (kg/m3) Bởi vì CTR có thể ở các trạng thái như xốp, chứa trong các container, nén hoặc không nén được… nên khi báo cáo giá trị trọng lượng riêng phải chú thích trạng thái mẫu rác một cách rõ ràng
Trọng lượng riêng thải đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, mùa trong năm, thời gian lưu trữ chất thải… trọng lượng riêng của một chất thải
đô thị điển hình là khoảng 300kg/m3
*Phương pháp xác định trọng lượng riêng của chất thải rắn:
Mẫu CTR để xác định trọng lượng riêng có thể có thể tích khoảng 500 lít sau khi xáo trộn bằng kỹ thuật “Một phần tư” các bước tiến hành như sau:
1 Đổ nhẹ mẫu chất thải rắn vào thùng chứa có thể tích đã biết (tốt nhất là thùng có dung tích 100 lít) cho đến khi chất thải đầy đến miệng thùng
2 Nâng thùng chứa lên cách mặt sàn khoảng 30 cm và thả rơi tự do, lặp lại 04 lần
3 Tiếp tục làm đầy thùng bằng cách đổ thêm mẫu CTR vào thùng thí nghiệm để bù vào phần chất thải đã đè xuống
4 Cân và ghi khối lượng của cả thùng thí nghiệm và CTR
5 Trừ khối lượng cân được ở trên cho khối lượng của thùng thí nghiệm được khối lượng của phần chất thải thí nghiệm
6 Chia khối lượng tính từ bước trên cho thể tích của thùng thí nghiệm ta được khối lượng của phần CTR thí nghiệm
Trang 87 Lặp lại thí nghiệm ít nhất hai lần để có giá trị trọng lượng riêng trung bình.[24]
+ Phương pháp trọng lượng ướt: độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như
là phần trăm trọng lượng ướt của vật liệu
+ Phương pháp trọng lượng khô: độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như phần trăm trong lường khô của vật liệu
Phương pháp trọng lượng ướt được sử dụng phổ biến, bởi vì ta có thể lấy mẫu trực tiếp ngoài thực địa
- Kích thước và cấp phối hạt
Kích thước và cấp phối hạt đóng vai trò rất quan trọng trong việc tính toán, thiết kế các phương tiện cơ khí như thu hồi vật liệu, đặc biệt là sử dụng các sàn lọc phân loại bằng máy hoặc phân chia bằng phương pháp từ tính Kích thước của từng thành phần chất thải có thể xác định bằng 1 hoặc nhiều phương pháp như sau:
Trang 9Khi sử dụng các phương pháp khác nhau thì kết quả sẽ có sự sai lệch, tùy thuộc vào hình dáng kích thước của chất thải mà ta chọn phương pháp đo lường cho phù hợp
- Khả năng giữ nước tại thực địa (hiện trường)
Khả năng giữ nước tại hiện trường của CTR là toàn bộ lượng nước mà nó
có thể giữ lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng kéo xuống của trọng lực Là một chỉ tiêu quan trọng trong việc tính toán xác định lượng nước rò rỉ từ bãi rác Khả năng giữ nước tại hiện trường thay đổi phụ thuộc vào áp lực nén và trạng thái phân hủy của chất thải (ở khu dân cư và các khu thương mại thì dao động trong khoảng 50 – 60%)
b/ Tính chất hóa học của rác thải sinh hoạt
Tính chất hóa học của CTR đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phương án xử lý và thu hồi nguyên liệu Ví dụ, khả năng cháy phụ thuộc vào tính chất hóa học của CTR, đặc biệt trong trường hợp CTR là hỗn hợp của những thành phần cháy được và không cháy được Nếu muốn sử dụng CTR làm nhiên liệu, cần phải xác định 4 đặc tính quan trọng sau:
- Phân tích gần đúng sơ bộ
- Điểm nóng chảy của tro
- Phân tích cuối cùng (các nguyên tố chính)
- Hàm lượng năng lượng của CTR
1) Phân tích sơ bộ
Phân tích sơ bộ gồm các thí nghiệm sau:
- Độ ẩm (lượng nước mất đi sau khi sấy ở 1050C trong 1h)
- Chất dễ cháy bay hơi (trọng lượng mất đi thêm vào khi đem mẫu chất thải rắn đã sấy ở 1000C trong 1h, đốt cháy ở nhiệt độ 9500
C trong lò nung kín)
- Carbon cố định (phần vật liệu còn lại dễ cháy sau khi loại bỏ các chất bay hơi)
Trang 10- Tro (trọng lượng còn lại sau khi đốt cháy trong lò hở)
2) Điểm nóng chảy của tro
Điểm nóng chảy của tro là nhiệt độ đốt cháy chất thải để tro sẽ thành một khối rắn (gọi là clinker) do sự nấu chảy và kết tụ, và nhiệt độ này khoảng 2000 đến 22000F (1100 đến 12000
C)
3)Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành chất thải rắn
Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành chất chủ yếu xác định phần trăm (%) của các nguyên tố C, H, O, N, S và tro Kết quả phân tích cuối cùng
mô tả các thành phần hóa học của chất hữu cơ trong CTR Kết quả này còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định tỉ số C/N của chất thải có thích hợp cho quá trình chuyển hóa sinh học hay không
4) Hàm lượng năng lượng của các thành phần chất thải rắn
Hàm lượng năng lượng của các thành phần chất hữu cơ trong CTR có thể xác định bằng một trong các cách sau:
- Sử dụng nồi hay lò chưng cất qui mô lớn
- Sử dụng bình đo nhiệt trị trong phòng thí nghiệm
- Bằng cách tính toán nếu công thức hóa học hình thức được biết
C: % trọng lượng của Carbon H: % trọng lượng của Hidro
O: % trọng lượng của Oxi
S: % trọng lượng của Sulfua N: % trọng lượng của Nitơ.[24]
Trang 11Bảng 2.4: Thành phần hóa học của các hợp chất cháy đƣợc của CTR
Hợp phần % Trọng lƣợng theo trạng thái khô
60
55
78
60 47,8 49,5 26,3
6,4
6 5,9 7,2 6,6
38 42,7
2
2,6 0,3 0,3 không xđ 4,6
2
10 3,4 0,2 0,5
0,4 0,2 0,2 không xđ 4,6 không xđ 0,4 0,3 0,1 0,2
5
6
5
10 2,45
10
10 4,5 1,5
68
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái, Quản
lý chất thải rắn đô thị, NXB Xây Dựng – Hà Nội -2001)
2.2 Tình hình phát sinh, quản lý và xử lý RTSH trên thế giới
2.2.1 Tình hình phát sinh rác thải trên thế giới
Nhìn chung, lượng RTSH ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới như sau: Băng Cốc (Thái Lan) là 1,6kg/người/ngày; Singapo là 2kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2kg/người/ngày; NewYork(Mỹ) là 2,65 kg/người/ngày.[22]
Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng CTR đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc; chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nước ta Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị [18]
+ Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6 triệu tấn chất thải sinh học và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, 60% số
Trang 12này được chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được thiêu đốt Chỉ tính riêng rác thải thực phẩm, theo dự án khảo sát được thực hiện từ tháng 10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm được thải ra từ hộ gia đình nhiều hơn tới hàng tấn so với chất thải bao bì, chiếm 19% chất thải đô thị Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra
276 kg chất thải thực phẩm/năm hay 5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng được
+ Theo số liệu thống kê mới đây của Bộ Môi trường Nhật Bản, hằng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được
xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Với rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón
+ Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác Rác ở Singapore được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp ) Nhờ vậy 56%
số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro
+ Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300kg/người/năm rác thải Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn rác, riêng thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm.[10]
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày
Trang 13Bảng 2.5: Phát sinh CTR đô thị và sinh hoạt ở một số nước Châu Á
Quốc gia Năm
Dân
số
(triệu người)
GDP/
người
Lượng phát sinh CTRĐT
(tấn/năm)
Tỷ lệ phát sinh
( MSW/người /ngày)
Lượng RTSH
(nghìn tấn/năm)
Tỷ lệ phát sinh RTSH
(Nguồn: Waste management and recycling in Asia, IGES, 2005)
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập và mức sống của mỗi nước Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì thành phần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và lượng rác này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế Hàng năm toàn nước
Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt động công nghiệp chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạt chiếm 1,5%
2.2.2 Quản lý, xử lý rác thải trên thế giới
Vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới đang ngày càng được quan tâm hơn Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiến hành một cách rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình
Trang 14phân loại tại nguồn, thu gom, tập kết rác thải cho tới các trang thiết bị thu gom, vận chuyển theo từng loại rác Các quy định đối với việc thu gom, vận chuyển,
xử lý từng loại rác thải được quy định rất chặt chẽ và rõ ràng với đầy đủ các trang thiết bị phù hợp và hiện đại Một khác biệt trong công tác quản lý, xử lý rác thải của các nước phát triển là sự tham gia của cộng đồng
Có thể nói, ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiện nay Việc phân loại rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991 Rác bao bì gồm hộp đựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay carton được gom vào thùng màu vàng Bên cạnh thùng vàng, còn có thùng xanh dương cho giấy, thùng xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh
Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không thải khí độc ra môi trường Das Duele System Deutschland (DSD) – “Hệ thống hai chiều của nước Đức” - được các nhà máy tái chế sử dụng để xử lý các loại rác thải và năm vừa rồi, các nhà máy này đã chi khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụng công nghệ trên Tại các dây chuyền phân loại, các camera hồng ngoại hoạt động với tốc độ 300.000km/s để phân loại 10 tấn vật liệu mỗi giờ Những ống hơi nén được điều khiển bằng máy tính đặt ở các băng chuyền có nhiệm vụ tách riêng từng loại vật liệu Sau đó rác thải sẽ được rửa sạch, nghiền nhỏ và nấu chảy Quá trình trên sẽ cho ra granulat, một nguyên liệu thay thế dầu thô trong công nghiệp hoặc làm chất phụ gia.[10]
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại rác là một trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng Rác được phân loại triệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế rác trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều Từ đó, khái niệm về rác thải dần được thay thế bằng nguồn tài sản tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể với những ai biết đầu tư vào việc cải tiến công nghệ
Trang 15Tại Nhật, chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình 3R (reduce, reuse, recycle) Về thu gom CTR sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa các nhà máy tái chế Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho ô tô đến đem các túi rác đó đi Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi,
tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi
ô tô đến chở đi, không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại rác cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho máy phát điện Rác không cháy được cho vào máy
ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất Cách xử lý rác thải như vậy vừa tận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường Túi đựng rác là do các gia đình bỏ tiền mua ở cửa hàng Việc thu gom rác ở Nhật Bản không giống như ở Việt Nam Rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước, còn
từ các công ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty do chính quyền địa phương chỉ định Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm
về lượng rác thải công nghiệp của họ và điều này được quy định bằng các điều luật về bảo vệ môi trường
Trang 16Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu quả Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm Singapore có 9 khu vực thu gom rác Rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ
“từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế Quốc gia.Có thể nói Singapore được xem là một quốc gia có môi trường xanh - sạch - đẹp của thế giới, Chính phủ rất coi trọng việc bảo vệ môi trường
Cụ thể là pháp luật về môi trường được thực hiện một cách toàn diện là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo cho môi trường sạch đẹp của Singapore Thời gian đầu Chính phủ tổ chức giáo dục ý thức để người dân quen dần sau đó phạt nhẹ nhắc nhở và hiện nay các biện pháp được áp dụng mạnh mẽ là là phạt tiền, phạt
tù, bắt bồi thường và đối với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc Tại các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiều vấn
đề bất cập Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả lại thấp Sự tham gia của các đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế So với các nước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như Việt Nam và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều.[10]
Đối với các nước Châu Á chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ biến
để xử lý chất thải vì chi phí rẻ Các bãi chôn lấp chất thải được chia thành 3 loại: bãi lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh (chỉ đổ đất phủ) và bãi chôn lấp hợp sinh Chất lượng của các bãi chôn lấp liên quan mật thiết với GDP Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường thấy ở các nước có thu nhập cao, trong khi đó các bãi rác lộ thiên thấy phổ biến ở các nước đang phát triển Tuy vậy, các nước đang phát triển đã có lỗ lực cải thiện chất lượng các bãi chôn lấp, như Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ
Trang 17đã hạn chế chôn lấp các loại chất thải khó phân hủy sinh học, chất thải trơ, các
loại chất thải có thể tái chế
Bảng 2.6: Các phương pháp xử lý rác thải của một số nước ở Châu Á
(Đơn vị %) [14]
Quốc gia
Bãi rác lộ thiên, chôn lấp Thiêu đốt
Chế biến phân compost
Phương pháp khác
(Nguồn: Viện khoa học thủy lợi, 2006)
2.3 Tình hình quản lý, xử lý rác thải ở Việt Nam
2.3.1 Phát sinh rác thải ở Việt Nam
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các đô thị trên toàn quốc là 35.100 tấn/ngày, RTSH ở khu vực nông thôn khoảng 24.900 tấn/ngày Tại hầu hết các đô thị khối lượng RTSH chiếm 60-70% lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này có thể lên tới 90%) Kết quả nghiên cứu về lượng RTSH phát sinh ở các đô thị cho thấy lượng RTSH
từ các đô thị có xu hướng tăng đều, trung bình 10-16% mỗi năm.[2]
Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá
Trang 18(12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%)
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các
đô thị.[20]
Bảng 2.7: Lượng RTSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007
STT Loại đô thị
Lượng CTRSH bình quân trên đầu người
Nguồn: Tổng cục Môi trường - http://vea.gov.vn/vn
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị
Trang 19(chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) Đô thị
có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày
Bảng 2.8: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007
STT Đơn vị hành chính
Lượng CTRSH bình quân trên đầu người
(kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm
Nguồn: Tổng cục Môi trường - http://vea.gov.vn/vn
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Trang 20Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch như TP Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP Hội An 1,08kg/ người/ngày; TP Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg/người/ngày
Theo số liệu của Bộ Xây dựng , tính đến năm 2009 tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày
Dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, đến năm
2015, khối lượng CTRSH phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay Như vậy, với lượng CTRSH đô thị gia tăng nhanh chóng và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiện Việt Nam mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp khó khăn, không đảm bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từ rác thải Việc áp dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách [20]
Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, rất biến động theo mỗi địa điểm thu gom rác, phụ thuộc vào mức sống và phong cách tiêu dùng của nhân dân ở mỗi địa phương Tính trung bình, tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm 45% - 60% tổng lượng chất thải, tỷ lệ thành phần nilông, chất dẻo chiếm từ 6 - 16%, độ ẩm trung bình của rác thải từ 46 % - 52%
Tại tỉnh Thái Nguyên, theo Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2010, hệ số phát thải chất thải rắn sinh hoạt năm 2009 ở
Trang 21Bảng 2.9: Khối lƣợng RTSH đƣợc thu gom năm 2010
STT Đơn vị hành chính
Khối lƣợng CTSH phát sinh
(Tấn/ngày)
Khối lƣợng RTSH đƣợc thu gom
Khối lƣợng (Tấn/ngày)
Tỷ lệ RTSH đƣợc thu gom (%)
Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên - 2010
Ước tính đến năm 2015, khối lượng RTSH hằng ngày tại Thái Nguyên có thể lên tới 850 tấn/ngày và đến năm 2020 là 920 tấn/ngày, trong đó CTR phát sinh ở đô thị là 485 tấn/ngày vào năm 2015 và 570 tấn/ngày vào năm 2020 Các vùng đang bị áp lực do RTSH là TP Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các thị trấn, thị tứ trong tỉnh.[1]
2.3.2 Quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
a/ Quản lý rác thải tại Việt Nam
Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… đang là thách thức lớn đối với các nhà quản lý Tốc độ tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thị tăng, sản xuất, dịch vụ tăng, mà còn vì mức sống của người dân đang ngày một tăng lên
Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, còn các
Trang 22huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt 60%; Lượng CTR công nghiệp được thu gom đạt 85-90% và chất thải nguy hại mới chỉ đạt khoảng 60-70%
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy
rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải
b/ Xử lý rác thải tại Việt Nam
Việc xử lý CTR đô thị cho đến nay chủ yếu vẫn là đổ ở các bãi thải lộ thiên không có sự kiểm soát, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước và không khí Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010 công tác xử lý CTR đô thị hiện nay chủ yếu vẫn là chôn lấp với số lượng trung bình là 1 bãi chôn lấp/1 đô thị (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, mỗi đô thị có từ 4 -
5 bãi chôn lấp/ khu xử lý) Trong đó, có tới 85% đô thị (từ thị xã trở lên) sử dụng phương pháp chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh Thống kê, hiện toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi được coi là chôn lấp hợp vệ sinh (tập trung ở các thành phố lớn) Các bãi thải còn lại, CTR phần lớn được chôn lấp sơ sài
Hoạt động tái chế, giảm lượng chất thải sinh hoạt được tập trung chủ yếu vào đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến rác thành phân hữu cơ Tuy nhiên do chưa có những khảo sát chi tiết về khả năng chấp thuận của cộng đồng đối với sản phẩm phân vi sinh, đồng thời do kỹ năng phân loại trong quá trình sản xuất của các nhà máy này còn thấp, nên hiệu quả hoạt động của các nhà máy này chưa cao
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, gần đây, đã có một số công nghệ trong nước được nghiên cứu, phát triển với nhiều ưu điểm như khả năng phân loại rác
Trang 23ứng các tiêu chuẩn môi trường như công nghệ SERAPHIN, ANSINH-ASC và MBT-CD.08 với sản phẩm là phân hữu cơ, các sản phẩm nhựa tái chế và viên nhiên liệu, đã được triển khai áp dụng tại nhà máy xử lý rác Đông Vinh (Nghệ An), Nhà máy xử lý rác Sơn Tây, (Hà Nội); Nhà máy xử lý rác Thủy Phương (TT-Huế); Nhà máy xử lý rác Đồng Văn (Hà Nam), bước đầu đã đạt kết quả nhất định Tuy nhiên, các công nghệ trong nước đều do doanh nghiệp tư nhân tự nghiên cứu phát triển nên việc hoàn thiện công nghệ cũng như triển khai ứng dụng trong thực tế còn gặp một số khó khăn
2.3.3 Những hạn chế trong công tác quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
Việc thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt còn nhiều hạn chế: Mất vệ sinh cục bộ bởi phương thức thu gom hiện nay hầu hết là gián tiếp, thông qua các xe đẩy tay từ các khu vực dân cư, tập kết về một điểm tự phát rồi chuyển lên
ô tô chuyên dụng tại các ngã tư, góc đường… Việc rác thải chưa được phân loại tại nguồn cũng gây khó khăn cho việc vận chuyển, xử lý
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010 thì công nghệ xử lý chất thải rắn còn nhiều vấn đề bức xúc, việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn có tính thuyết phục và công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật vệ sinh môi trường nên chưa thu được nhiều sự ủng hộ của người dân địa phương Các công trình xử lý CTR còn manh mún, phân tán theo đơn vị hành chính nên công tác quản lý chưa hiệu
quả, suất đầu tư cao, hiệu quả sử dụng thấp, gây lãng phí đất, nguồn vốn,
Năng lực của các xí nghiệp môi trường đô thị về thiết bị, phương tiện thu gom vẫn còn thiếu, tải trọng nhỏ, cũ, hỏng…chưa theo kịp các yêu cầu thực tế Đối với khu vực ngoại thành thì lại có đặc điểm diện tích rộng, dân cư không tập trung, thành phần rác thải “phong phú hơn” do hoạt động nông nghiệp: các loại bao bì phân bón, vỏ hộp thuốc trừ sâu…khó thu gom do ý thức người dân chưa cao và hệ thống vận chuyển bị hạn chế cả về nhân lực lẫn phương tiện
Trang 24Ngay cả công tác xử lý, tiêu hủy, tái chế rác thải hiện cũng còn rất nhiều hạn chế chủ yếu dựa vào việc chôn lấp tại bãi rác Nam Sơn (chất thải ở đây hầu như không được phân loại) Còn riêng nhà máy chế biến rác thải tại Cầu Diễn, mới chỉ đạt sản lượng khoảng 7.000 tấn/năm, nghĩa là chỉ có khoảng 7% lượng rác thải sinh hoạt được tái chế thành phân vi sinh.[2]
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rác thải sinh hoạt
- Phạm vi nghiên cứu: Thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-văn hóa- xã hội thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Khí tượng thuỷ văn
- Địa chất, địa hình
- Tài nguyên thiên nhiên
3.2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế, dân cư, lao động, y tế - giáo dục, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, cơ sở hạ tầng
- Tình hình phát triển thương mại dịch vụ trên địa bàn (chợ trung tâm, nhà hàng dịch vụ gây áp lực cho môi trường)
- Cơ sở hạ tầng đô thị
Trang 25- Thực trạng quản lý RTSH trên địa bàn thị trấn Chợ Chu
+ Công tác quản lý nhà nước về RTSH tại địa phương
+ Chi phí cho hoạt động quản lý RTSH
+ Cơ cấu tổ chức của đơn vị thu gom, xử lý chất thải
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải của các đơn vị vệ sinh môi trường
+ Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
- Thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn
3.2.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý RTSH tại địa phương
- Biện pháp hành chính
- Biện pháp tuyên truyền giáo dục
- Biện pháp công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Sử dụng tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tài nguyên Bằng cách điều tra thu thập số liệu từ các cơ quan ban ngành thuộc UBND huyện, phòng tài nguyên môi trường huyện, trung tâm quan trắc môi trường tỉnh Thái Nguyên
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
* Số liệu thứ cấp:
- Những số liệu thứ cấp thu thập được: ĐKTN-KTXH, số liệu rác thải
- Nguồn được lấy từ các báo cáo KT - XH, hiện trạng rác thải huyện Định Hóa
* Số liệu sơ cấp: các số liệu có được do công tác điều tra, phỏng vấn
3.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát trực tiếp
- Tiến hành lập bộ câu hỏi và các vấn đề cần điều tra liên quan đến đề tài
để phỏng vấn
- Lựa chọn các hộ gia đình, địa điểm hợp lí để tiến hành phỏng vấn
Trang 263.3.4 Phương pháp phân tích, xử lí số liệu
Số liệu điều tra phỏng vấn được tổng hợp và xử lý trên EXCEL
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Chợ Chu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý.
Chợ Chu là Trung tâm của huyện Định Hoá Ranh giới hành chính có các phía giáp:
- Phía Đông giáp xã Phượng Tiến và Tân Dương
- Phía Tây giáp xã Phúc Chu;
- Phía Nam giáp xã Bảo Cường;
- Phía Bắc giáp xã Kim Sơn và Kim Phượng
Chợ Chu được chia thành 22 phố, xóm Tổng diện tích tự nhiên là 4,3 km2
4.1.1.2 Khí hậu, thủy văn:
Khí hậu của Chợ Chu mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc bộ, có
2 mùa mưa và khô rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng
11 năm trước đến tháng 3 năm sau (số mưa bình quân 137 ngày), lượng mưa trung bình 1.710mm/năm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều, mưa tập trung vào từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm 90 % lượng mưa cả năm
Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,50
C, các tháng nóng là các tháng mùa mưa, nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình là 28,70C, nhiệt độ thấp nhất là vào tháng 1 với nhiệt độ trung bình là 150
C Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình khá lớn (>70
C)
Hệ thống thủy văn của Chợ Chu gồm hệ thống sông Chu và nhiều suối nhỏ Hệ thống sông Chu là hệ thống sông lớn nhất trên lãnh thổ huyện Định Hóa
Trang 27thống Sông Chu có tổng chiều dài trên 100 km, đoạn qua TT Chợ Chu có tổng chiều dài trên 6 km Đây là nguồn cung cấp nước tưới chính cho nông nghiệp của thị trấn Chợ Chu
4.1.1.3 Địa hình, địa mạo:
Chợ chu có địa hình khá phức tạp, cấu trúc địa chất theo hướng Tây bắc - Đông nam, điạ hình đồi núi đan xen, chia cắt mạnh nên phần lớn diện tích trên lãnh thổ là vùng đồi núi Những vùng đất tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven sông, suối hoặc thung lũng vùng núi đá vôi
4.1.1.4 các nguồn tài nguyên
a/ Tài nguyên nước
Hệ thống dòng chảy sông suối: Do cấu trúc địa chất theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam và địa hình đồi núi đất, núi đá xen kẽ, chia cắt mạnh tạo nên hệ thống sông suối phân bố khá đều trên lãnh thổ với nguồn nước phong phú, dồi dào Lãnh thổ huyện Định Hoá - Chợ chu là nơi bắt nguồn của các nhánh suối và hình thành hệ thống sông chính đó là: Hệ thống sông Chợ Chu; Hệ thống sông
- Đất phù sa không được bồi;
- Đất vàng đỏ trên đá Macma axit;
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ;
- Đất phù sa ngòi suối;
- Đất vàng nhạt trên đá cát;
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ;
Trang 28- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa;
- Đất đỏ vàng trên đá phiến thạch;
- Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axit;
- Đất đỏ vàng trên đá biến đổi;
- Đất nâu đỏ trên đá Macma trung tính và Bagiơ;
c/ Tài nguyên khoáng sản:
Hiện nay trên địa bàn thị trấn Chợ Chu chủ yếu là khai thác đá vôi để sản xuất vật liệu xây dựng và cát sỏi để phục vụ xây dựng
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Dân số và lao động
Dân số của thị trấn năm 2010 là 6.107 người, mật độ dân số bình quân là 1.404 người/km2 Nhân dân thị trấn Chợ Chu gồm 8 sân tộc anh em (Tày, Nùng,
Kinh, Cao Lan, San Chí, Dao, H’Mông, Hoa) trong đó dân tộc kinh chiếm 65%,
dân tộc kinh chiếm 30%, còn lại là các dân tộc khác
4.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế, sản xuất nông, lâm nghiệp của thị trấn Chợ Chu
Hàng năm UBND TT Chợ Chu tiến hành xây dựng và tổ chức thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua có nhiều biến động của thời tiết, dịch bệnh, giá cả thị trường không ổn định Song việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn có sự chuyển biến tích cực, sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước, giá trị thu nhập trên 1 đơn vị diện tích được
nâng lên rõ rệt (Từ 30 triệu/ha năm 2005 lên 50 triệu/ha năm 2010) Thu nhập bình quân năm 2009 là 11 triệu đồng/người/năm (Năm 2005 là 5 triệu
đồng/người/năm)
Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 851 tấn Trong đó:
- Lúa đạt 150/150 ha đạt 100% kế hoạch, năng suất trung bình đạt 52,5 tạ/ha, sản lượng 787/754 tấn đạt 104,3% kế hoạch
- Ngô đạt 15,1/18 ha đạt 83,8% kế hoạch, năng suất 42,1 tạ/ha, sản lượng
63,5/66 tấn đạt 96% kế hoạch
Trang 29- Các loại cây màu khác: Khoai lang đạt 13/8 ha đạt 162,5 % kế hoạch; Rau màu các loại 45/15 ha đạt 300 % kế hoạch; Lạc 4/3 ha đạt 133 % kế hoạch; Đậu đỗ các loại 2/1 ha đạt 200% kế hoạch
Tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn năm 2011 là:
- Tổng đàn trâu: 75/75 con đạt 100% kế hoạch So với cùng kỳ đạt 100%
- Tổng đàn bò 40/50 con đạt 80% kế hoạch So với cùng kỳ đạt 100%
- Tổng đàn lợn 2600/2600 con đạt 100% kế hoạch So với cùng kỳ đạt 118,18%
-Tổng đàn gia cầm 15.000/13.000 con đạt 114,5 % kế hoạch So với cùng
kỳ đạt 100%
4.1.2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng
* Hệ thống giao thông vận tải
Là trung tâm hành chính, KT-XH của huyện nên Chợ Chu có hệ thống giao thông vận tải rất thuận lợi Tuyến đường nội thị được mở rộng, các tuyến đường giao thông liên thôn cũng đã được dải nhựa, hoặc đổ bê tông Ngoài hệ thống phương tiện giao thông cá nhân đã có hệ thống xe bus chạy từ trung tâm thành phố tới trung tâm thị trấn Chợ Chu đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân được thuận tiện hơn
* Hệ thống điện và thông tin liên lạc
Hệ thống điện và thông tin liên lạc được trang bị đầy đủ và thông suốt với
04 mạng viễn thông di động, hệ thống mạng Internet
* Y tế
Trên địa bàn thị trấn có 1 bệnh viện đa khoa với 100 giường bệnh, 1 trung tâm y tế dự phòng, 1 trạm y tế Công tác khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao
* Văn hóa - Giáo dục