Dân chủ ở xã, phường, thị trấn là thực hiện những nội dung dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi, đến với từng người dân nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LAN
HOµN THIÖN QUY CHÕ THùC HIÖN D¢N CHñ ë CÊP X·
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LAN
HOµN THIÖN QUY CHÕ THùC HIÖN D¢N CHñ ë CÊP X·
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI XUÂN ĐỨC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Lan
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ 6
1.1 Thực hiện dân chủ ở cơ sở và quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 6
1.1.1 Thực hiện dân chủ ở cơ sở 6
1.1.2 Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 17
1.2 Nội dung quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 27
1.2.1 Hệ thống văn bản, quy định của quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 27
1.2.2 Nội dung quy định quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 28
1.3 Các tiêu chí hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 42
1.3.1 Tiêu chí chung của việc hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 42
1.3.2 Tiêu chí riêng của hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 45
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ 48
2.1 Thực trạng quy định về quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 48
2.1.1 Thực trạng về văn bản quy định thực hiện dân chủ ở cấp xã 48
2.1.2 Thực trạng về quy định thực hiện dân chủ ở cấp xã 50
2.2 Thực trạng thực hiện các nội dung thực hiện dân chủ ở cấp xã 51
Trang 52.2.2 Thực trạng thực hiện dân bàn, dân tham gia ý kiến 56
2.2.3 Thực trạng thực hiện dân giám sát 58
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ 61
3.1 Nhu cầu hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 61
3.1.1 Nhu cầu xuất phát từ quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN 61
3.1.2 Nhu cầu xuất phát từ quá trình hội nhập quốc tế 63
3.1.3 Nhu cầu của cải cách nền hành chính quốc gia 64
3.1.4 Nhu cầu của quá trình dân chủ 65
3.2 Quan điểm, phương hướng hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 68
3.2.1 Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã cần đầy đủ và cụ thể 68
3.2.2 Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã cần hoàn thiện, đổi mới phù hợp với điều kiện mới và cần được điều chỉnh ở cấp độ Luật 70
3.3 Giải pháp hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã 70
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản về thực hiện dân chủ ở cấp xã 70
3.3.2 Hoàn thiện quy định về thực hiện dân chủ ở cấp xã 75
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân KTTT: Kinh tế thị trường LHQ: Liên Hiệp Quốc MTTQ: Mặt trận tổ quốc QCDC: Quy chế dân chủ UBND: Ủy ban nhân dân UBTUMTTQVN: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30 CT/TW về xây dựng quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở Thể chế hóa Chỉ thi ̣ của
Bô ̣ Chính tri ̣, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29-NQ/CP ngày 11/5/1998
và sau đó là Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã Trước yêu cầu về viê ̣c thực hiê ̣n dân chủ ở cấp xã , để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện, ngày 20/4/2007 Ủy ban Thường
vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, về việc thực hiê ̣n dân chủ ở xã, phường, thị trấn Tiếp đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng, khóa X đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW, ngày 04/3/2010 về tiếp tục thực hiê ̣n Chỉ thi ̣ số 30-CT/TW của Bô ̣ Chính tri ̣ khóa VIII về thực hiê ̣n quy chế dân chủ ở cơ sở Hiện nay Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong việc thực hiện dân chủ của nhân dân ở cấp xã Thực tế cho thấy việc ban hành Pháp lệnh đã đạt được những kết quả rất rất lớn, góp phần quan trọng củng cố quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Tuy vậy, quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém như: Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, mệnh lệnh, tham nhũng, gây phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng mà chưa đẩy lùi được; phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chậm đi vào cuộc sống Ở Việt Nam, xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở trực tiếp nhất, gần dân nhất trong hệ thống chính trị; là nơi người
Trang 8dân thực hiện quyền dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong cộng đồng dân cư, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; là nơi dân sản xuất, kinh doanh, lao động, và học tập Xã, phường, thị trấn cũng là nơi nảy sinh và giải quyết những công việc hàng ngày trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội; cũng là nơi hiện thực hóa mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị
đã khẳng định: Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở Dân chủ ở xã, phường, thị trấn là thực hiện những nội dung dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi, đến với từng người dân nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội, an ninh, trật tự công cộng Do đó, để người dân địa phương phát huy tối đa quyền làm chủ của mình, đòi hỏi các văn bản, quy định của pháp luật
về thực hiện dân chủ ở cấp xã phải được hoàn thiện
Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước Việc triển
khai nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã" là
việc làm cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu bức xúc hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quy chế về thực hiện dân chủ ở cấp xã là tập hợp những văn bản, quy định đã và đang được triển khai thực hiện trên thực tế Hiện nay việc thực hiện dân chủ ở cấp xã được quy định cụ thể nhất trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 và một số văn bản, quy định đó là: Nghị quyết liên tịch 09/2008/NQLT-CP-UBTUMTTQVN, ngày 17/4/2008 Hướng dẫn thi hành các Điều 11, Điều 14, Điều 16, Điều 22 và Điều 26 của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; các quy định về Ban
Trang 9thanh tra nhân dân cấp xã được quy định tại Điều 68, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Thanh tra 2010; Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN, ngày 31/3/2000 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng và Thông tư liên tịch số 04/2006/ TTLT/KH&ĐT-UBTUMTTQVN-TC, ngày 04/12/2006 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
Bộ Tài chính
Do nội dung của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã rất sâu, rộng, ngoài các văn bản, quy định trên còn được quy định tản mạn ở nhiều văn bản, quy định khác Vì vậy bài viết, công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở chỗ: Tìm hiểu
và nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc triển khai thực hiện các nội dung thực hiện dân chủ ở cấp xã như nội dung công khai để nhân dân biết, nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp hoặc biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định, nội dung nhân dân tham gia ý kiến và nội dung nhân dân giám sát Đồng thời đánh giá về thực trạng hệ thống các văn bản, quy định thực hiện dân chủ ở cấp xã và quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về dân chủ ở cấp xã và đánh giá thực trạng các văn bản, quy định về thực hiện dân chủ ở cấp xã trong điều kiện hiện nay; luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện các văn bản, quy định về thực hiện dân chủ ở cấp xã hiện nay
Luận văn có nhiệm vụ:
Trang 10- Tìm hiểu, phân tích một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu: Khái niệm, đặc điểm nền dân chủ, bản chất, vai trò của dân chủ ở
cơ sở; khái niệm, nội dung, vai trò và tiêu chí hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thi hành các nội dung thực hiện dân chủ
ở cấp xã hiện nay;
- Đối chiếu, liên hệ với những yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước, trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, bước đầu đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện các văn bản, quy định về thực hiện dân chủ ở cấp xã trong điều kiện mới
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Pháp luật về thực hiện dân chủ hiện nay có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng bao gồm việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, cơ quan hành chính, doanh nghiệp, trường học… Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng thi hành và quan điểm hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã được
cụ thể trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn số UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và một số văn bản, quy định tại Nghị quyết liên tịch 09/2008/NQLT-CP-UBTUMTTQVN, ngày 17/4/2008 và các quy định về Ban thanh tra nhân dân cấp xã; Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN, ngày 31/3/2000 Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng; Thông tư liên tịch số 04/2006/ TTLT/KH&ĐT-UBTUMTTQVN-TC, ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Trung ương Mặt trận
34/2007/PL-Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài chính
Trang 115 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền dân chủ XHCN, về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung và
về lý luận xây dựng pháp luật nói riêng;
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Lịch
sử - cụ thể; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: Thống kê, so sánh, điều tra xã hội học
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu xác định khái niệm, tiêu chí hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã;
- Phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện thực trạng và những nguyên nhân tồn tại của quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã trong điều kiện mới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay đang đặt ra đối với hoạt động thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở
- Luận văn thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy trong các trường pháp lý cũng như nghiên cứu hoàn thiện pháp luật thực hiện quyền dân chủ ở Việt Nam trong thời gian tới
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
Chương 2 Thực trạng quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
Chương 3 Hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ
1.1 Thực hiện dân chủ ở cơ sở và quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
1.1.1 Thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ
Dân chủ là khái niệm xuất hiện từ thời cổ đại Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ là do 2 từ hợp thành Demos (dân chúng) và Cratos (quyền lực hay cai trị) Như vậy, với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân, dân chủ là sự cai trị của nhân dân Từ điển Bách khoa
Việt Nam định nghĩa: "Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã
hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định" [36, tr 653]
Dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân là một trong những hình thức tổ chức chính trị Nhà nước của xã hội mà đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phải phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực Dân chủ XHCN là một hình thức dân chủ do nhân dân lao động chủ động thiết lập trong tiến trình đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thông qua đội chính trị tiên phong của nó, là Đảng cộng sản Trong
"Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" C.Mác và Ph Ăng - ghen đã cho rằng:
"Trước hết giai cấp công nhân phải tự mình tổ chức thành giai cấp thống trị
và giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp của nó là giành lấy quyền lực Nhà nước" [38] Như vậy dân chủ XHCN có mục đích tự thân, giành lấy dân chủ
là để tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội vì mục tiêu đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do, bình đẳng cho mọi người lao động
Trang 13C.Mác đã dự báo điều đó rằng: "Thay cho xã hội tư bản cũ với những giai
cấp và đối kháng, giai cấp của nó sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất
cả mọi người" [38, tr 628] Sau này, Lênin tiếp tục phát triển tư tưởng ấy
trong điều kiện mới Theo Lênin thì dân chủ gắn bó hữu cơ, mật thiết với CNXH Người viết:
Không có chế độ dân chủ thì CNXH không thể thực hiện được theo hai nghĩa sau đây: 1 Giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng XHCN nếu họ không chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho dân chủ 2 Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của mình và
sẽ không dần được nhân loại đi đến thủ tiêu Nhà nước, nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ
Nghiên cứu lý thuyết về dân chủ có nhiệm vụ làm sáng tỏ bản chất, những đặc điểm hình thành, những trình độ phát triển cùng những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dân chủ trong mỗi thời kỳ nhất định và cuối cùng
là phải vạch ra những điều kiện để thực hiện dân chủ trong xã hội gắn liền với những quy định tất yếu, khách quan của cơ sở kinh tế và chính trị xã hội của xã hội đó Để làm được điều đó phải xác định hướng tiếp cận về dân chủ như sau:
Thứ nhất: Dân chủ là một hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện và phát
triển với tư cách là sản phẩm, là kết quả trực tiếp của đời sống chính trị, của
sự vận động chính trị của các giai cấp trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực thuộc về giai cấp nào trong xã hội Chế độ dân chủ của một xã hội thường tìm thấy phương thức biểu hiện phổ biến của nó ở chế
độ nhà nước Nhà nước như là một thiết chế chính trị để thực hiện dân chủ tuy không phải bất cứ chế độ nhà nước nào cũng là chế độ dân chủ Lịch sử đã từng biết tới các hình thức nhà nước chuyên chế, quân chủ (dưới các triều đại
Trang 14và chế độ phong kiến) cũng như nhà nước phát xít, các khuynh hướng độc tài
và phát xít hoá nhà nước trong thời đại đế quốc chủ nghĩa Đó là những chế
độ nhà nước phản dân chủ, xung đột gay gắt với quyền dân chủ của công dân
và xã hội nói chung Sự trùng hợp giữa dân chủ với nhà nước đòi hỏi tổ chức
và bộ máy Nhà nước được xây dựng nên cùng với công cụ của nó là pháp luật phải ít nhiều mang tính chất tiến bộ, đáp ứng được những mức độ nào đó của lợi ích nhân dân và nhu cầu xã hội Do vậy các cuộc đấu tranh cho dân chủ diễn ra trong lịch sử bao giờ cũng phản ánh và gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh xã hội Nó đụng chạm trực tiếp tới những cải cách hoặc phá bỏ chế độ Nhà nước này hay chế độ Nhà nước khác Quyền thống trị của giai cấp này hay giai cấp khác Xét trên bình diện xã hội và quản lý xã hội, giải quyết vấn đề dân chủ có nội dung căn bản của nó ở chỗ giải quyết vấn đề Nhà nước Lênin viết:
…Dân chủ là sự thống trị của đa số Chừng nào mà ý chí của
đa số vẫn còn mờ tối, chừng nào mà người ta vẫn có thể, dù chỉ là hơi giống như thế thôi, cho ý chí đó là còn mờ tối, thì chừng đó người ta vẫn còn đưa ra cho nhân dân một Chính phủ của bọn tư sản phản cách mạng dưới chiêu bài Chính phủ "dân chủ"
Nhưng tình trạng đó không thể kéo dài được Trong vài tháng
đã trôi qua kể từ ngày 27/2 trở đi, ý chí của đa số công nhân và nông dân, tức là tuyệt đại đa số dân cư trong nước, đã thể hiện ra rõ rệt nhưng không phải chỉ dưới một hình thức chung mà thôi Ý chí
đó đã biểu hiện rõ trong các tổ chức có tính chất quần chúng - các
Xô - Viết đại biểu công nhân, binh sĩ và nông dân
Vậy làm sao người ta lại có thể phản đối việc chuyển toàn bộ chính quyền Nhà nước về tay các Xô - Viết ấy được? Như thế không có nghĩa khác hơn là từ bỏ dân chủ [57, tr 515 - 516]
Trang 15Xét từ góc độ lợi ích trong xã hội đã phân chia thành giai cấp và hình thành Nhà nước thì không thể có dân chủ thuần tuý, dân chủ tuyệt đối và dân chủ chung cho tất cả mọi người không phân biệt giai cấp Tính chất giai cấp của dân chủ đã và sẽ còn tồn tại chừng nào xã hội còn tồn tại giai cấp và Nhà nước Dân chủ chủ nô trong chế độ chiến hữu nô lệ, dân chủ tư sản trong chế
độ tư bản chủ nghĩa và dân chủ XHCN trong CNXH là những hình thức và trình độ khác nhau của sự phát triển dân chủ trong lịch sử Dân chủ của ai, quyền lực thuộc về giai cấp hay lực lượng xã hội nào, giải quyết vấn đề lợi ích và quyền lực trên lập trường giai cấp nào trong những điều kiện lịch sử -
cụ thể của một chế độ xã hội… Tính xác định có trong những câu hỏi đó cho thấy không thể có câu trả lời trừu tượng, phi lịch sử, thoát ly khỏi những giới hạn và ràng buộc giai cấp trong vấn đề dân chủ Điều này chứng tỏ rằng, mọi nghiên cứu về dân chủ nếu không tựa vững chắc trên cơ sở kinh tế - xã hội và
có sự nhất quán về quan điểm chính trị, tính thống nhất và sự chi phối lẫn nhau giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị của một giai cấp xác định thì không thể chỉ ra bản chất của dân chủ Lý luận về tính giai cấp của dân chủ, vì
lẽ đó là yếu tố quan trọng nhất, là điểm xuất phát dẫn tới các vấn đề khác có trong lý thuyết và tư tưởng về dân chủ
Thứ hai: Dân chủ không chỉ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản
phẩm của sự vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế xã hội mà dân chủ còn là thành tựu của nền văn hoá nhân loại, là thước đo về trình độ giải phóng con người và xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử Mỗi bước tiến của dân chủ và mỗi trình độ phát triển của dân chủ là những nấc thang khác nhau của tiến bộ xã hội Phản ánh những kết quả khác nhau theo xu hướng ngày càng cao hơn và hoàn thiện hơn của tổ chức xã hội, của quản lý Nhà nước và quản lý xã hội nói chung Sự phát triển của dân chủ đồng thời là nhân tố kích thích và cũng là kết quả sự
Trang 16mở rộng và nâng cao tính tích cực chính trị của quần chúng Việc quần chúng nhận được nhiều hay ít những khả năng và điều kiện để tham gia vào các hoạt động của Nhà nước, các công việc quản lý xã hội, các hoạt động chính trị, điều đó phụ thuộc vào mức độ phát triển thực tế của dân chủ xã hội Của pháp luật dân chủ và tiến bộ xã hội Với dân chủ, con người chuyển từ thế bị động,
lệ thuộc bởi giai cấp bóc lột, thống trị tới chỗ xác lập vai trò chủ thể, tích cực trong xã hội mà mình trở thành người chủ Việc nhân dân lao động giành lấy dân chủ thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội để thay thế chế độ
xã hội cũ bằng chế độ xã hội mới tiên tiến hơn, dân chủ hơn có ý nghĩa tích cực về chính trị và văn hoá
Để có quan niệm đúng đắn và toàn diện về bản chất của dân chủ XHCN cần phải khắc phục tính chất phiến diện trước đây thường dẫn tới đồng nhất giản đơn giữa dân chủ với Nhà nước, với chế độ Nhà nước và từ đó quan niệm rằng sự tiêu vong của Nhà nước (đến một lúc nào đó trong tiến trình phát triển của lịch sử) cũng đồng thời là sự tiêu vong của dân chủ Điều đó đem lại cảm giác rằng, dường như dân chủ là một vấn đề tạm thời, vấn đề quyền lực của giai cấp thống trị gắn liền với tổ chức và bộ máy Nhà nước Cũng do đó, trong quan niệm truyền thống dân chủ chỉ được xem như một phạm trù lịch sử Phương pháp tiếp cận hệ thống khắc phục tình trạng ấy bằng cách xác định một tập hợp các yếu tố nổi bật và quan trọng nhất dưới đây:
1 Dân chủ được xét với tư cách là hình thức tổ chức xã hội, là phương thức quản lý và điều hành xã hội được xây dựng thành các thiết chế, Quy chế, chế độ được bảo đảm về mặt pháp lý và được biểu hiện thành trật tự của tổ chức, bộ máy Nhà nước Dân chủ trở thành một hình thức tổ chức Nhà nước, thông qua tổ chức và quản lý để thực hiện quyền lực đối với xã hội Lẽ đương nhiên, chủ thể trực tiếp của quyền lực đó trước hết thuộc về một giai cấp hoặc lực lượng xã hội nào nắm quyền điều khiển, chi phối xã hội Trong mối tương
Trang 17quan với quyền lực Nhà nước và chế độ nhà nước, dân chủ ở đây được hiểu là
chế độ dân chủ, là nền dân chủ Với ý nghĩa này và trong mối quan hệ giữa
chế độ dân chủ với chế độ nhà nước thì dân chủ mới là một phạm trù lịch sử Nói cách khác dân chủ chỉ là phạm trù lịch sử và chỉ tiêu vong với nghĩa dân chủ được xây dựng thành chế độ quyền lực và được tổ chức thành chế độ nhà nước Sự tiêu vong của nhà nước chỉ làm mất đi các hình thái biểu hiện quyền lực bằng Nhà nước của dân chủ chứ không làm mất đi nhu cầu xã hội của dân chủ mà thực chất của nhu cầu này là nhân dân trở thành người chủ xã hội, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân tự quản lý, tự quyết định mọi vấn đề của chính bản thân họ Nó cũng không làm mất đi các giá trị của dân chủ mà trung tâm của các giá trị này là tự do, là thành quả đấu tranh xã hội để giành lấy tự do cho con người, con người trở thành tự do, làm chủ và sáng tạo Nền dân chủ, chế độ dân chủ từng xuất hiện từ thời cổ đại và sẽ còn tồn tại lâu dài trong lịch sử Theo dự kiến của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ đến khi chủ nghĩa Cộng sản thắng lợi hoàn toàn, khi ấy Nhà nước trở nên thừa, nó sẽ tự tiêu vong, lúc ấy mới có thể đi tới sự tiêu vong của chế độ dân chủ
Trong tác phẩm "Nhà nước và cách mạng", Lênin đã nhấn mạnh rằng:
Trong những nhận định thông thường về Nhà nước, người ta luôn luôn phạm một sai lầm mà Ăng ghen đã căn dặn phải đề phòng
ở đây… Sai lầm ấy là: Người ta luôn quên rằng thủ tiêu nhà nước cũng là thủ tiêu chế độ dân chủ và Nhà nước tiêu vong cũng là chế
độ dân chủ tiêu vong… và chế độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước… chế độ dân chủ càng hoàn bị bao nhiêu thì nó càng gần đến lúc trở thành thừa bấy nhiêu [54, tr 33, 101]
2 Dân chủ còn được hiểu là một giá trị xã hội Dân chủ với tư cách
Trang 18quyền lực của nhân dân được coi như một giá trị đứng ngang hàng với các giá trị cơ bản khác của con người, như tự do, bình đẳng, tôn trọng phẩm giá con người Giá trị xã hội đích thực của dân chủ là ở chỗ giành về cho đại đa số nhân dân lao động những quyền lực của chính họ thông qua đấu tranh cải tạo
xã hội cũ và xây dựng xã hội mới của chính bản thân quần chúng nhân dân
Sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa dân chủ và CNXH là ở đó CNXH tìm thấy dân chủ một thuộc tính bản chất, một trong những động lực phát triển nội tại của mình Dân chủ trên con đường tiến hoá và phát triển tìm thấy ở hình thức tổ chức xã hội XHCN những khả năng và điều kiện tốt nhất để bộc lộ đầy đủ tiềm lực, sức mạnh bản chất, chân giá trị của mình
1.1.1.2 Thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trong lao động và sinh sống, nhân dân luôn gắn bó mật thiết với một đơn vị, một tổ chức, một địa bàn dân cư nhất định Bất cứ một tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng bao gồm hệ thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn Những cấu trúc nhỏ nhất trên một hệ thống có tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn bộ hệ thống được gọi là
cơ sở Cơ sở là “tế bào” của hệ thống Bất cứ một công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống Đó chính là xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở… nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ XHCN, được tổ chức thành 04 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là nơi kiểm nghiệm một cách chính xác nhất đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thực tiễn khách quan Dân chủ, với ý nghĩa tối cao nhất là quyền tự nhiên của
Trang 19con người được thực hiện trước hết là ở cơ sở Nhân dân có quyền được biết, được bàn và tham gia giải quyết và kiểm tra giám sát mọi hoạt động diễn ra ở
cơ sở được thực hiện dưới hình thức gián tiếp và dân chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện
ý chí, nguyện vọng đối với những vấn đề về tổ chức và hoạt động ở cơ sở Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động nhạy cảm nhất những vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa Dân chủ trực tiếp giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm chính sách pháp luật một cách nhanh nhất, sát với thực tế khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa chính quyền với nhân dân Tăng cường, hoàn thiện và thực hiện dân chủ thực sự là mục tiêu lâu dài và thường xuyên của Đảng và Nhà nước Mỗi bước phát triển của dân chủ phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật Dân chủ phải gắn liền với pháp luật và thực hiện pháp luật Song việc phát huy và mở rộng dân chủ phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của mỗi cộng đồng, dân chủ gắn liền với kỷ cương Hiện tại, các quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở của Nhà nước ta mới chỉ thể chế đối với cơ sở xã, phường, thị trấn, cơ quan doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Trong đó, dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một nội dung quan trọng chủ yếu đề cập đến thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền 04 cấp ở nước ta theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Còn rất nhiều loại hình cơ sở khác chưa có quy định về thực hiện dân chủ đặt ra cho Đảng Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là quyền trực tiếp của người dân (mặc dù gồm cả dân chủ đại diện) được tiến hành từ cấp xã trở xuống (đến cấp thôn, xóm, đơn vị, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp) theo phương châm dân biết, dân
Trang 20bàn, dân làm, dân kiểm tra Dân chủ ở cơ sở trước hết là dân chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở cơ sở
1.1.1.3 Các phương thức thực hiện dân chủ ở cơ sở:
Pháp luật ghi nhận các quyền dân chủ của công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, song dù ghi nhận đầy đủ đến đâu cũng trở nên không có
ý nghĩa nếu không có các phương thức thực hiện nó trong cuộc sống Phương thức thực hiện quyền dân chủ là cách thức, phương pháp để đưa các giá trị dân chủ vào cuộc sống, làm cho nó trở thành hiện thực trực tiếp và phổ biến trong đời sống cộng đồng và của quản lý xã hội Vai trò quyết định đối với việc thực hành dân chủ thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hai hình thức là dân chủ đại diện (dân chủ gián tiếp) và dân chủ trực tiếp
- Dân chủ đại diện:
Dân chủ đại diện là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp từ chủ thể quyền lực mà thông qua đại diện có thẩm quyền do chủ thể bầu ra Chủ thể quyền lực (tức nhân dân) vẫn giữ cho mình quyền và chức năng tác động, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan đại diện Dân chủ đại diện là một hình thức thực hiện dân chủ quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong quy trình thực hiện quyền lực của nhân dân và đã được thực tiễn hoạt động Nhà nước trong các quốc gia dân chủ ghi nhận Hình thức đầu tiên của chế độ dân chủ đại diện là chế độ đại nghị tư sản, ra đời trong lòng chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế, trở thành công cụ của giai cấp tư sản trong quá trình đang lên Ở Việt Nam, dân chủ đại diện với các quan điểm của chế độ "dân uỷ" đã được khẳng định ngay trong Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) và tiếp tục khẳng định trong tất cả các bản
Trang 21Hiến pháp sau này Điều 6, Hiến pháp 1992 quy định: "Nhân dân sử dụng
quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân" [42, Điều 6] Như vậy, hình thức chủ yếu
của dân chủ đại diện ở nước ta là thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Ngoài ra nhân dân còn làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp của nhân dân được lập nên theo nguyên tắc tự nguyện
Tuy nhiên, dân chủ đại diện dù có ý nghĩa quan trọng đến mấy vẫn không thể khắc phục được những hạn chế của chế độ Nhà nước với tính cách
là chủ thể quyền lực được uỷ quyền nhưng lại trực tiếp thực hiện quyền năng của người uỷ quyền là nhân dân Do vậy, trong một phạm vi, mức độ đáng kể nhân dân vẫn bị tách khỏi quyền lực nước và không phải lúc nào những uỷ quyền của nhân dân cũng được thực thi đúng Vẫn có nguy cơ về căn bệnh tha hoá quyền lực, quan liêu hoá bộ máy Nhà nước, sự cồng kềnh, kém hiệu quả của các thiết chế quyền lực, sự xuất hiện một bộ phận cán bộ đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Nhà nước sẽ khó khắc phục nổi nếu thiếu các nỗ lực của các lực lượng quần chúng nhân dân Để khắc phục tình trạng đó cần phải có sự tham gia tích cực và chủ động của nhân dân với tư cách là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực Nhà nước - Đó chính là chế độ dân chủ trực tiếp
- Dân chủ trực tiếp:
Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực về những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộng đồng Cơ quan quản lý có trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đưa nó vào thực thi trong cuộc sống
Dân chủ trực tiếp có vị trí, vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với toàn bộ đời sống dân chủ của đất nước được thể hiện trên những điểm chính sau đây:
Trang 22Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, dân cư Thông qua hình thức dân chủ trực tiếp, nhân dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện để tập dượt, trưởng thành, trở thành người chủ đích thực Một nhà nước biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao đời sống của dân thì nhân dân không chỉ nói lên điều mình mong muốn mà còn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng nhà nước cần phải hành động như thế nào, bằng phương pháp và công cụ nào để giải quyết các vấn đề kinh
tế - xã hội Thực tiễn của những năm đổi mới vừa qua đã chứng tỏ rằng, những sáng kiến đầy tâm huyết của nhân dân đã tạo nên nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế cho những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tạo ra những bước phát triển vững chắc của đất nước trên con đường phát triển và hội nhập
Dân chủ trực tiếp tạo nên cơ chế đối trọng, kiểm tra, giám sát đối với hình thức dân chủ đại diện, với bộ máy Nhà nước, giảm bớt sự tuỳ tiện, lộng quyền, phát huy được tính tự giác, tích cực của mỗi thành viên trong một tập thể, một cộng đồng Khắc phục thói quen trí tuệ, ỷ lại, trông chờ người khác Phát huy truyền thống tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh"
Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động nhạy cảm nhất, những thông tin phản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm lại đường lối, chính sách của mình một cách nhanh nhất, kịp thời sửa chữa, bổ sung, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, xa với thực tế, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Trang 23Dưới góc độ pháp lý, dân chủ trực tiếp được thể hiện ở ba nhóm quyền năng cơ bản của nhân dân là: Các quyền năng thể hiện, xác lập ý chí trực tiếp của nhân dân đối với các vấn đề quốc gia, dân tộc (đưa ra các sáng kiến, thỉnh nguyện, trưng cầu ý dân…); các quyền năng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong khuôn khổ phạm vi được uỷ quyền theo luật định (quyền lập ra bộ máy nhà nước; quyền giám sát các hoạt động của bộ máy Nhà nước; quyền bãi miễn các đại biểu do nhân dân bầu vào cơ quan đại diện và quyền lực Nhà nước…); Các quyền năng của nhân dân trực tiếp giải quyết các công việc của cộng đồng mà không cần có sự can thiệp trực tiếp của công quyền
Tăng cường và hoàn thiện các chế độ thực hiện dân chủ của nhân dân là việc làm lâu dài và thường xuyên của Đảng và Nhà nước để bảo đảm mỗi bước phát triển của dân chủ phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật có tính chất mở đường định hướng cho sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nhưng việc phát huy và mở rộng dân chủ phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân chủ đi đôi với kỷ cương, quyền hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ
1.1.2 Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
1.1.2.1 Khái niệm
Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã là tập hợp các văn bản, quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chính quyền cơ sở với công dân trong việc phải công khai những việc để dân biết; những việc dân bàn và quyết định hoặc biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định; những việc dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và những việc dân giám sát
Trang 241.1.2.2 Vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
- Vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã với việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam:
Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định [28, tr 173]
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã được ban hành kèm theo Nghị định số 29/1998/ND-CP ngày 11/5/1998; Quy chế thực hiện dân chủ ở xã được ban hành kèm theo Nghị định số 79/2003/NĐ-CP, ngày 07/07/2003 và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn số 34/2007/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngày 20/4/2007 và các văn bản, quy định trên là một chế định pháp luật hợp thành của hệ thống pháp luật Việt Nam Sự ra đời của các văn bản, quy định của quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, đặc biệt là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới Bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN, là những quan hệ xã hội quan trọng phải được điều chỉnh bằng pháp luật Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã đã thể chế hoá các chủ trương lớn của Đảng là: Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được Phương châm:
Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra chưa được cụ thể hoá
và thể chế hoá thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống… phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý
Trang 25nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng [16] Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã góp phần nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác như: "Luật tổ chức HĐND – UBND; Luật giải quyết khiếu nại, tố cáo; Luật bầu cử Quốc hội; Luật bầu cử HĐND các cấp",
nó đã thúc đẩy các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ pháp lý để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân theo quy định của pháp luật
Như vậy quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, "nó" không chỉ là công cụ thể chế hoá một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước mà còn đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác
- Vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã trong đời sống xã hội:
Với các quan điểm chỉ đạo trong quá trình xây dựng quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã là:
Đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong
cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn một mặt mà coi nhẹ, hạ thấp các mặt khác Vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng thiết thực, gắn liền với lợi ích của mình Phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả [16]
Trang 26Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, thể hiện trên các lĩnh vực
+ Trong lĩnh vực chính trị:
Dân chủ trong lĩnh vực chính trị, theo Lênin:
Áp dụng chế độ dân chủ Xô Viết, tức là chế độ dân chủ vô sản một cách cụ thể nhất… trước hết các cử tri đều phải là quần chúng cần lao và bị bóc lột… Hai là: Mọi thủ tục và những hạn chế
có tính quan liêu đều bị xoá bỏ, quần chúng tự quy định lấy thể thức
và thời hạn bầu cử, hoàn toàn có quyền tự do bãi miễn những người
Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, mà đặc biệt là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã cho nhân dân thấy được vai trò làm chủ thực
sự của mình, họ thực sự là chủ thể của quyền lực Nhà nước, là đối tượng kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước Được tham gia tổ chức và tự giác trong bầu cử trực tiếp ra các cơ quan Nhà nước của mình (bầu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) Được nâng cao dân trí, hiểu biết cơ bản về đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước để có hiểu biết, có ý thức pháp luật, hiểu rõ quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân… một cách ngày càng rõ ràng đúng đắn Được tham gia bảo vệ Đảng, chính quyền bằng việc giám sát, kiểm tra, góp ý xây dựng, phê bình… đối với Đảng viên, cán bộ Nhà nước và đoàn thể các cấp Phát
Trang 27hiện, ngăn chặn các biểu biểu hiện sai trái, tiêu cực Được tham gia quản lý Nhà nước trực tiếp ở cấp cơ sở theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
+ Trong lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội:
Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã góp phần nâng cao hơn quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, nhân dân được bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc liên quan trực tiếp đến lợi ích của mình như chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định pháp luật Thực tế cho thấy trong những năm qua trên phạm vi cả nước nhân dân đã dốc công, dốc của để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng
"Điện, đường, trường, trạm", tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo, hiến tặng đất đai, tài sản cho các công trình quan trọng của quốc gia Được quyền làm chủ trên lĩnh vực kinh tế nhân dân tự giác hơn trong việc thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước, nhất là nghĩa vụ thuế
Như vậy, nhiều vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội trước đây giải quyết rất khó khăn, phức tạp, nhưng nhờ Pháp lệnh thực hiện dân chủ mà phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mọi người được biết, được bàn dân chủ, chính quyền các cấp nâng cao trách nhiệm và công khai hoá nên đã giải quyết các vấn đề kinh tế một cách thuận lợi, không phát sinh khiếu kiện đông người, kéo dài Không nảy sinh mâu thuẫn lớn; nhiều công trình kinh tế, văn hoá, xã hội đòi hỏi sự đóng góp sức dân rất lớn, nhờ vận dụng phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", nên đã đem lại những thành tựu rất lớn cho nền kinh tế, xã hội của đất nước
+ Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước:
Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã là công cụ cho hoạt động quản lý,
Trang 28điều hành của chính quyền cơ sở, nó xác định rõ những nhiệm vụ và phương thức thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cơ sở một cách khá cụ thể Mặt khác nhân dân cũng xác định được phạm vi, nội dung những nghĩa vụ mà chính quyền phải thực hiện đối với nhân dân; tránh được những đòi hỏi, yêu sách quá đáng, thiếu cơ sở gây rối loạn trật tự xã hội cũng như cản trở hoạt động đúng đắn của chính quyền
1.1.2.3 Quá trình hình thành quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước, là chủ trương của Đảng, là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới Trong 4 bản Hiến pháp nước ta, trước sau vẫn khẳng định quyền lực Nhà nước là thuộc về nhân dân Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước Điều này không chỉ được làm sáng tỏ về mặt lý luận mà còn thể hiện ở cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước trên thực tiễn sao cho ý tưởng về một Nhà nước của dân, do dân, vì dân trở nên hiện thực, hiệu quả
Trong tiến trình đổi mới đất nước những năm qua chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ nhất là dân chủ về kinh tế, quyền tự do làm ăn, kinh doanh, tham gia quản lý Nhà nước Bên cạnh đó tình trạng quan liêu, mất dân chủ trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền và đoàn thể, với những biểu hiện của sự xa dân, lộng quyền, hách dịch, sống xa hoa, lãng
phí Đảng ta đã chỉ rõ: "Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp
xếp lại, tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ của nhân dân" [15, tr 66 - 67] Trên thực
tế đã xảy ra hiện tượng quan liêu, mất dân chủ ở một bộ phận cán bộ, Đảng viên, nhất là chính quyền địa phương ở nhiều nơi trong cả nước, có nơi rất nghiêm trọng Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành pháp luật Một số cán bộ chính quyền đã lợi dụng kẽ hở trong quá trình chuyển đổi cơ chế đã lợi dụng việc bán đất, đấu
Trang 29thầu, thực hiện dự án huy động dân đóng góp quá sức vào xây dựng cơ sở hạ tầng, lập quỹ trái phép, lạm dụng công quỹ, tham ô, hối lộ, mưu lợi cá nhân, quản lý lỏng lẻo gây thất thoát công quỹ Trong khi đó, nhiều đòi hỏi của dân
về công bằng, dân chủ, công khai không được thực hiện, nhân dân hầu như không được tham gia, bàn bạc, thảo luận và quy định những công việc cụ thể liên quan đến đời sống của dân, vì vậy đã làm dân bất bình, phản ứng gay gắt
Do đó, mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách đúng hướng là cách tốt nhất để khắc phục, hạn chế tình trạng trên Ngày 18/2/1998 Bộ chính trị, ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII) đã ra chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Chỉ thị nêu rõ:
Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được Phương châm
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống [19, tr 9] Nhằm khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng, chỉ thị nhấn mạnh:
Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất
Muốn vậy, Nhà nước cần ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở
có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện [19, tr 10]
Như vậy, Đảng ta đã xác định dân chủ phải bắt đầu từ cơ sở, bởi vì cơ
sở là nơi trực tiếp gắn bó với nhân dân, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện
Trang 30mọi chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; mọi sự đổi mới của hệ thống chính trị ở cơ sở dù lớn hay nhỏ đều tác động trực tiếp và nhanh chóng đến quyền và nghĩa vụ của nhân dân
Thực hiện và thể chế hoá các quan điểm của Đảng, ngày 26/2/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 45 - 1998/NQ-UBTVQH
10 giao cho Chính phủ khẩn trương ban hành Quy chế dân chủ ở xã, thị trấn, phường Quán triệt tinh thần đó, ngày 11/5/1998, chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (kèm theo Quy chế); để tổ chức đưa Quy chế vào cuộc sống ngày 15/5/1998 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 22/1998/CT-TTg về việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở xã và Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ nội vụ) ban hành Thông tư số 03/1998/TT-TCCP ngày 6/7/1998 hướng dẫn áp dụng "Quy chế thực hiện dân chủ ở xã" đối với phường và thị trấn
Thực tiễn quá trình triển khai, nội dung Quy chế đã bộc lộ những điểm chưa hoàn chỉnh như: Tính dân chủ hoá, công khai hoá trong việc cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân ở
cơ sở cũng như trong việc lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành chủ trương, chính sách còn hạn chế Mức độ tham gia của dân trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân còn hạn hẹp tính trách nhiệm của chính quyền xã và những người đứng đầu trong việc thực hiện Quy chế chưa quy định rõ là; Một số nội dung, phương thức thực hiện "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" còn thiếu và chưa phù hợp với thực tiễn, khó thực hiện
Định hướng cụ thể cho vấn đề phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tiếp đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn sau gần bốn năm thực hiện "Quy chế", Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX đã ra Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/20002 về "Đối mới và nâng cao chất lượng hệ thống
Trang 31chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn" Tiếp đó, Ban bí thư Trung ương Đảng cũng ra Chỉ thị số:10/CT/TW ngày 28/3/2002 về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Xuất phát từ các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và qua thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở xã nêu trên Ngày 7/7/2003, Chính phủ đã ra Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (kèm theo Quy chế) thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998
Thông tư số 03/1998/TT-TCCP về hướng dẫn áp dụng Quy chế thực hiện dân chủ ở xã;
Kế hoạch số 145/TCCP-ĐP, ngày 06/7/1998 của Ban tổ chức – Cán
bộ Chính phủ về kế hoạch triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;
Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg, ngày 19/6/1998 về việc xây dựng hương ước, quy ước của làng thôn, ấp, cụm dân cư;
Để cụ thể hóa các quy định về hương ước, Nhà nước đã ban hành Thông tư liên tịch số: 03/2000/TTLT-BVHTT-BTTUBTWMTTQVN ngày 31/3/2000 hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư và Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT-BVHTT-BTTUBTWMTTQVN-UBQGDS-KHHGĐ hướng dẫn bổ sung Thông tư liên tịch số: 03/2000/TTLT-BVHTT-BTTUBTWMTTQVN ngày 31/3/2000, bổ sung nội dung thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình vào trong hương ước;
Căn cứ Nghị quyết số 17/NQ-TW, ngày 18/3/2002 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, phường, thị trấn và Chỉ thị số 10/CT-TW, ngày 28/3/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành Nghị
Trang 32định số 79/2003/NĐ-CP, ngày 07/7/2003 của Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, thay thế Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, ngày 11/5/1998 của Chính phủ Sau đó Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 12/2004/TT-BNV hướng dẫn thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Do đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã tiếp tục khẳng định: Phát huy dân chủ là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược đối với tiến tình phát triển nước ta Vì vậy, cần có một văn bản pháp luật cao hơn Nghị định để điều chỉnh vấn đề thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn Trên cơ sở đó, ngày 20/4/2007 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Để cụ thể hóa nội dung của Pháp lệnh này, Chính phủ phối hợp với UBMTTQVN ban hành Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN, ngày 17/4/2008 hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Nhân dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình thông quan việc giám sát của Ban thanh tra nhân dân (được quy định tại Luật Thanh tra) và Ban giám sát đầu tư của cộng đồng (được quy định tại Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng và Thông tư liên tịch số 04/2006/ TTLT/KH&ĐT-UBTUMTTQVN-TC, ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng)
Ngày 04/3/2010, thay mặt Ban Bí thư Trung ứng Đảng, đồng chí Trương Tấn Sang đã ký ban hành Kết luận số 65-KH/TW của Ban Bí thú về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Trang 331.2 Nội dung quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
1.2.1 Hệ thống văn bản, quy định của quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
1.2.1.1 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là phương thức thể hiện chủ yếu và quan trọng nhất của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã Bên cạnh đó còn một số văn bản, quy định (được quy định trong văn bản) khác mà thực chất việc quy định này để làm rõ hơn các quy định tại Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là phương thức, là cơ sở để nhân dân thực hiện tối đa quyền làm chủ của mình Các văn bản, quy định đó là:
1.2.1.2 Nghị quyết liên tịch 09/2008/NQLT-CP-UBTUMTTQVN, ngày 17/4/2008 của Chính phủ - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là văn bản Hướng dẫn thi hành các Điều 11, Điều 14, Điều 16, Điều 22 và Điều
26 của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
1.2.1.3 Điều 68, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Thanh tra 2010 quy định về Thanh tra nhân dân và Ban thanh tra nhân dân
1.2.1.4 Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN, ngày 31/3/2000 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư
1.2.1.5 Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng và Thông tư liên tịch số 04/2006/ TTLT/KH&ĐT-UBTUMTTQVN-TC, ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg, ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng
Trang 341.2.2 Nội dung quy định quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã
Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã gồm các nội dung: Nội dung công khai để nhân dân biết, nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp hoặc biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định, nội dung nhân dân tham gia ý
kiến và nội dung nhân dân giám sát
1.2.2.1 Nội dung công khai để nhân dân biết
Một trong những quyền trước tiên của nhân dân đó là quyền được biết
về tình hình chung đang diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của của địa phương và những vấn đề cụ thể có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân mỗi người dân, cũng như của gia đình và cộng đồng dân cư
Điều 5, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định:
Những nội dung công khai:
1 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
2 Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
3 Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân
4 Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
5 Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển
Trang 35sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
6 Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
7 Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
8 Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
9 Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu
10 Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
11 Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp
xã thấy cần thiết [53, Điều 5]
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm công khai các nội dung trên để nhân dân biết bằng một trong các hình thức hoặc đồng thời bằng nhiều hình thức như niêm yết công khai tại trụ sở, công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã, công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân để nhân dân được biết
Trang 36Điều 6, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định:
b) Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã;
c) Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
để thông báo đến nhân dân
2 Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai quy định tại khoản 1 Điều này; thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 32 của Luật phòng, chống tham nhũng [53, Điều 6]
1.2.2.2 Nội dung nhân dân bàn và quyết định
+ Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
"Dân bàn" là khâu thứ hai bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Bàn
là tôn trọng quyền tự do ngôn luận của nhân dân, người dân được phát ngôn, biểu thị ý chí, nguyện vọng của mình đối với cộng đồng cũng như với chính quyền Không có cơ chế dân chủ thì nhân dân sẽ không có điều kiện "bàn" các vấn đề họ quan tâm Việc nhân dân được bàn bạc và quyết định những vấn đề thuộc lĩnh vực pháp luật cho phép đã giúp cho nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy trí tuệ, tạo động lực thúc đẩy nhân dân tham gia, hưởng ứng nhiệt thành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng việc đóng góp sức lực, của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng; xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế Như vậy vấn đề "Dân biết" để "bàn", để "làm" là nhu cầu hết sức cấp bách và khách quan của mọi người dân
Trang 37Điều 10, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định:
Nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật [53, Điều 10]
Để giúp cho nhân dân thực hiện nội dung bàn và quyết định trực tiếp, Điều 11, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định phương thức thực hiện những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
1 Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những nội dung quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh này bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;
b) Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
2 Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc
bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện
hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp
3 Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình [53, Điều 11]
+ Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền
quyết định:
Điều 13, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định
Trang 38các nội dung nhân dân được bàn, biểu quyết Kết quả biểu quyết là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định
Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết:
1 Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố
2 Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố
3 Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban
giám sát đầu tư của cộng đồng [53, Điều 13]
Việc xây dựng hương ước, quy ước được quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN, ngày 31/3/2000 Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản,
thôn, ấp, cụm dân cư
Điều 14, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định phương thức thực hiện những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết như sau:
1 Nhân dân bàn và biểu quyết những nội dung quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh này bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;
b) Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
2 Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc
bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện
hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp
3 Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố [53, Điều 14]
Trang 39Chương I, Nghị quyết liên tịch 09/2008/NQLT-CP-UBTUMTTQVN, ngày 17/4/2008 Hướng dẫn thi hành các Điều 11, Điều 14- hướng dẫn cụ thể về việc: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
1.2.2.3 Nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
Ngoài việc người dân được "bàn" và quyết định những vấn đề cụ thể" nêu trên, còn những vấn đề mà việc quyết định cuối cùng phải do chính quyền
xã hoặc cấp trên thực hiện thì người dân cũng được tham gia đóng góp ý kiến
để giúp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan Nhà nước cấp trên có những quyết sách đúng đắn và sáng suốt Thực tế đã chứng minh có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được xuất phát từ sáng kiến của quần chúng ở cơ sở Vì vậy việc nhân dân bàn và tham gia ý kiến một số việc chủ yếu là thủ tục bắt buộc trước khi chính quyền xã hoặc cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền quyết định
Điều 19, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định:
Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến:
1 Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã
2 Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã
3 Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư
Trang 404 Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã
5 Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết [53, Điều 19]
Nhằm phát huy trí tuệ của đông đảo nhân dân, giúp chính quyền hoặc
cơ quan Nhà nước cấp trên có những quyết định đúng đắn, phù hợp lòng dân
và mang tính khả thi cao, Điều 20, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,
thị trấn quy định phương thức để nhân dân tham gia ý kiến bao gồm: “ 1 Họp
cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố 2 Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình 3 Thông qua hòm thư góp ý” [53, Điều 20]
Đồng thời, Điều 21 và Điều 22 Pháp lệnh quy định rất rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến (Điều 21); trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cấp trên về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân cấp xã tham gia ý kiến (Điều 22)
1.2.2.4 Nội dung nhân dân giám sát
Giám sát của nhân dân là một nội dung thực hiện quyền dân chủ của nhân dân nhằm góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể nhân dân trong sạch, vững mạnh Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kịp thời phát hiện những sai phạm để xử lý kỷ luật, tạo dựng trật tự kỷ cương, góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Do đó, quyền giám sát không chỉ thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan chuyên trách công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, mà còn phải lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia Nhân dân cần được giám sát những gì có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của
họ, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước địa phương,