1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh

163 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực trạng sản xuất kinh doanh sản phẩm của làng nghề chúng tôi tiến hành đánh giá khả năng cạnh tranh và tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh sản phẩm của làng nghề từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa. Đánh giá thực trạng sản xuất và kinh doanh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh. Đánh giá khả năng cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ.

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước nông nghiệp với phần đông dân số làm nghềnông, tuy nhiên sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển,thu nhập của người dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp còn thấp Đểphát triển kinh tế nông nghiệp đòi hỏi phải phát triển cả sản xuất nông nghiệp

và phi nông nghiệp, trong đó phát triển các làng nghề thủ công truyền thống làrất quan trọng, nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay cạnh tranh là một bài toán đặt ra chotất cả các nước Vậy ở Việt Nam bài toán đó được giải như thế nào? Điều đóđược từng ngành, từng cơ quan, từng địa phương có những hướng giải quyếtcủa riêng mình nhưng đều nằm trong khuôn khổ và định hướng mà Đảng vàChính phủ đặt ra Và Bắc Ninh cũng như các tỉnh khác đang giải bài toán này

Bắc Ninh được mệnh danh là “đất trăm nghề” Từ hàng trăm năm naysản phẩm của các làng nghề xứ Bắc với sự phong phú, đa dạng về chủngloại, chất lượng và giá trị sản phẩm đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đã góp phần quan trọng vào sựphát triển và làm thay đổi bộ mặt nông thôn về đời sống kinh tế, văn hoá - xãhội Qua đó giá trị tổng sản lượng công nghiệp của các làng nghề chiếm tỷtrọng lớn trong giá trị tổng sản lượng công nghiệp của địa phương ở BắcNinh các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất phát triển Đặc biệt là từ khi cóchủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển và bảo tồn các làng nghềtruyền thống thì các làng nghề ở Bắc Ninh như được chắp thêm cánh

Trang 2

Nhưng trong điều kiện hội nhập hiện nay liệu các làng nghề có thể tồntại và phát triển được không? Các sản phẩm của làng nghề sản xuất ra có thểcạnh tranh được không? Đặc biệt là với làng nghề sản xuất gỗ trong điều kiệnnguồn cung thì hạn hẹp, các sản phẩm thay thế thì rất nhiều vừa rẻ, bền lạiđẹp Một câu hỏi đặt ra là liệu các sản phẩm của làng nghề đồ gỗ có tiêu thụđược không? Cạnh tranh với các sản phẩm, làng nghề khác như thế nào? Để

trả lời cho những câu hỏi đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ- Từ Sơn- Bắc Ninh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Từ thực trạng sản xuất kinh doanh sản phẩm của làng nghề chúng tôitiến hành đánh giá khả năng cạnh tranh và tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tớikhả năng cạnh tranh sản phẩm của làng nghề từ đó đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ-

Trang 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng cạnh tranh của làng nghề đồ gỗĐồng kỵ- Từ Sơn- Bắc Ninh

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng và các nhân tố ảnhhưởng tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ- Từ Sơn- BắcNinh

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn làng nghề đồ gỗĐồng Kỵ- Từ Sơn- Bắc Ninh

- Phạm vi về thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ năm 2008- 2015

Trang 4

PHẦN II: CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Theo chúng tôi, cạnh tranh buộc các nhà sản xuất, bán buôn, xuất khẩuphải cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý để tăng năng suất lao động, nâng caochất lượng hàng hóa, thay đổi mẫu mã, bao bì cho phù hợp với thị hiếu củakhách hàng, giữ tín nhiệm, cải tiến nghiệp vụ thương mại, dịch vụ, giảm giáthành giữ ổn định hay giảm giá bán tăng danh lợi

Đồng thời, các hình thức cạnh tranh ngày càng đa dạng, các phươngpháp và quy mô cạnh tranh ngày càng mở rộng trên phạm vi quốc tế Cạnhtranh quốc tế là cạnh tranh để dành giật nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụsản phẩm, khu vực đầu tư có lợi trên trường quốc tế Nó là một hiện tượngkhá phổ biến trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là thương mại và đầu tư

Trang 5

Thực tế cho thấy trong thương mại quốc tế, cạnh tranh thường diễn ra giữa cácnhà kinh doanh cùng một mặt hàng, giữa các công ty lớn và giữa các quốc gia.

Đối với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì cạnh tranh lại càng gay gắthơn vì các mặt hàng này chi phí sản xuất rất lớn và thời gian sản xuất kéo dài,tính chất văn hóa hay nghệ thuật kết tinh trong sản phẩm rất cao, không thểsản xuất hàng loạt được nên giá thành sản phẩm thường rất cao Đặc biệt làđối với các sản phẩm sản xuất từ gỗ thì cạnh tranh càng gay gắt hơn vì nguồnnguyên liệu khan hiếm và giá thành sản xuất thường rất cao

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta sử dụng khái niệmnăng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhaunhư năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ

2.1.1.2 Năng lực cạnh tranh của một quốc gia [32]

Năng lực cạnh tranh đã trở thành một trong những quan tâm của chínhphủ và các ngành sản xuất trong mỗi quốc gia Theo M Porter, có nhiều cáchgiải thích vì sao một số quốc gia thành công và một số thất bại khi cạnh tranhtrên quốc tế Mặc dù các cách giải thích này thường mâu thuẫn nhau, vàkhông có một lý thuyết chung nào được chấp nhận

Một số cho rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia là một hiện tượngkinh tế vĩ mô, chịu ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái,lãi suất Tuy nhiên một số quốc gia lại có mức sống dân cư tăng lên mặc dù

bị thâm hụt ngân sách cao như Nhật, Italia và Hàn Quốc (Micael, 1985) Một

số khác cho rằng năng lực cạnh tranh là một hàm số của lao động dồi dào vớimức lương thấp Tuy vậy một số nước như Đức, Thuỵ Sỹ và Thuỵ Điển lại cómức thu nhập rất cao trong khi họ thiếu lao động và giá nhân công rất cao

Kết quả của năng lực cạnh tranh của quốc gia là sự tăng trưởng ổn định

Trang 6

của năng suất và cải thiện mức sống của dân cư nước đó.

Micheal E Porter với mô hình Kim cương (Diamond Model) trong phântích lợi thế cạnh tranh lại cho rằng các yếu tố (các mũi nhọn của kim cương)tạo nên sự cạnh tranh của một quốc gia gồm có (i) chiến lược, cơ cấu côngty/doanh nghiệp, sự cạnh tranh; (ii) điều kiện cầu; (iii) các điều kiện nguồn lựccho sản xuất và (iv) các ngành công nghiệp hỗ trợ Các yếu tố trên có mối quan

hệ phụ thuộc lẫn nhau, tuy nhiên yếu tố chính phủ và sự thay đổi cũng đượcđưa vào ảnh hưởng đến cả bốn yếu tố trên Mô hình này thường để phân tíchđánh giá sức cạnh tranh của môt quốc gia trong một ngành công nghiệp nhấtđịnh, hoặc sức cạnh tranh của một địa phương cho một ngành sản xuất nhấtđịnh

Trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia được đề xuất bởi M.Porter(1990), chúng ta thấy ông đã tập trung vào việc giải thích những vấn đề trên.Với lý thuyết này, M.Porter cho rằng sự gia tăng mức sống và sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đổi mới, khả năng tiếp cậnnguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế Nói tổng quáthơn, sức cạnh tranh cuả một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của cácngành trong nền kinh tế Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ nănglực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ,sản phẩm, cung cách quản lý của ngành và môi trường kinh doanh Các đầuvào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không phải chỉ thuần

là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chínhdoanh nghiệp hoặc chính phủ tạo ra Với cách nhìn nhận như vậy, M.Porter(1990) cho rằng bốn yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là :

1 Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh: Những ngành

có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách cuả quốc gia,

Trang 7

hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ cótính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn Chẳng hạn như ngành sản xuất xe hơi củaNhật có một số công ty cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới một phần là

do các công ty này đã cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước, luônsuy nghĩ và hành động mang tính chiến lược

2 Các điều kiện về phía cầu: Những ngành phải cạnh tranh mạnh ởtrong nước thì mới có khả năng cạnh tranh quốc tế tốt hơn Thị trường trongnước với số cầu lớn, có những khách hàng đòi hỏi cao và môi trường cạnhtranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn Chẳnghạn như ngành chế biến thức ăn nhanh của Hoa Kỳ có khả năng cạnh tranhđược trên thị trường quốc tế bởi lẽ người tiêu dùng Hoa Kỳ là những ngườiđòi hỏi tốc độ và sự thuận tiện nhất thế giới

3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Tính cạnh tranh của mộtngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp các nhập lượng và cácdịch vụ hỗ trợ Các nhà cung cấp nhập lượng có khả năng cạnh tranh trên toàncầu có thể mang lại cho doanh nghiệp - khách hàng của họ lợi thế về chi phí

và chất lượng Các ngành có quan hệ ngang cũng mang lại lợi thế cạnh tranhthông qua sự lan truyền công nghệ Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra chodoanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô Ví dụ như ngành sản xuất máy tínhcủa Hoa Kỳ là ngành đầu đàn vì các công ty có nhiều sáng kiến trong ngànhcông nghiệp bán dẫn, vi xử lý, hệ thống điều hành và dịch vụ vi tính

4.Các điều kiện về các yếu tố sản xuất: bao gồm chất lượng lao động,vốn và lao động rẻ, cơ sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao sẽ ảnh hưởng đếntính cạnh tranh của ngành và của các quốc gia ở đây chúng ta nhấn mạnh đếnchất lượng của các yếu tố đầu vào được tạo ra chứ không phải là nguồn lựctrời cho ban đầu Chẳng hạn như ngành sản xuất thép ở ấn Độ có khả năng

Trang 8

cạnh tranh trên thị trường thế giới dù họ không có tài nguyên về sắt hoặc than,

mà bởi vì họ có công nghệ sản xuất tốt

Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong những ngành mà người ta tìmthấy bốn yếu tố cơ bản trên khá mạnh Đây là những khu vực mà chính phủnên tập trung nỗ lực của họ nhằm để thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của quốc gia

2.1.1.3 Năng lực cạnh tranh của một ngành sản xuất và của doanh nghiệp

Một trong các yếu tố trọng tâm chúng ta quan tâm là giải thích vì saocác công ty trong một nước lại có thể cạnh tranh một cánh thành công với cáccông ty nước ngoài trong cùng một ngành sản xuất Hay ngành công nghiệpcủa nước này lại thành công hơn so với nước khác khi tham gia trên thịtrường quốc tế Năng lực cạnh tranh của một ngành chịu ảnh hưởng của sựcộng tác và phối hợp giữa các doanh nghiệp trong ngành đó

Vậy để cạnh tranh, các doanh nghiệp trong ngành chắc chắn phải có lợithế cạnh tranh dưới dạng (i) chi phí thấp hơn hoặc (ii) tạo ra sự khác biệttrong sản phẩm mà có thể được bán với giá cao hơn

Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp/hãng là khả năng doanhnghiệp/hãng đó có thể duy trì và củng cố vị trí của nó trên thị truờng nội địa

và quốc tế Năng lực cạnh tranh liên quan đến các vấn đề về nguồn lực vàchất lượng của các nguồn lực này, và cách thức tổ chức sử dụng chúng

Các hãng đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua hành động đổi mới:công nghệ mới và cách thức quản lý, làm việc mới Kết quả của sự đổi mớinày là thiết kế sản phẩm mới, quy trình sản xuất mới, phương pháp tiếp thịmới, hay một cách thức mới trong đào tạo Đôi khi sự đổi mới thường liênquan tới các ý tưởng thậm chí không phải là mới, và luôn liên quan đến cácđầu tư vào kỹ năng, kiến thức, tài sản, nguồn lực và thương hiệu sản phẩm

Trang 9

Trong một số trường hợp, sự đổi mới tạo ra lợi thế cạnh tranh quaviệc nhận thức được một cơ hội thị trường hoàn toàn mới hay một phânkhúc thị trường mà các đối thủ khác không để ý tới Nếu doanh nghiệp nắmbắt nhanh hơn cơ hội này thì sự đổi mới này đã tạo ra tính cạnh tranh chochính doanh nghiệp đó.

Một khi doanh nghiệp/công ty đạt được lợi thế cạnh tranh thông quađổi mới, nó có thể duy trì lợi thế này bằng cách cải tiến không ngừng vì sựđổi mới này thường bị các đối thủ các làm theo Ví dụ các công ty của HànQuốc đã kịp thời nắm bắt khả năng của các đối thủ ấn Độ trong sản xuất hàngloạt các đồ điện tử, hay các công ty của Braxin đã có thể lắp ráp và thiết kếgiày bình thường để cạnh tranh với các đôi giày của Italia Do vậy cách thứcduy nhất duy trì lợi thế cạnh tranh là nâng cấp lợi thế này, chuyển sang cácloại sản phẩm/dịch vụ tinh tế hơn và phức tạp hơn

2.1.1.4 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm và các yếu tố quyết định

Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi

có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượnghay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn

Theo lý thuyết thương mại truyền thống, khả năng cạnh tranh đượcxem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động

Theo M Porter, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai tháccác năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự khácbiệt của sản phẩm

Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác địnhlợi thế cạnh tranh của mình Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm được hiểu lànhững thế mạnh mà sản phẩm có hoặc có thể huy động để đạt thắng lợi trongcạnh tranh Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh:

Trang 10

- Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnhtranh Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem lànguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh.

- Lợi thế về sự khác biệt hóa: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làmtăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặcnâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép thịtrường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ

Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựavào 4 tiêu chí:

- Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm

- Tính cạnh tranh về giá cả

- Khả năng thâm nhập thị trường mới

- Khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và phương thức kinh doanhngày càng phong phú hơn

Nhìn chung đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm phải xem xétcác mặt: chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, tính đa dạng, mẫu mã,bao bì của sản phẩm, uy tín thương hiệu của sản phẩm, nguồn hàng cung cấp

ổn định, giá cả sản phẩm và công tác Marketing sản phẩm

2.1.1.5 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh

Nâng cao năng lực cạnh tranh là: đánh giá thực tế năng lực cạnh tranhcủa quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ đó thông qua các tiêu chí để cónhững nhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủ sứccạnh tranh trên thị trường Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thay đổi mốitương quan giữa thế và lực của doanh nghiệp về mọi mặt của quá trình sảnxuất kinh doanh

Trang 11

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quancủa nền sản xuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thịtrường Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa dịch vụ bán ra càngnhiều, số lượng cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Nhưng cũngchính nhờ sự cạnh tranh, mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngàycàng nâng cao năng xuất lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường, cạnhtranh diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan củariêng ai, nên cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự pháttriển Mọi ngành, doanh nghiệp đều phải tự mình vận động để đứng vữngtrong cơ chế này Cơ chế thị trường mở đường cho doanh nghiệp nào biếtnắm thời cơ, biết phát huy tối đa thế mạnh của mình và hạn chế được tối thiểunhững bất lợi để giành thắng lợi trong cạnh tranh.

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới đã tạođiều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, song cũng buộccác doanh nghiệp có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thươngtrường, hội nhập kinh tế chính là khơi thông các dòng chảy nguồn lực trongnước và nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyển giao công nghệ

và các kinh nghiệm quản lý

Thách thức hàng đầu khi hội nhập kinh tế thế giới là tính cạnh tranhngày càng khốc liệt cả thị trường trong nước và xuất khẩu do các hàng ràothuế quan bảo hộ cũng như các chính sách ưu đãi đang dần bị loại bỏ Chính

vì vậy, các ngành;doanh nghiệp phải không ngừng tăng vốn đầu tư, luôn đổimới công nghệ, chất lượng lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh và tăng năng lực cạnh tranh Thách thức nữa là hàng hóa và dịch vụ sẽngày càng phải đương đầu với những rào cản thương mại quốc tế mới Vì vậy,các doanh nghiệp cần phải trang bị cho mình những kiến thức về thị trường cảtrong nước và ngoài nước, nắm bắt tập quán, luật kinh doanh ở thị trường

Trang 12

trong nước và ngoài nước Khi mà sức cạnh tranh của doanh nghiệp đượcnâng cao nó sẽ thể hiện tốt vai trò, chức năng của mình trong việc:

- Phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng

- Kích thích sản xuất phát triển ổn định

- Thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật

- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh đó nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của cácdoanh nghiệp là một tất yếu khách quan [33]

2.1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa

Dựa vào các tiêu chí sau:

- Thị phần sản phẩm đó trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh,thị phần càng lớn càng thể hiện sức cạnh tranh của sản phẩm đó càng mạnh

Để tồn tại và có sức cạnh tranh, sản phẩm của doanh nghiệp phải chiếmđược một phần của thị trường, qua đó đánh giá được sức cạnh tranh sản phẩmcủa mỗi doanh nghiệp, ưu thế cũng như điểm mạnh điểm yếu tương đối củadoanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh

- Vị thế tài chính: có tầm quan trọng tối cao trong việc nâng cao vị thếcạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp Khả năng nguồn tài chính mạnhđược đánh giá bằng năng lực cạnh tranh Đó là: lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệvốn vay, mức dự trữ và hiệu suất lợi tức cổ phần doanh nghiệp, các hệ sốthanh khoản, các hệ số hoạt động, các chỉ số sinh lợi

- Khả năng nắm bắt thông tin: doanh nghiệp phải nắm bắt đầy đủ cácthông tin, bao gồm các thông tin về khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch

vụ cùng loại, thông tin về tình hình cung cầu và giá cả, thông tin về công nghệmới thích hợp, thông tin về hoạt động của đối thủ cạnh tranh,

Trang 13

- Chất lượng sản phẩm và bao gói: người tiêu dùng khi mua hàng trướchết phải nghĩ tới khả năng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của họ, tới chất lượng mà

nó có trong điều kiện hiện tại, chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà cácdoanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng

“chiến thắng” Đó cũng là con đường mà doanh nghiệp thu hút khách hàng, giữgìn tạo dựng chữ tín tốt nhất, khi tiếp cận hàng hóa cái mà người tiêu dùng gặpphải trước hết là bao bì mẫu mã, vẻ đẹp và sự hấp dẫn của nó, làm cho ngườitiêu dùng quyết định mua hàng một cách nhanh chóng hơn[20]

Hàng hóa dù đẹp và bền đến đâu cũ sẽ bị lạc hậu trước những yêu cầungày càng cao của khách hàng Do đó, người sản xuất phải thường xuyên đổimới và hoàn thiện về chất lượng và kiểu dáng, mẫu mã, tạo những nét riêng,độc đáo, hấp dẫn người mua Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ uy tínsản phẩm trong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thậthàng giả lẫn lộn

- Giá cả sản phẩm và dịch vụ: giá phải đủ sức cạnh tranh với sản phẩmcùng loại Bảng giá đưa ra cần phải trả lời được câu hỏi rất cơ bản: với giá đóthì người tiêu dùng chấp nhận được không?

- Kênh phân phối: được coi là một chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giásức cạnh tranh của sản phẩm Bởi lẽ, sản phẩm và giá cả là hai yếu tố quyếtđịnh những giá trị cơ bản giành cho khách hàng ở khâu sản xuất còn phânphối là yếu tố đem đến cho khách hàng những giá trị gia tăng và cách đưahàng hóa tới tay người tiêu dùng, thông qua những dịch vụ khách hàng Trong

xu thế tiêu dùng hiện tại, giá trị gia tăng là một trong những yếu tố quan trọngquyết định sự hài lòng của khách hàng, nếu mức độ hài lòng của khách hàngcao hơn so với đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định khả năng chiếm lĩnh thịtrường, tức là quyết định thắng lợi trong cạnh tranh

Trang 14

- Truyền tin và xúc tiến: tùy theo mục tiêu kế hoạch tiêu thụ sản phẩmkhác nhau mà các doanh nghiệp có chi phí này cao hay thấp Khi xem xét tỷ

lệ chi phí cho marketing so với tổng doanh thu ta thấy, chỉ tiêu này cao màdoanh nghiệp vẫn duy trì mở rộng được thị phần so với mục tiêu đã đề ra thì

có nghĩa là việc đầu tư cho marketing là hiệu quả

- Năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D): bao gồm cân nhắc về cácthành tựu đổi mới để triển khai các sản phẩm mới, nghiên cứu và triển khaiđược tổ chức ra sao (theo định hướng thị trường hay theo công nghệ), R&Dhữu hiệu cho phép có được sứ mạnh trong đổi mới cong nghệ, có ưu thế tronggiới thiệu sản phẩm mới thành công, cải tiến cập nhật liên tục sản phẩm Lợithế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, cácnhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem như là nguồnlực để tạo lợi thế cạnh tranh

- Lợi thế về sự khác biệt: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tănggiá trị sử dụng cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặcnâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm, lợi thế này cho phép thịtrường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ

Trong điều kiện thực tế của Việt Nam cũng như điều kiện về thời giannên chúng tôi mới chỉ nghiên cứu được các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnhtranh của sản phẩm hàng hóa đó là: Giá cả sản phẩm, kênh phân phối, lợi thế

về sự khác biệt

2.1.1.7 Các nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm

* Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

- Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xãhội, tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất

Trang 15

- Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế vàkhả năng cạnh tranh của một sản phẩm, tăng trưởng nhanh phu thuộc vào khảnăng của khu vực tài chính trong việc huy động và phân bố có hiệu quả tíndụng vào sản xuất các sản phẩm Ngoài ra lãi suất tín dụng ảnh hưởng đếnkhả năng vay mượn của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm

- Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao khả năng cạnh tranhcủa các sản phẩm Đầu tư là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến việcđẩy nhanh tốc độ tăng sản xuất sản phẩm chủ lực

- Mở cửa thương mại đòi hỏi nâng cao khả năng cạnh tranh của sảnphẩm, tăng xuất khẩu và tiến hành dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháttriển các sản phẩm chủ lực Tiến bộ kỹ thuật tác động quan trọng đến chi phísản xuất và chất lượng sản phẩm hàng hóa

- Các chính sách vĩ mô trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, ứng dụngtiến bộ khoa học công nghệ và huy động nguồn vốn tài chính cần thiết chonâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển các sản phẩm chủ lực

- Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng cạnhtranh, mở rộng thị trường của các sản phẩm do giảm chi phí vận chuyển, tănggiao lưu với bên ngoài

- Phát triển nguồn nhân lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nângcao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm

- Bối cảnh quốc tế như xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang giatăng trở thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới sẽ đưa đến cácmặt thuận lợi, những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnh tranh củacác sản phẩm

Trang 16

* Các nhân tố thuộc môi trường vi mô:

- Các nhà cạnh tranh tiềm tàng với quy mô sản xuất, sự khác biệt củasản phẩm, quy mô vốn, chi phí, khả năng tiếp cận thị trường là nguy cơ cạnhtranh cần xét tới

- Mức độ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại phụ thuộc vào sốlượng đối thủ, quy mô đối thủ, tốc độ tăng trưởng sản phẩm, tính khác biệt sản phẩm

- áp lực từ sản phẩm thay thế có cùng công năng phụ thuộc vào mức giá,nếu giá cả sản phẩm cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế

- áp lực từ nguồn cung cho ra đời nhiều loại nguyên vật liệu mới có tính

ưu việt, cung cấp cho sản xuất với mục đích tạo ra sản phẩm mới có nhiều ưuđiểm hơn sẽ giành được ưu thế cạnh tranh

- áp lực từ phía khách hàng buộc tập trung thỏa mãn khách hàng vớichất lượng sản phẩm tốt, mới lạ và chất lượng phục vụ khách hàng cao

2.1.1.8 Phân biệt lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh [38]

* Lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Adam Smith trong tác phẩm của mình " Của cải của các dân tộc" xuấtbản lần đầu tiên năm 1776 đã đưa ra ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thíchnguyên nhân dẫn đến thương mại quốc tế và lợi ích của nó đối với các quốcgia Nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn (có hiệu quả hơn) sovới nước B và nước B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với nước A, thìlúc đó, mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệuquả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia Trong trường hợp này,mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối (đây là lợi thế mà quốc gia cóđược khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có chi phí sản xuấtthấp hơn (hoặc năng suất lao đông cao hơn) một cách tuyệt đối so với quốc

Trang 17

gia khác và nhập khẩu mặt hàng có đặc điểm ngược lại) về sản xuất từng loạimặt hàng cụ thể Nhờ có chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi thương mại mà

cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn

a Các giả thiết của mô hình

Để đơn giản hóa sự phân tích, mô hình thương mại được xây dựng vớicác giả thiết sau đây:

* Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng

* Thương mại hoàn toàn tự do

* Chi phí vận chuyển là bằng không

* Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữacác ngành sản xuất trong nước nhưng không di chuyển được giữa các quốcgia

*Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả thị trường

* Công nghệ sản xuất ở các quốc gia là như nhau và không đổi

b Lợi ích từ chuyên môn hóa và trao đổi

Thời gian lao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải ở mỗinước được cho trong bảng dưới đây:

Bảng 2.1 Chi phí sản xuất vải và thép của ấn Độ và Việt Nam

Khi chưa có thương mại, thế giới bao gồm hai thị trường biệt lập với haimức giá tương quan (hay tỷ lệ trao đổi nội địa) khác nhau Mỗi nước đều sảnxuất cả hai mặt hàng để tiêu dùng Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, ấn Độ là nước

Trang 18

có hiệu quả cao hơn (lợi thế tuyệt đối) trong sản xuất thép vì để làm ra một đơn

vị thép, nước này chỉ cần 2 giờ công lao động Ngược lại, Việt Nam có lợi thếtuyệt đối về sản xuất vải vì để sản xuất một đơn vị vải Việt Nam chỉ cần 3 giờcông lao động, trong khi đó ấn Độ lại cần đến 5 giờ công lao động Khi đó, theoquan điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, ấn Độ nên tập trung toàn bộ số lao độngcủa mình để sản xuất thép, còn Việt Nam thì thực hiện chuyên môn hóa sản xuấtvải, và hai nước thực hiện trao đổi hàng hóa với nhau để thu được lợi ích

Động cơ chủ yếu của thương mại giữa hai nước là ở chỗ, mỗi nước đềumong muốn tiêu dùng được nhiều hàng hóa với mức giá thấp nhất Do giá vải ởNhật cao hơn giả vải ở Việt Nam (tính theo chi phí lao động) nên ấn Độ có lợi khi mua vải từ Việt Nam thay vì tự sản xuất trong nước thương mại còn có thểlàm tăng khối lượng sản xuất và tiêu dùng của toàn thế giới do mỗi nước thựchiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối

Thực vậy, giả sử ấn Độ và Việt Nam mỗi nước có 120 công lao động, và

số lượng lao động đó được chia đều cho hai ngành sản xuất thép và vải Trongtrường hợp tự cung, tự cấp, ấn Độ sản xuất và tiêu dùng 30 đơn vị thép và 12đơn vị vải, còn Việt Nam sản xuất và tiêu dùng 10 thép và 20 vải

Khi lao động phân bố lại trong mỗi nước, cụ thể là tất cả 120 lao động

ở ấn Độ tập trung vào sản xuất thép và 120 lao động Việt Nam vào ngành sảnxuất vải, thì sản lượng của toàn thế giới là 60 thép và 40 vải

Bảng 2.2 Sản lượng vải và thép khi chưa có thương mại quốc tế

Trang 19

Thộp 40

Rừ ràng là, nhờ chuyờn mụn húa và trao đổi, sản lượng của toàn thếgiới tăng lờn khụng chỉ đủ để đỏp ứng nhu cầu tiờu dựng của mỗi nước nhưtrong trường hợp tự cung tự cấp mà cũn dụi ra một lượng nhất định Vỡ vậy,mỗi nước cú thể tăng lượng tiờu dựng cỏ nhõn cả hai mặt hàng và do đú trởnờn sung tỳc hơn

Bảng 2.3: Sản lượng vải và thộp khi cú thương mại quốc tế

Tóm lại, lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hớng chuyên môn hóa

và trao đổi giữa các quốc gia, mà còn đợc coi là công cụ để các nớc gia tăngphúc lợi của mình Mô hình thơng mại nói trên có thể giúp giải thích cho phầnnhỏ của thơng mại quốc tế, cụ thể là, nếu một quốc gia không có đợc điềukiện tự nhiên thích hợp để trồng càphê, chuối thì buộc phải nhập khẩu cácsản phẩm này từ nớc ngoài Tuy nhiên, mô hình này không giải thích đợc tr-ờng hợp tại sao thơng mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc gia không có lợi thếtuyệt đối (hoặc ở mức bất lợi tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng Để giải thíchcho vấn đề này chúng ta cần dựa trên một khái niệm có tính chất khái quáthơn - đó là khái niệm về lợi thế so sánh do David Ricardo đa ra lần đầu tiênnăm 1817

* Lý thuyết lợi thế so sỏnh

Trang 20

a Khái niệm về lợi thế so sánh

Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khácbiệt về số lượng lao động thực tế được sử dụng khác nhau (hay nói cách khác,

sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh lại xuất phát từhiệu quả sản xuất tương đối Trong mô hình lợi thế tuyệt đối ở trên, thép đượcsản xuất rẻ hơn ở ấn Độ so với ở Việt Nam do sử dụng thời gian lao động íthơn Ngược lại, vải được sản xuất ở Việt Nam rẻ hơn ở ấn Độ tính theo sốlượng lao động được sử dụng Tuy nhiên, nếu một nước, chẳng hạn, ấn Độ cóhiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai mặt hàng, theo quan điểm lợi thế tuyệtđối thì ấn Độ có lợi thế khi xuất khẩu cả hai mặt hàng Thế nhưng, đây khôngthể là một giải pháp dài hạn, bởi lẽ ấn Độ không hề mong muốn nhập khẩubất kỳ mặt hàng nào từ Việt Nam Điểm quan trọng ở đây không phải là hiệuquả tuyệt đối mà là hiệu quả tương đối trong sản xuất vải và thép: ấn Độ cólợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng, nhưng chỉ có lợi thế so sánhđối với mặt hàng có mức độ thuận lợi lớn hơn; ngược lại, Việt Nam bất lợitrong sản xuất cả hai mặt hàng nhưng vẫn có lợi thế so sánh đối với mặt hàng

có mức bất lợi nhỏ hơn Một cách khái quát, lợi thế so sánh là lợi thế mà mộtquốc gia có được khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thểhiện tương quan thuận lợi hơn những mặt hàng khác xét trong mối quan hệvới quốc gia bạn hàng và nhập khẩu những mặt hàng có đặc điểm ngược lại

Cụ thể là, một quốc gia thuận lợi (có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất cảhai mặt hàng sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có mức độthuận lợi lớn hơn Ngược lại, một quốc gia bất lợi (không có lợi thế tuyệt đối)trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuấtkhẩu mặt hàng có độ bất lợi nhỏ hơn

b Mô hình đơn giản của Ricardo về lợi thế so sánh

Trang 21

Trở lại mô hình thương mại giữa ấn Độ và Việt Nam ở phần trước vớicác giả thiết cơ bản của mô hình vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên, thời gianlao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải có sự khác biệt theoBảng dưới đây:

Bảng 2.4 Chi phí sản xuất vải và thép của ấn Độ và Việt Nam

Các số liệu cho thấy, ấn Độ cần ít thời gian lao động hơn so với ViệtNam để sản xuất ra cả hai mặt hàng, nhưng điều này không cản trở quan hệtrao đổi thương mại có lợi cho cả hai nước Cụ thể là, tỷ lệ về chi phí lao động

để sản xuất thép ở ấn Độ so với Việt Nam chỉ bằng 1/6, trong khi đó tỷ lệtương ứng đối với sản xuất vải là 5/6 Điều đó chứng tỏ : ấn Độ có lợi thếtuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng mức độ thuận lợi về sản xuất thép lớnhơn mức độ thuận lợi về sản xuất vải nên nước này có lợi thế so sánh về mặthàng thép Với cách lập luận tương tự, Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả haimặt hàng, nhưng do mức độ bất lợi về sản xuất vải nhỏ hơn mức độ bất lợi vềsản xuất thép nên Việt Nam có lợi thế so sánh về vải

Lợi thế so sánh của mỗi nước có thể được xác định thông qua so sánhcác mức giá cả tương quan của thép và vải Giá cả tương quan giữa hai mặthàng là giá cả của một mặt hàng tính bằng số lượng mặt hàng kia Trong môhình Ricardo giá cả tương quan được tính thông qua yếu tố trung gian là chiphí lao động Trên cơ sở các số liệu trong bảng trên có thể tính được các mứcgiá tương quan của thép và vải như trong bảng dưới đây Giá tương quan củathép và vải ở ấn Độ và Việt Nam tương ứng là:

1 thép = 0,4 vải và 1 thép = 2 vải

Trang 22

so sánh về mặt hàng vải Nếu mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàntrong việc sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và sau đó trao đổivới nhau thì cả hai đều trở nên sung túc hơn.

Thực vậy, nếu Ấn Độ chuyển 5 giờ công lao động từ ngành vải sangsản xuất thép thì sẽ có 2,5 đơn vị thép được làm ra và khi bán 2,5 đơn vị thépnày sang Việt Nam với mức giá quốc tế là 1 thép = 1 vải thì ấn Độ sẽ thu về2,5 đơn vị vải, nhiều hơn 1,5 đơn vị vải so với trường hợp tự cung tự cấp.Tương tự, nếu Việt Nam dùng 12 giờ công lao động để sản xuất 2 đơn vị vảithay vì sản xuất 2 đơn vị thép và bán sang ấn Độ đổi lấy 2 đơn vị thép thì ViệtNam sẽ có lợi 1 đơn vị thép

Từ ví dụ đơn giản trên, có thể phát biểu quy luật lợi thế so sánh như

sau: "Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một

cách tương đối so với quốc gia kia Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất ra với hiệu quả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia."

Như vậy, các giả thiết làm cơ sở cho lý thuyết về lợi thế so sánh khôngthực tiễn trong hầu hết các ngành như giả thiết về công nghệ đồng nhất giữa

Trang 23

các quốc gia, không có lợi thế kinh tế theo quy mô, các yếu tố sản xuất khôngdịch chuyển giữa các quốc gia Với lý thuyết về lợi thế so sánh, mậu dịch và

sự chuyên môn hoá dựa vào nguồn lực (lao động, vốn, tài nguyên) giúp chomột quốc gia đạt được sự thịnh vượng Trong một thế giới mà thị trường phânkhúc, có sự khác biệt sản phẩm, khác biệt về công nghệ, hàng rào bảo hộ ngàycàng tăng, dường như lý thuyết lợi thế so sánh không đủ để giải thích tại saocác công ty lại thành công trên thị trường thế giới và đạt được mức tăngtrưởng cao Khi đó,người ta dùng lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Lý thuyếtlợi thế cạnh tranh đề cập đến một cách tiếp cận mới nhằm để trả lời nhữngcâu hỏi sau: Tại sao một số doanh nghiệp cạnh tranh thành công trong khi một

số doanh nghiệp khác thì thất bại trong một ngành? Chính phủ cần phải làm gì

để cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế?

2.1.2 Những đặc điểm chung về các sản phẩm đồ gỗ

2.1.2.1 Khái niệm

Có những khái niệm khác nhau về sản phẩm đồ gỗ như:

- Sản phẩm đồ gỗ là sản phẩm không thể thiếu trong các hộ gia đình donhững người thợ thủ công bằng đôi tay khéo léo của mình tạo ra

- Sản phẩm đồ gỗ là những sản phẩm do bàn tay con người tạo ra đểphục vụ nhu cầu của mình

- Sản phẩm đồ gỗ là những sản phẩm được con người dùng gỗ tự nhiên

để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người

Đến nay chưa có một khái niệm chính thức nào về sản phẩm đồ gỗ màchỉ do quan niệm của từng người về sản phẩm đồ gỗ và các khái niệm trênđây đều không hoàn toàn chính xác nhưng đây là những khái niệm hợp lý và

có tính phổ thông nhất được nhiều người chấp nhận

Trang 24

2.1.2.2 Đặc điểm và phân loại sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ

Sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ là dựa vào tay nghề của người thợ làchính Tuy nhiên trong những năm trở lại đây thì máy móc đang thay thế dầnngười thợ ở những khâu làm thô sản phẩm

Nguyên liệu để sản xuất là gỗ Có rất nhiều loại gỗ khác nhau đượcdùng làm nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm ở đây nhưng chủ yếu làngnghề sử dụng các loại gỗ như là: gỗ trắc, gỗ xưa, gỗ mun, gỗ hương

Mẫu mã sản phẩm thường là dựa vào những mẫu mã truyền thống là chủyếu Các cơ sở sản xuất có thể nhận các đơn đặt hàng có mẫu vẽ hoặc kháchhàng có thể phác thảo ý tưởng của mình các cơ sở có thể cử người vẽ mẫu nếukhách hàng thấy hợp lý thì hàng được sản xuất Đây là mặt mạnh tại làng nghềĐồng Kỵ và là một hướng đi đúng đắn để đa dạng hóa sản phẩm cũng như mẫu

mã của sản phẩm ngày càng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng

Sau khi sản xuất song hàng mẫu thì không thể mang hàng mẫu đi tiếpthị được vì chi phí vận chuyển cao Thế nên việc tiếp thị phụ thuộc hoàn toànvào các loại ảnh chụp và các cửa hàng giới thiệu sản phẩm

Tuy bảo quản sản phẩm không quá khắt khe nhưng đây cũng là mộtvấn đề khá phức tạp và các cơ sở sản xuất gặp rất nhiều khó khăn vì chi phímặt bằng rất lớn

Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia các sản phẩm của đồ gỗ như sau:

- Đồ gỗ dùng cho phòng thờ gồm có: Tủ thờ, bàn thờ, sập thờ

- Đồ gỗ dùng cho phòng ngủ gồm có: Giường ngủ, bàn phấn, tủ đựngquần áo

- Đồ gỗ dùng cho phòng khách gồm có: Bộ bàn ghế phòng khách, tủbày rượu, tủ phòng khách, bình phong, gương treo tường, kệ vô tuyến, đồng

Trang 25

hồ, sập, tủ chè

- Đồ gỗ dùng cho phòng ăn gồm có: Bàn phòng ăn, ghế phòng ăn

- Đồ gỗ khác gồm có: Tranh treo tường, tượng gỗ, đôn góc, bàn làm việc…

Làng nghề phát triển là một bộ phận cấu thành của sự phát triển kinh tế

Trang 26

ở nông thôn, là một trong số giải pháp làm chuyển dịch cơ cấu và làm cân đốinền kinh tế ở nông thôn theo hướng CNH-HĐH.

Khi nghiên cứu về làng nghề, một số nhà kinh tế cho rằng: việc pháttriển làng nghề là một nội dung quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH nôngnghiệp, nông thôn Nó không chỉ là việc của bản thân các làng nghề mà là sựnghiệp chung cho con người hiện đại hóa đất nước

Việc khôi phục và phát triển các làng nghề hiện nay cần phải có cuộcđiều tra, khảo sát về hiện trạng và tiềm năng của các làng nghề trong cả nước,trên cơ sở đó mới tìm ra các giải pháp hữu hiệu

Làng nghề mới được hỡnh thành do yêu cầu của phát triển kinh tếnhằm nâng cao đời sống người dân, trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sảnxuất của địa phương nhất là nguồn lao động [23]

* Theo chủng loại sản phẩm

Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng: làng gốm Phù Lãng, làng gỗ Đồng Kỵ Làng nghề sản xuất ra nguyên liệu cho công nghiệp: làng rèn sắt Đa Hội, Làng nghề chế biến nông lâm sản: láng rượu Vân, tương Bần, kẹo La

Trang 27

Phù, Hiện nay các làng nghề này đang gặp khó khăn về đầu tư cơ sở vật chất kỹthuật, vấn đề đảm bảo nguyên liệu sạch cho sản xuất, công nghệ bảo quản lâudài, việc dùng hóa chất đúng quy định, cũng là vấn đề nan giải cần giải quyết.

2.1.3.2 Đặc điểm phát triển các làng nghề

- Đặc điểm về sản phẩm: sản phẩm thường mang tính chất thủ công, cónét đặc sắc riêng mà các sản phẩm khác không thể có về giá trị nhân văn cao(bí quyết nhà nghề) và bản sắc dân tộc Sản phẩm mang tính chất truyền thống

từ đời này sang đời khác Hình thức sản phẩm đẹp, chất lượng tốt hơn các nơikhác cùng sản xuất ra loại sản phẩm đó Chính đặc điểm này đã giúp sảnphẩm của các làng nghề tồn tại, phát triển lâu dài và đứng vững trong nềnkinh tế thị trường hiện nay

- Đặc điểm về kỹ thuật: Công cụ và công nghệ mang tính chất tiểu thủcông, quy trình sản xuất được truyền lại dưới dạng kinh nghiệm, hao tốnnhiều lao động, chủ yếu lao động đơn giản và bàn tay khéo léo của nghệ nhânqua kinh nghiệm lâu đời Tuy cùng một loại sản phẩm nhưng ở mỗi địaphương, thậm chí mỗi nghệ nhân lại tạo ra sản phẩm có nét độc đáo riêng.Trong vài năm gần đây, sự phát triển của công nghiệp đã cơ giới hóa đượcmột số khâu của quá trình sản xuất ngoài những khâu cần bàn tay khéo léocủa nghệ nhân Máy móc đã thay thế sức người làm cho năng xuất lao độngtăng cao, giá thành sản phẩm hạ Đó là sự vận dụng kết hợp giữa kỹ thuậttruyền thống và công nghệ hiện đại

- Đặc điểm về nguyên liệu: nguyên liệu phục vụ cho sản xuất ở cáclàng nghề thường không có sẵn mà hầu hết phải đi mua từ bên ngoài Trongnhững năm gần đây, nhờ hệ thống giao thông phát triển và cơ chế quản lý thị

Trang 28

trường hợp lý, thông thoáng nên việc cung ứng nguyên liệu, vật liệu trở nênkịp thời, linh hoạt, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Khi quy mô của sảnxuất được mở rộng, nguyên liệu sẽ trở nên khan hiếm đòi hỏi sử dụng phảihợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.

- Đặc điểm về lao động: lao động chủ yếu là lao động trong gia đình,bao gồm cả người trong độ tuổi và ngoài độ tuổi lao động Lao động chủ yếu

là không được đào tạo kỹ thuật qua trường lớp mà thường vừa học vừa làm.Người học nghề phải tự quan sát học hỏi kết hợp với bác thợ cả hay nghệnhân dạy bảo qua hình thức truyền miệng

- Đặc điểm về tổ chức sản xuất: chủ yếu là sản xuất nhỏ theo quy mô

hộ gia đình, HTX thủ công Ngoài ra còn một số hình thức khác như công tyTNHH, doanh nghiệp tư nhân,

- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm: thị trường tiêu thụ lớn, đadạng, có khuynh hướng cho xuất khẩu, giá bán cao do sản phẩm tinh xảo đápứng được thị hiếu của khách hàng Nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta

mở rộng giao lưu với nhiều nước trên thế giới nên sản phẩm làng nghề càng

có điều kiện xuất hiện ở thị trường ngoài nước Song thị trường nước ngoàiyêu cầu rất khắt khe về chủng loại, mẫu mã và chất lượng sản phẩm nên sảnphẩm làng nghề cần được quan tâm đầu tư cao hơn nữa

2.1.3.3 Vai trò của làng nghề trong phát triển nông thôn

- Tạo việc làm cho người lao động

Người nông dân sản xuất nông nghiệp thường theo mùa vụ, nên thờigian sản xuất thường kéo dài hơn thời gian thật sự lao động Do đó, trong sảnxuất nông nghiệp có những lúc nhàn rỗi, dư thừa lao động Khi sản xuất các

Trang 29

sản phẩm của làng nghề sẽ tạo cho người lao động có việc làm trong thờiđiểm này Từ đó lao động được sử dụng triệt để hơn trong gia đình Cónhững làng nghề thu hút trên 60% lực lượng lao động ở nông thôn tham giavào hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp Nhờ đó, tỷ lệ thời gian làm việcđược sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn đạt khoảng80% Đặc biệt một số làng nghề truyền thống còn sử dụng được lao động già

cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận

- Tăng thu nhập cho hộ gia đình

Ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình tham gia sảnxuất các sản phẩm làng nghề sẽ có thêm nguồn thu cho hộ Chính vì vậy pháttriển làng nghề sẽ tăng thu nhập cho hộ Từ đó tăng mức sống cho người dânnông thôn Theo Ông Vũ Quốc Tuấn chủ tịch hiệp hội làng nghề Việt Nam thìthu nhập của người lao động hưởng lương ở các làng nghề hiện phổ biếnkhoảng 600.000đ đến 1.500.000đ/ tháng, cao hơn nhiều so với thu nhập từ sảnxuất thuần nông.[34]

- Khai thác vốn kỹ thuật của dân

Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đã tận dụng một cáchtriệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của hộ Tạo việc làm cho tất cảmọi thành viên trong gia đình các lao động chính thì trực tiếp sản xuất, cáclao động phụ thì có thể làm các công đoạn bổ trợ cho sản xuất Nhờ có pháttriển ngành nghề truyền thống mà các quy trình sản xuất của ông cha từ xưa

để lại không bị mai một mà ngày càng được cải tiến phong phú hơn đáp ứngnhu cầu của thị trường

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn ngày càng hợp lýhơn

Kinh tế nông thôn cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp, chiếm khoảng trên70% Đa số là các hộ thuần nông, bên cạnh đó là có một số hộ kiêm ngành

Trang 30

nghề và một số ít hộ làm dịch vụ Theo đường lối của Đảng, phát triển làngnghề sẽ tận dụng được nguồn nguyên liệu là sản phẩm của ngành nông nghiệphoặc công cụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, làm tăng khả năng tích lũyvốn và kỹ thuật, hỗ trợ cho nông nghiệp, công nghiệp và các loại hình dịch vụkhác ở nông thôn phát triển Làng nghề phát triển sẽ trở thành trung tâm kinh

tế của địa phương, của vùng

Tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để nông thôn ly nông nhưngkhông ly hương và làm giầu trên quê hương mình, làm giảm bớt làn sóng nôngdân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo hàng loạt hệ quả nặng nề

- Thay đổi tập quán tư duy sản xuất

Khi người dân làng nghề tham gia sản xuất, sản phẩm của họ làm ra làsản phẩm hàng hóa nên họ phải chủ động trong mọi khâu của quá trình sảnxuất, đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa Họ không còn tư tưởng sản xuất tựcung tự cấp của người nông dân Bởi vậy, mà người dân các làng nghề trở nênnăng động hơn, linh hoạt hơn trong việc bố trí sản xuất

- Tăng đóng góp cho ngân sách địa phương

Phát triển sản xuất ngoài tăng thu nhập cho chính hộ gia đình còn tăngthêm thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóngthuế, giải quyết việc làm, du lịch làng nghề

- Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc

Vì làng nghề cổ truyền tạo nên những sản phẩm truyền thống với trình

độ kỹ, mỹ thuật cao, kết tinh tài hoa của các nghệ nhân qua nhiều thế hệ,nhiều sản phẩm không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn phản ánh một cáchsinh động lối sống và ước vọng của người lao động, thấm đẫm tâm hồn ngườiViệt và được truyền từ đời này sang đời khác

2.2 Cơ sở thực tiễn

Trang 31

2.2.1 Tình hình phát triển nghề thủ công công nghiệp trên thế giới

Trên thế giới có rất nhiều nước có bề dày phát triển nghề thủ công nhưNhật Bản, Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan…

- Nhật Bản: là một nước giàu truyền thống và là một nước có cùng

dòng máu da vàng như chúng ta Tuy công nghiệp hoá diễn ra nhanh và mạnhsong làng nghề vẫn tồn tại, các nghề thủ công truyền thống vẫn phát triển Họkhông những duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ramột số nghề mới Đồng thời Nhật Bản rất chú trọng đến việc hình thành các

xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn ở đôthị

Ngành nghề tiểu thủ công truyền thống của họ bao gồm: Chế biếnlương thực, thực phẩm, đan nát, dệt chiếu, dệt lụa…Đầu thế kỷ XX, NhậtBản có 867 nghề thủ công truyền thống vẫn còn hoạt động Năm 1992 đã có

2640 lượt người của 62 nước trong đó có Trung Quốc, Anh, Pháp… tới thămcác làng nghề truyền thống của Nhật Trong đó đáng chú ý, vào những năm

70 ở tỉnh Ôita (miền Tây nam Nhật Bản) đã có phong trào “mỗi thôn làng mộtsản phẩm” nhằm phát triển làng nghề cổ truyền trong nông thôn, do đích thânông tỉnh trưởng phát động và tổ chức Kết quả cho thấy, ngay những năm đầutiên họ đã sản xuất được 143 loại sản phẩm, thu được 1,2 tỷ USD trong đó

114 triệu USD thu từ bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Phong trào “mỗithôn làng một sản phẩm” đã nhanh chóng lan rộng khắp nước Nhật

Đi đôi với với việc phát triển ngành nghề cổ truyền, Nhật Bản cònnghiên cứu các chủ trương chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập nhiềuvăn phòng cố vấn khác Nhờ đó các hoạt động phi nông nghiệp được pháttriển mạnh mẽ; thu nhập ngoài nông nghiệp chiếm 85% tổng thu nhập của hộ

Trang 32

Năm 1993 nghề thủ công và làng nghề đã đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ USD.[13]

- Trung Quốc: là một nước có truyền thống lâu đời hành nghìn năm với

các sản phẩm thủ công nghiệp nổi tiếng như gốm sứ, tơ lụa, luyện kim, làmgiấy… Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã có khoảng 10 triệu thợ thủ côngchuyên nghiệp và không chuyên làm việc trong các hộ gia đình, trong cácphường nghề và làng nghề Về sau là các xí nghiệp Hương Trấn rất phát triểnlàm thay đổi rất lớn bộ mặt nông thôn Trung Quốc

Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công,thương, xây dựng,… hoạt động ở khu vực nông thôn Nó bắt đầu xuất hiệnvào năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Xí nghiệpHương Trấn phát triển mạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộmặt nông thôn Những năm 80, các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triểnnhanh, đóng góp tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệpnông thôn và trong số 32% sản lượng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp

cá thể tạo ra có phần đóng góp đáng kể từ làng nghề.[14]

- Hàn Quốc: sau khi kết thúc chiến tranh, Chính phủ Hàn Quốc đã thực

hiện chiến lược phát triển công nghiệp hoá nông thôn, đây là chiến lược quantrọng để phát triển các ngành thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống.Các mặt hàng được tập trung sản xuất chủ yếu ở đây là các hàng thủ công mỹnghệ phục vụ nhu cầu du lịch và xuất khẩu, chế biến lương thực thực phẩmtheo công nghệ cổ truyền

Chiến lược phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thônđược tiến hành bắt đầu từ năm 1997 Các nghề này được tập trung sử dụngcác lao động thủ công, công nghệ đơn giản và sử dụng nhiều nguồn nguyên

Trang 33

liệu sẵn có ở địa phương, sản xuất quy mô nhỏ với vốn đầu tư không nhiều và

dễ dàng tiêu thụ sản phẩm

Các ngành nghề thủ công ngày càng phát triển rộng khắp trên đất nướcHàn Quốc, vào những thập kỷ 80 đã có tới hàng nghìn xưởng thủ công dântộc, chiếm 2,9% xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút khoảng 23 nghìn lao động theohình thức sản xuất tại gia đình là chính với 79,4% là dựa vào hộ gia đìnhriêng biệt và sử dụng nguyên liệu địa phương, bí quyết truyền thống

- Thái Lan: là nước có nhiều ngành nghề thủ công nghiệp và làng nghề

truyền thống Chủ yếu là chế tác vàng, bạc, đá quý, đồ trang sức với các nghệnhân tài hoa, công nghệ và kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm làm ra đạt chấtlượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường Nghề gốm sứ cổ truyền ởChiềng Mai đang được xây dựng thành trung tâm gốc quốc gia Hiện tại cókhoảng 95% hàng hoá xuất khẩu của Thái Lan là đồ dùng trang trí nội thất vàquà lưu niệm Đến nay nghề chế tác gỗ, ngọc vẫn tiếp tục phát triển khá tốt,tạo ra thu nhập cao cho dân cư nông thôn

- Ấn Độ: là nước có nền văn hoá, văn minh lâu đời được thể hiện rõ

trên các sản phẩm thủ công truyền thống Bên cạnh nghề nông, hàng triệungười dân sinh sống bằng các nghề tiểu thủ công nghiệp với doanh thu hàngnăm khoảng 1000 tỷ rupi Nông thôn ấn Độ trong thời kỳ công nghiệp hoá cónhiều cơ sở công nghiệp mới, công nghiệp sản xuất công cụ cải tiến, côngnghiệp cơ khí chế tạo và công nghiệp chế biến được phát triển Đồng thời cácngành công nghiệp cổ truyền và tiểu thủ công nghiệp cũng rất phát triển Vàonhững năm 1980 lực lượng thợ thủ công hoạt động trong các làng nghề là 4 –

5 triệu người chuyên nghiệp, chưa kể hàng chục triệu nông dân làm nghề phụ,

có những nghề sản xuất ra hàng tiêu dùng thủ công mỹ nghệ cao cấp như kimhoàn vàng, bạc, ngọc ngà, đồ mỹ nghệ…[14]

Trang 34

- Philippin: Là một nước thuộc vùng Đông Nam á như chúng ta, ngay

từ đầu chính phủ của họ đã quan tâm đến công nghiệp hoá nông nghiệp, nôngthôn trên cơ sở phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệpnông thôn Từ những năm 1978-1982, Chính phủ đã đề ra chương trình và

dự án phát triển công nghiệp nông thôn, mà trước hết tập trung vào ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản, chế biến thựcphẩm và chế tạo công nghiệp Chương trình của Chính phủ chủ yếu tậptrung giúp tiểu thủ công nghiệp về tài chính, công nghệ và tiếp thị Cụ thể làmiễn thuế cho các xí nghiệp có quy mô dưới 20 lao động và ưu tiên vốn tíndụng với lãi suất thấp cho xí nghiệp nhỏ để hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật côngnghệ và thông tin thị trường giá cả

* Kinh nghiệm phát triển tiểu thủ công nghiệp từ các nước trên thế giới

Từ sự phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của một số nướctrên thế giới chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm phát triển cho mình:

Muốn phát triển tiểu thủ công nghiệp trước hết phải chú ý phát triển cáclàng nghề và nhất là làng nghề truyền thống Làng nghề phát triển sẽ có điềukiện sản xuất ra các sản phẩm thủ công truyền thống có giá trị kinh tế và vănhoá cao Từ đó tạo thị trường rộng lớn ở vùng nông thôn cho các sản phẩmphi nông nghiệp và dịch vụ, góp phần thúc đẩy làng nghề phát triển theohướng CNH-HĐH Để tăng năng suất lao động và giảm lao động nặng nhọc,nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đã trang bị một số máy móc thiết bị

cơ khí và nửa cơ khí, cùng với việc kết hợp bàn tay khéo léo và óc sáng tạocủa các nghệ nhân làng nghề cho ra các sản phẩm có chất lượng và giá trị cao

Các Nước đều phải sử dụng triệt để các phương pháp huấn luyện taynghề cho người lao động Đó là dạy nghề và bồi dưỡng tay nghề tại chỗ, bồi

Trang 35

dưỡng ngắn hạn, theo phương châm thiếu gì bổ sung tới đó Và các nước nàycũng rất chú ý đến kinh nghiệm thực tiễn, mới các nhà sản xuất kinh doanh cótiếng, có nhiều thành công trong lĩnh vực công nghiệp hoá nông thôn để tổchức các buổi nói chuyện chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm hoặc mang các sảnphẩm triển lãm…Đồng thời, có nước họ còn tiến hành lập ra các trung tâmnghiên cứu và đào tạo nghề một cách có hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặcđịa phương có nhu cầu.

Chính sách của nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc khuyếnkhích, hỗ trợ cho các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển Bằng cácchính sách tín dụng trong nông thôn, chính sách thuế và thị trường phù hợpcho các cơ sở sản xuất trong các làng nghề truyền thống có điều kiện mởrộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năngcạnh tranh trên thị trường

Một số nước có nền công nghiệp phát triển còn có sự kết hợp giữađại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, giữa trung tâm công nghiệp vớilàng nghề truyền thống Sự kết hợp này thể hiện sự phân công lao động,

có sự hỗ trợ lẫn nhau nhất là trong vấn đề lựa chọn cách thức sản xuất vàquy trình kĩ thuật

2.2.2 Tình hình phát triển ngành nghề thủ công nghiệp ở Việt Nam

Ngành nghề thủ công nghiệp ở nước ta xuất hiện từ rất lâu đời Thời kỳBắc thuộc, ngoài sản xuất nông nghiệp đã có sản xuất các công cụ vận dụngbằng sắt, gỗ, đồng, gốm… Dưới thời Ngô đô hộ, hàng nghìn thợ thủ côngViệt Nam bị bắt đưa sang Trung Quốc xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp

Thời Lý - Trần (thế kỷ X - XIV) ngoài việc phát triển nông nghiệp nhưkhai hoang vùng ven biển, củng cố đê điều thì tiểu thủ công nghiệp và thươngnghiệp cũng được triều đình chú trọng phát triển Nổi lên là nghề dệt Thăng

Trang 36

Long, gốm Bát Tràng, đúc đồng Đại Bái, khắc gỗ Đồng Kỵ…

Thời kỳ hậu Lê, nông nghiệp phục hồi và có điều kiện để phát triển nghềtiểu thủ công nghiệp Riêng ở vùng đồng bằng sông Hồng có hàng trăm nghềnhư dệt Hà Đông, chế tác vàng bạc Châu Khê - Hải Dương, sắt Đa Hội - BắcNinh… Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) các ngành nghề phát triển phong phúhơn, các sản phẩm góm, tơ lụa không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước

mà còn đem ra nước ngoài như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Trung Quốc…[13]

Thời kỳ Pháp thuộc, nhiều sản phẩm công nghiệp từ nước ngoài trànvào Việt Nam cạnh tranh và chiếm hữu thị trường trong nước làm cho một sốnghề thủ công truyền thống bị mai một Tuy nhiên, một số ngành nghề kháclại kích thích phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện tại và du nhậpthêm một số nghề mới từ Pháp và một số nước khác vào Việt Nam

Giai đoạn từ hoà bình lập lại đến trước những năm 1986, các ngànhnghề được chú trọng phát triển và sản phẩm được du nhập sang thị trườngĐông Âu Các hộ làm nghề tiểu thủ công nghiệp được vận động và các tổ hợptác, hợp tác xã Đồng thời để hỗ trợ cho ngành nghề phát triển, nhà nước cònhình thành các xí nghiệp công ty xuất nhập khẩu để thu mua, trao đổi hànghoá, lấy sản phẩm trong ngành nghề phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

Đầu những năm 1990, thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ biến độngnên ngành tiểu thủ công nghiệp của Việt Nam không tiêu thụ được sản phẩm,sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh phải ngừnghoạt động và đóng cửa, lao động TTCN giảm mạnh: Hà Tây năm 1988 có111.693 lao động TTCN, đến năm 1991 chỉ còn 63.313 lao động, giảm43,31% Trong thời kỳ này ở Hải Phòng, trong 6 nghề thủ công đã giảm11.000 người, ở thái Bình với nghề may tre đan sản phẩm tiêu thụ năm 1991-

1992 chỉ bằng 10-15% so với giai đoạn 1988-1989

Trang 37

Từ năm 1993 trở lại đây, đường lối đổi mới kinh tế đã đem lại nhiều kếtquả tích cực Chúng ta đã thực hiện chiến dịch mở rộng thị trường bàng tuyên

bố “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”, chính vì vật đã chuyển từthị trường các nước Đồng Âu, Liên Xô truyền thống trước đây sang các nướckhác, ưu tiên các nước trong khu vực Giai đoạn này ngành nghề TTCN lạiphục hồi, chuyển hướng và phát triển.[18]

Sau thời gian dài trì trệ trong việc sản xuất cùng với sự hụt hẫng các Công

ty, đơn vị kinh doanh tìm tòi và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, góp phầntừng bước phục hồi và phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm, tăng cườngthu hút lực lượng lao động vào làm nghề

Do thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng, đã tác động mạnh tớiviệc phát triển sản xuất của các làng nghề truyền thống, nhất là đối với cácmặt hàng thủ công mỹ nghệ, làm cho các làng nghề truyền thống của nước tadần được khôi phục và phát triển trở lại với đúng nghĩa của nó

Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu lớn các mặt hàng thủ công mỹ nghệ,sản phẩm thủ công mỹ nghệ nước ta có mặt tại 136 quốc gia và vùng lãnh thổvới kinh ngạch xuất khẩu tăng từ 20 đến 25% mỗi năm Năm 2006 kim ngạchxuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD, phấn đấu từ năm 2015 đến 2020 đạt từ 7,5 đến 8 tỷUSD/năm [17]

Hiện nay những sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã tạo đượcbước tiến đột phá thông qua giá trị xuất khẩu thu được Năm 2000 đạt hơn 0,2

tỷ USD, 2001 đạt trên 0,3 tỷ USD, 2002 đạt gần 0,4 tỷ USD, 2003 đạt 0,89 tỷUSD và năm 2005 đạt 1,9 tỷ USD Vì vậy sản phẩm lâm sản đồ gỗ trở thànhmột trong những mặt hàng xuất khẩu trọng điểm quốc gia với giá trị đạt trên 2

tỷ USD năm 2006.[15]

2.2.2.1 Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam qua một số năm [41]

Trang 38

Trong những năm qua ngành hàng gỗ và lâm sản Việt Nam nói chung

và mặt hàng gỗ nói riêng có bước tiến đáng kể trong việc xuất khẩu sản phẩm.Theo Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, xuất khẩu gỗ của chúng ta đứng vị tríthứ 4 trong số các mặt hàng xuất khẩu và ngày càng góp phần quan trọngtrong kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Bảng 2.5: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam qua một số năm

ĐVT: Triệu USDNăm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2010 dự

kiến Giá trị 311,4 343,6 460,2 608,9 1101,

7

1561, 4

1932, 8

2381, 9

5500

Nguồn: http://thongtinthuongmaivietnam.vn

Qua bảng 2.5 ta thấy năm 2000 kim ngạch xuất khẩu gỗ nước ta đạt311.4 triệu USD, năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 608,9 triệu USD, tốc độtăng trưởng bình quân trong giai đoạn này là 25,04%, nhưng kết thúc năm

2004 kim ngạch xuất khẩu của nước ta đạt 1101,7 triệu USD tăng 80,93% sovới năm 2003 Những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu gỗ vẫn tiếp tục tăngnhưng với tốc độ thấp hơn, tốc độ phát triển bình quân hàng năm là33,73%/năm tính chung cho cả giai đoạn Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu gỗ

và sản phẩm gỗ của nước ta đạt 2381,9 triệu USD, tăng hơn 7,5 lần so vớinăm 2000 và đang phấn đấu đạt 5,5 tỷ USD vào năm 2010 Điều này càngkhẳng định vai trò quan trọng của ngành hàng gỗ

2.2.2.2 Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường

Mỹ năm 2008[40]

Năm 2008, mặc dù khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng tớihoạt động nhập khẩu Nông Lâm Thủy sản nói chung của Hoa Kỳ, nhưng xuấtkhẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn thu được những

Trang 39

thắng lợi nhất định Tuy nhiên, bước sang năm 2009, dự báo xuất khẩu sảnphẩm gỗ sang Hoa Kỳ sẽ gặp khó khăn hơn nhiều so với những năm trước đây.

Theo số liệu thống kê, năm 2008, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm

gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 1,11 tỉ USD, tăng 18,87% so với năm

2007 Hiện tại, Hoa Kỳ vẫn là thị trường chủ lực cho hoạt động xuất khẩu gỗ

và sản phẩm gỗ của Việt Nam với tỷ trọng xuất khẩu chiếm khoảng % Hơn70% tỷ trọng kim ngạch XK sản phẩm gỗ vào Mỹ là đồ nội thất, ngoài ra cũn

cú đồ gỗ dùng trong xây dựng, trang trí và gỗ xẻ, gỗ tấm

Năm 2008, xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang Hoa Kỳ tiếp tục là mặt hàngđứng đầu trong các mặt hàng Nông Lâm Thủy sản xuất sang thị trường này.Với kim ngạch xuất khẩu đạt 960,2 triệu USD, tăng khoảng 22,06% so vớinăm 2007 Tuy nhiên ngoài đồ gỗ nội thất ra, xuất khẩu nhiều sản phẩm gỗkhác đang có xu thế giảm (gỗ cây giảm 88,63%, hũm gỗ, hộp kệ gỗ giảm33,62%, cỏc sản phẩm gỗ khỏc giảm 43,37%)

Nguồn: Tổng cục hải quan

Trang 40

Đồ thị 2.1: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất (HS: 9403) sang

Hoa Kỳ các tháng năm 2008 (triệu USD)

Nguồn Tổng cục Hải Quan

Đồ thị 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ

+ Năm 2009, tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giảm bởi sựsuy giảm trong xây dựng địa ốc, lãi suất thị trường dài hạn cao hơn kèm theothất nghiệp tăng Nền kinh tế tăng trưởng thấp, hoạt động kinh doanh bấtđộng sản đóng băng sẽ làm giảm nhu cầu nhập khẩu gỗ trong xây dựng và nội

Ngày đăng: 16/06/2016, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (2003) “ Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ Việt Nam”, Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Viện nghiên cứu kinh tế quản lý Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh của hànghóa dịch vụ Việt Nam
2. Trần Đình Luyện (2005) “ Văn hóa làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh – thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy” Báo cáo đề tài khoa học cấp tỉnh, Sở văn hóa thông tin tỉnh Bắc ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng nghề truyền thống tỉnh BắcNinh – thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy” "Báo cáo đề tài khoahọc cấp tỉnh
3. Bộ kế hoạch và đầu tư, Viện chiến lược phát triển (1999) Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan vềcạnh tranh công nghiệp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
4. Chu Văn Cấp (2003) “ Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước tatrong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
6. Báo cáo của UBND phường Đồng Kỵ về tình hình thực hiện kinh tế xã hội các năm 2006, 2007, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của UBND phường Đồng Kỵ về tình hình thực hiện kinh tế xãhội
7. Đảng cộng sản Việt Nam (2006) “Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X” NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ X
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
8. Nguyễn Thúy Hà (2000), “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế chủ yếu trong phát triển làng nghề truyền thống ở xã Ninh Hiệp-Gia Lâm – Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những vấn đề kinh tế chủ yếu trongphát triển làng nghề truyền thống ở xã Ninh Hiệp-Gia Lâm – Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thúy Hà
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Lịch (2005), “Chính sách cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí kinh tế, tháng 4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách cạnh tranh trong hội nhập kinh tếquốc tế”, "Tạp chí kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 2005
10. Viện sử học (2001), Lịch sử Việt Nam từ thời khởi thủy đến thế kỷ X, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ thời khởi thủy đến thế kỷ X
Tác giả: Viện sử học
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 2001
11. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), “Một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học thương mại – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnhtranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới”,"Luận án tiến sỹ kinh tế
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thanh
Năm: 2005
12. Nguyễn Văn Điệp (2007), “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”, Luận án thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốmcủa làng nghề Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”, "Luận án thạcsỹ kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Điệp
Năm: 2007
13. Trần Quang Vinh (2004), “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh sản xuất tiêu thụ các sản phẩm gỗ thủ công mỹ nghệ chủ yếu ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, Luận án thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh sản xuấttiêu thụ các sản phẩm gỗ thủ công mỹ nghệ chủ yếu ở huyện Từ Sơn,tỉnh Bắc Ninh”, "Luận án thạc sỹ kinh tế
Tác giả: Trần Quang Vinh
Năm: 2004
14. Mai Thế Hơn (1999), “Tình hình phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở một số nước châu á, những kinh nghiệm cần quan tâm đối với Việt Nam”, Những vấn đề kinh tế thế giới (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát triển làng nghề thủ công truyềnthống ở một số nước châu á, những kinh nghiệm cần quan tâm đối vớiViệt Nam”, "Những vấn đề kinh tế thế giới
Tác giả: Mai Thế Hơn
Năm: 1999
15. Hoàng Sỹ Đông (2007), “Chiến lược phát triển hàng hoá lâm sản xuất khẩu hiệu quả và bền vững”, Kinh tế và dự báo, số 2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển hàng hoá lâm sản xuấtkhẩu hiệu quả và bền vững”, "Kinh tế và dự báo
Tác giả: Hoàng Sỹ Đông
Năm: 2007
16. Nguyễn Văn Nhường (2006), “Chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo nghề phục vụ phát triển các khu công nghiệp và đô thị ở tỉnh Bắc Ninh”, Kinh tế và dự báo, số 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo nghềphục vụ phát triển các khu công nghiệp và đô thị ở tỉnh Bắc Ninh”, "Kinhtế và dự báo
Tác giả: Nguyễn Văn Nhường
Năm: 2006
17. Hà Anh (2007), “Lối ra cho phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ”, Báo nhân dân, ngày 17/06/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối ra cho phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ”, "Báonhân dân
Tác giả: Hà Anh
Năm: 2007
18. Phạm Minh Đức, Lê Thị Nghị, Nguyễn Văn Thắng (2000), “Nghiên cứu, đề xuất những giải pháp chủ yếu phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhằm nâng cao và đa dạng hoá thu nhập cho hộ gia đình ở khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng”, Báo cáo khoa học, Viện kinh tế nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu,đề xuất những giải pháp chủ yếu phát triển ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp nhằm nâng cao và đa dạng hoá thu nhập cho hộ gia đình ở khuvực nông thôn đồng bằng sông Hồng”, "Báo cáo khoa học
Tác giả: Phạm Minh Đức, Lê Thị Nghị, Nguyễn Văn Thắng
Năm: 2000
19. Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (1998), “Phương hướng giải pháp phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ CNH, HĐH Bắc Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng giải pháp pháttriển làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ CNH,HĐH Bắc Ninh
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Năm: 1998
20. Nguyễn Năng Phúc (2006), “Phân tích chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nền kinh tế thị trường”, Tạp chí kinh tế và dự báo, Số 8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chất lượng sản phẩm hàng hóatrong nền kinh tế thị trường”, "Tạp chí kinh tế và dự báo
Tác giả: Nguyễn Năng Phúc
Năm: 2006
21. Bùi Văn Vượng (2000), “Di sản thủ công mỹ nghệ Việt Nam”, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản thủ công mỹ nghệ Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXBThanh Niên
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Sản lượng vải và thép khi chưa có thương mại quốc tế - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 2.2. Sản lượng vải và thép khi chưa có thương mại quốc tế (Trang 18)
Bảng 2.3: Sản lượng vải và thép khi có thương mại quốc tế - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 2.3 Sản lượng vải và thép khi có thương mại quốc tế (Trang 19)
Bảng 2.5: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam qua một số năm - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 2.5 Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam qua một số năm (Trang 38)
Đồ thị 2.1: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất (HS: 9403) sang - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
th ị 2.1: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất (HS: 9403) sang (Trang 40)
Bảng 2.6 So sánh chất lượng/Công nghệ về Gốm theo Quốc gia - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 2.6 So sánh chất lượng/Công nghệ về Gốm theo Quốc gia (Trang 52)
Bảng 3.1 Đặc điểm đất đai của thị xã Từ Sơn (2006-2008) - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 3.1 Đặc điểm đất đai của thị xã Từ Sơn (2006-2008) (Trang 56)
Bảng 3.2  Tình hình dân số - lao động của thị xã  Từ Sơn (2006-2008) - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 3.2 Tình hình dân số - lao động của thị xã Từ Sơn (2006-2008) (Trang 59)
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của thị xã Từ Sơn (2006-2008) - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của thị xã Từ Sơn (2006-2008) (Trang 65)
Sơ đồ 3.1 Mô hình kim cương - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Sơ đồ 3.1 Mô hình kim cương (Trang 72)
Bảng 4.3: Giá trị sản xuất sản phẩm đồ gỗ tại phường - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 4.3 Giá trị sản xuất sản phẩm đồ gỗ tại phường (Trang 82)
Bảng 4.4 Tình hình cơ bản về các cơ sở và hộ sản xuất năm 2008 - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 4.4 Tình hình cơ bản về các cơ sở và hộ sản xuất năm 2008 (Trang 84)
Bảng 4.5 : Tình hình kinh tế của các cơ sở sản xuất và hộ điều tra năm - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 4.5 Tình hình kinh tế của các cơ sở sản xuất và hộ điều tra năm (Trang 87)
Bảng 4.7: Tình hình sử dụng các loại nguyên liệu gỗ chính tại các cơ sở điều tra năm 2008 (tính bình quân cho một loại hình sản xuất) - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 4.7 Tình hình sử dụng các loại nguyên liệu gỗ chính tại các cơ sở điều tra năm 2008 (tính bình quân cho một loại hình sản xuất) (Trang 90)
Bảng 4.8: Kết quả sản xuất của các  loại hình sản xuất được điều tra năm 2008 - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 4.8 Kết quả sản xuất của các loại hình sản xuất được điều tra năm 2008 (Trang 92)
Bảng 4.9 : Chi phí sản xuất đồ gỗ  của các loại hình sản xuất năm 2008 - Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh
Bảng 4.9 Chi phí sản xuất đồ gỗ của các loại hình sản xuất năm 2008 (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w