Nhìn chung những nghiên cứu ở Việt Nam đều chỉ đề cập đến hoặc tính độc lập tư pháp hoặc cơ chế bảo đảm quyền con người trong từng lĩnh vực cụ thể mà không đề cập rõ ràng tới vai trò của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THUỲ DƯƠNG
ĐỘC LẬP TƯ PHÁP
VÀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THUỲ DƯƠNG
ĐỘC LẬP TƯ PHÁP
VÀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Thái
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các luận điểm, nội dung nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình cứu nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đặng Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Tình hình nghiên cứu 2
1.4 Tính mới và những đóng góp của luận văn 3
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
2 Địa điểm và phương pháp nghiên cứu 5
2.1 Địa điểm nghiên cứu 5
2.2 Phương pháp nghiên cứu 5
3 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 1 - TƯ PHÁP VÀ ĐỘC LẬP TƯ PHÁP 7
1.1 Tư pháp 7
1.1.1 Khái niệm tư pháp 7
1.1.2 Hoạt động tư pháp 7
1.2 Độc lập tư pháp 9
1.2.1 Khái niệm độc lập tư pháp 9
1.2.2 Các tiêu chí về độc lập tư pháp 10
1.2.3 Các điều kiện bảo đảm độc lập tư pháp 31
1.3 Độc lập tư pháp và Nhà nước pháp quyền 32
Trang 5CHƯƠNG II - MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP TƯ PHÁP VÀ QUYỀN CON
NGƯỜI 35
2.1 Khái quát về quyền con người 35
2.1.1 Khái niệm và nội dung quyền con người 35
2.1.2 Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người 38
2.2 Sự cần thiết, ý nghĩa của độc lập tư pháp với việc bảo đảm quyền con người 40 2.2.1 Độc lập tư pháp giúp bảo đảm khả năng kiểm soát hành vi xâm hại quyền con người của cơ quan nhà nước 41
2.2.2 Độc lập tư pháp giúp bảo đảm khả năng thực thi công lý của hệ thống Tòa án với những vi phạm nhân quyền 43
2.2.3 Độc lập tư pháp giúp bảo đảm khả năng xét xử khách quan, vô tư của Tòa án và Thẩm phán 45
2.3 Các quyền con người có liên hệ chặt chẽ với độc lập tư pháp 46
2.3.1 Quyền có một phiên tòa độc lập, khách quan, công khai và kịp thời 46
2.3.2 Quyền có một phiên tòa công bằng 48
CHƯƠNG 3 - ĐỘC LẬP TƯ PHÁP VÀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 53
3.1 Độc lập tư pháp ở Việt Nam hiện nay 53
3.1.1 Khái quát “tư pháp” và “độc lập tư pháp” qua các bản Hiến pháp 53
3.1.2 Quan điểm về “tư pháp” ở Việt Nam hiện nay 54
3.1.3 Quan điểm về độc lập tư pháp ở Việt Nam hiện nay 55
3.1.4 Khái quát về cơ cấu tổ chức hệ thống Tòa án ở Việt Nam theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật TCTAND 2014 56
3.1.5 Thực trạng độc lập tư pháp ở Việt Nam hiện nay 58
3.1.6 Nhận xét chung 77
3.2 Thực trạng độc lập tư pháp và ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay 79
3.2.1 Kết quả đạt được 79
Trang 63.2.2 Một số hạn chế, bất cập về độc lập tư pháp và ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay 86
3.3 Một số quan điểm, giải pháp nâng cao độc lập tư pháp để bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay 93 KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ACHPR 1981 : Hiến chương quyền con người và nhân dân châu Phi 1981 ACHR : Công ước quyền con người châu Mỹ 1969
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
CCTP : Cải cách tư pháp
CHLB : Cộng hoà liên bang
CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐLTAHPLB : Đạo luật về Tòa án Hiến pháp liên bang
ECHR : Công ước quyền con người châu Âu 1950
HĐND : Hội đồng nhân dân
HĐTP : Hội đồng Thẩm phán
HRC : Uỷ ban quyền con người
IBA : Hiệp hội Luật sư thế giới
ICCPR : Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự 1966 LTTHC : Luật Tố tụng hành chính
TAHP : Tòa án Hiến pháp
TAHPLB : Tòa án Hiến pháp liên bang
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TCTAND : Tổ chức Tòa án nhân dân
UBTVQH : Uỷ ban thường vụ Quốc hội
UDHR : Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1
Bảng 3.1: So sánh tổng số vụ án hành chính mà Tòa án (cấp sơ thẩm và phúc thẩm) thụ lý và xét xử với tổng
số đơn thư khiếu nại, tố cao mà cơ quan hành chính nhà nước thụ lý, giải quyết từ năm 2011 đến năm 2014
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
1 Hình 3.1: Tỷ lệ phần trăm Thẩm phán trao đổi đường
lối giải quyết vụ án với lãnh đạo Tòa án 89
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quyền con người là một giá trị cao quý, là thành quả đấu tranh chung của toàn thể nhân loại Xây dựng một xã hội mà trong đó tất cả mọi người đều được tự do và hưởng các quyền con người một cách thực chất, đầy đủ và bình đẳng là một vấn đề cấp thiết được đặt ra đối với các quốc gia trên thế giới, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay
Chính vì vậy, vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người đã trở thành một yếu tố không thể thiếu khi hoạch định chính sách, pháp luật và quan hệ đối ngoại của các quốc gia Một trong những bảo đảm quan trọng hàng đầu là sự độc lập của tư pháp, bởi đó là điều kiện tiên quyết để giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước, từ đó nhằm đảm bảo, bảo vệ quyền con người
Vấn đề độc lập tư pháp đã được ghi nhận không chỉ trong nhiều văn kiện quốc
tế mà trong cả Hiến pháp và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Chẳng hạn,
Điều 104 Hiến pháp Ý năm 2003 quy định “Cơ quan tư pháp tự chủ và độc lập với
mọi quyền lực khác” [49, tr.9]; Điều 138 Hiến pháp An-giê-ri năm 2002 quy định
“Quyền lực tư pháp là độc lập Nó được thực thi trong khuôn khổ pháp luật” [49,
tr.9]; Điều 64 Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 2005 quy định “Tổng thống nước
Cộng hòa là nhà bảo trợ cho sự độc lập của cơ quan tư pháp” [49, tr.9]
Riêng đối với Việt Nam, nguyên tắc độc lập tư pháp không được ghi nhận một cách trực tiếp và chính thức trong Hiến pháp Việt Nam, mà thông qua một hình thức gián tiếp khác, đó là khẳng định tính độc lập của Thẩm phán trong quá trình
xét xử Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp Việt Nam khẳng định “Thẩm phán, Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [28]
Có thể khẳng định sự độc lập tư pháp ngày càng trở thành yếu tố cần thiết trong xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm, bảo vệ công lý, mà ở đó quyền con người
Trang 11khoa học, luật gia, cũng như những nhà lập pháp quan tâm và chú trọng Do đó, việc nghiên cứu độc lập tư pháp và việc bảo đảm quyền con người rất bổ ích, đặc biệt đối với Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay Sự độc lập của tư pháp chắc chắn là tiêu chí cốt lõi để Việt Nam thiết lập một nền tư pháp công bằng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người Mà thực tế hiện nay, những quy định pháp luật về cơ chế bảo đảm cho việc thực thi nguyên tắc độc lập tư pháp ở Việt Nam vẫn còn chưa hiệu quả và nhiều hạn chế
Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Độc lập tư pháp và việc bảo đảm quyền con người” làm luận văn thạc sỹ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu, đánh giá cơ chế bảo đảm tính độc lập tư pháp với việc bảo đảm quyền con người theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
b) Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thông qua phân tích đánh giá thực tiễn xác định các yếu tố cần thiết nhằm nâng cao tính độc lập tư pháp nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay
1.3 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến vấn đề độc lập tư pháp và quyền con người cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều bài viết về các đề tài này, như:
(i) Luận án tiến sỹ của Tô Văn Hòa, Tính độc lập của Tòa án – Nghiên cứu
pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội, 2007
(ii) Bài viết “Những bảo đảm cho nguyên tắc Tòa án độc lập xét xử có hiệu lực thực tế” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số
19 năm 2007; và “Quyền tư pháp trong mối quan hệ với các quyền lập pháp, hành pháp theo nguyên tắc phân chia quyền lực” đăng trên Tạp chí Luật học số 25 năm
2009
Trang 12(iii) Luận án tiến sỹ của TS Lưu Tiến Dũng, Những vấn đề về độc lập xét xử
trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta tại Học viện Khoa học xã
hội, 2011
(iv) Luận văn Thạc sỹ Luật của Ngô Thị Thanh, Bảo đảm quyền con người
trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, bảo vệ tại Khoa Luật năm 2013
(v) Luận văn Thạc sỹ Luật của Trần Quang Trung, Bảo đảm quyền con người
trong việc thu hồi đất: qua thực tiễn ở tỉnh Quảng Bình, bảo vệ tại Khoa Luật năm
2013
Có thể nói vấn đề độc lập tư pháp không còn là điều mới mẻ trên thế giới và điều này được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều quốc gia, tuy nhiên vấn đề độc lập tư pháp mới được đặt ra trong những năm gần đây ở Việt Nam Nhìn chung những nghiên cứu ở Việt Nam đều chỉ đề cập đến hoặc tính độc lập tư pháp hoặc cơ chế bảo đảm quyền con người trong từng lĩnh vực cụ thể mà không đề cập rõ ràng tới vai trò của độc lập tư pháp trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người; cũng như chưa đề cập đến quy định của pháp luật quốc tế về những điều kiện bảo đảm sự độc lập tư pháp một cách toàn diện và hệ thống
1.4 Tính mới và những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống về tính độc lập tư pháp gắn với việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:
- Làm rõ được vai trò của độc lập tư pháp trong việc bảo đảm quyền con người
và mối liên hệ giữa quyền con người với độc lập tư pháp;
- Chỉ ra được những tiêu chí đảm bảo tính độc lập tư pháp theo quy định của pháp luật quốc tế, cụ thể là Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Bộ luật tiêu chuẩn tối thiểu về độc lập tư pháp của Hiệp hội Luật sư thế giới 1982, Tuyên bố quốc tế Montreal về độc lập tư pháp 1983, Các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về độc lập tư pháp do Đại hội đồng thông qua năm 1985, Bộ nguyên tắc Bangalore về Đạo đức tư pháp 2002; và pháp luật một số nước;
Trang 13- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về độc lập tư pháp và ảnh hưởng đến việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 (có hiệu lực từ ngày 01-6-2015, sau đây gọi tắt là “Luật TCTAND”)
- Chỉ ra những yếu tố cần thiết để nâng cao tính độc lập tư pháp nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam
Với những điểm mới nêu trên, Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp; hỗ trợ có hiệu quả trong công tác thực tiễn của tác giả cũng như các cán bộ làm công tác xét xử tại Toà án nhân dân
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
- Vai trò của độc lập tư pháp trong việc bảo đảm quyền con người;
- Tiêu chí đảm bảo tính độc lập tư pháp theo quy định một số văn kiện quốc tế
và pháp luật một số quốc gia;
- Quy định của pháp luật Việt Nam về tính độc lập tư pháp;
- Thực trạng độc lập tư pháp và ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người
ở Việt Nam hiện nay
2013 và những bản Hiến pháp trước (Hiến pháp 1946, 1960, 1980, 1992 (sửa đổi 2001)); giữa Luật TCTAND 2014 và Luật TCTAND 2002 về cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án
Đề tài chỉ tập trung, nhấn mạnh vào những vấn đề sau:
Trang 14(i) Phân tích, đánh giá những quy định về độc lập tư pháp của một số văn kiện pháp luật quốc tế căn bản nhất, không phân tích toàn bộ nội dung của văn kiện đó (ii) Phân tích, đánh giá việc bảo đảm độc lập tư pháp của một số quốc gia trên
cơ sở quy định của pháp luật quốc gia đó, không phân tích thực trạng thực thi (iii) Đánh giá vai trò của độc lập tư pháp với việc bảo đảm quyền con người và chỉ ra mối liên hệ giữa quyền con người với độc lập tư pháp
(iv) Thực trạng độc lập tư pháp và ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Do Luật TCTAND 2014 vừa mới có hiệu lực, nên chưa thể đánh giá được tính hiệu quả của Luật trong việc áp dụng vào thực tế Ngoài ra, Luật TCTAND mới ra đời được hơn một năm nên pháp luật về tố tụng trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, vẫn chưa được sửa đổi cho phù hợp Do đó, không thể đánh giá thực trạng thực thi sự độc lập của tư pháp và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay Mà chỉ có thể phân tích, đánh giá dựa trên những quy định pháp luật hiện hành, cụ thể là trên hai văn bản chủ đạo là Hiến pháp 2013 và Luật TCTAND 2014
2 Địa điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Do tính chất và phạm vi nghiên cứu nên đề tài được thực hiện tại Hà Nội trên
cơ sở thu thập tài liệu trong nước và nước ngoài ở thư viện, trên sách báo và trên trang điện tử
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn
Trang 153 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tư pháp và độc lập tư pháp
Chương 2: Mối quan hệ giữa độc lập tư pháp và quyền con người
Chương 3: Độc lập tư pháp và việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện
nay
Trang 16CHƯƠNG 1 - TƯ PHÁP VÀ ĐỘC LẬP TƯ PHÁP 1.1 Tư pháp
1.1.1 Khái niệm tư pháp
Trong từ điển Black Law, tái bản lần thứ 6, tư pháp được định nghĩa là “một nhánh của chính quyền được trao quyền tư pháp; hệ thống Tòa án trong một quốc gia; các Thẩm phán Tư pháp là một nhánh quyền lực của nhà nước nhằm giải thích
và áp dụng pháp luật” [53]
Theo thuyết tam quyền phân lập, tư pháp là một trong ba quyền của quyền lực nhà nước: lập pháp (làm pháp luật, ban hành pháp luật); hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp (giữ gìn, bảo vệ pháp luật, xử lý các việc vi phạm pháp luật) Theo quan điểm của phương Tây, tư pháp được hiểu là xét xử - đồng nghĩa với hoạt động của Tòa án để tìm ra công lý, công bằng cho tất cả mọi người
Bên cạnh đó cũng có quan niệm tư pháp không chỉ là hoạt động xét xử của Tòa
án, mà còn bao gồm các hoạt động công tố và kiểm sát, hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra, hoạt động của các thiết chế bổ trợ tư pháp và hoạt động thi hành án
Có thể khẳng định dù tiếp cận dưới góc độ nào thì tư pháp cũng đều chỉ hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ công lý, công bằng cho tất cả mọi người
Trong phạm vi luận văn này, tư pháp được hiểu là một nhánh quyền lực của nhà nước, là hoạt động xét xử của Tòa án, có chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp trong xã hội nhằm mục đích bảo đảm quyền con người và bảo vệ pháp luật
1.1.2 Hoạt động tư pháp
Nếu quan niệm tư pháp không chỉ bao gồm chủ thể của quyền tư pháp (Tòa án),
mà còn bao gồm các chủ thể tham gia thực hiện quyền tư pháp (Viện kiểm sát/cơ quan công tố, các cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án), thì hoạt động tư pháp bao gồm một hệ thống các hoạt động: (i) hoạt động xét xử của Tòa án; (ii) hoạt động công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát/cơ quan công tố; (iii) hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra; (iv) hoạt động của các thiết chế bổ
Trang 17Nếu quan niệm tư pháp là hoạt động xét xử thì hoạt động tư pháp cũng chính là hoạt động xét xử
Mục đích của hoạt động tư pháp nhằm phục hồi các quan hệ xã hội bị xâm phạm, bảo đảm ổn định trật tự xã hội, trật tự pháp luật trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, phục vụ sự tiến bộ xã hội Một điều quan trọng hơn mà hoạt động tư pháp hướng đến chính là bảo đảm, bảo vệ quyền con người, bảo đảm công
lý được thực thi và một xã hội dân chủ, ổn định, phát triển
Như đã đề cập ở trên, trong phạm vi luận văn này, tư pháp được hiểu là một nhánh quyền lực của nhà nước, là hoạt động xét xử của Tòa án Theo đó, hoạt động
tư pháp cũng được hiểu là hoạt động xét xử của Tòa án
Hoạt động tư pháp có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động tư pháp có chức năng bảo vệ Hiến pháp và pháp luật Hoạt
động tư pháp được tiến hành trên cơ sở pháp luật, không thể vượt quá giới hạn, phạm vi luật định Do đó, thông qua hoạt động tư pháp, mục đích của quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện Khi có hành vi vi phạm pháp luật, hoạt động tư pháp sẽ khôi phục giá trị của các quy định pháp luật đó
Thứ hai, hoạt động tư pháp là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước và
công lý để đưa ra phán quyết Do đó, phán quyết của các cơ quan tư pháp được bảo đảm thi hành bởi sự cưỡng chế của cơ quan nhà nước Phán quyết của cơ quan tư pháp có hiệu lực bắt buộc, mọi chủ thể liên quan phải tôn trọng và tuân thủ phán quyết một cách nghiêm túc Không một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có quyền xét lại hoặc sửa phán quyết của cơ quan tư pháp
Thứ ba, hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử do Tòa án thực hiện và phải tuân
theo quy định của pháp luật tố tụng Theo đó, Tòa án chỉ tiến hành xét xử khi có yêu cầu hoặc khởi kiện Điều đó có nghĩa rằng, Tòa án chỉ thẩm định luật do Quốc hội/Nghị viện ban hành có hợp hiến hay không, các văn bản pháp quy của các cơ quan hành pháp có phù hợp với Hiến pháp và pháp luật hay không khi có yêu cầu hoặc có khởi kiện đến Tòa án Tòa án chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa các cơ quan nhà nước và nhân viên của các cơ quan này
Trang 18với công dân, giữa các công dân với nhau, khi tranh chấp đó được khởi kiện đến Tòa án Tòa án cũng chỉ quyết định rằng việc bắt, tạm giam một người là đúng hay không đúng pháp luật khi người đó khiếu nại đến Tòa án Tóm lại, Tòa án chỉ thực hiện quyền lực tư pháp khi được yêu cầu Tòa án không bao giờ tự mình thẩm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản luật và dưới luật; Tòa án không tự mình kiểm tra rồi phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp của hành vi và quyết định của các cơ quan công quyền [3, tr.360]
Thứ tư, hoạt động tư pháp là hoạt động giải thích pháp luật trong phạm vi giải
quyết vụ án cụ thể chứ không vượt quá giới hạn này Các quy phạm pháp luật có tính khái quát cao nên không phải lúc nào cũng có tính rõ ràng, do vậy trong từng
vụ án cụ thể mà người đưa ra phán quyết có trách nhiệm giải thích điều luật áp dụng Ngoài ra, quy định pháp luật không thể bao trùm hết tất cả lĩnh vực trong xã hội khi có sự kiện phát sinh Khi đó, những người tiến hành hoạt động tư pháp không thể từ chối xét xử vì lý do không có quy định pháp luật, mà phải tìm ra, viện dẫn, giải thích pháp luật dựa trên đạo luật mang tính pháp lý cao nhất, tập quán, hoặc trên nguyên tắc tổng quát nhất của pháp luật
1.2 Độc lập tư pháp
1.2.1 Khái niệm độc lập tư pháp
Tương tự như trong nhận thức về tư pháp, tuỳ theo phương pháp tiếp cận mà độc lập tư pháp cũng được hiểu và trình bày khác nhau
Với quan điểm tư pháp là một nhánh quyền lực nhà nước, độc lập tư pháp chính
là sự độc lập của nhánh quyền lực tư pháp với các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Theo đó, tư pháp không chịu sự tác động của bất kỳ nhánh quyền lực nào khác, hoặc từ một cá nhân, hay từ các nhóm lợi ích chính trị của những người cầm quyền
Nếu xét từ góc độ tư pháp chỉ hoạt động xét xử của Tòa án, độc lập tư pháp chính là sự độc lập trong xét xử, cụ thể mọi phán quyết hay quyết định của Tòa án không chịu sự ràng buộc, can thiệp hay uy hiếp từ bất kỳ một chủ thể nào thuộc cơ
Trang 19Nếu xét từ góc độ tư pháp là hoạt động của Tòa án, các cơ quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và thi hành án, độc lập tư pháp phải là sự độc lập của các cơ quan này Cũng tương tự như quan điểm về tư pháp, trong luận văn này, độc lập tư pháp chính là độc lập của Tòa án hay độc lập xét xử của Tòa án, có nghĩa là Tòa án phải độc lập về mặt thể chể và Thẩm phán
1.2.2 Các tiêu chí về độc lập tư pháp
1.1.2.1 Theo pháp luật quốc tế
a) Một số văn kiện quốc tế về độc lập tư pháp
Độc lập tư pháp được ghi nhận tại rất nhiều văn kiện quốc tế trong phạm vi khu vực cũng như toàn thế giới, có thể kể tên một số văn kiện quan trọng sau:
- Văn kiện pháp lý toàn cầu:
(i) Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền [64] (sau đây gọi là “UDHR”);
(ii) Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự (sau đây gọi là “ICCPR”) [59], Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (1966);
(iii) Bộ luật Tiêu chuẩn Tối thiểu về Độc lập Tư pháp của Hiệp hội Luật sư Thế giới năm 1982 [57] (sau đây gọi là “Bộ luật Tiêu chuẩn IBA”);
(iv) Tuyên bố Quốc tế Montreal về Độc lập Tư pháp (1983) [58] (sau đây gọi là
“Tuyên bố Montreal”);
(v) Quan điểm về tính độc lập của Tòa án của Uỷ ban quyền con người được thể hiện qua một trong số các Khuyến nghị chung của HRC về việc áp dụng Tuyên
bố toàn cầu về quyền con người - Khuyến nghị chung số 13 ban hành ngày 13 tháng
4 năm 1984 về quyền bình đẳng trước Tòa án và quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập được thành lập theo pháp luật;
(vi) Các Nguyên tắc Cơ bản của Liên hợp quốc về độc lập tư pháp 1985 [60] (sau đây gọi là “Các nguyên tắc cơ bản về độc lập tư pháp 1985”);
(vii) Điều lệ chung về Thẩm phán của Hiệp hội Thẩm phán Quốc tế (1999); (viii) Bộ nguyên tắc Bangalore về Đạo đức tư pháp [63] (sau đây gọi là “Bộ nguyên tắc Bangalore”)
- Văn kiện pháp lý trong phạm vi khu vực:
Trang 20(i) Công ước quyền con người Châu Âu 1950 [56] (sau đây gọi là “ECHR”); (ii) Công ước quyền con người Châu Mỹ 1969 [61] (sau đây gọi là “ACHR”); (iii) Hiến chương quyền con người và nhân dân Châu Phi 1981 [52] (sau đây gọi là “ACHPR 1981”);
(iv) Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập Tư pháp (1995) [41] (sau đây gọi là “Tuyên bố Bắc Kinh”); và
(v) Kiến nghị số R(94) 12 của Hội nghị Bộ trưởng các quốc gia thành viên của
Uỷ ban Châu Âu về tính độc lập, hiệu quả và vai trò của Thẩm phán
b) Tiêu chí về độc lập tư pháp theo quy định của pháp luật quốc tế
Tất cả các văn kiện quốc tế và khu vực về quyền con người đều nhằm mục đích đảm bảo rằng thủ tục tố tụng dân sự và hình sự được tiến hành một cách bình đẳng trước một Tòa án hay cơ quan xét xử độc lập và công bằng Mục đích của phần này
là chỉ ra những yếu tố tạo nên sự “độc lập” của Tòa án dưới góc nhìn của các tổ chức quốc tế Mặc dù các văn kiện quốc tế này không giải quyết được tất cả vấn đề liên quan đến việc hiểu thế nào là độc lập tư pháp, nhưng nó phần nào giúp làm sáng tỏ được những yếu tố cốt lõi cấu thành nên nguyên tắc độc lập tư pháp Và hầu hết những văn kiện pháp luật quốc tế đều đưa ra các tiêu chí về tính độc lập tư pháp
cụ thể như sau:
Thứ nhất là độc lập về mặt thể chế, nghĩa là độc lập về hành chính, tài chính,
quá trình ra quyết định, thẩm quyền xét xử, bảo đảm thủ tục tố tụng công bằng và đưa ra phán quyết có căn cứ
Thứ hai là độc lập của Thẩm phán gồm các vấn đề: bổ nhiệm, đảm bảo về
nhiệm kỳ, đảm bảo về mặt tài chính, cơ hội thăng tiến, tính tự chịu trách nhiệm, đào tạo và bồi dưỡng, quyền và nghĩa vụ tiến hành phiên toà một cách công bằng và ra bản án có lập luận
b.1) Độc lập về thể chế: có nghĩa là hệ thống Tòa án phải độc lập với các nhánh quyền lực khác như cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp Nguồn: Tuyên bố Montreal, Bộ luật tiêu chuẩn IBA, Các nguyên tắc cơ bản về độc lập tư pháp Để hệ
Trang 21lực nhà nước, thì sự độc lập của tư pháp phải được quốc gia bảo đảm và ghi nhận trong Hiến pháp hoặc thông qua các quy định khác của pháp luật [60, Điều 1] Các yếu tố bảo đảm cho sự độc lập của thể chế bao gồm: (i) độc lập về hành chính; (ii) độc lập về tài chính; (iii) độc lập về quá trình ra phán quyết; (iv) độc lập trong việc xác định thẩm quyền; (v) bảo đảm thủ tục tố tụng công bằng và ban hành quyết định có căn cứ
(i) Độc lập về hành chính: Tòa án phải được tự mình giải quyết mọi vấn đề
quản lý và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của cơ quan này, hay nói cách khác Tòa án phải có quyền quyết định những vấn đề mang tính nội bộ trong quản lý
tư pháp, ví dụ như đào tạo tư pháp, tuyển dụng nhân sự cho Tòa án, kỷ luật cán bộ
và nhân viên Tòa án, v.v mà không chịu sự tác động sai trái, trực tiếp hay gián tiếp của bất kỳ cá nhân, tổ chức, hay cơ quan nào Tiêu chí này đều được ghi nhận tại Điều 32 Bộ luật Tiêu chuẩn IBA, Điều 2.05 Tuyên bố Montreal, Điều 2 Các nguyên tắc cơ bản về độc lập tư pháp, Tuyên bố Bắc Kinh
(ii) Độc lập về tài chính: hệ thống Tòa án phải được bảo đảm có đầy đủ ngân
sách để thực hiện chức năng của mình Nếu ngân sách không đủ, hệ thống Tòa án sẽ không những không thể thực hiện chức năng của mình một cách có hiệu quả mà còn
có thể dễ dàng bị ảnh hưởng, tác động hoặc chi phối bởi những áp lực từ bên ngoài và nạn tham nhũng Do đó, Tòa án phải đóng vai trò chính trong công tác xác định nhu cầu ngân sách cho các Toà, mà không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào khác Nguồn: Điều 7 Các nguyên tắc cơ bản về độc lập tư pháp, Tuyên bố Bắc Kinh
(iii) Độc lập về quá trình ra phán quyết: Nguyên tắc này đòi hỏi không một chủ
thể nào được can thiệp vào quá trình xét xử, cũng như được xét lại các phán quyết của Tòa án Quan trọng hơn, điều này nghĩa là cơ quan hành pháp, lập pháp, cũng như các cơ quan khác như cảnh sát, trại giam, các tổ chức, cá nhân trong xã hội phải tôn trọng và tuân theo bản án và quyết định của Tòa án ngay cả khi họ không đồng
ý với bản án, quyết định đó Chỉ có các Tòa án cấp trên mới có quyền xét lại các phán quyết của Tòa án cấp dưới theo trình tự tố tụng được quy định trong pháp luật Tiêu chí này được ghi nhận tại rất nhiều văn kiện như: Điều 1.c, Điều 47, Điều 19,
Trang 22Điều 18.a Bộ luật Tiêu chuẩn IBA; Tuyên bố Montreal; Điều 4 Các nguyên tắc cơ bản về độc lập tư pháp; Tuyên bố Bắc Kinh
(iv) Độc lập về thẩm quyền: Có nghĩa là Tòa án phải có quyền tài phán với mọi
vấn đề thuộc thẩm quyền xét xử và có quyền quyết định các vụ việc được đưa ra tại Tòa án có thuộc phạm vi, chức năng của Tòa theo như quy định của pháp luật Nguồn: Bộ luật Tiêu chuẩn IBA, Tuyên bố Montreal, Điều 3 Các nguyên tắc cơ bản
về độc lập tư pháp, Điều 33Tuyên bố Bắc Kinh
(v) Tòa án phải bảo đảm thủ tục tố tụng công bằng, đưa ra phán quyết có căn
cứ và quyền của các bên được tôn trọng: Điều này liên quan đến phương thức tiến
hành tố tụng mà theo đó, để bảo đảm tính độc lập của Tòa án, tố tụng tại Tòa phải là
tố tụng tranh tụng chứ không phải tố tụng buộc tội Tòa án chỉ đóng vai trò là trọng tài xem xét và phán quyết dựa trên việc đánh giá quan điểm của các bên buộc tội và
gỡ tội chứ không tham gia vào bất cứ bên nào Đồng thời quyền của các bên tham gia tố tụng phải được tôn trọng và bảo đảm, bất kể là bên buộc tội hay gỡ tội
b.2) Độc lập về Thẩm phán:
Bên cạnh những nguyên tắc và yêu cầu về sự độc lập của thể chế, các văn kiện pháp luật quốc tế còn đưa ra những quy định để đảm bảo cho Thẩm phán độc lập:
Thứ nhất, tiêu chí lựa chọn, bổ nhiệm Thẩm phán phải là những cá nhân liêm
chính và có năng lực, được đào tạo chuyên môn về luật Việc bổ nhiệm Thẩm phán không được thực hiện vì những động cơ không đúng đắn và không được mang tính chất phân biệt đối xử dựa trên bất kỳ yếu tố nào (sắc tộc, mầu da, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc quốc tịch hoặc xã hội, tài sản, nơi sinh hoặc địa vị), trừ một yêu cầu Thẩm phán phải là công dân của quốc gia nơi bổ nhiệm Thẩm phán Nguồn: Bộ luật Tiêu chuẩn IBA, Tuyên bố Montreal, Các nguyên tắc cơ bản về độc lập tư pháp, Bộ nguyên tắc Bangalore, Tuyên bố Bắc Kinh
Thứ hai,bảo đảm về điều kiện và nhiệm kỳ làm việc của Thẩm phán Thẩm phán
dù được bổ nhiệm theo bất kỳ hình thức nào đều phải được bảo đảm thời gian làm việc cho đến tuổi về hưu hay hết nhiệm kỳ Thẩm phán cũng phải được bảo đảm về
Trang 23hiểm, bảo trợ xã hội Việc thăng chức cho Thẩm phán phải dựa vào yếu tố khách quan về năng lực, sự liêm khiết và kinh nghiệm Việc phân công Thẩm phán xét xử các vụ việc phải là vấn đề nội bộ trong quản lý của các Tòa án Với việc bảo đảm Thẩm phán được trả thù lao thích đáng và nhiệm kỳ, Thẩm phán sẽ không phải lo
“kinh tế” để trang trải cuộc sống, điều này sẽ hạn chế việc “mua chuộc” Thẩm phán
và tình trạng nhận hối lộ Ngoài ra, sự bảo đảm an ninh cho Thẩm phán sẽ giúp Thẩm phán an tâm xét xử, không sợ bị trả thù hay đe dọa tính mạng, tài sản Những quy định về điều kiện và nhiệm kỳ làm việc như vậy sẽ giúp nâng cao tính độc lập của Thẩm phán Nguồn: Điều 1.b, Điều 20.a, Điều 20.b, Điều 22 Bộ luật Tiêu chuẩn IBA; Tuyên bố Montreal; từ Điều 11 đến Điều 14 Các nguyên tắc cơ bản về độc lập
tư pháp; Tuyên bố Bắc Kinh
Thứ ba, liên quan đến bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ Tòa án phải thực
hiện các quy định về bí mật nghề nghiệp liên quan đến quan điểm của Thẩm phán
và những thông tin mà Thẩm phán thu thập trong quá trình thực thi nhiệm vụ, ngoài quá trình xét xử công khai Thẩm phán không bị bắt buộc phải khai báo về những quan điểm và thông tin đó Ngoài ra, Thẩm phán còn được hưởng quyền miễn trừ trong các vụ kiện dân sự vì những thiệt hại gây ra bởi những sơ suất hoặc hành vi không đúng trong xét xử
Thứ tư, liên quan đến kỷ luật, đình chỉ, cách chức Những cáo buộc hay khiếu
nại chống lại Thẩm phán liên quan đến việc xét xử của họ phải được xử lý nhanh chóng và công bằng theo thủ tục pháp lý thích hợp Thẩm phán cũng có quyền được xét xử công bằng Thẩm phán có thể bị kỷ luật, đình chỉ hay cách chức do thiếu năng lực hay vì có những hành vi không phù hợp với việc thực hiện nghĩa vụ của
họ, tuy nhiên, việc kỷ luật, đình chỉ hay cách chức như vậy phải được quyết định dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức Thẩm phán mà đã được quy định và phải được xem xét lại một cách độc lập
Thứ năm, liên quan đến tự do ngôn luận và lập hội Thẩm phán cũng là công
dân, do đó, cũng như các công dân khác, Thẩm phán có các quyền về dân sự, chính trị và những quyền con người cơ bản khác, trong đó bao gồm quyền được thành lập
Trang 24và tham gia hiệp hội của Thẩm phán hay các tổ chức khác đại diện cho quyền lợi của họ Tuy nhiên, trong khi thực hiện các quyền này, Thẩm phán phải luôn hành động và xử sự theo cách thức bảo đảm duy trì danh tiếng của công chức cũng như
sự vô tư và tính độc lập của Tòa án
Nhìn chung, các văn kiện pháp luật quốc tế chủ yếu đưa ra những tiêu chí cốt lõi để đảm bảo cho tư pháp được độc lập, chứ không quy định cụ thể các tiêu chí đó phải được thực hiện thế nào Điểm chung của những văn kiện này đều nhấn mạnh việc đảm bảo tư pháp phải độc lập so với hành pháp và lập pháp Một yếu tố quan trọng khác mà văn kiện nào cũng đề cập đến là sự độc lập trong việc đưa ra phán quyết của Thẩm phán hay nói cách khác là tính độc lập của Thẩm phán
Tóm lại, những quy định về độc lập tư pháp mà những văn kiện xây dựng chủ yếu nhằm tạo ra cho mỗi quốc gia cách nhìn tổng thể nhất về tiêu chí bảo đảm cho nguyên tắc độc lập tư pháp và trên cơ sở đó mỗi quốc gia sẽ cụ thể hóa trong pháp luật cho phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia đó
1.1.2.2 Tiêu chí bảo đảm độc lập tư pháp theo pháp luật Đức
Nhằm bảo đảm cho sự độc lập tư pháp được thực thi một cách hiệu quả, những nhà lập pháp Đức đã quy định một cách đầy đủ các yếu tố bảo đảm cho vấn đề này thông qua đạo Luật Cơ bản và những đạo luật khác
a) Sự bảo đảm nguyên tắc độc lập tư pháp trong Luật Cơ bản
Ở CHLB Đức, nguyên tắc độc lập tư pháp được quy định rõ ràng tại khoản 2 và
3 Điều 20 trong Luật Cơ bản (Grundgesetz) thay vì Hiến pháp (Verfassung) Luật
Cơ bản CHLB Đức chính là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất hay được coi là đạo luật gốc của CHLB Đức [55]
Nguyên tắc độc lập tư pháp là nguyên tắc hiến định, quyền tư pháp chỉ bị ràng buộc bởi các Đạo luật và các văn bản pháp luật, không chịu sự ràng buộc bởi các cơ quan quyền lực nhà nước khác
Ngoài ra, nguyên tắc độc lập tư pháp cũng được cụ thể hoá trong các đạo luật Đức, những đạo luật này đề cập đến không chỉ địa vị pháp lý của Thẩm phán, cơ
Trang 25các Tòa án đó nữa Có thể kể đến những đạo luật quan trọng nhất là “Đạo luật Thẩm phán Đức, Đạo luật về tổ chức Tòa án, Đạo luật Tòa án Hành chính, Đạo luật Sở hữu công nghiệp, Đạo luật về Tòa án Hiến pháp liên bang (sau đây gọi tắt là
“ĐLTAHPLB”), Các quy tắc tố tụng của Tòa án Hiến pháp liên bang (sau đây gọi tắt là “TAHPLB”)” [14, tr.183] Trong BLTTDS, BLTTHS, nguyên tắc độc lập tư pháp không được quy định một cách trực tiếp nhưng tất cả quá trình tố tụng đều thể hiện yêu cầu phải có các Thẩm phán độc lập và khách quan khi xét xử các vụ án
b) Sự độc lập về thể chế
b.1) Đối với TAHP
Theo Luật Cơ bản CHLB Đức, TAHPLB độc lập với các thiết chế khác (không phải là cơ quan của Quốc hội, không chịu sự giám sát của Quốc hội, không thuộc Chính phủ hay Tòa án tối cao liên bang), có vị trí cao nhất trong các Tòa án ở CHLB Đức và được trao thẩm quyền tối cao trong việc bảo vệ Luật Cơ bản (được quy định cụ thể ở các Điều 93, 100, 21.(2), 41.(2), 61, 93.(1).4b [44]), các quyền cơ bản của cá nhân khi bị cơ quan công quyền xâm phạm (quy định từ Điều 11 đến Điều 19 Luật Cơ bản [44])
Sự độc lập của TAHPLB còn thể hiện rõ qua quy định tại Điều 94.(1).3 Luật Cơ
bản và Điều 3.3 Đạo luật tổ chức TAHPLB, TAHPLB “không có giám sát công vụ,
không có sự chỉ đạo công tác xét xử từ bên ngoài, không phụ thuộc vào các cơ quan hành chính trong việc trả lương, có ngân sách riêng độc lập về việc trả lương Thẩm phán” [44]
Ngoài ra, liên quan đến thẩm quyền, TAHPLB được chia thành 02 Toà và hoạt động xét xử như một Tòa án độc lập, có thẩm quyền riêng và về nguyên tắc Thẩm phán của Toà này không được điều động, luân chuyển sang Toà kia, trừ trường hợp khẩn cấp Phạm vi thẩm quyền của TAHPLB được xác định trên nguyên tắc liệt kê tại Luật Cơ bản hoặc các đạo luật
Bên cạnh đó, mọi quyết định của TAHPLB “có hiệu lực ràng buộc đối với các
thiết chế hiến định của liên bang, các tiểu bang cũng như tất cả các Tòa án và cơ quan hành chính (Điều 31.(1) LTAHPLB)” [44] Điều này có nghĩa là các quyết
Trang 26định của TAHPLB có hiệu lực thực thi đối với tất cả các cơ quan nhà nước ở cấp bang và liên bang cũng như tất cả các Tòa án và các cấp có thẩm quyền trên toàn bộ lãnh thổ CHLB Đức
TAHP bang độc lập với TAHPLB, có thẩm quyền xét xử các vụ việc liên quan tới Hiến pháp bang TAHP bang thường có từ 7 đến 11 Thẩm phán, tuỳ theo từng bang b.2) Đối với các Tòa án không phải là TAHP
Luật Cơ bản CHLB Đức không quy định một cách trực tiếp về tư cách độc lập của toàn bộ hệ thống Tòa án đối với hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Các vấn đề liên quan tới tổ chức và thẩm quyền của các Tòa án không phải là TAHP được quy định trong các văn bản luật ở cả cấp liên bang và bang Cơ quan lập pháp liên bang đã ban hành 05 bộ luật điều chỉnh về 05 hệ thống Tòa án ở Đức: (i) Đạo luật về tổ chức Tòa án áp dụng cho hệ thống Tòa án thẩm quyền chung; (ii) Đạo luật Tòa án Lao động áp dụng cho hệ thống Tòa án Lao động; (iii) Đạo luật Tòa án Hành chính áp dụng cho hệ thống Tòa án Hành chính; (iv) Đạo luật Tòa án
Xã hội áp dụng cho hệ thống Tòa án Xã hội; và (v) Đạo luật Tòa án Tài chính áp dụng cho hệ thống Tòa án Tài chính Căn cứ trên những đạo luật liên bang này, các bang cũng ban hành những đạo luật riêng để thành lập và bãi bỏ những Tòa án bang
cụ thể trong phạm vi bang của mình
Nhìn chung, việc quản lý các Tòa án không phải TAHP ở CHLB Đức do Bộ Tư pháp liên bang và Bộ Tư pháp bang thực hiện Toàn bộ các Thư ký Tòa án cũng như nhân viên hành chính của Tòa án đều do Bộ Tư pháp đào tạo, bổ nhiệm và thuyên chuyển Biên chế các Thẩm phán cũng được quyết định bởi sự chấp thuận của Bộ
Tư pháp
Việc lập ngân sách và phân bổ ngân sách cho các Tòa án (trừ TAHP) cũng do
Bộ Tư pháp liên bang và các Bộ Tư pháp bang đảm nhiệm
Tóm lại, thực tế ở Đức có thể tồn tại một số hoạt động của Tòa án chịu những tác động nhất định từ các cơ quan lập pháp và hành pháp ở cả cấp liên bang và bang Tuy nhiên, điều này đã được các nhà lập pháp tính toán và ngăn chặn trong
Trang 27lập tư pháp bằng cách trao cho TAHPLB quyền giám sát tư pháp - tuyên bố một đạo luật là vi hiến nếu đạo luật đó trái với Luật Cơ bản [55, Điều 100.(1)] và quyền giải thích Luật Cơ bản [55, Điều 93.(1)] Điều này có nghĩa là, TAHPLB có quyền xét
xử và có thể tuyên vô hiệu bất kỳ quy định nào do cơ quan lập pháp hay hành pháp ban hành, mà TAHPLB cho là trái với Luật Cơ bản Các phán quyết của TAHPLB
về việc giải thích Luật Cơ bản có hiệu lực chung thẩm, không thể kháng cáo, kháng nghị và có giá trị ràng buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước ở Đức
Các Tòa án không phải là TAHP mặc dù không có quyền tuyên một đạo luật là
vi hiến, nhưng lại có quyền đình chỉ thủ tục tố tụng nếu có lý do cho rằng một quy định có liên quan vi phạm tính độc lập của Tòa án đã được quy định thành một nguyên tắc hiến định, bất kỳ Tòa án nào của Đức cũng đều có thể đình chỉ hoạt động tố tụng đó, và gửi quyết định này lên TAHPLB để xét xử trên căn cứ vi hiến Với quyền giám sát tư pháp và đình chỉ thủ tục tố tụng như trên, hệ thống Tòa
án Đức nói chung luôn có khả năng loại trừ một cách hiệu quả những ảnh hưởng gây hại tới nguyên tắc độc lập tư pháp từ các cơ quan quyền lực nhà nước
c) Sự độc lập của Thẩm phán
Điều 97.(1) Luật Cơ bản quy định rằng “các Thẩm phán là độc lập và chỉ lệ
thuộc vào pháp luật” [55] Do đó, trong quá trình xét xử và ra phán quyết, Thẩm
phán chỉ tuân theo pháp luật, không chịu sự ràng buộc, tác động, đe dọa hay uy hiếp
từ bất cứ chủ thể nào
Để đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán, Luật Cơ bản cũng quy định những biện pháp chính cho vấn đề này, đối với các Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời chỉ có thể bị sa thải, đình chỉ, thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu khi chưa hết nhiệm kỳ bởi phán quyết của Tòa án chỉ vì những lý do và cách thức theo quy định của pháp luật; hoặc Thẩm phán được giữ nguyên lương khi chuyển sang làm Thẩm phán ở một Tòa án khác hoặc do có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức Tòa án [55, Điều 97.2]
Luật Cơ bản cũng nhấn mạnh “quyền lực tư pháp được trao cho các Thẩm
phán, do Tòa án Hiến pháp Liên bang, các Tòa án liên bang theo quy định trong Luật Cơ bản này, và các Tòa án khác của quốc gia thực hiện.” [55, Điều 92]
Trang 28c.1) Đối với Thẩm phán TAHP
Việc bảo đảm cho tính độc lập của Thẩm phán TAHPLB được quy định một cách cụ thể và chi tiết như sau:
(i) Về tiêu chuẩn của Thẩm phán TAHPLB [44]:
- Từ 40 tuổi trở lên (Điều 3 Khoản 1 ĐLTAHPLB),
- Tối thiểu phải thi đỗ kỳ thi quốc gia thứ hai về luật hoặc là Giáo sư luật tại trường Đại học ở Đức (Điều 3 Khoản 2 ĐLTAHPLB và Điều 5 Khoản 1 Luật Thẩm phán
- Không được đồng thời là thành viên của Hạ viện, Thượng viện, Chính phủ liên bang, cũng như bất cứ cơ quan nào của bang (Điều 94.(1) Luật Cơ bản và Điều 3.(3) LTAHPLB)
(ii) Về quy trình bầu Thẩm phán TAHPLB: được bầu theo nguyên tắc bầu đa số
tiêu chuẩn (tức là phải đạt được 2/3 số thành viên tán thành) (Điều 94.(1) Luật Cơ bản và các Điều 5,6,7 của LTAHPLB) Các Thẩm phán được bầu theo nguyên tắc một nửa là từ Hội đồng bầu Thẩm phán của Hạ viện (Theo Điều 6 Đạo luật tổ chức TAHPLB) và một nửa là bởi Thượng viện (Theo Điều 51, 52 Luật Cơ bản và Điều
7 Đạo luật tổ chức TAHPLB) [44]
(iii) Về nhiệm kỳ của Thẩm phán:
Nhiệm kỳ của Thẩm phán TAHPLB là 12 năm và không được tái nhiệm, tức
là chỉ được bầu duy nhất một lần (Điều 4 LTAHPLB) [3, tr.84]
Thẩm phán TAHP bang do Nghị viện của bang bầu ra và có nhiệm kỳ cùng với nhiệm kỳ của Nghị viện
(iv) Về sự độc lập khi xét xử: Thẩm phán TAHP khi phán quyết chỉ tuân theo
Hiến pháp và luật, hoàn toàn không chịu bất cứ sự đe dọa, tác động hay áp lực nào
từ bên ngoài, cũng như không chịu bất cứ sự chỉ đạo nào về mặt chính trị hay hành chính Đây là tiêu chí cốt lõi nhất đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán
(v) Xét xử công bằng: Theo Điều 103.(1) Luật Cơ bản quy định “mọi người đều có quyền được xét xử công bằng theo đúng quy định của pháp luật” [55], đây
Trang 29được coi là một nguyên tắc hiến định, và là một trong những yếu tố thể hiện sự độc lập tư pháp
c.2) Đối với trường hợp không phải là Thẩm phán TAHP
(i) Bổ nhiệm và nhiệm kỳ của Thẩm phán
Để trở thành Thẩm phán chuyên nghiệp của Đức, họ phải đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia lần thứ hai và đã có thời gian làm “Thẩm phán thử việc 05 năm” kể từ ngày bổ nhiệm; nếu họ là công chức, thời gian thử việc là 02 năm
Sau khi kết thúc thời gian thử việc, Thẩm phán thử việc có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán chính thức Việc bổ nhiệm Thẩm phán ở các bang rất khác nhau Nhìn chung, Bộ trưởng Bộ Tư pháp bang có vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm Thẩm phán của Tòa án thẩm quyền chung, Tòa án hành chính và Tòa án tài chính;
Bộ trưởng Bộ Lao động bang có vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án lao động, Tòa án xã hội
Thẩm phán các Tòa án liên bang do Tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của Bộ trưởng Bộ Tư pháp liên bang hoặc Bộ trưởng Bộ Lao động liên bang và Ủy ban tuyển chọn Thẩm phán liên bang
Các Thẩm phán đều được bổ nhiệm đến tuổi nghỉ hưu (65 tuổi)
(ii) Thu nhập của Thẩm phán (bao gồm cả Thẩm phán TAHPLB)
Lương và phụ cấp của các Thẩm phán Đức ở cấp bang và liên bang đều được
ấn định theo một chế độ tiền lương và phụ cấp áp dụng chung cho toàn bộ khối công vụ nhà nước, được xác định không phụ thuộc vào ý chí của cơ quan lập pháp hay hành pháp
Mức lương của các Thẩm phán có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo sự tăng giảm của lương công chức, nhưng trong mọi trường hợp, mức sống của Thẩm phán sẽ không bị ảnh hưởng Do vậy, ở CHLB Đức, Thẩm phán không bao giờ phải lo ngại
về điều kiện kinh tế không được bảo đảm, điều này giúp ngăn chặn việc nhận hối lộ của Thẩm phán hoặc bị mua chuộc, và không làm ảnh hưởng đến tâm lý của Thẩm phán trong hoạt động xét xử và ra phán quyết
(iii) Kỷ luật của Thẩm phán nói chung (bao gồm cả Thẩm phán TAHPLB)
Trang 30Như đã đề cập ở phần đầu sự độc lập của Thẩm phán, Điều 97.(2) Luật Cơ bản
quy định “Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời chỉ có thể bị sa thải, đình chỉ, thuyên
chuyển, nghỉ hưu khi chưa hết nhiệm kỳ bởi một phán quyết của Tòa án trên cơ sở
và cách thức do pháp luật quy định” [55]
Các biện pháp kỷ luật có thể áp dụng khi một Thẩm phán vi phạm thì khá hạn
chế Đạo luật Thẩm phán Đức chỉ quy định về hai hình thức kỷ luật: “khiển trách và
cảnh cáo” [42, tr.204] Mục đích đưa ra hai hình thức kỷ luật này nhằm nhắc nhở
các Thẩm phán rằng các cơ quan có thẩm quyền kỷ luật đã biết được hành vi không thích hợp của Thẩm phán, và yêu cầu những hành vi đó không xảy ra nữa
Thực tế, việc kỷ luật các Thẩm phán chuyên nghiệp của Đức do Tòa án nghề Thẩm phán ở cấp liên bang và bang xét xử và quyết định Tòa án nghề Thẩm phán
liên bang và bang có quyền áp dụng các biện pháp kỷ luật: “cảnh cáo, phạt tiền và
cách chức” [42, tr.205] Tòa án nghề Thẩm phán cấp bang chỉ có quyền kỷ luật đối
với các Thẩm phán Tòa án bang, phán quyết của Tòa án này là sơ thẩm và có thể được kháng cáo lên Tòa án nghề Thẩm phán ở cấp liên bang
Đối với vấn đề kỷ luật Thẩm phán TAHPLB, Luật Cơ bản và pháp luật liên quan quy định rất ít và không rõ Điều 98.(2) Luật Cơ bản quy định một cách chung
chung rằng Thẩm phán liên bang có thể bị sa thải nếu “vi phạm các nguyên tắc của
Luật Cơ bản này hoặc trật tự hiến định của một Bang nào đó” bởi “hai phần ba tổng số Thẩm phán của chính Tòa án Hiến pháp liên bang” [55] Tóm lại, các
trường hợp và thủ tục kỷ luật đối với Thẩm phán TAHPLB được quy định ít và tương đối chung chung Việc luận tội một Thẩm phán Tòa án liên bang được tuyên
bố chính thức bởi Tổng thống liên bang, nhưng thực tế do chính Tòa án mà Thẩm phán bị kỷ luật ra quyết định, trên cơ sở đa số tuyệt đối, điều này làm cho một phán quyết về kỷ luật rất ít khi xảy ra
Có thể thấy rằng, nguyên tắc độc lập tư pháp ở CHLB Đức được quy định rõ ràng trong Luật Cơ bản và các biện pháp bảo đảm tính độc lập của Tòa án và Thẩm phán khá hiệu quả và cũng phù hợp với các tiêu chí mà pháp luật quốc tế đưa ra
Trang 311.1.2.3 Tiêu chi bảo đảm độc lập tư pháp theo pháp luật Hoa Kỳ
Nhiều nhà nghiên cứu luật pháp cho rằng trong các nền tư pháp thì tư pháp Hoa
Kỳ là độc lập hơn cả Mặc dù nguyên tắc độc lập tư pháp không được quy định một cách trực tiếp trong Hiến pháp Hoa Kỳ, nhưng nó được thể hiện khá rõ thông qua các quy định pháp luật về tiêu chí, cách thức bảo đảm cho sự độc lập tư pháp được thực thi một cách triệt để nhất
Hiến pháp Hoa Kỳ đã quy định một hệ thống tổ chức nhà nước với ba nhánh quyền lực riêng biệt: (i) quyền lập pháp được trao cho Quốc hội gồm Thượng viện
và Hạ viện (Điều I); (ii) quyền hành pháp được trao cho Tổng thống (Điều II); và (iii) quyền tư pháp được trao cho Tòa án tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp (Điều III)
a) Khái quát về hệ thống Tòa án Hoa Kỳ
Cấu trúc hệ thống Tòa án của Hoa Kỳ rất phức tạp, gồm hệ thống Tòa án cấp liên bang và hệ thống Tòa án cấp bang
a.1) Hệ thống Tòa án liên bang
Hệ thống Tòa án liên bang được thành lập theo quy định tại Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ được gọi là Tòa án Hiến định Ngoài hệ thống Tòa án này, “các Tòa án dưới quyền của Tòa án tối cao” được thành lập theo quy định tại Điểm 9 Khoản 8 Điều I Hiến pháp Hoa Kỳ được gọi là Tòa án luật định Tòa án Hiến định có vị trí độc lập với nhánh lập pháp và nhánh hành pháp cao hơn so với Tòa án luật định
Hệ thống Tòa án liên bang giải quyết các vấn đề do Hiến pháp Hoa Kỳ và luật pháp liên bang quy định thuộc chức năng của hệ thống Tòa án liên bang
a.2) Hệ thống Tòa án cấp bang
Bên cạnh hệ thống Tòa án liên bang, ở Hoa Kỳ còn có các hệ thống Tòa án của các bang Các hệ thống Tòa án của các bang đã tồn tại từ trước khi Hiến pháp Hoa
Kỳ được soạn thảo Do vậy, mỗi hệ thống Tòa án của từng bang có vị trí hoàn toàn độc lập với hệ thống Tòa án liên bang về mặt tổ chức và các Tòa án liên bang không phải là các Tòa án cấp trên của các Tòa án bang về mặt thẩm quyền
Trang 32Hệ thống Tòa án bang giải quyết các vấn đề theo Hiến pháp và pháp luật bang quy định và những vấn đề mà Hiến pháp Hoa Kỳ quy định không thuộc chính quyền liên bang
Nhìn chung, hệ thống Tòa án liên bang và các hệ thống Tòa án bang ở Hoa Kỳ đều là hệ thống Tòa án thẩm quyền chung, không có TAHP riêng biệt
a.3) Tòa án tối cao Hoa Kỳ
Trong hệ thống Tòa án Hoa Kỳ, Tòa án tối cao là Tòa án cấp cao nhất của Hoa
Kỳ Phán quyết của Tòa án tối cao là phán quyết chung thẩm, không thể được chuyển lên phúc thẩm ở bất kỳ Tòa án nào khác
Tòa án tối cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm
Theo quy định tại Khoản 2 Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ, Tòa án tối cao Hoa Kỳ
là Tòa án có thẩm quyền duy nhất xét xử sơ thẩm đối với hai loại hình tranh chấp hiếm khi xảy ra: (i) thứ nhất là trường hợp một bang kiện một bang khác (tranh chấp biên giới và lãnh hải); (ii) thứ hai là trường hợp liên quan đến một nhà ngoại giao nước ngoài (như đại sứ, công sứ và lãnh sự)
Về phúc thẩm (giám đốc thẩm), Tòa án tối cao Hoa Kỳ có thẩm quyền đối với các bản án của các Tòa phúc thẩm liên bang và của Tòa án cao nhất của một bang nếu bản án đó giải thích các điều khoản của Hiến pháp, đạo luật hay hiệp ước liên bang
b) Những yếu tố bảo đảm độc lập tư pháp ở Hoa Kỳ
Tư pháp độc lập là một giá trị cốt lõi trong văn hóa chính trị-pháp lý của Hoa
Kỳ
b.1) Cấu trúc của hệ thống Tòa án Hoa Kỳ
Như đã trình bày ở phần trên, cấu trúc của hệ thống Tòa án Hoa Kỳ rất phức tạp, gồm hệ thống Tòa án liên bang và hệ thống Tòa án bang Hệ thống Tòa án bang
có vị trí hoàn toàn độc lập với hệ thống Tòa án liên bang về mặt tổ chức và các Tòa
án liên bang không phải là các Tòa án cấp trên của các Tòa án bang về mặt thẩm quyền Điều này có nghĩa là, mối quan hệ giữa các cấp Tòa án chỉ là mối quan hệ về
tố tụng chứ không có mối quan hệ cấp trên, cấp dưới Các cơ quan Tòa án thực hiện
Trang 33thẩm quyền của mình một cách độc lập, không chịu sự ràng buộc, không cần và cũng không được phép thực hiện việc thỉnh thị án với các Tòa án ở tầng cao hơn Mặc dù, việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao cũng có sự tham gia của Tổng thống và Quốc hội khi khuyết Thẩm phán, nhưng khi thực hiện nhiệm vụ giải quyết các vụ việc, Tòa án tối cao thực hiện công việc của mình một cách độc lập trong phạm vi thẩm quyền luật định Quốc hội và Tổng thống không được phép tạo
ra bất cứ áp lực nào đối với việc thực thi chức trách bình thường của các Thẩm phán Chánh án Tòa Tối cao cũng không phải thực hiện việc báo cáo công tác thường niên trước Quốc hội (dù đó là báo cáo trước Thượng viện hay Hạ viện) Như vậy, trong hoạt động xét xử của các Tòa án Hoa Kỳ có thể được coi là độc lập, nhưng điều này vẫn chưa đủ để đảm bảo nguyên tắc độc lập tư pháp
b.2) Quản lý Tòa án
Tại Hoa Kỳ, tồn tại hai hệ thống Tòa án là Tòa án liên bang và Tòa án bang Mặc dù thẩm quyền của hai hệ thống Tòa án này là hoàn toàn khác nhau, nhưng mô hình tổ chức quản lý hành chính tư pháp lại có nhiều điểm tương đồng Thực chất,
mô hình cơ quan quản lý hành chính Tòa án hiện tại xuất phát từ những sáng kiến cải cách hành chính Tòa án trong hệ thống Tòa án liên bang Các hệ thống Tòa án bang học tập mô hình này và triển khai tại bang mình
Cơ quan quản lý hành chính Tòa án Hoa Kỳ được thành lập năm 1939 theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, là cơ quan quản lý hành chính hệ thống Tòa án liên bang, có vị trí độc lập, trực tiếp triển khai thực hiện các chính sách mà Hội nghị Tư
pháp Hoa Kỳ (Judicial Conference of the United States) đặt ra và chịu sự giám sát
trực tiếp của Hội nghị Tư pháp Hoa Kỳ Theo đó, từ năm 1940, các bang cũng tiến hành thành lập Văn phòng quản lý hành chính đặt dưới sự giám sát của Tòa án Tối cao của bang để thực hiện các công việc quản lý hành chính liên quan tới hoạt động của Tòa án bang
Một trong những nhiệm vụ của Cơ quan quản lý hành chính Tòa án liên bang là chuẩn bị và trình ngân sách của hệ thống Tòa án liên bang lên Hội nghị Tư pháp Hoa Kỳ phê chuẩn để Quốc hội thông qua
Trang 34Như vậy, từ năm 1939, hệ thống Tòa án liên bang đã độc lập cả về mặt hành chính đối với hành pháp và lập pháp liên bang
b.3) Sự độc lập của Thẩm phán Hoa Kỳ
Đây được coi là một trong những cơ sở vững chắc nhất cho việc bảo đảm độc lập tư pháp ở Hoa Kỳ
b.3.1) Tiêu chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán Hoa Kỳ
(i) Đối với Thẩm phán liên bang
Hiến pháp cũng như luật pháp không quy định về các tiêu chuẩn cần thiết để một người có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán liên bang Tuy nhiên, có ít nhất bốn yếu tố sau, không chính thức song hết sức thiết yếu để xác định ai có thể đảm nhận chức vụ Thẩm phán liên bang:
- Năng lực chuyên môn: Thông thường các Thẩm phán liên bang thường được
bổ nhiệm trong số các Luật sư - những người nổi bật về khả năng chuyên môn Mặc
dù các quy định chính trị có thể cho phép một Tổng thống thường chọn một đồng minh kỳ cựu của mình vào vị trí Thẩm phán tại một Tòa án, song theo truyền thống, người ta thường kỳ vọng rằng vị Thẩm phán tương lai phải có danh tiếng nhất định
về năng lực chuyên môn, và danh tiếng này càng phải cao đối với vị trí Thẩm phán tại Tòa án tối cao và các Tòa phúc thẩm so với Tòa sơ thẩm
- Phẩm chất chính trị: Hầu hết những ứng cử viên cho vị trí Thẩm phán đều
phải có thành tích nhất định về hoạt động chính trị vì hai lý do Thứ nhất, những người đã phục vụ trong đảng phái thường có nhiều khả năng được bổ nhiệm làm Thẩm phán liên bang hơn so với những người không thuộc đảng phái Thứ hai, nếu không tham gia hoạt động chính trị thì ứng cử viên không được biết đến bởi Tổng thống, các Thượng nghị sỹ hoặc lãnh đạo đảng phái tại địa phương - những người sẽ gửi cho Tổng thống tên của ứng cử viên vào vị trí Thẩm phán
- Sự khẳng định mong muốn: một số Thẩm phán tương lai đã tự mình tiến
hành những chiến dịch vận động kín đáo hoặc ít nhất cũng phát tín hiệu rằng họ đã sẵn sàng để phục vụ tại Tòa án nhằm mục đích tên của họ sẽ được xem xét khi có
Trang 35- Yếu tố may mắn: Một sự ngẫu nhiên may mắn luôn tồn tại trong hầu như tất
cả các trường hợp bổ nhiệm Thẩm phán Là thành viên của một đảng thích hợp tại thời điểm phù hợp hoặc được những nhà môi giới quyền lực chú ý tới tại đúng thời điểm cần thiết thường góp phần đáng kể để giúp một người trở thành Thẩm phán, cũng đáng kể như những yếu tố về năng lực chuyên môn của người đó
(ii) Đối với Thẩm phán bang [3]
Phần lớn Hiến pháp và pháp luật bang hầu như không quy định những điều kiện khắt khe đối với Thẩm phán bang Đa số các bang không quy định Thẩm phán hòa giải hoặc tiểu hình của họ phải có bằng tốt nghiệp trường luật, nhưng những bằng cấp này hầu hết đều được yêu cầu (chính thức hoặc trên thực tế) đối với các Thẩm phán Tòa sơ thẩm và phúc thẩm
Các Thẩm phán thường ở vào độ tuổi trung niên khi họ đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán Các Thẩm phán Tòa sơ thẩm của bang thường ở độ tuổi 46 khi họ trở thành Thẩm phán, gần tương ứng với độ tuổi 49 của các Thẩm phán sơ thẩm liên bang Các Thẩm phán Tòa phúc thẩm của bang lớn tuổi hơn một chút so với các Thẩm phán Tòa sơ thẩm - thường ở độ tuổi 53 khi trở thành Thẩm phán, cũng gần bằng với các Thẩm phán Tòa phúc thẩm của liên bang
Có hơn một nửa các Thẩm phán Tòa sơ thẩm bang đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán khi đang hành nghề luật trong khu vực tư nhân, và khoảng một phần tư thăng tiến từ chức vụ Thẩm phán cấp thấp hơn tại Tòa, ví dụ như vị trí Thẩm phán tiểu hình Trong số những người hành nghề luật, hầu hết đều là về các vấn đề luật pháp chung chứ không chuyên sâu Có khoảng một phần năm được tuyển chọn từ đội ngũ các Luật sư của bang, và chỉ 3% đến từ lĩnh vực luật hình sự tư nhân Trong số những người được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án tối cao của bang, gần hai phần
ba đã đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán Tòa phúc thẩm trung gian hoặc các Tòa sơ thẩm của bang
b.3.2) Quy trình tuyển chọn Thẩm phán Hoa Kỳ
(i) Đối với Thẩm phán liên bang
Trang 36Thẩm phán liên bang được lựa chọn bằng một quy trình thống nhất, tất cả đều được bổ nhiệm bởi Tổng thống sau khi tham khảo ý kiến theo đúng quy trình với đội ngũ nhân viên Nhà Trắng, Văn phòng Chưởng lý, một số Thượng nghị sỹ và các nhà hoạt động chính trị khác
(ii) Đối với Thẩm phán bang
Cách thức lựa chọn Thẩm phán bang rất đa dạng Về cơ bản, có năm hình thức lựa chọn Thẩm phán tại bất kỳ bang nào trong số 50 bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: (i) tuyển cử theo đảng phái, (ii) tuyển cử không qua đảng phái, (iii) tuyển chọn theo công trạng, (iv) bổ nhiệm của Thống đốc, và (v) bổ nhiệm bởi cơ quan lập pháp bang
Có thể thấy, nếu chỉ dựa vào cách thức lựa chọn Thẩm phán, đây chưa phải là một yếu tố để đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử Việc tuyển chọn dựa trên những tiêu chí và quy trình tuyển chọn như vậy có thể sẽ tác động và làm ảnh hưởng đến phán quyết của Thẩm phán
b.3.3) Nhiệm kỳ và kỷ luật đối với Thẩm phán Hoa Kỳ
(i) Đối với Thẩm phán liên bang
Khoản 2 Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ quy định “các Thẩm phán của Tòa án Tối
cao và các Tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời nếu luôn luôn có hành vi chính đáng” [54], có nghĩa là tất cả các Thẩm phán liên bang, gồm cả Thẩm
phán Tòa án tối cao đều được giữ chức vụ đó suốt đời hoặc cho đến khi họ tự nguyện nghỉ hưu, và các Thẩm phán liên bang sẽ không bị bãi nhiệm nếu thực hiện
“đúng chức năng nhiệm vụ” của mình
Thẩm phán sẽ chỉ bị bãi nhiệm khi bị buộc tội (cáo buộc bởi Hạ viện) và bị kết tội (bởi Thượng viện) vi phạm “các loại tội phạm nghiêm trọng và ít nghiêm trọng” thay vì cơ chế cơ quan lập pháp bỏ phiếu thông qua việc bãi nhiệm Thẩm phán như
ở phần lớn các quốc gia khác
Theo quy định của Hiến pháp (đối với các Thẩm phán Tòa án tối cao) và các tiêu chuẩn lập pháp (đối với Thẩm phán Tòa phúc thẩm và sơ thẩm), việc luận tội có thể
Trang 37độ cao và nghiêm trọng khác” Thẩm phán bị luận tội sẽ có thể bị xét xử tại Thượng viện, nơi sẽ kết án họ bằng hai phần ba số phiếu thuận của các thành viên có mặt
(ii) Đối với Thẩm phán bang
Mỗi bang sẽ có quy định khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu của Thẩm phán Độ tuổi tối đa để Thẩm phán nghỉ hưu dao động từ 65 tới 75, và phổ biến nhất là ở tuổi
70 Một số bang có những kế hoạch giảm phúc lợi hưu trí đối với các Thẩm phán đã phục vụ vượt quá nhiệm kỳ mong muốn, có nghĩa là các Thẩm phán càng giữ chức
vụ của mình lâu thì phúc lợi hưu trí của họ càng giảm
Trong trường hợp các Thẩm phán chưa đến tuổi song không đủ năng lực, có hành vi tham nhũng hoặc phi đạo đức, không áp dụng các kế hoạch hưu trí
Trong suốt lịch sử nước Hoa Kỳ, các bang đã sử dụng những thủ tục như luận tội, bỏ phiếu bất tín nhiệm và các nghị quyết của cơ quan lập pháp để bãi nhiệm Thẩm phán Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ có hiệu quả rất khiêm tốn, bởi vì việc áp dụng chúng trên thực tế là quá khó xét về mặt chính trị, hoặc bởi vì chúng tốn quá nhiều thời gian và rất phức tạp
Gần đây, các bang đã bắt đầu thiết lập những Ủy ban đặc biệt, thường bao gồm các Thẩm phán, để giám sát và trừng phạt các thành viên của mình Tuy nhiên, những Ủy ban này không phải lúc nào cũng hoạt động hiệu quả, bởi vì các Thẩm phán thường rất miễn cưỡng trong việc khiển trách và kỷ luật công khai các đồng nghiệp của mình
b.3.4) Mức lương của Thẩm phán Hoa Kỳ
Một trong những điều kiện quan trọng không kém để bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán Hoa Kỳ chính là chế độ về tiền lương Các Thẩm phán ở Hoa Kỳ luôn luôn được bảo đảm về mặt kinh tế sao cho họ có thể yên tâm công tác và duy trì tính độc lập trong hoạt động xét xử
Theo quy định tại Khoản 1 Điều III, trong thời gian đương nhiệm, mức lương của Thẩm phán Tòa án tối cao và Tòa án luật định sẽ không bị cắt giảm Quy định của Hiến pháp bảo vệ Thẩm phán liên bang được thể hiện ở nguyên tắc khi Tổng thống không hài lòng với các phán quyết của Thẩm phán cũng không thể bãi nhiệm
Trang 38họ, hay Nghị viện không thể cắt giảm mức lương của Thẩm phán cho dù không thích các phán quyết mà Thẩm phán đưa ra
Từ năm 1984, các Thẩm phán liên bang được phép nghỉ hưu mà vẫn được hưởng nguyên lương và phúc lợi theo quy tắc 80 (tức là khi tổng số tuổi và số năm hành nghề Thẩm phán của họ là 80)
c) Nhận xét
Có thể nhận thấy, ở Hoa Kỳ vẫn tồn tại sự can thiệp của cơ quan hành pháp và lập pháp vào hoạt động tư pháp, ví dụ như thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán được giao cho cơ quan hành pháp nhưng phải có ý kiến và sự phê chuẩn của Thượng viện, thẩm quyền thành lập các Toà liên bang cấp dưới được trao cho Quốc hội Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc độc lập tư pháp, không chịu sự chi phối của các nhánh cơ quan quyền lực nhà nước khác, Hiến pháp Hoa Kỳ đã xây dựng phương thức bảo đảm thông qua hai cơ chế: (i) thứ nhất là cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán suốt đời, Thẩm phán sau khi được bổ nhiệm sẽ không bao giờ bị bãi nhiệm nếu thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình; và (ii) thứ hai là trong thời gian đương nhiệm, mức lương của Thẩm phán sẽ không bao giờ bị cắt giảm Vì vậy, các Thẩm phán không sợ bị bãi nhiệm nếu họ đưa ra một phán quyết mà mọi người không ưa thích Một câu hỏi được đặt ra là tính độc lập của Thẩm phán liệu có được đảm bảo và được thực thi một cách hiệu quả với cơ chế như vậy không? Nếu trong trường hợp một Thẩm phán đưa ra phán quyết mà chắc chắn phán quyết đó làm cho các nhà chính trị và người dân phẫn nộ thì chức vụ của họ vẫn được bảo đảm suốt đời Hoặc, nếu Thẩm phán do Tổng thống và cơ quan lập pháp bổ nhiệm thì phán quyết của Thẩm phán có thể phản ánh ý thích của Đảng phái nhiều hơn là ý nguyện của đa
số hay tuân theo Hiến pháp
Trên thực tế, cho dù được bổ nhiệm trong hoàn cảnh nào, nhưng một khi đã nhậm chức thì các Thẩm phán Tòa án tối cao luôn tỏ rõ tính độc lập đối với các cơ quan hành pháp cũng như lập pháp, bao gồm cả việc độc lập với chính Tổng thống
đã bổ nhiệm họ
Trang 39Chẳng hạn như năm 1902, Tổng thống Theodore Roosevelt đã bổ nhiệm Oliver Wendell Holmes vào Tòa án tối cao Gần hai năm sau, trong một vụ án chống độc quyền có vai trò hết sức quan trọng đối với chương trình của Roosevelt, Holmes đã bỏ phiếu chống lại Tổng thống Earl Warren, người được Eisenhower bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án tối cao đã thường xuyên bỏ phiếu chống lại Tổng thống nhiều đến nỗi khi hết nhiệm kỳ Eisenhower đã nói rằng việc bổ nhiệm Warren
là “lỗi lầm ngớ ngẩn tệ hại nhất khi tôi làm Tổng thống” [45, tr.36]
Những nguyên nhân sau sẽ lý giải cho điều này:
(i) Một khi đã được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án tối cao Hoa Kỳ, họ không phải chiều theo mong muốn của quần chúng, cũng như không phải làm hài lòng các chính trị gia Thẩm phán Tòa án tối cao Hoa Kỳ ý thức được ngay rằng họ
là những trọng tài tối hậu của đạo Luật Cơ bản quốc gia, không còn có Toà nào cao hơn để sửa lại những phán quyết sai lầm, nên các Thẩm phán Tòa án tối cao thường suy nghĩ theo đường hướng mới để bảo đảm tối đa sự công bằng trong phán quyết (ii) Bên cạnh đó, bổ nhiệm trọn đời cũng giúp họ có vị thế độc lập, không liên
hệ gì với các hoạt động chính trị trong suốt thời gian tại chức
(iii) Một điểm nữa, những người được bổ nhiệm làm Thẩm phán vì “tư cách”
và “năng lực chuyên môn” Việc lựa chọn Thẩm phán được đưa ra một cách công khai, đăng trên phương tiện truyền thông để cho tất cả người dân, cá nhân hay tổ chức đều có thể thảo luận trao đổi, không giấu giếm, và phương tiện truyền thông
có thể can thiệp bằng cách đưa ra viện dẫn để phản đối việc lựa chọn Thẩm phán (như Thẩm phán đó đã ủng hộ Tổng thống nên Tổng thống mới đề cử…)
Nhưng đây mới chỉ là những yếu tố đảm bảo cho sự độc lập của Thẩm phán Tòa án tối cao, còn đối với Thẩm phán ở cấp bang thì họ vẫn chịu những ảnh hưởng, tác động và chi phối không chỉ của các cơ quan hành pháp, lập pháp mà ngay cả các cử tri và dân chúng trong việc đưa ra phán quyết Và trong trường hợp nếu họ đưa ra một phán quyết sai lầm hoặc do hiểu sai Hiến pháp thì đã có Tòa án tối cao sửa lại
Trang 40Thực tế đã chứng minh, nguyên tắc độc lập tư pháp ở Hoa Kỳ được tôn trọng, người dân tuân thủ một cách chặt chẽ còn do tất cả các quyết định của Tòa án tối cao và những quyết định quan trọng của các Tòa phúc thẩm liên bang được công khai, trong đó có phần lập luận giải thích trong bản án tại sao một đạo luật cụ thể được cho là vi hiến Như vậy, phần cơ sở đưa ra phán quyết của Tòa án được công khai cho các ý kiến phân tích và phê bình nhằm đảm bảo rằng các tình tiết của vụ việc được trình bày chính xác, án lệ được tuân thủ và quyết định Tòa án đưa ra đã
áp dụng quy định pháp luật vào những tình tiết vụ án một cách lô-gic
Mặc dù có những người có thể không đồng tình với một ý kiến nhất định của Tòa án, nhưng những quy tắc nêu trên và những quy định khác đã tạo nên niềm tin của người dân đối với sự chính trực của hệ thống Tòa án, mà sự tín nhiệm đó xuất phát từ đường lối Tòa án đã bảo vệ quyền của cá nhân hay quyền con người, đặc biệt là đảm bảo quyền của người thiểu số trong xã hội dù điều này có đi ngược lại ý chí của số đông
Tóm lại, pháp luật Đức và pháp luật Hoa Kỳ đều có những ưu và nhược điểm
trong việc đưa ra một cơ chế thực thi hiệu quả tính độc lập tư pháp Cả hai quốc gia đều nhấn mạnh tính độc lập Thẩm phán thông qua việc bổ nhiệm cho một bộ phận giữ chức vụ Thẩm phán suốt đời và chế độ tiền lương được bảo đảm vững chắc cùng với việc trao cho một Tòa án quyền tuyên bố một đạo luật hay một quy định
pháp luật là vi hiến, trái với Luật Cơ bản hay Hiến pháp của quốc gia
1.2.3 Các điều kiện bảo đảm độc lập tư pháp
Qua những tiêu chí về bảo đảm độc lập tư pháp được quy định theo pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, có thể nhận thấy để bảo đảm độc lập tư pháp cần những điều kiện sau: