Thành phố Hà tĩnh thuộc Đồng bằng ven biển Miền Trung, là một nơi hẹp nhưng có quá trình sử dụng đất rất đa dạng và sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Trong những năm gần đây, do sự phát triển của nền kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm cho diện tích đất nông nghiệp của thành phố ngày càng bị thu hẹp do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp khác. Mặt khác, quá trình sản xuất nông nghiệp, con người đã tác động vào đất bằng một số biện pháp gây ảnh hưởng đến đặc tính, tính chất của đất, làm cho đất bị suy thoái, giảm hiệu quả sử dụng đất. Việc định hướng cho người dân khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số vùng thâm canh tập trung ở Thành Phố Hà Tĩnh Hà Tĩnh”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ VÙNG THÂM CANH TẬP TRUNG
Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH- HÀ TĨNH”
Địa điểm thực hiện : Phòng Tài nguyên Môi trường – TP Hà Tĩnh
Thời gian thực hiện : từ 15/01/2011 đến 15/05/2011
Trang 2
PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là cơ sở sinh sống và phát triển của thực vật, là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp và có vai trò quan trọng trong đời sống của thực vật và con người Đất đai là nền tảng
để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế đươc, đặc biệt
là đối với sản xuất nông nghiệp, nó là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người
Trong quá trình sản xuất, do con người luôn tìm cách cải tạo môi trường xung quanh cho phù hợp với yêu cầu sản xuất thông qua các loại hình sử dụng đất, các hệ sinh thái nhân tạo và sử dụng một số phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật làm phá hủy cân bằng sinh thái thiên nhiên dẫn đến tính bền vững của đất ngày càng giảm dần
Mặt khác, do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội và sự bùng nổ dân số Nhu cầu ăn, mặc, ở của người dân ngày càng tăng lên Những nguyên nhân này đã gây áp lực cho đất ngày càng lớn Vấn đề đặt
ra là cần phải có những phương thức sử dụng đất và những biện pháp cải tạo phù hợp để đảm bảo mang lại hiệu quả sử dụng đất cao và bền vững, cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho con người Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và lựa chọn các loại hình
sử dụng đất cho phù hợp với điều kiện của các địa phương là rất cần thiết
Thành phố Hà tĩnh thuộc Đồng bằng ven biển Miền Trung, là một nơi hẹp nhưng có quá trình sử dụng đất rất đa dạng và sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Trong những năm gần đây, do sự phát triển của nền kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm cho diện tích
Trang 3đất nông nghiệp của thành phố ngày càng bị thu hẹp do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp khác Mặt khác, quá trình sản xuất nông nghiệp, con người đã tác động vào đất bằng một số biện pháp gây ảnh hưởng đến đặc tính, tính chất của đất, làm cho đất bị suy thoái, giảm hiệu quả sử dụng đất Việc định hướng cho người dân khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường – trường Đại
học Nông Nghiệp Hà Nội, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số vùng thâm canh tập trung ở Thành Phố Hà Tĩnh- Hà Tĩnh”
1.2 Mục đích, Yêu cầu:
1.2.1 Mục đích:
- Điều tra hiện trạng các loại hình sử dụng sản xuất nông nghiệp ở Thành phố Hà Tĩnh
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất trên địa bàn Thành phố
- Đề xuất một số loại hình sử dụng theo vùng thâm canh tập trung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
1.2.2 Yêu cầu:
- Xác định những lợi thế, khó khăn về điều kiện tự nhiên về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc phát triển Nông nghiệp của Thành phố
- Đánh giá hiện trạng đất sản xuất nông nghiệp của Thành phố
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp, đề xuất vùng thâm canh nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trang 42.1 Khái quát về sử dụng đất
2.1.1 Khái quát về đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp theo luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Trong đó đất sản xuất nông nghiệp được chia thành: đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác) và đất trồng cây lâu năm [1]
Trong giai đoạn kinh tế- xã hội phát triển, mức sống của con người còn thấp, công năng của đất là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp để phục vụ nhu cầu thiết yếu: ăn, mặc, ở….Khi con người biết sử dụng đất đai vào cuộc sống cũng như sản xuất thì đất đóng vai trò quan trọng trong hiện tại và tương lai
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là
cơ sở nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất Do đó
đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp giữ gìn độ phì nhiêu đất chưa được coi trọng Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói
Trang 5mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất… Người ta ước tính
có tới 15% tổng diên tích đất trên trái đất bị thoái hóa do những hành động bất cẩn của con người gây ra [2] Theo P.Buringh, toàn bộ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp
Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp xỉ 10.8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu Á lại có
tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số trên thế giới, ở đây các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở châu
Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ vào nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu
ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bi khai thac khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đẫ chuyển thành cây bụi và cỏ dại
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho loài người tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm
Trang 6Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm
1995 cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia Asean [3]
2.1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp…Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, Việt Nam
có tổng diện tích tự nhiên là 33.069.348 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 1132 m2/ người [4]
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hóa cũng như đô thị hóa diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo tư liệu của Tổng Cục Thống kê thì biến động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong 10 năm gần đây được thể hiện ở bảng 1
Bảng 1: Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất trồng cây
hàng năm ở Việt Nam(1995-2005)
Trang 7Năm TDT đất
nông nghiệp
TDT đất trồng cây hàng năm(ha)
Dân số( 1000 người)
Bình quân
DT đất trồng cây hàng năm người/(m2
số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực cho toàn dân và
có một phần xuất khẩu cần biết khai thác và sử dụng hợp lý đất đai, cần triệt
để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền
Trang 82.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng, đặc biệt đất nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm do bị trưng dụng sang các mục đích phi nông nghiệp Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả năng phòng hộ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm của rừng, phát triển công nghệ chế biến vừa và nhỏ với thiết bị công nghệ tiên tiến, khai thác tiềm năng lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xóa đói, giảm nghèo, thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao vai trò và giá trị đóng góp của ngành nông – lâm nghiệp vào phát triển kinh tế quốc dân Sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết
để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”
- Đầy đủ: đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo diện tích đất canh tác luôn đáp ứng nhu cầu về lương thực, diện tích đất nông nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái bền vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người
- Hợp lý: đây là nguyên tắc giúp cho việc khai thác, sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn và hiệu quả
- Hiệu quả: trong khai thác và quản lý sử dụng đất tính hiệu quả cao nhất cả về kinh tế, xã hội và môi trường Mặt khác có những quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn
Trang 9cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất có hiệu quả kinh tế xã hội cao
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp:
Theo chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam đến năm 2010 [7], quan điểm sử dụng đất nông – lâm nghiệp là:
- tận dụng triệt để các nguồn nhân lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ xuất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- áp dụng phương thức sản xuất nông – lâm kết hợp, lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp, đa dạng hóa sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất bền vững
- nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện
đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ
sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa của nền kinh tế quốc dân
- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn liền với việc xóa đói, giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hóa truyền thống của các dân tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực của con người
- Phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế, xã hội của vùng và cả nước
2.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 10Có rất nhiều quan điểm và cách nhận thức khác nhau về hiệu quả sử dụng đất Song chúng ta có thể hiểu hiệu quả sử dụng đất là kết quả của quá
trình sử dụng đất [8]
Đánh giá đúng hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp và quy hoạch phát triển nền kinh tế của địa phương Mục đích của đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất là để xác định tính bền vững của đất và lựa chọn các biện pháp sử dụng bền vững đất hiện trạng hay tiềm năng có lien quan đến quy hoạch sử dụng đất và hướng sử dụng bền vững tài nguyên này
Để đánh giá khả năng sử dụng đất, thông thường chúng ta đánh giá ở hai khía cạnh ( Theo Gs Viện sỹ Đào Thế Tuấn)
- Đánh giá khả năng thích nghi của cây trồng với đất đai
- Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Ở khía cạnh thứ nhất, cần đánh giá khả năng thích nghi của đất đai dựa trên việc so sánh, đối chiếu, xem xét mức độ phù hợp giữa những đặc tính cơ bản của từng đơn vị đất với yêu cầu sinh thái Từ đó sẽ xác định được những đơn vị đất nào có mức độ phù hợp cao và những đơn vị đất nào có mức độ phù hợp thấp hoặc không thích hợp với từng loại hình sử dụng đất Ở khía cạnh thứ hai, chúng ta cần đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất dựa vào kết quả điều tra kinh tế hộ trên khu vực được đánh giá, từ đó lựa chọn các nhóm cây trồng chính và các loại hình sản xuất nông nghiệp chính
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất của các tỉnh ở nước ta hiện nay chủ yếu chỉ dựa vào một số chỉ tiêu thuần mà chưa chú trọng đến mối quan hệ với các lãnh thổ kề bên, chưa dựa vào mục tiêu bền vững của môi trường đất và môi trường sinh thái Vì thế việc phân tích để đưa ra phương pháp đánh giá khoa học, chính xác về hiệu quả kinh tế sử dụng đất có ý nghĩa to lớn và cấp thiết cho sự phát triển bền vững nông nghiệp của địa phương trong thời kỳ hội nhập
Trang 112.2.2 Phân loại hiệu quả
Để phân loại hiệu quả thì có nhiều cách phân loại khác nhau, nếu căn cứ vào nội dung và cách biểu hiện thì hiệu quả được phân thành 3 loại: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau [9] Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman - 1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [10]
Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung, là khâu trung tâm của các loại hiệu quả Hiệu quả kinh tế có vai trò quyết định các hiệu quả còn lại vì trong mọi hoạt động sản xuất con người đều có mục tiêu chủ yếu là khi có được hiệu quả kinh tế thì mới có các điều kiện vật chất để đảm bảo cho các hiệu quả về xã hội và môi trường
Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hóa, tính toán chính xác trong mối quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu
ra, lượng chi phí bỏ ra là phần các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
Trang 12Đất đai nói chung đất nông nghiệp nói riêng là loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp Do đó, biết
sử dụng nó một cách có hệ thống sẽ thu được giá trị sản phẩm lớn với hiệu quả kinh tế cao và ngược lại Để đạt được mục tiêu kinh tế thì người sản xuất phải có biện pháp sử dụng hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất
mà đất đai là một trong những yếu tố quan trọng Vì vậy, mỗi vùng sản xuất cần phân tích kết quả sử dụng đất hàng năm để đánh giá được những loại hình sử dụng đất nào đã sử dụng tốt, cho hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện hiện tại và ngược lại Đối với những loại hình kinh tế chưa phù hợp cần tìm ra biên pháp khắc phục thay đổi để đạt được hiệu quả cao trong tương lai
Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra (Nguyễn Thị Phương Thụy, 2000 [12] và Nguyễn Thị Vòng [13], 2001) Còn theo Nguyễn Duy Tính (1995) [14] thì hiệu quả
về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp lại được xác định bằng khái niệm tạo việc làm trên cơ sở sử dụng một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Từ những quan điểm trên cho thấy hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế, nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và lượng cho phí bỏ ra Ở đây hiệu quả xã hội phản ánh những khía cạnh về mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn, việc làm, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội…
Hiệu quả xã hội sử dụng đất ở đây được xác định thông qua các chỉ tiêu mang tính định tính như: vấn đề công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, ổn định và nâng cao mức sống của người dân Đặc biệt như nước ta hiện nay với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và dân số đông, số dân cư sống bằng nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn
Trang 13trong khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp thì hiệu quả
sử dụng đất nói chung và hiệu quả xã hội ở đây được thể hiện là tăng cường thu nhập cho người dân, đảm bảo việc làm, hạn chế sự di dân vào các thành phố, các khu đô thị tìm việc làm, ổn định an ninh trật tự và giảm các tệ nạn
xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý… được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế [15]
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Bên cạnh cách phân loại hiệu quả nói trên, người ta còn có thể căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế, căn cứ vào các yếu tố sản xuất, phương hướng tác động vào sản xuất cả về mặt không gian va thời gian… Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở bất cứ góc độ nào thì viêc đánh giá hiệu quả cũng phải xem xét trên mặt không gian và thời gian, trong mối liên hệ chung
Trang 14của toàn bộ nền kinh tế Có như vậy mới đảm bảo cho việc đánh giá hiệu quả được đầy đủ, chính xác và toàn diện
2.2.3 Các nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và sản xuất nông nghiệp bền vững
2.2.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Khi dân số trên thế giới ngày một gia tăng trong khi diện tích đất tự nhiên không thay đổi và ngày càng suy thoái thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng, thu hút quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được tiến hành ở các nước Đông Nam á như phương pháp chuyên khoa, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia….Bằng những phương pháp đó các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu việc đánh hiệu quả đối với từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng
Hàng năm, các Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng
đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác
Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước sau đó mới đến đất thấp Đó là quá trình hình thành sinh thái đồng ruộng Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia
Trang 15súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Ủy ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới, ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới (2000) [15], ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp cho phát triển nông nghiệp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp), Canada là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), cộng đồng Châu âu là 62,7 tỉ USD (chiếm 42,1%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,8%)
Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Các nước Châu á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thủy lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Một mặt phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường
2.2.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trang 16Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên/ người là 0,43 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích trên đầu người ngày càng giảm Theo dự kiến, nếu tốc độ tăng dân số là 1-2 %/ năm thì dân số Việt Nam vào năm 2015 sẽ là 100,8 triệu người Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trong những năm qua, nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Ngay từ những năm 1960, GS Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, do đó đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng song Hồng Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen để sử dụng tốt hơn tiềm năng về đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập đến như Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987) Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do GS Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ thống cây trồng đồng bằng song Cửu long do GS Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao
Những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hóa nông nghiệp đồng bằng sông Hồng Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN – 01 (1991- 1995) do bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây
Trang 17trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long… nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng – 1997 [16] cho thấy, ở vùng này đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3 – 4 vụ/ năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở các vùng ven đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao như cây ăn quả, hoa, thực phẩm cao cấp…
- Từ năm 1996 đến nay các chương trình đánh giá đất đai cho các vùng sinh thái khác nhau, các tỉnh, các huyện trọng điểm đã được thực hiện
Đó là công trình do Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Khiêm chủ trì đã xác định được toàn tỉnh Đồng Nai có 15 đơn vị đất đai trên bản đồ
tỷ lệ 1/50.000 với 92 hệ thống đất chính và 165 hệ thống sử dụng đất chi tiết [17] Công trình “Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất chính ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng” do Lê Thái Bạt, Nguyễn Thị Dần, Luyện Hữu Cử, Phan Quốc Hưng [18] thực hiện năm 2003 Kết quả đã xác định được huyện Trùng Khánh có 5 loại hình sử dụng đất chính, trong
đó loại hình cây lâu năm cho hiệu quả kinh tế cao nhất (thu nhập thuần đạt được trên 10 triệu đồng/ha/năm) Ngoài ra còn nhiều công trình đánh giá đất theo phương pháp phân hạng đất theo phương pháp phân hạng thích hợp cho các dự án trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả…ở nhiều địa phương khác như của Đỗ Nguyên Hải, Đoàn Công Quỳ (2000), Thái Phiên (2000) [19]
Xuất phát từ những yêu cầu sử dụng và quản lý tài nguyên đất, vấn đề nghiên cứu đất đai trên cơ sở đánh giá khả năng sử dụng thích hợp đất đai ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết Các kết quả bước đầu của các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai thời gian qua với sự hỗ trợ và giúp đỡ tích cực
Trang 18của các cơ quan Nhà nước và Quốc tế đã và đang góp phần đưa nền nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng sinh thái và phát triển bền vững [20]
Tóm lại, những nghiên cứu đánh giá đất ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả đã có những đóng góp to lớn trong việc hoàn thiện dần quy trình đánh giá đất ở Việt Nam làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất toàn quốc và các vùng sinh thái lớn
Trang 19PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đất sản xuất nông nghiệp Thành phồ Hà Tĩnh – Tỉnh Hà Tĩnh
- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trong thành phố
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp thành phố Hà Tĩnh
3.2 Nô ̣i dung nghiên cứu:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất đai và sản xuất nông nghiệp
- Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố
- Đề xuất các kiểu sử dụng đất có triển vọng và một số vùng thâm canh tập trung
3.3 Phương pha ́ p nghiên cứu:
3.3.1 Phương pha ́ p thu thập số liê ̣u:
* Điều tra, thu thập số liê ̣u sơ cấp:
- Điều tra phỏng vấn nông hô ̣ (PRA) theo mẫu phiếu điều tra
- Điều tra bổ sung ngoài thực đi ̣a : khả năng tưới tiêu , tình hình sản xuất thực tế
* Điều tra thu thập số liê ̣u thứ cấp:
- Thu thập các tài liê ̣u , số liê ̣u về tình hình sử du ̣ng đất và hiê ̣n tra ̣ng sử dụng đất nông nghiê ̣p trên đi ̣a bàn thành phố từ các sở , các phòng ban trong Thành phố, thư viện, các nghiên cứu đã có trước đây……
3.3.2 Phương pháp tính hiệu quả của các loại hình sử dụng đất:
Trang 20- Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường
Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế thông qua các chỉ tiêu:
+ Giá trị sản xuất (GTSX):
Giá trị sản xuất chính là lượng giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong quá trình sử du ̣ng đất trên 1 đơn vi ̣ diê ̣n tích trong mô ̣t thời kì n hất
đi ̣nh (thường là 1 vụ hay 1 năm) và tính bằng sản lượng cây trồng trên 1 đơn
vị diện tích đó nhân với giá bán sản phẩm trên thị trường tại thời điểm điều tra
GTSX = Sản lượng x Giá bán một đơn vị sản phẩm
+ Chi phí trung gian (CPTG):
Chi phí trung gian là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và di ̣ch vu ̣ sử dụng trong quá trình sản xuất (giống, phân bón, thuốc BVTV, thuỷ lợi phí , chi phí khác)
Thu nhâ ̣p hỗn hợp là giá trị sản phẩm được tạo ra trong thời kì sản xuất đó, tính bằng hiệu số giữa tổng thu nhập và tổng chi phí
TNT = GTSX - TCP
+ Giá trị ngày công lao động (GTNC):
GTNC = TNHH / số ngày công lao đô ̣ng
HQĐV = TNHH / CPTG
Đánh giá hiê ̣u quả về mă ̣t xã hô ̣i thông qua các chỉ tiêu:
+ Vấn đề an ninh lương thực
+ Thu hú t lao đô ̣ng, giải quyết công ăn việc làm cho người dân
+ Mứ c độ chấp nhâ ̣n của người dân trong việc sử dụng các LUT
+ Các chỉ số phát triển của địa phương liên quan đến sử dụng đất
Đánh giá hiê ̣u quả về mă ̣t môi trường thông qua các chỉ tiêu:
Trang 21+ Mứ c đô ̣ sử du ̣ng phân bón và thuốc bảo vê ̣ thực vâ ̣t
+ Khả năng hạn chế sự thoái hoá đất và bảo vệ môi trường của loại hình sử dụng đất đó
3.3.3 Phương pha ́ p đánh giá các loại hình sử dụng đất:
Thực hiê ̣n phương pháp đá nh giá hiê ̣u quả các loa ̣i hình sử du ̣ng đất theo FAO
3.3.4 Phương pha ́ p chuyên gia:
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo phòng nông nghiệp
và phát triển nông thôn….về vấn đề sử dụng đất
Trang 22PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.Vị trí địa lý
Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của tỉnh
Hà Tĩnh Thành phố nằm ở toạ độ 18024’vĩ độ Bắc, 105056’ kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 360 km và cách thành phố Vinh 50 km về phía Bắc theo Quốc lộ 1
Phía Bắc giáp huyện Thạch Hà và huyện Lộc Hà;
Phía Nam giáp huyện Cẩm Xuyên;
Phía Đông giáp huyện Thạch Hà;
Phía Tây giáp huyện Thạch Hà
4.1.2 Địa hình
Thành phố Hà Tĩnh nằm trong vùng đồng bằng ven biển miền Trung ,
đi ̣a hình tương đối bằng phẳng , cao đô ̣ nền biến thiên từ +0,5m đến +3,0m.Tuy nhiên, do quá trình hình thành đất đã tạo ra những cánh đồng cao thấp không nghiêng theo một chiều Mặt khác do quá trình đô thị hoá nhanh chóng, nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp được chuyển đổi sang phi nông nghiệp, xây dựng các khu đô thị, nhà xưởng đã làm cho đất sản xuất nông nghiệp manh mún ảnh hưởng đến việc đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi, kiên cố hoá kênh mương, tưới tiêu nước phục vụ thâm canh cây trồng, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản.Bên cạnh đó cũng gây trở ngại cho việc tạo ra một khu vực đủ lớn để triển khai tổ chức sản xuất ra khối lượng hàng hoá tập trung phục vụ tiêu dùng tại thành phố và hoà chung vào nền kinh tế hàng hoá trên địa bàn tỉnh, cả nước
4.1.3 Khí hậu
Thành phố Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu Bắc Trung Bộ, có hai mùa rõ rệt là mùa lạnh khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa nóng ẩm mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10
Trang 23- Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ trung bình năm là 23,80C; Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 27,50C Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 21,30C Nhiệt
độ tối cao tuyệt đối là:39,70C Nhiệt độ thấp tuyệt đối:70
4.1.4 Chế độ thuỷ triều và thuỷ văn
* Chế độ thuỷ triều
Thành phố Hà Tĩnh nằm ở lưu vực của hai con sông là sông Rào Cái ở phía Đông Bắc và sông Cày ở phía Tây Bắc Hai sông này hợp lưu ở phía Bắc của thành phố hợp thành sông Cửa Sót cách biển 8km Các sông này chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thuỷ triều Về mùa kiệt chủ yếu là dòng triều Về mùa lũ giao lưu giữa triều và lũ ở mức cao nhất +2,88m (P=1%)
Triều cường làm cho nhiễm mặn nước sông ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt hàng ngày và nước tưới cho cây trồng
Trang 24Mặc dù thành phố có hệ thống đê phòng hộ, toàn bộ thành phố vẫn phải đối mặt với lũ lụt của sông Rào Cái với mức lũ cao nhất là 2,8m Lưu lượng dòng chảy chính của sông Rào Cái đo ở thượng nguồn cách thành phố 14km trung bình khoảng 13,6m3/s, mức thấp nhất là 0,2 m3/s và cao nhất 1,51
m3/s
* Chế độ thuỷ văn
Việc tiêu thoát của thành phố Hà Tĩnh phụ thuộc vào chế độ thuỷ văn của sông Rào Cái Về mùa lũ thường có sự giao lưu giữa lũ và triều gây ra ngập úng tại nội đồng trong thành phố
Bảng 2 Mức lũ của sông Rào Cái
1 2 3 4 5 6 10 50 Hmax (m) 2,88 2,73 2,59 2,52 2,46 2,42 2,28 2,04 Hmin (m) -1,39 -1,36 -1,35 -1,33 -1,32 -1,31 -1,29 -1,24 Chế độ dòng chảy của sông Rào Cái có hai mùa rõ rệt
+ Dòng chảy mùa cạn từ (tháng 12 đến tháng 7) dòng chảy ổn định Khi có mưa tiểu mãn dòng chảy tăng lên khá nhiều vào tháng 5
+ Dòng chảy mùa lũ thường từ tháng 8 đến 11 thường có biến động lớn đạt bình quân 50% tổng lưu lượng cả năm
4.1.5 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên nước
Tài nguyên nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt
+ Nước ngầm: Theo số liệu điều tra khảo sát thủy văn tỉnh Hà Tĩnh không đầy đủ, thì nguồn nước ngầm của tỉnh có 2 nguồn gốc, đó là nước khe nứt (nước mạch) và ổ nước (nước lỗ hổng) trong lòng đất
+ Nước mặt: Khu vực thành phố Hà Tĩnh có hệ thống sông khá dày, bao gồm hệ thống sông Già, sông Kênh Cần hợp lưu với sông Nghèn tại xã Tùng Lộc rồi đổ vào sông Đò Điệm tại Hộ Độ, sông Rào Cái ở phía nam đổ vào sông Đồng Môn hợp lưu với sông Hộ Độ tại ngã ba Thạch Hạ rồi đổ vào
Trang 25sông Cửa Sót Như vậy, các sông thuộc vùng nghiên cứu đều là sông nội địa, ngắn và chỉ đổ ra biển qua một cửa duy nhất là Cửa Sót, do đó về mùa mưa mực nước sông dâng khá nhanh Dòng chảy của các sông cao nhất vào tháng 9,10 (chiếm 60% dòng chảy cả năm) và thấp nhất vào tháng 4 Sự biến động dòng chảy này làm tăng mức độ ảnh hưởng của thuỷ triều đối với sông Cửa Sót, sông Rào Cái, sông Hộ Độ, sông Cày
+ Nước biển: Vùng Hà Tĩnh đặc trưng bởi chế độ nhật triều không đều Hàng tháng có gần nửa số ngày có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng trong ngày Vùng Cửa Sót thời gian triều cường thường chỉ 10 giờ nhưng thời gian triều rút thường kéo dài 15-16 giờ Biên độ triều trung bình 10 năm (1990-1999) ở trạm Thạch Đồng khoảng từ 19,86 cm (tháng 1) đến 30,93 cm (tháng 7, 8) Chất lượng nước ven biển ở đây vẩn đảm bảo tính chất tự nhiên vốn có Nhiệt độ nước biển trung bình tháng dao động trong khoảng 180
C (tháng 12) đến 340C (tháng 7) Độ mặn nước biển 150
/00 (tháng 9-tháng
10)-340/00 (tháng 12 và tháng 1), độ pH là 8-8, 18, độ đục 20-30mg/lít, vùng hoà tan (DO) 4,5-5,6mg/lít Độ mặn của sông giảm dần từ sông Cửa Sót là 270/00
đến 200
/00 sông Hộ Độ, sông Cày hạ xuống 190/00 và đạt mức thấp nhất
15-160/00 và sông Rào Cái
Hàm lượng phốt phát từ 2-3mg/m3
(tháng 4,5) đến 16 mg/m3 (tháng 8), hàm lượng muối silic từ 446 đến 483 mg/m3
(tháng 2 đến tháng 5) đến 1014mg/m3 (tháng 1) Hàm lượng dinh dưỡng tăng dần từ tầng mặt đến tầng đáy từ ngoài khơi đến ven bờ, hàm lượng Nitơ đạt 190 đến 340 mg/m3, Fe tổng
429-số 100mg/m3 Nhìn chung nước biển không giàu chất dinh dưỡng nhưng đảm bảo cho sự phát triển bình thường của sinh vật phù du Bên cạnh đó, do hạn hán
và triều cường, đất ở một số vùng nông nghiệp trong vùng đã bị nhiễm mặn, chủ yếu tập trung theo các con sông lớn như sông Rào Cái, sông Nghèn Vì vậy trong những năm gần đây người dân đã chuyển mục đích sang nuôi trồng thuỷ
Trang 26sản nước lợ Việc nuôi tôm trong khu vực sẽ có những ảnh hưởng đến việc khai thác nước
1 Đất cát chua 890,25 15,72
2 Đất phù sa chua 982,40 17,35
3 Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng 545,83 9,64
4 Đất phèn hoạt động 645,10 11,39 CỘNG DIỆN TÍCH ĐẤT 3063,58 54,10
TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN 5662,92 100,0
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Tĩnh
a Đất cát chua (Cd): tên theo FAO-UNESCO: Dystric Arenosols (ARd)
Diện tích 890,25 ha, chiếm 29,06% diện tích đất nông nghiệp Phân bố: Loại đất này gặp ở nhiều xã, phường như Thạch Trung, Thạch Hạ, Thạch Môn, Thạch Đồng, Thạch Quý, Thạch Linh, Nguyễn Du v.v
Loại đất này được hình thành từ mẫu chất cát có nguồn gốc biển và bị hóa chua Trong đất thường gặp tầng loang lổ đỏ vàng khá điển hình Thành phần cơ giới của đất nhẹ, nhóm hạt cát chiếm tỷ lệ chủ yếu trong các nhóm hạt của thành phần cơ giới Phản ứng của đất chua, pH(KCL)<5,0 Hàm lượng chất hữu cơ của đất rất nghèo, OC%<0,5% Lân tổng số rất nghèo,
P2O5%<0,06%, lân dễ tiêu nghèo P2O5dt<10mg/100g đất, kali tổng số trung bình (P2O5 ≈ 1,0%), kali dễ tiêu nghèo Dung tích hấp phụ của đất rất thấp, CEC < 5lđl/100g đất
Trang 27Đất cát chua có các tính chất xấu điển hình là cơ giới nhẹ, chua, nghèo các chất dinh dưỡng và khả năng giữ nước, giữ các chất dinh dưỡng rất thấp Tuy có nhiều tính chất kém nhưng loại đất này có thể sử dụng trồng các cây rau, màu ngắn ngày hoặc các cây lương thực như lúa, ngô, khoai lang…Thuận lợi của loại đất này là dễ chuyển dịch cơ cấu cây trồng ngắn ngày Những biện pháp cải tạo chính là hoàn chỉnh hệ thống tưới, ưu tiên phân hữu cơ, bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cho từng cây trồng cụ thể
b Đất phù sa chua (Pc) tên theo FAO-UNESCO: Dystric- Fluvisonls (FLd)
Diện tích: 982,40 ha, chiếm 32,07% diện tích đất sản xuất nông nghiệp Phân bố: gặp ở hầu hết các xã phường Thạch Trung, Thạch Hạ, Thạch Linh, Thạch Bình, phường đại Nài, Văn yên, Nguyễn Du,…
Loại đất này được hình thành từ sự lắng động phù sa của hệ thống sông và hỗn hợp phù sa sông biển bị hóa chua, có nhiều tính chất kém như nghèo mùn và các chất dinh dưỡng, dung tích hấp phụ thấp và chua Thành phần cơ giới của đất biến động từ nhẹ đến trung bình, đất có kết cấu hạt và cục, hạt kết cấu kém bền Phản ứng của đất chua có pH(KCL) <5,0
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất: Chất hữu cơ trong đất ở mức nghèo và rất nghèo Lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số trung bình và khá, kali dễ tiêu nghèo Loại đất này cũng có dung tích hấp phụ nhỏ CEC<10lđl/100g đất
Loại đất này có thể gieo trồng lúa nước và một số cây nông nghiệp ngắn ngày khác Khi đất có phản ứng rất chua nhất thiêt phải bón vôi cải tạo Chủ động thuỷ lợi để không cho phèn bốc lên tầng canh tác Bón đủ phân theo yêu cầu dinh dưỡng của cây trồng cụ thể
c Đất phù sa loang lổ đỏ vàng (Pf)- tên theo FAO-UNESCO: Cambic-
Fluvisonls (FLb)
Diện tích 545,83 ha, chiếm 17,82% diện tích đất sản xuất nông nghiệp Phân bố: gặp ở các xã phường như Thạch Bình, Thạch Linh, Thạch
Trang 28Môn, Thạch đồng, phường Trần Phú, Nam Hà,…Loại đất này cũng được hình thành từ các vật liệu phù sa sông, hỗn hợp phù sa sông biển và bị biến đổi mạnh do tích lũy nhiều sắt dạng hóa trị 3
Thành phần cơ giới của đất biến động từ nhẹ đến trung bình, đất có kết cấu hạt và cục nhỏ hạt kết cấu kém bền Phản ứng của đất bién động từ chua đến chua ít Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất: Chất hữư cơ của đất ở mức nghèo và rất nghèo, OC%<0,5%, lân dễ tiêu nghèo thường nhỏ hơn 10lđl/100g đất, kali tổng số trung bình, kali dễ tiêu nghèo Dung tích hấp thụ của đất thấp, CEC<10lđl/100g đất
Loại đất này có thể gieo trồng được nhiều loại cây trồng như lúa, ngô, khoai lang và các cây nông nghiệp ngắn ngày khác Cùng với việc hoàn chỉnh thuỷ lợi cần bón đủ phân theo yêu cẩu của cây trồng, phần đất có phản ứng quá chua cần bón vôi
d Đất phèn hoạt động (Sj) tên theo FAO-UNESCO: Orthi-Thionic-
Fluvisonls (FLt-or)
Diện tích 645,10 ha, chiếm 21,05% diện tích đất điều tra Phân bố: gặp ở các xã phường như Đại Nài, Thạch Hưng, Thạch Đồng, Thạch Môn, Thạch Hạ
Nguồn gốc ban đầu của loại đất này là phù sa sông và hỗn hợp phù sa sông biển sau đó bị phân hoá do sự hình thành và tích luỹ muối phèn trong đất Thành phần cơ giới của đất biến động từ trung bình đến nhẹ, đất có kết cấu hạt và cục, hạt kết cấu kém bền Phản ứng của đất chua và rất chua, điển hình ở tầng phèn hoạt động có pH(KCL) <4,0
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất: Chất hữu cơ trong đất biến động rất rộng từ rất nghèo đến nghèo và trung bình Lân tổng số trong đất rất nghèo, lân dễ tiêu biến động từ nghèo đến trung bình Kali tổng số trung bình, kali dễ tiêu nghèo Loại đất này cũng có dung tích hấp phụ nhỏ CEC<10lđl/100g đất
Trang 29Đất phèn hoạt động có nhiều tính chất xấu, điển hình nhất là đất phản ứng chua và rất chua, chất dinh dưỡng dễ tiêu nghèo và dung tích hấp phụ nhỏ Loại đất này có thể gieo trồng lúa nước và một số cây nông nghiệp ngắn ngày khác
Khi đất có phản ứng rất chua nhất thiêt phải bón vôi cải tạo Chủ động thuỷ lợi để không cho phèn bốc lên tầng canh tác Bón đủ phân theo yêu cầu dinh dưỡng của cây trồng cụ thể
+ Có địa hì nh tương đối bằng phẳng , hệ thống tưới tiêu chủ đô ̣ng ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho sản xuất nông nghiêp
- Những khó khăn và hạn chế:
+ Là vùng có khí hậu khắc nghiệt, hàng năm chịu ảnh hưởng bởi lũ lụt, hạn hán và mưa bão Diện tích đất bị úng ngập, khô hạn hoặc rửa trôi chiếm phần đáng kể gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất
+ Nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm va thường có lượng mưa hàng năm cao dẫn đến dễ phát sinh các loại dịch bệnh, đặc biệt là trên các loại cây trồng gây ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, môi trường và sức khỏe của nhân dân
+ Tình trạng sử dụng đất không hợp lí , kém hiệu quả gây ô nhiễm , ảnh hưởng đến sinh hoa ̣t của con người
4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.2.1 Hiện trạng phát triển các ngành kinh tế
Trang 30Là thành phố trẻ có nhiều ưu thế so với các huyện, thi xã trong tỉnh, với sự năng động, sáng tạo của cán bộ, người dân nên kinh tế của Thành phố liên tục tăng trưởng, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh Số liệu về giá trị sản xuất một số ngành trên địa bàn thành phố
Công nghiệp chế biến 152.451 225.420 305.712 344.150 Công nghiệp điện, nước 8.158 9.310 14.412 18.754 Xây dựng 507.541 654.210 775.412 901.440 Thương nghiệp, sửa chữa 91.254 96.451 103.421 135.741 Thương nhiệp nhà hàng 129.504 136.421 176.542 231.214 Vận tải, kho bãi 96.210 120.510 185.421 229.214
Nguồn: Phòng thống kê thành phố Hà Tĩnh, năm 2010
Qua bảng số liệu trên cho thấy: Tổng giá trị sản xuất theo giá hiện hành các ngành trên toàn thành phố năm 2010 đạt 2.023.614 triệu đồng tăng 319.589 triệu đồng so với năm 2009, tăng 18,76% Mặc dù bị ảnh hưởng của kinh tế thế giới, lạm phát nhưng các ngành công nghiệp chế biến, điện nước, xây dựng, thương nghiệp, vận tải, ko bãi vẫn tăng đều qua các năm từ năm 2007-2010 thể hiện vị trí đầu tầu của nền kinh tế của tỉnh Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp có xu hướng giảm dần năm 2008 là 107.780 triệu đồng
Trang 31giảm so với năm 2007 là 12.729 triệu đồng nhưng lại tăng dần năm 2009 và đến năm 2010 là 136.694 triệu đồng, tăng 13.068 triệu đồng so với năm 2009 Điều này chứng tỏ nhờ vào trình độ thâm canh, kinh nghiệm sản xuất, và sự vượt khó của cán bộ, người dân Hà Tĩnh nên ngành nông nghiệp đã thu được những kết quả như trên, góp phần bình ổn an sinh xã hội trên địa bàn Với sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư đúng hướng phát huy thế mạnh mặt nước nuôi trồng thuỷ sản nên giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng đền qua các năm và có những bước nhảy vọt đáng kể Đó là năm 2010 đạt 22.386 triệu đồng, tăng 6.774 triệu đồng, tăng 43,4% sới năm 2009; tăng 14.243 triệu đồng, tăng 174,5% so với năm 2008; tăng 11.396 triệu đồng, tăng 103,69% so với năm
2007
4.2.1.2 Sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi
Sản xuất nông nghiệp của thành phố trong những năm qua đã tập trung vào việc thâm canh tăng năng suất, đổi mới cơ cấu mùa vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nên đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diên tích canh tác
Hiện nay, trong nông nghiệp ngành trồng trọt chiếm tỷ lệ 63,36%, chăn nuôi 33,77%, dịch vụ nông nghiệp 2,87% Các cây trồng trong trồng trọt: Diện tích cây lúa, rau xanh, cây lạc được duy trì, ít biến động, cây đậu, cây khoai lang biến động nhiều nhất Các cây trồng mới là hoa cây cảnh đang được trồng là bước đi ban đầu trong chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt của thành phố
Tiếp tục chuyển di ̣ch cơ cấu cây trồng vâ ̣t nuôi , từng bước đưa sản xuất hàng hoá phu ̣c vu ̣ đô thi ̣ Tâ ̣p trung xây dựng các mô hình sản xuất cho năng suất, chất lượng cao như : Mô hinh lúa chất lượng cao , mô hình nuôi thỏ, mô hình trồng dưa hấu , mô hình hoa , mô hình rau an toàn , mô hình
Trang 32khoai lang Nhâ ̣t Triển khai mô hình an toàn bảo vê ̣ thực vâ ̣t tại phường Thạch Linh, mô hình an toàn di ̣ch bệnh thú y ta ̣i xã Tha ̣ch Ha ̣
Năm 2010, diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn thành phố là 3915,02ha, so vớ i cùng kì bằng 95,69% (giảm 176,18ha ) Về năng suất thì năng suất lúa cả năm 2010 đạt 45,7 tạ/ha, bằng 96,4% so với năm 2009 (giảm 2,35 tạ/ha) Nguyên nhân giảm là so cơn bão số 3 (tháng 8/2010) Năng suất khoai năm 2010 đa ̣t 51,5 tạ/ ha, bằng 97,9% so với năm 2009 Năng suất đâ ̣u đa ̣t 7,4 tạ/ha,bằng 136,78% so với năm 2009 Năng suất rau
đa ̣t 51,8 tạ/ha, bằng 114,11% so với năm 2009
Về chăn nuôi:
+ Tổng đàn trâu : 956 con giảm 158 con so vớ i năm 2009
+ Tổng đàn bò: 3178 con giảm 816 con so với năm 2009
+ Tổng đàn lợn: 9720 con, giảm 1695 con so với năm 2009
+ Tổng đàn gia cầm: 183200 con, bằng 100,7% so với năm 2009
Về giá trị sản xuất ngành chăn nuôi: Năm 2007 có giá trị sản xuất là
54027 triệu đồng nhưng đến năm 2010 giảm chỉ còn 42689 triệu đồng Như vậy, tổng đàn gia súc, gia cầm và giá trị sản xuất ngành chăn nuôi giảm dần qua các năm Ở các phường nơi cần có môi trường trong lành nhưng tổng đàn gia súc, đàn lợn còn cao Cơ cấu trong chăn nuôi còn bất hợp lý, chủ yếu
là chăn nuôi lợn trong khi nhu cầu về thực phẩm không chỉ có thịt lợn Năm
2010, tổng đàn bò ở các phường là 1007 con, chiếm 31,69%, đàn lợn là 4500 con chiếm 46,3%
4.2.1.2 Ngành thuỷ sản
Ngành thuỷ sản đang được thành phố quan tâm, người dân hưởng ứng
và đã ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong nuôi nước ngọt và nuôi mặn lợ Việc nuôi thuỷ sản đã đa dạng hoá sản phẩm với nuôi cá, cua, tôm thể chân trắng, ếch, ba ba Hình thức nuôi đã tận dụng được diện tích tại các ao hồ nhỏ, nuôi lồng, nuôi cá trong ruộng lúa, nuôi cá vụ ba Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản
Trang 33theo giá hiện hành, giá cố định đều tăng qua các năm Theo giá hiện hành, giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2007 là 10990 triệu đồng, năm 2007 là 8156 triệu đồng, năm 2009 là 15612 triệu đồng, năm 2010 là 22386 triệu đồng
chủ yếu tập trung ở 4 phường trung tâm (phường: Bắc Hà, Nam
Hà, Tân Giang và Trần Phú) Phường có mật độ dân số đô thị cao nhất là phường Bắc Hà: 10 754người/km2; phường có có mật độ dân số đô thị thấp nhất là phường Thạch Linh 910 người/km2 Các xã mật độ dân số thấp trung bình 803 người/km2 Xã có mật độ dân số thấp nhất là xã Thạch Môn 501người/km2
Lao động trong thành phố đã có sự chuyển dịch đáng kể Xu hướng chuyển dịch là giảm dần tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, tăng dần tỷ lệ lao động vào các ngành công nghiệp, dịch vụ
Trang 34Bảng 5 Tình hình dân số và lao động ở Thành phố Hà Tĩnh
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2007 2008 2009 2010
-Dân số có đến 31/12 hàng năm Người 80 460 83 686 86 351 89 228 + Thành thị Người 52 492 53 464 54 745 63 830 + Nông thôn Người 25 590 25 179 25 432 25 398
- Tổng số lao động Người 33 386 34 679 36 739 39 067 + Nông nghiệp, lâm nghiệp Người 14 164 13 560 13 451 13 550 + Thuỷ sản Người 460 482 678 685 + Công nghiệp Người 1 998 2 475 2 658 2 838 + Xây dựng Người 3 245 3 710 4 121 4 742 + Thương nghiệp dịch vụ Người 7 214 7 420 7 692 10 214 + Lao động trong các cơ quan
Nguồn: Niên giám Thống kê TP Hà Tĩnh năm 2010
- Tính đến tháng 12/2010 toàn thành phố có 39.067 lao động Trong đó
lao động nông lâm, thuỷ sản: 14.235 người, chiếm 36,4% tổng số lao động
Lao động trong thành phố đã có sự chuyển dịch đáng kể Xu hướng chuyển
dịch là giảm dần tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, tăng dần tỷ lệ lao động
vào các ngành công nghiệp, dịch vụ
Số lao động trong lĩnh vực công nghiệp năm 2010 tăng 180 người,
Trang 35tăng 6,77% so với năm 2009 Ngành thương mại, dịch vụ có sự nhảy vọt là hướng đi đúng của thành phố, năm 2010 có 10.214 lao động, tăng so với năm 2009 là 2.522 lao động, tăng 32,79%, so với năm 2007 tăng 3000 lao động, tăng 41,59%
Có thể nói, nguồn lao động nông nghiệp của thành phố khá dồi dào, tuy nhiên lao động chủ yếu là phổ thông, phần lớn lao động làm việc trong các lĩnh vực nông lâm thuỷ sản chưa qua đào tạo, nên thu nhập thường không cao Đây là khó khăn lớn của thành phố trong việc quy hoạch nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
4.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
Cơ sở ha ̣ tầng của thành phố bao gồm : Hê ̣ thống giao thông, thuỷ lợi, bưu điê ̣n, trung tâm y tế , trường ho ̣c Trong những năm gần đây đã được đầu tư xây dựng lớn đáp ứng được yêu cầu của sự nghiê ̣p phát triển kinh tế
xã hội của thành phố
- Thuỷ lợi: Hồ Kẽ Gỗ với dung tích 350 triê ̣u m3 được xây dựng năm
1976 là công trình “ Đại thuỷ nông” tại xã Cẩm Mỹ , huyện Cẩm Xuyên , là công trình điều tiết thuỷ nông cho hầu như cả tỉnh và quan tro ̣ng hơn , công trình còn cắt đỉnh lũ làm giảm mức độ ngập trong vùng và toàn thành phố Trong thành phố h iê ̣n nay có các kênh tưới N 1-9, N1, N7, ngoài ra còn có
mô ̣t số kênh tưới tiêu kết hợp như T 1-T4 với tồng chiều dài là 13 km Tính đến năm 2010 kênh mương cứng nội đồng đã thực hiện được là 97,7 km
- Giao thông : Những năm qua công tác đầ u tư phát triển ma ̣ng lưới giao thông trên đi ̣a bàn thành phố diễn ra rất ma ̣nh mẽ Hê ̣ thống đường bô ̣ của thành phố phân bố tương đối đồng đều, phù hợp với phân bố dân cư hiện tại và quy hoạch phát triển xã hội trong tương lai Các tuyến đường chính tạo thành ô cờ kết hợp nan quạt hướng tâm tạo cho mạng lưới giao thông nông thôn của thành phố lan toả tới các phường, xã , thôn xóm
Trang 36- Hệ thống điện: Nguồn điện cung cấp cho thành phố Hà Tĩnh được lấy từ trạm 110/35/10KV Thạch Linh nên không đảm bảo cấp điện khi mở rộng không gian thành phố Hiện nay thành phố Hà Tĩnh đã hoàn thành chương trình cải tạo và chuyển đổi lưới điện từ 10 KV lên 22 KV nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện
Nhìn chung chất lượng giao thông của thành phố giai đoạn vừa qua được nâng lên đáng kể chất lượng giao thông đối ngoại khá tốt là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
4.2.4 Giáo dục – y tế - văn hóa – thể thao
- Đến nay đã hoàn thành công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học
và trung học cơ sở Chất lượng đào tạo cơ bản được giữ vững và nâng cao,
số lượng giáo viên giỏi, học sinh giỏi ngày một tăng, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt cao
- Hiện tại trên địa bàn thành phố có 4 bênh viện tuyến tỉnh, 1 bệnh viện tuyến thành phố, 15 phòng khám tuyến xã phường với 228 cán bộ y tế trong
đó cán bộ trình độ đại học và trên đại học 37 người
- Các phong trào hoạt động văn hóa, nghệ thuật, phong trào thể thao quần chúng trên địa bàn thành phố trong nhưng năm qua từng bước phát triển cả
về nội dung lẫn hình thức
4.2.5 Đánh giá chung về tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Là thành phố trung tâm chính trị , kinh tế, văn hoá – xã hội có số dân đông nhất tỉnh, có vị trí địa lí thuận lợi , nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Trung Bô ̣, đă ̣c biê ̣t có hê ̣ thống giao thông đối nô ̣i , đối ngoa ̣i thuâ ̣n tiê ̣n, bao gồm cả đường bô ̣ , đường sắt và đường thuỷ là những đô ̣ng lực cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội to àn thàmh phố Có thể nói, trong những năm qua, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố đạt kết quả khá cao Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 37hóa Cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
+ Tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú để phát triển ngành nông nghiêp, công nghiệp, tài nguyên đất cho phép mở rộng quỹ đất phát triển đô thị , công nghiê ̣p và phát triển ngành nông - lâm ngư nghiê ̣p mô ̣t cách đồng
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật tuy được đầu tư song vẫn thiếu đồng bộ Cùng với sự phát triển nhanh các đô thị mới, các khu công nghiệp , khu chế xuất có ảnh hưởng không nhỏ dến viê ̣c bảo vê ̣ môi trường sinh thái , gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, có ảnh hưởng tới đời sống nhân dân và phát triển du li ̣ch
4.2 Tình hình sử dụng đất
4.2.1 Tình hình biến động đất đai của Thành phố