Nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ lợn thịt, đánh giá về lợi ích kinh tế của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn huyện Ý Yên. Từ đó đưa ra các giải pháp khả thi nhằm nâng cao lợi ích kinh tế của các tác nhân tham gia và góp phần phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn Huyện. Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về lợi ích kinh tế, tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ, kênh tiêu thụ. Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ lợn thịt, lợi ích kinh tế của các tác nhân tham gia sản xuất tiêu thụ lợn thịt tại huyện Ý Yên, tìm ra những thuận lợi, khó khăn của từng tác nhân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt. Đề xuất các giải pháp chủ yếu khả thi nhằm nâng cao lợi ích kinh tế của các tác nhân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt, góp phần phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn Huyện.
Trang 11 MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn là một trong những ngành sản xuất quan trọng của nền kinh
tế quốc dân, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệu người dân hiện nay Do vậy, phát triển chăn nuôi là góp phần vào sự phát triển của nền nông nghiệp nói riêng, nền kinh tế nước ta nói chung
Chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng đã có từ rất lâu Thực tế nước ta cho thấy, đâu đâu cũng nuôi lợn, từ vùng thấp đến vùng cao,
từ đồng bằng đến trung du miền núi Trước đây, hầu hết các hộ gia đình đều chăn nuôi lợn ở quy mô nhỏ để giải quyết nhiều mục đích như cung cấp phân bón cho trồng trọt, tận dụng phụ phẩm của trồng trọt, tận dụng lao động nông nhàn, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập Ngày nay, quy mô đàn lợn đã được
mở rộng, năng suất và chất lượng thịt cũng đã được cải thiện Điều đó là do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, dân số tăng và thu nhập của người dân cũng tăng, nên nhu cầu về tiêu dùng thịt lợn của người dân tăng lên rõ rệt
Ý Yên là một huyện nông nghiệp của tỉnh Nam Định, với vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa trung tâm kinh tế - chính trị của 3 tỉnh là Nam Định, Ninh Bình và Hà Nam – đây là thị trường tiêu thụ lợn thịt đầy tiềm năng Đồng thời với dân số đông, tỷ lệ lao động thiếu việc làm lớn, diện tích đất nông nghiệp nhiều, nguồn nguyên liệu tại chỗ để chế biến thức ăn gia súc như gạo, ngô, đậu tương, dồi dào Đây chính là những điều kiện cho thấy phát triển chăn nuôi lợn
là một hướng đi đúng đắn Từ đó góp phần khai thác thế mạnh của vùng, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cũng như mức sống cho người dân
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở Ý Yên nói riêng, ở Nam Định nói chung đã có những chuyển biến căn bản Quy mô chăn nuôi lợn của
hộ ngày càng lớn làm tăng số đầu con chăn nuôi và sản lượng chăn nuôi
Trang 2Chăn nuôi lợn của hộ theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và sản xuất hàng hóa lớn hướng ra xuất khẩu Các hộ đang có nhu cầu áp dụng khoa học
kỹ thuật mới trong chăn nuôi như giống mới có tỷ lệ nạc cao, thức ăn giàu dinh dưỡng và phòng trừ dịch bệnh
Tuy nhiên, trên thực tế sự tăng trưởng của chăn nuôi lợn chưa tương xứng với tiềm năng chăn nuôi và chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường Các
hộ chăn nuôi đang gặp rất nhiều khó khăn như thị trường đầu vào và đầu ra không ổn định Chính điều đó đã ảnh hưởng đến cung cầu thịt lợn trên thị trường mà biều hiện là giá cả thịt lợn tăng giảm không ổn định Từ đó, những câu hỏi đang đặt ra cho các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu là: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn huyện Ý Yên ra sao? Có những tác nhân nào tham gia trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn Huyện? Lợi ích kinh tế của các tác nhân như thế nào? Có thuận lợi, khó khăn
gì trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt? Những giải pháp nào cần nghiên cứu, đề xuất nhằm nâng cao lợi ích kinh tế của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt, từ đó góp phần phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn Huyện trong những năm tới? Để giải đáp được những câu hỏi trên chúng
tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu lợi ích kinh tế của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt tại huyện Ý Yên tỉnh Nam Định” làm luận văn
tế của các tác nhân tham gia và góp phần phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn Huyện
Trang 3- Đề xuất các giải pháp chủ yếu khả thi nhằm nâng cao lợi ích kinh tế của các tác nhân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt, góp phần phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn Huyện
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lợi ích kinh tế của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt tại địa bàn huyện Ý Yên Đó là người sản xuất (Hộ chăn nuôi), thương lái, người giết mổ lợn
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về lợi ích kinh tế của các tác nhân
tham gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn huyện Ý Yên
- Về không gian: Đề tài được triển khai trên địa bàn toàn Huyện, trong
đó khảo sát một số nội dung tại 3 xã Yên Lộc, Yên Hồng và Yên Lợi
Trên thực tế lợn thịt ở huyện Ý Yên có thể được tiêu thụ tại thị trường khác như: Ninh Bình, Hà Nam, … Nhưng do hạn chế về thời gian và những khó khăn khách quan, đề tài chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, nghiên cứu các hộ chăn nuôi, buôn bán, giết mổ lợn thịt trên địa bàn Huyện mà chưa nghiên cứu được đối tượng ở ngoài địa bàn Huyện
- Về thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp tại địa phương trong thời
gian từ năm 2006 - 2008 Tập trung điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt của các tác nhân của năm 2008
Trang 42 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lợi ích kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm về lợi ích kinh tế
Mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu của họ phải được đáp ứng Lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau Lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu, nhu cầu làm nảy sinh lợi ích
Cũng giống như lợi ích của con ngườ i nói chung, lợi ích kinh tế gắn liền với nhu cầu, song đây không phải là nhu cầu bất kỳ, mà là nhu cầu kinh
tế (nhu cầu vật chất) Chỉ có những nhu cầu kinh tế mới làm phát sinh lợi ích kinh tế
Vậy “Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh
tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định”[3, trang 278]
2.1.1.2 Bản chất của lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế, một mặt nó phản ánh những
điều kiện, phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất của mỗi con người, mỗi chủ thể Suy cho cùng, lợi ích kinh tế được biểu hiện ở mức độ của cải vật chất
mà mỗi con người có được khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội;
mặt khác, lợi ích kinh tế phản ánh quan hệ giữa con người với con người trong
quá trình tham gia vào các hoạt động đó để tạo ra của cải vật chất cho mình Những quan hệ đó là quan hệ sản xuất Vì vậy, lợi ích kinh tế còn là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất và do quan hệ sản xuất quyết định [3, trang 279]
Trang 5+ Phân loại một cách khái quát nhất: Hệ thống lợi ích kinh tế được chia thành lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội
+ Dưới góc độ các thành phần kinh tế: có lợi ích kinh tế tương ứng với các thành phần kinh tế đó
+ Dưới góc độ các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội có lợi ích kinh
tế của người sản xuất, người phân phối, người trao đổi, người tiêu dùng
Dù cách phân chia có thể khác nhau nhưng các lợi ích kinh tế bao giờ cũng
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ chúng cùng đồng thời tồn tại trong một
hệ thống trong đó lợi ích kinh tế này là tiền đề, là cơ sở của lợi ích kinh tế kia Chẳng hạn có lợi ích của người sản xuất thì mới có lợi ích của người trao đổi, người tiêu dùng và ngược lại
Mặt mâu thuẫn biểu hiện ở sự tách biệt nhất định giữa các lợi ích kinh
tế đó dẫn đến xu hướng lấn át của lợi ích kinh tế này đối với lợi ích kinh tế khác Do đó, nó có thể gây nên những xung đột nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế - xã hội.Trong các xã hội có đối kháng giai cấp thì lợi ích kinh tế cũng mang tính đối kháng Do đó, nó dẫn đến cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa các giai cấp
Trên thực tế, lợi ích kinh tế thường được biểu hiện ở các hình thức thu nhập như tiền lương, tiền công, lợi nhuận, địa tô, thuế,…
2.1.1.3 Vai trò của lợi ích kinh tế
Trong hệ thống lợi ích của con người nói chung bao gồm lợi ích kinh
tế, chính trị, văn hóa tư tưởng…, thì lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định nhất, chi phối các lợi ích khác Bởi vì, nó gắn liền với nhu cầu vật chất, nhằm đaớ ứng nhu cầu vật chất – là nhu cầu đầu tiên, cơ bản nhất cho sự tồn tại và phát triển của con người, của xã hội Đồng thời, khi lợi ích kinh tế được thực hiện thì nó cũng tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện các lợi ích khác Đời sống vật chất
Trang 6của xã hội được phồn thịnh, thì đời sống tin thần cũng mới được nâng cao Chính vì vậy, lợi ích kinh tế quan trọng nhất, quyết định nhất, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển của mỗi con người nói riêng, cũng như xã hội nói chung Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa vai trò của lợi ích kinh tế mà hạ thấp vai trò của các lợi ích khác [3, trang 281-282]
2.1.1.4 Hệ thống lợi ích kinh tế: cá nhân, tập thể, xã hội
Trong hệ thống lợi ích kinh tế: cá nhân, tập thể, xã hội thì lợi ích kinh
tế cá nhân là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất thúc đẩy các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hoạt động này [3, trang 282]
Thứ nhất, lợi ích kinh tế cá nhân là lợi ích thiết thực nhất, gắn với từng
cá nhân, từng chủ thể Nó trực tiếp đáp ứng nhu cầu vật chất của từng cá nhân, của từng chủ thể đó khi tham gia vào các hoạt động sản xuất xã hội
Thứ hai, lợi ích cá nhân tạo điều kiện để thực hiện và nâng cao lợi ích
văn hóa, tinh thần của từng cá nhân
Thứ ba, lợi ích kinh tế cá nhân là cơ sở để thực hiện lợi ích tập thể và
lợi ích xã hội
Tuy nhiên, cần lưu ý: nhấn mạnh lợi ích kinh tế, đặc biệt là vai trò của lợi ích cá nhân không có nghĩa là khuyến khích thực hiện lợi ích cá nhân bằng mọi cách; bởi vì ba lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau
Mặt thống nhất biểu hiện ở chỗ ba lợi ích kinh tế đó cùng đồng thời tồn
tại trong một hệ thống lợi ích kinh tế của xã hội, trong đó lợi ích kinh tế cá nhân là cơ sở để thực hiện lợi ích tập thể và lợi ích xã hội Đồng thời, lợi ích kinh tế tập thể và lợi ích kinh tế xã hội lại tạo điều kiện thực hiện tốt hơn lợi ích kinh tế cá nhân
Trang 7Mặt mâu thuẫn giữa ba lợi ích kinh tế thể hiện ở sự tách biệt nhất định giữa
chúng, do đó nếu dành quá nhiều cho lợi ích này thì lợi ích kia sẽ bị vi phạm
Để phát huy tối đa tính tích cực của người lao động thì không phải chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế mà cần phải phát huy vai trò của các lợi ích khác như lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần
Mọi lợi ích kinh tế được thực hiện thông qua hệ thống quan hệ phân phối
2.1.2 Các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.1 Khái niệm:
Quá trình vận hành của một sản phẩm từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng thực hiện được là nhờ các “tác nhân” Có thể nói, các tác nhân chính là các “mắt xích” quan trọng trong bất cứ một kênh tiêu thụ sản phẩm nào Thông qua các mắt xích ấy, luồng hàng vật chất được vận chuyển nhịp nhàng
để đến được tới tận tay của người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng Trong kênh tiêu thụ sản phẩm, mắt xích đầu tiên và mắt xích cuối cùng là hai mắt xích đặc biệt bởi xét cho đến cùng thì mục đích của quá trình tiêu thụ chính là làm cách nào để có thể vận chuyển sản phẩm từ mắt xích đầu tiên đến mắt xích cuối cùng Các mắt xích kết nối giữa hai đầu mắt xích này còn được gọi bằng một tên khác là “trung gian”- đây cũng là một mắt xích rất quan trọng trong một kênh tiêu thụ Số lượng các trung gian sẽ quyết định độ dài, ngắn của kênh tiêu thụ
2.1.2.2 Đặc điểm về các tác nhân kênh:
Các tác nhân của kênh tiêu thụ chính là các thành viên tham gia trong kênh Như vậy, trong kênh tiêu thụ sản phẩm, có 3 tác nhân cơ bản đó là:
(1) Người sản xuất(2) Người trung gian(3) Người tiêu dùng
a Người sản xuất:
Trang 8Là người trực tiếp tạo ra sản phẩm, sau thu hoạch có thể bán sản phẩm
mà mình sản xuất ra
b Người trung gian:
Người trung gian là các cá nhân hoặc các doanh nghiệp độc lập trợ giúp người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng trong thực hiện chức năng đàm phán và các công việc phân phối khác Người trung gian tham gia vào các dòng chảy đàm phán và quyền sở hữu Họ hoạt động ở hai mức độ: trung gian bán buôn và trung gian bán lẻ
Trung gian bán buôn: được chia thành 3 loại chính
- Người bán buôn thương mại: Là trung gian có liên quan từ ban đầu trong việc mua, sở hữu hàng hóa, dự trữ và quản lý sản phẩm với số lượng tương đối lớn và bán lại sản phẩm đó với số lượng nhỏ cho các trung gian khác Họ tồn tại dưới một số tên khác nhau: người bán buôn, người phân phối, nhà nhập khẩu,
- Người môi giới và đại lý: Họ cũng là những trung gian độc lập, có quyền hợp pháp thay mặt cho nhà sản xuất cung cập hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác Trung gian này có thể đại diện cho nhà sản xuất nhưng không sở hữu sản phẩm mà họ có nhiệm vụ đưa người mua và người bán đến với nhau
+ Đại lý: là người được nhà sản xuất ủy quyền bán hàng theo giá do
nhà sản xuất quy định và được hưởng hoa hồng theo số lượng bán, theo doanh thu, không cần bỏ vốn và hạch toán lỗ lãi như đơn vị kinh doanh độc lập
+ Mô giới: có chức năng dẫn dắt người bán và khác hàng gặp nhau, tiến
hành giao dịch thương mại và được hưởng một khoản tiền thưởng của bên mua hoặc bên bán
- Các chi nhánh và văn phòng của người sản xuất: Chỉ chung những người trung gian được sử dụng ban đầu cho mục đích phân phối các sản phẩm của người sản xuất cho người bán buôn trên thị trường Một số chi nhánh và
Trang 9đại diện bán buôn của người sản xuất cũng hoạt động như người bán buôn và cung cấp các sản phẩm được đặt hàng từ những người sản xuất khác.
Trung gian bán lẻ: Là những trung gian bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng trực tiếp vào mục đích cá nhân, không kinh doanh Có một số kiểu người bán lẻ chủ yếu như sau:
2.1.3 Kênh tiêu thụ sản phẩm
2.1.3.1 Kênh tiêu thụ là gi?
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về kênh tiêu thụ Một số người cho rằng kênh tiêu thụ có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, nó cũng được coi như một dòng chuyển quyển sở hữu các hàng hóa khi chúng được mua bán qua các thành viên khác nhau Một số người khác lại mô tả kênh tiêu thụ là các hình thức
Trang 10liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thực hiện mục đích thương mại.[2, trang 256-278]
Các định nghĩa trên xuất phát từ các trung gian khác nhau của người nghiên cứu Người sản xuất chú ý các trung gian khác nhau cần sử dụng để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng Vì vậy, có thể định nghĩa kênh tiêu thụ là hình thức di chuyển sản phẩm qua các trung gian khác nhau Người bán buôn, người bán lẻ - những người đang hy vọng họ có được dự trữ tồn kho thuận lợi từ những người sản xuất và tránh các rủi ro liên quan đến chức năng này – có thể quan niệm luồng quyền sở hữu như là cách mô tả tốt nhất kênh tiêu thụ Người tiêu dùng có thể hiểu kênh tiêu thụ một cách đơn giản là có các trung gian kết nối giữa họ và người sản xuất sản phẩm Khi quan sát các kênh tiêu thụ hoạt động trong hệ thống kinh tế các nhà nghiên cứu có thể mô
tả nó dưới dạng các hình thức cấu trúc và kết quả hoạt động.[1, trang 6]
Kênh tiêu thụ thực chất là một tập hợp các tổ chức, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống các quan hệ của một nhóm tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Kênh tiêu thụ là
hệ thống các mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán Kênh tiêu thụ là đối tượng tổ chức, quản lý như một đối tượng nghiên cứu để hoạch định các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô Các kênh tiêu thụ tạo nên hệ thống thương mại phức tạp trên thị trường.[12, trang 5-7]
Qua những định nghĩa trên, có thể xác định bản chất kinh tế của kênh
tiêu thụ như sau:
Kênh tiêu thụ được xem là đường đi của sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Trong hệ thống kênh tiêu thụ có bao gồm các
Trang 11thành viên tham gia phân phối Lượng sản phẩm chuyển tải qua từng kênh riêng biệt sẽ hình thành nên mạng lưới kênh tiêu thụ (hoặc kênh phân phối).
Xu thế thị trường hóa một cách tối ưu đã thúc đẩy sự phối hợp hoạt động marketing trong hệ thống tiêu thụ Để điều hành một cách có hiệu quả cho cả hệ thống thì việc thiết lập một cơ chế điều hành thích hợp với chính sách marketing chung của hệ thống tiêu thụ là cần thiết.[11, trang 24-25]
Như vậy, tiêu thụ lợn thịt gồm có:
a, Tiêu thụ lợn thịt (lợn hơi) của người chăn nuôi lợn và của thương lái mua lợn hơi từ người nông dân vận chuyển tập trung để bán lại (tiêu thụ) cho
Tư nhân giết mổ và cho những đối tượng khác
b, Tiêu thụ thịt lợn là việc của lò mổ sau khi giết mổ, phân phối thịt lợn
sẽ đến người bán lẻ để họ bán cho người tiêu dùng.[4, trang 96-99]
2.1.3.2 Đặc điểm kênh tiêu thụ
Để có kênh tiêu thụ trước tiên phải có nhà sản xuất, tức là phải có người tạo ra sản phẩm đầu tiên Kế đến là các trung gian với các quy trình sản xuất đã tạo ra các sản phẩm khác nhau Vì thế việc hình thành kênh tiêu thụ rất khác nhau cả về thời gian lẫn luồng sản phẩm
Sau khi xuất kho từ nhà sản xuất, tùy theo từng ngành hàng qua các khâu lưu thông – phân phối trong hệ thống kênh tiêu thụ, hình dáng, kích thước và mẫu mã của sản phẩm không thay đổi một cách khác nhau
Giá trị sản phẩm của từng mắt xích phụ thuộc khá nhiều vào qui trình công nghệ sản xuất, phương pháp chế biến ra sản phẩm theo yêu cầu của người tiêu dùng cuối cùng.[10, trang 36-37]
2.1.3.3 Vai trò, chức năng kênh tiêu thụ
a Vai trò của kênh tiêu thụ
Bất kỳ nhà sản xuất nào cũng thiết lập mạng lưới tiêu thụ sản phẩm đến người tiêu dùng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian,
Trang 12Việc tiêu thụ sản phẩm qua các trung gian thể hiện sự chuyên môn hóa và phân công lao động rõ nét ở một số lí do sau:
- Các trung gian chịu phần chi phí trong hoạt động bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng
- Người sản xuất có điều kiện tập trung đầu tư vào công việc sản xuất của mình, đầu tư chuyên môn hóa cao sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
- Thông qua trung gian sẽ làm giảm số lần tiếp xúc của mỗi người sản xuất đến mỗi khách hàng, từ đó làm tăng hiệu quả phân phối trong xã hội Khi không có trung gian, mỗi người sản xuất cần phải tiếp xúc 3 lần với mỗi khách hàng để phân phối sản phẩm (sơ đồ 2.1); thông qua trung gian, mỗi người sản xuất, mỗi khách hàng chỉ cần 1 lần tiếp xúc (sơ đồ 2.2)
Sơ đồ 2.1: Người sản xuất tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng
Sơ đồ 2 2: Người sản xuất tiếp xúc với người tiêu dùng qua trung gian.
Trang 13Như vậy, thông qua kênh tiêu thụ có trung gian, người sản xuất giảm được đầu tư về tiền bạc và nhân lực mà sản phẩm vẫn đến được tay người tiêu dung Mặt khác, người tiêu dùng được tiếp xúc nhiều chủng loại sản phẩm.
b Chức năng kênh tiêu thụ
Các chức năng cơ bản của kênh tiêu thụ là mua, bán, vận chuyển, lưu kho, tiêu chuẩn hóa và phân loại, cung cấp tài chính, quản lý rủi ro, thông tin thị trường Các chức năng này được thực hiện như thế nào và do ai làm? Điều này có thể rất khác nhau giữa các quốc gia, các hệ thống kinh tế và chúng cần được thực hiện qua hệ thống tiêu thụ
Sự trao đổi thường liên quan đến mua và bán Chức nằng mua có nghĩa
là tìm kiếm và đánh giá giá trị của các hàng hóa và dịch vụ Chức năng bán liên quan đến xúc tiến sản phẩm, bao gồm việc bán hàng hóa cá nhân, quảng cáo và các phương pháp tiêu thụ
Chức năng vận chuyển có nghĩa là chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.Chức năng lưu kho liên quan đến dự trữ hàng hóa cho đến khi có nhu cầu thị trường
Tiêu chuẩn hóa và phân loại liên quan đến sắp xếp hàng hóa theo chủng loại và số lượng Điều này làm cho việc mua và bán dễ dàng hơn bởi vì giảm bớt được nhu cầu kiểm tra và lựa chọn
Chức năng cung cấp tài chính, cung cấp tiền mặt và tín dụng cần thiết cho sản xuất, vận tải, lưu kho, xúc tiến bán và mua sản phẩm
Chức năng quản lý rủi ro giải quyết sự không chắc chắn trong quá trình lưu thông tiêu thụ sản phẩm Các công ty có thể không chắc chắn về việc có khách hàng muốn mua sản phẩm của họ hoặc các sản phẩm có thể bị hư hỏng
Chức năng thông tin thị trường liên quan đến việc phân tích và phân phối tất cả các thông tin cần thiết cho việc lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra các hoạt động tiêu thụ của tất cả các doanh nghiệp (kể cả ở thị trường quốc tế)
Trang 14Nhờ có mạng lưới kênh tiêu thụ mà người sản xuất khắc phục được những khó khăn về thời gian, địa điểm, khoảng cách trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Các thành viên kênh phải thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thị trường: nhằm thu thập thông tin cần thiết để thiết lập chiến lược tiêu thụ sản phẩm
- Chiêu thị: nhằm khuyếch trương sản phẩm cần tiêu thụ thông qua việc truyền bá những thông tin về sản phẩm
- Tiếp xúc: thiết lập các mối liên hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người mua tiềm năng
- Đàm phán: thỏa thuận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh, thỏa thuận về giá cả và các điều kiện phân phối khác
- Phân phối sản phẩm: vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hó
- Hoàn thiện hàng hóa: làm cho hàng hóa đáp ứng những yêu cầu của người mua như đóng gói, bảo hành,
- Chia sẻ rủi ro: chấp nhận những rủi ro liên quan đến việc điều hành của kênh tiêu thụ
Vấn đề đặt ra là phải phân chia hợp lý các chức năng này giữa các thành viên kênh Nguyên tắc để phân chia các chức năng là phải chuyên môn hóa và phân công lao động Nếu nhà sản xuất thực hiện các chức năng này thì chi phí sẽ tăng và giá cả sẽ cao hơn Khi một số chức năng được chuyển cho người trung gian thì chi phí hoạt động của người trung gian sẽ cao hơn
2.1.3.4 Các luồng trong kênh tiêu thụ
Hệ thống kênh tiêu thụ hoạt động thông qua các luồng Khi hệ thống kênh tiêu thụ hình thành và phát triển sẽ có nhiều luồng xuất hiện trong nó Những luồng này thể hiện sự kết nối, ràng buộc các thành viên trong kênh và các tổ chức khác trong phân phối hàng hóa, dịch vụ Sở dĩ dùng từ “luồng” là
vì các hoạt động phân phối trong kênh tiêu thụ là một quá trình vận động liên
Trang 15tục, không ngừng Mỗi luồng là một tập hợp các chức năng được thực hiện thường xuyên bởi các thành viên của kênh.[1, trang 27].
- Luồng sản phẩm (luồng vận hành của sản phẩm về mặt vật chất)
Về mặt vật chất, luồng sản phẩm thể hiện sự di chuyển thực sự của sản phẩm về không gian và thời gian qua tất cả các thành viên tham gia vào quá trình
di chuyển sản phẩm từ địa điểm sản xuất đến địa điểm tiêu dùng cuối cùng
- Luồng đàm phán:
Biểu hiện sự tác động qua lại lẫn nhau của các bên mua và bán liên quan đến quyền sở hữu sản phẩm Đây là dòng tác động hai chiều, chỉ rõ đàm phán liên quan đến sự trao đổi song phương giữa người mua và người bán ở tất cả các cấp độ của kênh
Các luồng trong kênh tiêu thụ sản phẩm được thể hiện qua sơ đồ 2.3:
Sơ đồ 2.3: Các luồng trong kênh tiêu thụ sản phẩm [1, trang 12].
- Luồng sở hữu (luồng chuyển quyền sở hữu)
Người TD
Luồng
sở hữu
Luồng thông tin
Luồng xúc tiến
Trang 16Thể hiện sự di chuyển quyền sở hữu sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, công ty vận tải không nằm trong luồng này bởi không sở hữu sản phẩm mà nó chỉ tạo thuận lợi cho sự trao đổi.
- Luồng thông tin
Thể hiện việc trao đổi thông tin giữa người bán và người mua thông qua các bộ phận trong kênh tiêu thụ Luồng thông tin giúp rút ngắn khoảng cách khác biệt giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông qua các thông tin hai chiều Phần lớn các thông tin này liên quan đến mua bán , xúc tiến, số lượng, chất lượng hàng hoá, thời gian, địa điểm giao hàng, thanh toán,…
- Luồng xúc tiến
Luồng xúc tiến thể hiện sự hỗ trợ thông tin về sản phẩm của người sản xuất cho tất cả các thành viên trong hệ thống kênh dưới các hình thúc quảng các, bán hàng cá nhân, xúc tiến bán hàng và quan hệ công chúng Ở đây, có
sự tham gia của các đại lý quảng cáo cung cấp và thực hiện các dịch vụ quảng cáo Người sản xuất và đại lý quảng cáo sẽ làm việc cùng nhau để phát triển các chiến lược xúc tiến một cách hiệu quả trong hệ thống kênh tiêu thụ.[17, trang 26-27]
Chìa khoá để làm cho tất cả các luồng chảy trong kênh thông suốt là chia sẻ thông tin giữa các thành viên kênh và thiết lập cơ chế vận hành của mỗi luồng chảy một cách hợp lý Trao đổi thông tin là cần thiết cho mỗi luồng chảy hoạt động Nhà sản xuất, nhà buôn, ngân hàng,… tham gia vào hệ thống thông tin nhằm đảm bảo trao đổi thông tin duy trì sự hợp tác giữa các thành viên và đảm bảo dịch vụ khách hàng.[1, trang 11-14]
2.1.3.5 Xung đột trong kênh và hiệu quả của kênh tiêu thụ
Trang 17Một số quan hệ xung đột kênh và hiệu quả hoạt động của kênh được các nhà kinh tế nghiên cứu Một số phân tích cho rằng, xung đột trong kênh thường có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của kênh, có thể đe dọa đến sự tồn tại của kênh Một số khác lại nhấn mạnh tác động tích cực của xung đột.
Có các loại ảnh hưởng sau đây của xung đột đến hiệu quả kênh:
Một là, sự tồn tại xung đột không làm thay đổi hiệu quả của kênh Ảnh
hưởng của xung đột khối lượng đầu vào cần thiết để đạt được các mục tiêu tiêu thụ là không lớn Loại quan hệ này tồn tại trong các kênh mà trong đó có phụ thuộc và hợp tác cao giữa các thành viên trong kênh Tất cả họ đều nhận thức được sự cần thiết của quan hệ của họ và những người khác và họ không
để cho các xung đột ảnh hưởng đến hiệu quả của kênh
Hai là, sự xung đột coi như là nguyên nhân tăng hiệu quả của kênh
Đây là xung đột có thể gây ra sức ép đến một hoặc hai bên thành viên kênh làm thay đổi chính sách của họ, dẫn đến hoạt động của kênh có hiệu quả
Ba là, xung đột gây ảnh hưởng tiêu cực làm giảm hiệu quả hoạt động
kênh Điều này xảy ra khi các bên xung đột không còn muốn làm việc để đạt mục tiêu chung của kênh nữa.[1, trang 77-79]
2.1.3.6 Kênh tiêu thụ sản phẩm lợn thịt
Đối với sản phẩm lợn thịt, kênh tiêu thụ lợn thịt được xem là đường đi của sản phẩm từ khi lợn thịt xuất chuồng tại người chăn nuôi lợn thịt, qua hoạt động của các thành viên trung gian tham gia phân phối (như thương lái) đến người tiêu dùng sản phẩm lợn thịt là tư nhân giết mổ,
- Đặc điểm:
+ Phần lớn lợn thịt là do những hộ gia đình nông dân chăn nuôi ( những người chăn nuôi phân tán) và trang trại chăn nuôi lợn thịt tạo ra, nên việc tổ chức tiêu thụ hết sức phức tạp (phải trải qua nhiều khâu như thu gom, vận chuyển với phương tiện khác nhau từ thô sơ đến cơ giới, từ những địa phương
Trang 18khác nhau với những thuận lợi và bất lợi vì cơ sở hạ tầng rất khác nhau) [5, trang 162 -169].
+ Nhiều vấn đề khác cũng được đặt ra trong quá trình tiêu thụ sản phẩm lợn thịt như an toàn thực phẩm, giá trị sản phẩm (phụ thuộc vào trình độ nghề nghiệp của người lao động, công nghệ giết mổ, chế biến, thời hạn tiêu thụ, bảo quản sản phẩm) ở tất cả các khâu trong quá trình phân phối sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng [7, trang 55 – 59]
- Các luồng sản phẩm
Hệ thống kênh tiêu thụ lợn thịt hoạt động thông qua khá nhiều luồng
Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi hệ thống các kênh tiêu thụ này qua các luồng chính như sau [11, trang 14-18]
+ Luồng vận hành của sản phẩm:
Luồng này thể hiện sự di chuyển sản phẩm về không gian và thời gian, qua các thành viên tham gia vào quá trình tiêu thụ từ địa điểm chăn nuôi của nông hộ đến địa điểm tiêu dùng sản phẩm lợn thịt (tư nhân giết mổ, )
+ Luồng đàm phán
Luồng này biểu hiện sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bên mua và bên bán liên quan đến quyền sở hữu sản phẩm Đó là sự thỏa thuận về lượng hàng và giá cả để mua của thương lái hoặc lò mổ với những người lao động trong các nông hộ chăn nuôi lợn thịt, của lò mổ với thương lái và của người bán buôn (hoặc bán lẻ) với lò mổ hoặc của người bán buôn với người bán lẻ.+ Luồng chuyển quyền sở hữu
Luồng này thể hiện sự di chuyển quyền sở hữu sản phẩm lợn thịt từ người chăn nuôi đến các thành viên trung gian tiêu thụ (như thương lái) và người tiêu dùng như tư nhân giết mổ,
+ Luồng thông tin
Trang 19Luồng này cung cấp thông tin (từ người chăn nuôi đến các thành viên tiêu thụ) về số lượng lợn thịt, trọng lượng lợn thịt, giá cả mà các bên có thể chấp nhận được, địa điểm mua bán hàng, chất lượng của lợn, thời gian có thể giao hàng Vai trò của vận tải và liên lạc xuất hiện ở luồng này.
+ Luồng xúc tiến
Luồng này thể hiện sự hỗ trợ về thông tin sản phẩm lợn thịt của người chăn nuôi cho tất cả các trung gian trong kênh tiêu thụ dưới các hình thức: quảng cáo, xúc tiến bán và quan hệ công chúng nhằm làm cho người tiêu thụ hiểu được sản phẩm lợn thịt mà người chăn nuôi muốn bán như giống lợn, thời gian nuôi, phương thức nuôi
- Là mộ loạt các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng này, có nghĩa là nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà buôn bán và nhà phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch kinh doanh trong đó sản phẩm được chuyển từ nhà sản xuất
sơ chế đến tay người tiêu dùng cuối cùng Theo thức tự các chức năng và các nhà vận hành, chuỗi giá trị sẽ bao gồm một loạt các đường dẫn trong chuỗi (hay còn gọi là khâu)
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn trên thế giới
Trang 20Do nhu cầu tiêu thụ các loại thực phẩm từ lợn tăng nên chăn nuôi lợn trên thế giới phát triển nhanh chóng Theo thống kê năm 2005 của Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO), các nước phát triển chăn nuôi lợn đứng đầu thế giới (tính theo số lượng) bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Thái Lan, Đan Mạch, Việt Nam, Đức, Nga, Canada, Bỉ Những nước xuất khẩu thịt lợn lớn nhất là Mỹ và Canada.
* Sơ lược tình hình phát triển chăn nuôi lợn một số nước trên thế giới [21]
a Hoa Kỳ
Tổng đàn lợn của Mỹ là 61,2 triệu con tính đến tháng 12 năm 2005, tăng bình quân 1,15% năm, trong đó có 6,01 triệu con gồm nái, nái hậu bị và lợn đực giống Số lợn cai sữa trung bình 9,03 con/lứa năm 2005 so với 8,96 năm 2004, tăng 0,87% Số lợn cai sữa trung bình từ 7,50/lứa ở các cơ sở chăn nuôi có qui mô từ 1-99 con lên 9,10 ở các trang trại với qui mô trên 5000 con Khoảng 39% tổng đàn lợn được nuôi theo kiểu gia công trong năm 2005 Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ lập kế hoạch tổng đàn đạt 65,49 triệu vào năm 2015
b Cộng đồng châu Âu với 25 thành viên
Về chí phí sản xuất cho một kg thịt lợn xẻ, Canada là nước có chi phí thấp nhất (≈ 5,6 USD), thứ hai là Hoa Kỳ (≈ 6,2 USD) và cao nhất là Liên hiệp Anh (≈ 7,8 USD) Chi phí thức ăn cho một kg thịt xẻ thấp nhất là Canada (≈ 3,15 USD), thứ hai là Hà Lan (≈ 3,29 USD) và cao nhất cũng là là Liên hiệp Anh (≈ 4,27 USD) Hà Lan có chi phí thức ăn công nghiệp/kg tăng trọng thấp nhất (2,6 kg), thứ hai là Liên hiệp Anh (2,65) và cao nhất là Canada (3,29)
c Hà Lan
Ứng dụng các thành tựu công nghệ về giống lợn, thức ăn, quản lý trang trại , Hà Lan đã thành công trong việc đưa tỉ lệ thịt xẻ trung bình của tất cả các loại lợn được giết mổ từ 53,2% năm 1990 lên 64,4 % năm 2004 Tỉ lệ thịt loại ngon và rất ngon tăng từ 83% năm 1989 lên trên 90% năm 2004 Năm
Trang 212005, Công ty Topigs của nước này thông báo tỉ lệ lợn con cai sữa trung bình/nái/năm tăng từ 24 con lên 25 con chỉ sau 5 năm; tỉ lệ lợn sơ sinh sống sót trung bình là 12,1 /lứa đẻ; tỉ lệ chết trước cai sữa trung bình là 11,8%; và
số lứa để trung bình là 2,36/nái/năm Các đàn lợn nái tốt nhất chiếm 10%, sinh trung bình 27,9 con/nái/năm, trong đó có 12,7 con sống sót/lứa, tỉ lệ lợn con chết trung bình là 9,8 %, đạt số lứa đẻ trung bình là 2.34 lứa/nái/năm
d Trung Quốc
Ở Châu Á, Trung Quốc đứng thứ nhất về sản xuất thịt lợn và đứng thứ
4 về sản xuất thịt bò trên thế giới Nước này là một thị trường nhập khẩu lớn
cả thịt lợn và thịt bò Tổng đàn lợn của Trung Quốc tăng từ 545 triệu con năm
2005 lên 719 con vào tháng 1 năm 2008, tăng trưởng bình quân 4,2% năm Trung Quốc đạt tổng sản lượng 51 triệu tấn thịt lợn xẻ vào năm 2006 tăng 21,43% so với năm 2001, chiếm 53% tổng lượng thịt lợn trên thế Giới Tỉ lệ lợn nái ở Trung Quốc chiếm 9,80% tổng đàn lợn năm 2005 ở Trung Quốc, chăn nuôi qui mô nhỏ, với số lượng dưới 90 con/cơ sở, chiếm tới 70-80% Chuyển dịch nhanh, mạnh và vững chắc từ chăn nuôi nhỏ sang chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp là ưu tiên hàng đầu trong chính sách chăn nuôi lợn của nước này Là nước đứng đầu về chăn nuôi lợn nhưng Trung Quốc cũng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nội địa tăng nhanh Hoa Kỳ là nước xuất khẩu hàng đầu thịt lợn vào Trung Quốc, tuy nhiên thịt lợn nhập khẩu chỉ chiếm từ 2-3% nhu cầu tiêu dùng thịt lợn của nước này Vì vậy, Trung quốc sẽ trở thành nước nhập khẩu thịt lợn và các sản phẩm chăn nuôi khác lớn nhất trong những năm tới để đáp ứng như cầu trong nước do tăng dân số, thu nhập và tốc độ đô thị hoá cao Hiện nay lợn hướng nạc chiếm khoảng 25-30% tổng đàn lợn đưa vào giết mổ Trung bình mỗi nái để 1,7l lứa/năm với tỉ lệ sống sót chỉ có 70-85%, trong khi đó ở Hoa Kỳ tỉ lệ trung bình là 2,3 lứa/nái/năm và tỉ lệ sống sót là 95%
Trang 22e Thái Lan
Thái Lan cũng là một nước sản xuất thịt lợn chủ yếu của thế giới và đang chuyển đổi từ các trang trại qui mô nhỏ thành các xí nghiệp chăn nuôi lớn Các công ty lớn quyết định tới sự tăng trưởng sản lượng thịt lợn tại Thái Lan Bốn công ty lớn là CP, Betagro, Laemthong và Mittraparp đã liên kết với nhau và chiếm tới 20% tổng sản lượng thịt lợn Tổng đàn lợn của Thái Lan đạt 15,44 triệu con năm 1999, tăng lên 16,55 triệu năm năm 2002 và 2003 là 16,76 triệu con Năm 2003, Thái Lan xuất chuồng khoảng 10,5 triệu lợn/năm, với trọng lượng hơi trung bình đạt 100 kg Tổng đàn nái của nước này khoảng 826.087, với số lợn con cai sữa trung bình đạt 17 con/nái/năm, tỉ lệ nái thay thế là 33%
g Các nước khác
Nước láng giềng của Thái Lan là Indonesia có ba hệ thống chăn nuôi khác nhau, trong đó các cơ sở chăn nuôi thâm canh lớn chiếm 20% tổng đàn, 40% tổng đàn thuộc các trang trại qui mô vừa, 40% tổng đàn thuộc được nuôi phân tán tại các nông hộ
Australia là nước có nền chăn nuôi lợn tiến tiến mà điển hình là ba công ty: QAF với 60.000 nái, Parish Group nuôi 30.000 nái và GMH có 15.000 nái Tổng đàn lợn của nước này là 2,6 triệu con tính đến tháng 1 năm
2006, tăng 4,42% so với tháng 1 năm 2005
2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở nước ta Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng trọt, đặc biệt là
sự tăng trưởng nhanh về sản xuất lương thực, nghề chăn nuôi lợn ở nước ta đã phát triển khá tốt, số lượng tổng đàn và chất lượng đàn lợn đều tăng khá
Năm 2000 tổng đàn lợn của cả nước là 20,2 triệu con, đến 01/10/2001, đạt 21,2 triệu con (tăng 5,94% so với năm 2000), số lượng đầu lợn năm 2003 là
Trang 2324,8 triệu con và đứng thứ 8 trên thế giới về số lượng đầu lợn (sau Trung Quốc,
Mỹ, Braxin, Cộng hòa Liên bang Đức, Tây Ban Nha, Pháp và Ba Lan) Trong tổng đàn lợn thì đàn lợn nái là 2,8 triệu con - chiếm 13,2% Các tỉnh phía Bắc có 1,3 triệu con lợn nái - chiếm 46,4% số lợn nái cả nước Tuy nhiên số lượng lợn nái ngoại còn quá ít, mới chiếm khoảng 1,3% tổng đàn lợn nái; còn lại chủ yếu
là nái Móng Cái, nái Lai năng suất thấp Sản lượng thịt lợn hơi năm 2001 của cả nước đã đạt 1,5 triêu tấn, tăng gần 0,5 triệu tấn so với năm 1995 và chiếm khoảng 76% tổng sản lượng thịt hơi các loại Nếu như tốc độ tăng trưởng đàn lợn từ năm 1995 đến năm 2001 bình quân là 5,0%/năm, thì tốc độ tăng trưởng thịt lợn hơi là 8,2%/năm Điều đó chứng tỏ chất lượng đàn lợn và trọng lượng thịt hơi trên đầu lợn đã được quan tâm chú ý và tăng lên đáng kể Tuy nhiên, bình quân sản lượng thịt hơi các loại của nước ta còn quá thấp (năm 2000 là 23 kg/người, trong đó thịt lợn hơi là 17,6 kg) và so với các nước trong khu vực Đông Nam Á thì vẫn còn thấp (Trung Quốc là 34,1 kg thịt xẻ/người, Đài Loan -
38 kg/người Hồng Kông - 55 kg/người, Thái Lan - 30 kg/người ) [20]
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng đã đạt được những kết quả đáng kể Theo Tạp chí Chăn nuôi gia súc quốc tế (năm 2007), Việt Nam đứng
vị trí thư 5 của 10 nước có số đầu lợn cao nhất thế giới sau Trung Quốc, Mỹ, Brazin, Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp
- Tiêu thụ trong nước
Trong thời gian qua sản lượng thịt lợn sản xuất trong nước có sự tăng trưởng rất lớn, từ 1,5 triệu tấn năm 2001 tăng lên 2,28 triệu tấn năm 2005, đạt khoảng 19
kg thịt hơi/ người (15,3 kg thịt xẻ/người) năm 2001 và 28 kg thịt hơi/người (19,6 kg thịt xẻ/người) năm 2005 Tuy nhiên phần lớn khối lượng sản phẩm sản xuất vẫn chủ yếu được tiêu thụ trong thị trường nôi địa (từ 98 – 99%) [20]
Trang 24Giá bán thịt lợn có sự khác biệt khá lớn tại các vùng khác nhau (giá trung bình miền Nam thường cao hơn so với miền Bắc từ 2.500 – 3.000 đ/kg lợn hơi), đồng thời giá bán tại thị trương nội địa thường cao hơn một số nước trong khu vực và thế giới (hiện tại giá trung bình thịt xẻ tại Việt Nam là 28.000 đ/kg) [20].
- XuÊt khÈu
Hàng năm nước ta xuất khẩu được một khối lượng sản phẩm hạn chế
Từ năm 2001 đến 2005, bình quân mỗi năm xuất khẩu được từ 18-20 ngàn tấn/năm, chiếm khoảng 1-3% tổng sản lượng thịt lợn sản xuất trong nước, riêng năm 2001 đạt đỉnh cao là 30 ngàn tấn chiếm 2,8% số thịt sản xuất ra
Sản phẩm thịt lợn xuất khẩu của ta từ trước đến nay chủ yếu là thịt lợn sữa và thịt lợn choai, một số lượng nhỏ thịt lợn mảnh Tuy nhiên, khối lượng xuất khẩu chưa nhiều và không ổn định Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Hồng Kông, Đài Loan, Malaisia và Liên bang Nga
Bảng 2.1: Khối lượng và giá thịt lợn xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
2005 – 2007
SL (ng.tấn)
Giá (USD/kg )
SL (ng.tấn)
Giá (USD/kg)
SL (ng.tấn)
Giá (USD/kg )
Trang 25Ghi chú: Thị trường xuất khẩu lợn sữa, lợn choai là Hồng Kông, Đài
Loan; thịt lợn mảnh là Liên Bang Nga [22]
Tóm lại, tình hình tiêu thụ thịt lợn của chúng ta hiện nay vẫn chủ yếu là thị trường trong nước; giá tiêu thụ thịt lợn tại thị trường trong nước thường cao hơn
so với các nước trong khu vực, điều này cũng là cơ hội thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn, nhưng lại khó khăn cho việc cạnh tranh với thị trường xuất khẩu
* Tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Ý Yên
Đối với Huyện Ý Yên trong vài ba năm trở lại đây chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh lở mồn long móng, lợn tai xanh cộng thêm vào đó là giá thức ăn chăn nuôi tăng quá cao khiến nhiều hộ chăn nuôi giảm số lượng đầu lợn
Do đó từ năm 2006- 2008 số đầu lợn của Huyện không những không tăng mà còn giảm, năm 2006 là 120.504 con, đến năm 2008 chỉ còn 111.056 con
Về phương thức chăn nuôi: đàn lợn vẫn được nuôi chủ yếu theo phương thức bán thâm canh trong nông hộ (85- 90%) với quy mô nhỏ (3 -5 con/hộ), số hộ nuôi quy mô lớn hơn từ 6 con trở lên chiếm 3% Một tỷ lệ nhỏ đàn lợn (5- 10%) được nuôi trong các trang trại (50 – 150 con) theo phương thức thâm canh (công nghiệp) Lợn vẫn là nguồn cung cấp thịt chính (75% tổng lượng thịt các loại) và tiêu thụ trong nước là chủ yếu
Chăn nuôi lợn phát triển mạnh ở tất cả các vùng trong cả nước ta là do
có những điều kiện thuận lợi thúc đẩy như:
- Nguồn lao động trong nông thôn dồi dào, đây có thể coi như là một nhân tố thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn
- Nhiều hộ rất có kinh nghiệm trong chăn nuôi Thức ăn cho lợn có thể tận dụng sản phẩm từ trồng trọt
- Xã hội càng phát triển, thu nhập được nâng cao thì thịt lợn trong nước chắc chắn trong những năm tới sẽ là nguồn thực phẩm chủ yếu cho nên nhu
Trang 26cầu về thịt lợn sẽ ngày càng tăng lên khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi lợn.
- Đã xuất hiện nhiều nhà máy chế biến sản phẩm từ thịt lợn, nhà máy này trực tiếp thu mua lợn từ hộ chăn nuôi, giúp hộ chăn nuôi trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và giá cả cạnh tranh
- Hiện nay nước ta có rất nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản phẩm thức ăn chăn nuôi này có thể giúp người chăn nuôi tiết kiệm thời gian nuôi, vốn đầu tư cho chăn nuôi thu hồi nhanh do chăn nuôi bằng thức ăn công nghiệp, lợn nhanh được xuất chuồng, hiệu quả kinh tế cao, tăng lợi nhuận cho người sản xuất
Trong những năm qua, chăn nuôi lợn ở nước ta đã đạt đươc những thành tựu đáng kể nhưng đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn còn đang đứng trước nhiều thách thức như:
- Quy mô chăn nuôi manh mún, nhỏ lẻ, chăn nuôi theo hướng tận dụng, chưa hạch toán kinh tế nên hiệu quả kinh tế còn thấp
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý về mặt thú y tuy được cải thiện nhưng còn yếu kém, lại không đồng bộ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi chưa triệt để
- Nông dân thiếu vốn để đầu tư và mở rộng sản xuất, không vay được tiền do lãi xuất ngân hàng hiện nay quá cao
- Hệ thống nhà máy chế biến sản phẩm từ thịt lợn vẫn chưa nhiều, công nghệ thô sơ
- Nguồn cung thị trường thịt lợn hiện nay tuy khan hiếm nhưng giá cả không ổn định gây không ít rủi ro cho người chăn nuôi
- Giá thành thức ăn gia súc quá cao, bấp bênh, chất lượng chưa được kiểm soát làm nản lòng không ít hộ chăn nuôi lợn
- Lợi ích kinh tế của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt
là khác nhau
Trang 27- Thị trường xuất khẩu thịt lợn hạn chế bạn hàng.
Qua những khó khăn và thuận lợi của việc phát triển chăn nuôi lợn ở nước ta nêu trên cho thấy, mặc dù việc phát triển chăn nuôi lợn đã tăng trưởng khá về tổng đàn cũng như quy mô sản xuất tuy nhiên so với yêu cầu và khả năng thì kết quả này còn quá khiêm tốn Để ngành chăn nuôi lợn phát triển hơn nữa trong tương lai thì cần phải có sự giúp đỡ nhiều hơn nữa của nhà nước cũng như sự cố gắng của các cơ sở chăn nuôi
2.2.2.2 Hiệu quả hoạt động của các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ lợn thịt vùng đồng bằng sông hồng.
Qua kết quả khảo sát thực tế, các tác nhân chính tham gia vào hoạt động của ngành hàng lợn vùng ĐBSH gồm: tác nhân sản xuất (hộ chăn nuôi lợn, trang trại chăn nuôi lợn); tác nhân thu gom - môi giới lợn; tác nhân giết
mổ lợn và bán thịt; tác nhân chế biến xuất khẩu [18]
Kênh tiêu thụ của các sản phẩm của ngành hàng lợn được thể hiện thông qua
sơ đồ 2.4:
Người thu gom Cơ sở chế biến xuất khẩu Thị trường xuất khẩu
Người môi giới giết mổ lớn Cơ sở Người bán lể thành thị
Người tiêu dùng
Người bán lẻ nông thôn
Người giết mổ nhỏ
Người buôn thịt
Trang 28Sơ đồ 2.4: Các kênh ngành hàng lợn thịt tại vùng ĐBSH [18]
Có thể thấy rằng hệ thống kênh phân phối lợn thịt trong ngành hàng lợn vùng ĐBSH là một hệ thống phức tạp với mối liên hệ hai chiều hoặc đa chiều Tác nhân đầu tiên tham gia vào vòng chu chuyển lợn thịt là người chăn nuôi lợn thịt (còn gọi là thượng nguồn sản phẩm) Đây là tác nhân chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong chuỗi ngành hàng lợn do những biến động của thị trường Tác nhân trung gian (môi giới - thu gom) giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối nơi sản xuất và nơi tiêu thụ trong ngành hàng lợn Tác nhân tiêu dùng tại
hạ nguồn sản phẩm gồm 3 dạng: người tiêu dùng quốc tế (thị trường xuất khẩu), người tiêu dùng thành phố và người tiêu dùng tại địa phương
Bằng nhiều kênh phân phối khác nhau để sản phẩm lợn thịt đi từ người sản xuất (tác nhân sản xuất) đến người tiêu thụ
a Tác nhân sản xuất lợn
Hiện nay, phần lớn sản lượng thịt lợn của vùng ĐBSH cung cấp ra thị trường đều thuộc khu vực chăn nuôi nông hộ, chăn nuôi lợn trang trại mặc dù gần đây có những động thái tích cực, nhưng sản lượng thịt lợn tạo ra vẫn còn thấp Trong chuỗi ngành hàng thì hộ chăn nuôi lợn và trang trại chăn nuôi lợn
là những tác nhân sản xuất Do có sự chênh lệch nhất định về quy mô, năng suất và chất lượng sản phẩm của chăn nuôi lợn nông hộ và trang trại, nên có thể phân tích tách biệt 2 dạng của tác nhân này
* Hộ chăn nuôi lợn
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: đa số các hộ chăn nuôi lợn trong vùng ĐBSH có quy mô nhỏ, chuồng trại có cải tiến nhưng vẫn còn khá đơn giản theo hình thức tận dụng Tính trung bình quy mô đàn lợn trong nông
hộ tại vùng ĐBSH như sau: 1,8 nái/hộ nuôi lợn nái, 10,7 lợn thịt/hộ nuôi lợn thịt và 17,4 lợn choai/hộ nuôi lợn choai Phần lớn chuồng trại của các hộ chăn nuôi lợn được làm sát với nhà ở, điều này có ưu điểm là tiện lợi cho việc chăm sóc nuôi dưỡng, nhưng nhược điểm là gây ô nhiễm môi trường do bụi bẩn, ruồi nhặng và mùi hôi Bình quân diện tích chuồng trại của toàn vùng là
Trang 2925,6m2, giá trị đầu tư cho chuồng trại cũng rất khác nhau, tuỳ thuộc vào quy
mô chăn nuôi và điều kiện kinh tế của các hộ (trung bình chi phí 246100 đồng/m2chuồng)
Phần lớn các hộ chăn nuôi lợn tại vùng ĐBSH vẫn chọn hình thức bán thâm canh và sử dụng nguồn thức ăn đậm đặc kết hợp với nguồn thức ăn có sẵn, hoặc tự chế biến tại gia đình Tỷ lệ hộ sử dụng nguồn thức ăn kết hợp là cao nhất, chiếm 48,8%, hộ sử dụng thức ăn tự chế biến chỉ chiếm tỷ lệ 19,6%
Để phục vụ mục tiêu chăn nuôi lợn, có 36,9% hộ chăn nuôi lợn có vay vốn từ các nguồn khác nhau với mức vay của mỗi hộ trung bình là 6,3 triệu đồng/hộ
* Trang trại chăn nuôi lợn
Các trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa vμ nhỏ tại vùng ĐBSH chủ yếu được phát triển lên từ chăn nuôi nông hộ với quy mô lớn hơn so với quy
mô nông hộ Số các chủ trang trại có nguồn gốc từ nông dân chiếm 82,6%, nguồn gốc khác chiếm tỷ lệ 17,4% Kết quả điều tra cho thấy diện tích bình quân cho khu trang trại là 1507m2, trong đó diện tích riêng cho chuồng trại 95,5 m2 Vốn đầu tư cho xây dựng chuồng trại tại vùng nghiên cứu đạt 42,5 triệu đồng/trang trại, tính bình quân các trang trại đã đầu tư 445000 đồng/m2
chuồng trại Giá trị tài sản cố định không kể đất đai đạt 58,3 triệu đồng/trang trại Lao động dùng cho chăn nuôi lợn trong các trang trại hoàn toàn sử dụng lao động gia đình Việc chủ động nguồn vốn đầu tư trong chăn nuôi lợn tại các trang trại vẫn là bài toán khó do biến động của thị trường sản phẩm (Có 100% trang trại được điều tra có vay vốn cho sản xuất với các hình thức khác nhau) Trong vài năm gần đây, tại ĐBSH, thị trường tiêu thụ thịt lợn không ổn định cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng quy mô của trang trại
Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ các trang trại chọn hình thức nuôi lợn thịt (40%), chăn nuôi kết hợp nái và thịt (55%), còn hình thức chỉ nuôi lợn nái chiếm tỷ lệ rất thấp (5%) Quy mô chăn nuôi lợn thể hiện qua số lợn thịt, lợn nái có mặt thường xuyên trong trang trại Bình quân lợn thịt tại 4 điểm điều
Trang 30tra là 84,9 con/trang trại và lợn nái là 13,9 con/trang trại Chăn nuôi lợn ngoại
đã trở nên rất phổ biến trong các trang trại với các giống như: Landrace, Yorkshire, lai 2 máu ngoại, lợn lai 3 máu ngoại… Thức ăn hỗn hợp công nghiêp là nguồn thức ăn chủ yếu trong các trang trại chăn nuôi lợn
* Phân tích tài chính tác nhân sản xuất
Phân tích tài chính tác nhân sản xuất được thể hiện qua 2.2:
Bảng 2.2 : Phân tích tài chính tác nhân sản xuất lợn thịt
là lợn thuần ngoại có năng suất và chất lượng cao Do đó, mức đầu tư về thức ăn, chuồng trại, con giống tại đây đều cao hơn so với chăn nuôi tại các nông hộ
b Tác nhân thu gom lợn
Trang 31Tác nhân thu gom lợn chuyên nghiệp làm công việc này thường xuyên
và tạo ra nguồn thu nhập chính Dạng tác nhân thu gom không chuyên chỉ hoạt động vào một số thời điểm trong năm và kiêm luôn cả vai trò môi giới trung gian Lợn được thu gom từ các nông hộ và trang trại chăn nuôi, chuyển đến nhà máy chế biến lợn xuất khẩu tại Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hải Dương; hoặc chuyển đến các đầu mối tiêu thụ tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội, ngoài ra họ có thể bán lại một số lượng hạn chế cho lò giết
mổ tại địa phương
Tác nhân thu gom lợn trực tiếp tìm hiểu thị trường, hoặc có lợi thế về quan hệ buôn bán mà nắm rõ thông tin nguồn hàng trên địa bàn Thông thường thì tác nhân này chỉ là người thu gom, nhưng lúc cần họ lại có thể làm người môi giới nguồn hàng (bán hoặc mua lợn) cho các tác nhân thu gom khác Đa số các hộ thu gom nhỏ và thường là dạng bán chuyên nghiệp, hoạt động mang tính thời vụ với nguồn vốn hạn hẹp, phạm vi hoạt động chủ yếu trong địa bàn huyện Đối với các hộ thu gom lớn hầu hết là hoạt động chuyên nghiệp, địa bàn hoạt động thường mở rộng ra phạm vi nhiều huyện hoặc nhiều tỉnh Nguồn hàng có thể thu gom trực tiếp từ người chăn nuôi hoặc người môi giới cấp thấp hơn
Khi mua lợn từ người chăn nuôi hoặc thu gom nhỏ trong cùng địa phương, các tác nhân thu gom có thể tận dụng các mối quan hệ quen biết, nên hình thức thanh toán chậm thường được chấp nhận, hình thức này chiếm tới 56,2% Khi bán sản phẩm cho người giết mổ lợn và các cơ sở chế biến thịt lợn xuất khẩu, hình thức thanh toán ngay lúc mua là phổ biến (81,3%), thanh toán chậm ít được chấp nhận hơn (18,7%)
Các tác nhân thu gom lợn là người nắm giữ thông tin về thị trường, bởi vậy, thông tin về giá cả nhiều lúc bị che dấu hoặc cung cấp không chính xác gây thiệt thòi cho người chăn nuôi Như vậy, trong thị trường lợn tại ĐBSH,
Trang 32thông tin về giá cả có được của người chăn nuôi và của người thu gom lợn là bất đối xứng
• Phân tích tài chính tác nhân thu gom
Phân tích tài chính tác nhân thu gom được thể hiện qua bảng 2.3:
Bảng 2.3: Phân tích tài chính tác nhân thu gom lợn
c Tác nhân mổ lợn địa phương
Tác nhân mổ lợn địa phương có vai trò hết sức quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng, trực tiếp cho người chăn nuôi và cung cấp thực phẩm ra thị trường địa phương Sản phẩm được tiêu thụ theo 2 cách: bán buôn cho người buôn thịt lợn lên thành phố và bán lẻ thịt lợn tại địa phương Cách giết mổ lợn hoàn toàn thủ công và sử dụng lao động gia đình
Kết quả điều tra cho thấy: số lượng lợn bình quân được giết mổ của 1
hộ tại vùng nghiên cứu là 15,8 con/hộ/tuần, thấp nhất là 8,1 con/hộ/tuần tại Nam Định, và cao nhất tại Hải Phòng: 21,5 con/hộ/tuần Các trang thiết bị đầu
Trang 33tư để hành nghề của các tác nhân giết mổ bao gồm: xe máy, máy bơm nuớc, dao, thớt, chảo, cân, … với tổng trị giá trung bình là 10,8 triệu đồng, hộ cao nhất là 14,5 triệu và hộ thấp nhất là 5,5 triệu đồng
Các tác nhân mổ lợn địa phương thường thiếu vốn do phần lớn các hộ gia đình thường mua chịu thịt lợn từ người giết mổ quen thuộc trong vùng Tác nhân mổ lợn buộc phải vay vốn từ các nguồn bên ngoài để hoạt động Có 100% các hộ giết mổ điều tra đều bị dư nợ với mức trung bình là 10,1 triệu đồng, cá biệt có hộ bị dư nợ đến 25 triệu Phương thức thanh toán phần nào phản ánh sự phát triển của thị trường sản phẩm Khi mua lợn thịt của người chăn nuôi trong xã, các tác nhân giết mổ lợn có thể thanh toán chậm khoảng 7
- 10 ngày sau khi mổ lợn (khoảng 72% người dân chấp nhận phương thức thanh toán ngay)
Có một phần hàng được mua từ người thu gom nghiệp dư và người mổ lợn hầu như phải thanh toán ngay khi giao hàng Theo kết quả điều tra, có 43,4% khối lượng thịt được bán buôn cho người thu gom chuyển đi thành phố
và 56,6% khối lượng thịt được bán lẻ trực tiếp cho các cá nhân tiêu dùng tại địa phương Loại thịt tiêu thụ tại thành phố chủ yếu là loại thịt ngon như thịt mông, thịt thăn Chênh lệch về giá của hình thức bán buôn và bán lẻ thịt mông tại địa phương dao động trong khoảng từ 500 đồng đến 2515 đồng/kg tuỳ theo thời điểm và mối hàng, chênh lệch trung bình là 1100 đồng/kg
RNE/CI (%)
Chu kỳ vốn (ngày)
Quay vòng vốn (vòng/năm)
Sản xuất lợn thịt tại nông hộ 223,4 192,4 14,9 109,0 3,3
Trang 34Sản xuất lợn thịt tại trang trại 242,1 209,6 14,5 97,6 3,7
Với các tác nhân sản xuất, kết quả cho thấy giá trị gia tăng và lợi nhuận thuần đạt được khá cao tại hộ và trang trại Tuy nhiên chu kỳ cho đợt nuôi của tác nhân sản xuất lợn thịt tai hộ khá dài, nên số vòng vốn/năm là thấp hơn
Bảng 2.5: So sánh một số chỉ tiêu kinh tế giữa các tác nhân trung gian
và chế biến [18]
Tác nhân sản xuất VA
(1000đ)
RNE (1000đ)
RNE/CI (%)
Chu kỳ vốn (ngày)
Quay vòng vốn (vòng/năm)
Chu kỳ vốn của các tác nhân trung gian dao động trong khoảng 1,5 – 1,7 ngày, ngắn hơn rất nhiều so với các tác nhân sản xuất Do vậy, tốc độ quay vòng vốn của các tác nhân này là rất cao (đạt 214,7 - 243,3 vòng /năm)
Sơ đồ 2.5: Giá trị gia tăng tạo ra của kênh ngành hàng [18]
VA1(223.400đ) VA2(65.500đ) VA3(81.700đ)
Khi lợn được giết mổ và tiêu thụ trong nước, tổng giá trị gia tăng chỉ đạt 370600 đồng
2.2.3 Các bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận, thực tiễn và hệ thống công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Tiêu dùng nội địa
Hộ chăn nuôi
lợn thịt
TN Thu gom
TN
Mổ lợn
Tổng VA = VA1+VA2+VA3 = 370.600 vnđ
Trang 351 Nước ta là nước nông nghiệp, trên 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Phát triển chăn nuôi lợn là một sự tất yếu, vì nó có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Việc phát triển chăn nuôi lợn không chỉ làm tăng sản phẩm xã hội mà còn giải quyết việc làm, sử dụng triệt để có hiệu quả sản phẩm từ trồng trọt, tăng thu nhập cho người dân góp phần xoá đói, giảm nghèo.
2 Phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam luôn đi đúng với chủ trường, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, với tình trạng dịch bệnh bùng phát xảy ra đối với đàn gia súc, gia cầm hiện nay thì việc ban hành chính sách mới như: nâng cao mức hỗ trợ nông dân khi gặp rủi ro trong chăn nuôi,… Bênh cạnh đó việc bình ổn giá thức ăn chăn nuôi trên thị trường thức ăn gia súc là điều cấp bách nên làm ngay để người dân đỡ thiệt thòi, khuyến khích người dân tiếp tục tham gia sản xuất khi dịch bệnh đã được dập tắt
3 Đẩy mạnh phong trào học tập kinh nghiệm chăn nuôi, nâng cao trình
độ chăn nuôi của từng cá nhân và các hộ chăn nuôi quy mô lớn bằng cách mở các lớp tập huấn và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực chăn nuôi
4 Trong quá trình đô thị hoá ồ ạt như hiện nay, đất nông nghiệp bị thu hẹp lại thì nên cải tiến phương thức chăn nuôi lợn truyền thống theo phương thức công nghiệp, chăn nuôi theo hình thức thâm canh tại các tỉnh trên cả nước
5 Phát triển chăn nuôi lợn thì phải mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm Muốn làm được điều này thì ngành hàng thịt lợn trước hết phải khẳng định được thương hiệu của mình trên thị trường Muốn khẳng định được thương hiệu thì trước hết phải nâng cao được chất lượng sản phẩm và giá cả cạnh tranh
6 Phát triển chăn nuôi lợn không thể tránh được rủi ro vì trong quá trình chăn nuôi do chịu nhiều yếu tố tác động Để hạn chế được sự rủi ro
Trang 36trong ngành này thì biện pháp tốt nhất là nên thực hiện chính sách bảo hiểm cho vật nuôi đến từng hộ chăn nuôi.
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đặc điểm địa bàn
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Ý Yên là một huyện lớn của tỉnh Nam Định với 32 xã, thị trấn Là một huyện đồng bằng nằm giữa trung tâm chính trị - kinh tế của 3 tỉnh: Nam Định, Ninh Bình và Hà Nam Trung tâm Huyện cách thành phố Nam Định hơn 20km về phía Đông Phía Bắc huyện giáp với huyện Bình Lục và Thanh Liêm
- tỉnh Hà Nam; phía Tây giáp với Gia Viễn và Hoa Lư - tỉnh Ninh Bình; Phía Nam giáp với sông Đáy và huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
Huyện có hệ thống giao thông đường sắt Bắc Nam, đường bộ gồm quốc
lộ 10 nối các điểm kinh tế Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình đến Hải Phòng cùng với đường cao tốc đoạn Ninh Bình - Cầu Giẽ chuẩn bị xây dựng xong chạy qua Ngoài ra, tuyến đường 57 nối quốc lộ 10 với quốc lộ 1 chạy xuyên qua Huyện, đường thuỷ là 2 con sông Đáy và sông đào tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu vận chuyển hàng hóa với các vùng ngoài huyện là tiền đề cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện, trong đó có lĩnh vực chăn nuôi
3.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Ý Yên là huyện đồng bằng thuộc vùng châu thổ sông Hồng nên đất đai của huyện tương đối bằng phẳng và màu mỡ, thuận lợi cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp Huyện thuộc vùng chiêm trũng của tỉnh nên hằng năm vào mùa mưa thường xảy ra úng lụt cục bộ gây nhiều khó khăn cho sản xuất đặc biệt là vụ mùa
Trang 37Huyện Ý Yên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa hạ nắng nóng mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô hanh Theo tài liệu của Trạm khí tượng thuỷ văn của huyện:
- Nhiệt độ trung bình 22,70C, sự chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè khá rõ rệt Mùa đông nhiệt độ thường từ 13- 160C , có ngày dưới
100C, mùa hè trung bình 32- 330C, có hôm nhiệt độ lên đến 38 – 390C
- Lượng mưa hàng năm trong huyện đạt từ 1400 – 1700 mm Mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10, nhiều mưa nhất vào tháng 7 và tháng 8, cộng thêm những trận bão đi qua gây úng lụt ở một số xã ven đê và một số vùng trũng, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp
- Độ ẩm trung bình hàng năm đạt trên 80%, độ ẩm cao nhất vào cuối mùa xuân, có tháng đạt tới 90% Đây là điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển, nhưng đó cũng là điều kiện cho sâu bệnh và một số bệnh nguy hiểm trong trồng trọt và chăn nuôi
Tóm lại, điều kiện tự nhiên của Huyện khá phong phú theo mùa cùng các loại cây trồng và đàn gia súc, gia cầm là điều kiện thuận lợi nhằm từng bước đưa sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa đặc biệt là chăn nuôi và thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển Vì vậy cần khai thác triệt để điều kiện tự nhiên sao cho có hiệu quả nhất và đảm bảo tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội
* Phong tục tập quán trong sản xuất
Trong những năm gần đây, thực hiện công cuộc đổi mới Đẩy mạnh CNH –HĐH nông nghiệp và nông thôn, Khoa học kỹ thuật được tuyên truyền,
phổ biến rông rãi đã làm thay đổi một số tư tưởng của người nông dân trong
việc phát triển sản xuất - ngành trồng trọt, một số phong tục tập quán sản xuất lạc hậu đã có sự thay đổi Bước đầu đã thoát khỏi tình trạng độc canh, tự
Trang 38cung, tự cấp nhưng sản xuất hàng hoá còn ở trình độ thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao, sản xuất vẫn mang nặng tính quảng canh, chăn nuôi theo quy mô nhỏ là chủ yếu Đối với tiến bộ khoa học kỹ thuật, Nhà nước đã có chính sách; chủ trương đưa về từng nông hộ Song thực tế nhận thức vấn đề này vẫn còn mơ hồ và đôi khi có tính chất xem nhẹ, vẫn giữ lối canh tác theo kinh nghiệm truyền thống của gia đình.
Về địa hình, nhìn chung tương đối bằng phẳng, nghiêng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đó là điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy thủy lợi hóa trong nông nghiệp phát triển Huyện Ý Yên được chia làm 3 miền:
- Miền Bắc: là miền đại diện cho vùng trên, vùng có địa hình cao, đất cằn, có núi đá vôi, mang tính chất như trung du, giáp với Hà Nam, Ninh Bình không thuận lợi cho chăn nuôi
- Miền Trung: là miền địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ hơn, có diện tích đất bãi tương đối lớn, thuận tiện cho chăn thả gia súc, có ngành nghề phụ có thể tận dụng sản phẩm phụ cho chăn nuôi
- Miền Nam: là miền có vùng đất trũng và chịu nhiều rủi ro vì điều kiện thời tiết Hàng năm người dân nơi đây phải ra sức chống lũ lụt, nhưng đây là
Trang 39vùng sử dụng nước phù sa cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, nhất là nuôi trồng thủy sản.
Trang 40Bảng 3.1: Tình hình đất đai, dân số, lao động của huyện qua 3 năm (2006- 2008)
Số Lượng Cơ cấu (%) Số Lượng Cơ cấu (%) Số Lượng Cơ cấu (%) 07/06 08/07 BQ
2 LĐ trong độ tuổi LĐ Người 133.256 100,00 134.278 100,00 134.370 100,00 100,77 100,07 100,42