1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

148 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định các trường cao đẳng trong đó có hình thức đào tạo cao đẳng chính quy sẽ được chuyển sang hình thức đào tạo cao đẳng nghề, như vậy việc xây dựng ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THỊ HẰNG NGA

§æI MíI CH¦¥NG TR×NH d¹y M¤N PH¸P LUËT

TRONG C¸C TR¦êNG CAO §¼NG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THỊ HẰNG NGA

§æI MíI CH¦¥NG TR×NH d¹y M¤N PH¸P LUËT

TRONG C¸C TR¦êNG CAO §¼NG

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ DUYÊN THẢO

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Thị Hằng Nga

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHƯƠNG TRÌNH DẠY MÔN PHÁP LUẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG 7

1.1 Chương trình dạy học và chương trình dạy học trong các trường cao đẳng 7

1.1.1 Chương trình dạy học 7

1.1.2 Chương trình dạy học trong các trường cao đẳng 10

1.2 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Cấu trúc của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 16

1.3 Đặc điểm của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 18

1.3.1 Việc thiết kế, xây dựng chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng đề cao yêu cầu phù hợp với thực tiễn và đặc thù giáo dục nghề nghiệp của từng trường 18

1.3.2 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có thời lượng và nội dung giảng dạy theo hướng tăng cường các kiến thức pháp luật chuyên ngành, phục vụ quá trình làm nghề sau này của sinh viên ra trường 20

Trang 5

1.3.3 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có

cách thức và phương pháp giảng dạy được thiết kế trên cơ sở phù

hợp với đặc thù của đối tượng giảng dạy là các sinh viên thuộc cấp

bậc giáo dục nghề nghiệp 21 1.3.4 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có

cách thức kiểm tra, đánh giá đa dạng, linh hoạt, xuất phát từ yêu

cầu phù hợp với sự đa dạng của các đối tượng sinh viên được đào

tạo nghề trong các trường cao đẳng 23 1.3.5 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có quy

định về chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng (chuẩn đầu ra) liên quan

đến pháp luật của sinh viên phải phù hợp với đặc thù nghề nghiệp

và có thể phục vụ đắc lực cho quá trình hành nghề của từng đối

tượng sinh viên được đào tạo trong các trường cao đẳng 24

1.4 Mục đích, vai trò của chương trình dạy môn pháp luật trong

các trường cao đẳng 26

1.4.1 Mục đích của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường

cao đẳng 26 1.4.2 Vai trò của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường

cao đẳng 28

1.5 Tiêu chí đánh giá chất lượng của chương trình dạy môn pháp

luật trong các trường cao đẳng 33 1.6 Một số vấn đề lý luận về đổi mới chương trình dạy môn pháp

luật trong các trường cao đẳng 37

1.6.1 Tính tất yếu khách quan của việc đổi mới chương trình dạy môn

pháp luật trong các trường cao đẳng 37 1.6.2 Nguyên tắc, yêu cầu của việc đổi mới chương trình dạy môn pháp

luật trong các trường cao đẳng 41

Trang 6

1.6.3 Mục đích của việc đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong

các trường cao đẳng 43

1.7 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về xây dựng, thực hiện chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 44

1.7.1 Kinh nghiệm của Singapore 44

1.7.2 Kinh nghiệm của Mỹ 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 52

Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH DẠY MÔN PHÁP LUẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG 55

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 55

2.1.1 Nội dung các quy định pháp luật hiện hành về chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 55

2.1.2 Đánh giá quy định pháp luật về chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 66

2.2 Thực trạng tổ chức, thực hiện chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 70

2.2.1 Thực trạng tổ chức xây dựng chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 70

2.2.2 Thực trạng thực hiện về nội dung, thời gian phân bổ trong chương trình dạy môn pháp luật của các trường cao đẳng 73

2.2.3 Thực trạng về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn pháp luật của các trường cao đẳng 78

2.2.4 Thực trạng về cách thức kiểm tra đánh giá môn học pháp luật trong các trường cao đẳng 81

Trang 7

2.2.5 Thực trạng kết quả về mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ pháp luật

của sinh viên sau khi tổ chức, thực hiện chương trình dạy môn

pháp luật trong các trường cao đẳng hiện nay 84

2.3 Đánh giá thực trạng tổ chức, thực hiện chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 87

2.3.1 Những thành tựu 87

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 97

Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH DẠY MÔN PHÁP LUẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG 99

3.1 Quan điểm của Đảng về đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 99

3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 101

3.2.1 Phát triển và đa dạng hóa phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong chương trình dạy môn pháp luật 101

3.2.2 Xây dựng chương trình dạy môn pháp luật có nội dung mang tính thực tiễn, thực hành, góp phần phát triển kỹ năng nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp 105

3.2.3 Xây dựng chương trình dạy môn pháp luật có nội dung gắn với giáo dục đạo đức góp phần phát triển phẩm chất cho sinh viên 106

3.2.4 Nâng cao trình độ, kỹ năng của đội ngũ giảng viên giảng dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng 107 3.2.5 Hoàn thiện hệ thống học liệu của môn học pháp luật, tạo sự thống

nhất về nội dung kiến thức trong giảng dạy và học tập môn học

Trang 8

3.2.6 Tăng cường sự quản lý, kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác giáo

dục pháp luật cho sinh viên của các trường cao đẳng, tăng cường

xử lý vi phạm nhằm nâng cao trách nhiệm của các trường cao đẳng

trong quá trình các trường xây dựng, tổ chức, thực hiện chương

trình dạy môn pháp luật 112

3.2.7 Các trường cao đẳng cần xây dựng đa dạng, đồng bộ chương trình dạy các môn học pháp luật chuyên ngành nhằm nâng cao tri thức, ý thức pháp luật về nghề nghiệp cho sinh viên 113

3.2.8 Đề xuất xây dựng dự thảo đề cương một số môn pháp luật trong các trường cao đẳng 115

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 115

KẾT LUẬN CHUNG 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mức độ thường xuyên giáo viên kết hợp các hình

Bảng 2.2: Lượng đề thi giáo viên sử dụng theo từng phương

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo toàn diện của nhà trường cũng như yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước

ta đã chủ trương đưa giáo dục pháp luật vào nhà trường Nghị quyết số 14/TU ngày 11/01/1979 về cải cách giáo dục, các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V,VI,VII đều đã thể hiện nhất quán chủ trương đó và nhấn mạnh vai trò của phổ biến giáo dục pháp luật trong quá trình xây dựng con người mới

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vai trò của giáo dục pháp luật không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các tầng lớp nhân dân nói chung mà còn đặc biệt quan trọng đối với một chủ thể đóng vai trò là nguồn lực xây dựng tương lai của nước nhà, kiến thiết nên tương lai của đất nước – đó chính là đối tượng học sinh, sinh viên trong nhà trường Nhận thức rõ vai trò của giáo dục pháp luật với đối tượng này thì Chỉ thị số 32 – CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban bí thư trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân và Quyết định số 13/2003/ QĐ-TTg ngày 17/01/2013 của Thủ tướng

Chính phủ: “…Chú trọng việc chuẩn hóa nội dung chương trình, tài liệu,

sách giáo khoa giảng dạy pháp luật chính khóa cũng như việc tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật ngoại khóa bằng nhiều hình thức phong phú…”

đã góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường hiện nay Cho đến nay việc chuẩn hóa nội dung chương trình dạy môn pháp luật cũng như tài liệu giảng dạy pháp luật đã đạt được những thành tựu đáng kể cả về tư duy và hành động tuy nhiên trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập về nội dung chương trình, pháp luật về chương trình dạy môn pháp luật còn chồng chéo, chưa thống nhất, triệt để Tình trạng các trường cao

Trang 11

đẳng còn lúng túng, thực hiện chưa tốt việc xây dựng, thi hành pháp luật về chương trình dạy môn pháp luật

Hiện nay Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 đã có hiệu lực thi hành từ 1/7/2015 làm thay đổi diện mạo của hệ thống giáo dục quốc dân trong đó có giáo dục bậc học cao đẳng Đồng thời các văn bản hướng dẫn thi hành Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng do vậy chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng chưa được quy định một cách rõ ràng, hoàn chỉnh và thống nhất Luật giáo dục nghề nghiệp

2014 xác định rõ chương trình dạy môn pháp luật sẽ được giao cho các trường

tự xây dựng trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề mà không căn cứ vào chương trình khung của Bộ giáo dục đào tạo để xây dựng chương trình Việc quy định có một hạn chế đó là các trường cao đẳng dễ lâm vào tình trạng nếu không xây dựng tốt sẽ gây nên sự không thống nhất về chuẩn kiến thức, kỹ năng, nội dung chương trình dạy môn pháp luật cũng như chất lượng của chương trình dạy môn pháp luật và quan trọng nhất là chất lượng sinh viên ra trường

Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định các trường cao đẳng trong đó

có hình thức đào tạo cao đẳng chính quy sẽ được chuyển sang hình thức đào tạo cao đẳng nghề, như vậy việc xây dựng chương trình dạy môn pháp luật cho phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp, với đối tượng sinh viên học nghề hiện đang là vấn đề rất đáng quan tâm Hiện nay, Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập mạnh mẽ và sâu sắc cả về văn hóa, giáo dục, kinh tế… do vậy nhiệm vụ xây dựng chương trình dạy học của nhà trường nói chung và chương trình dạy môn pháp luật nói riêng phải phù hợp với xu hướng phát triển chương trình giáo dục với các nước trong khu vực, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu xã hội đang là một thử thách lớn đối với các trường cao đẳng Nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề cần phải hoàn thiện cũng như đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các

Trang 12

trường cao đẳng trong bối cảnh hiện nay nên tôi chọn đề tài “Đổi mới chương

trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng”

2 Tình hình nghiên cứu

Giáo dục pháp luật là vấn đề được đề cập trong rất nhiều các công trình

nghiên cứu khoa học như “Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp

luật” của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, “Giáo trình Lý luận chung

về nhà nước và pháp luật” của trường Đại học Luật Hà Nội, “Những vấn đề

cơ bản về pháp luật” của Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật Các công

trình nghiên cứu như Luận án tiến sỹ Luật học của Đinh Xuân Thảo “Giáo

dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề không chuyên luật ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sỹ luật học của Trương

Thị Hải Thanh “Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh

viên các trường cao đẳng ở Thái Nguyên hiện nay”, “Bàn về Giáo dục pháp luật” của Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, “Xác định mục tiêu, yêu cầu và nội dung chương trình dạy môn pháp luật trong các trường không chuyên luật” của Lê Minh Tâm (1995), “Về vấn đề giáo dục pháp luật trong các trường Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề” của Lê Ngọc Lan (1994),

“Giáo dục pháp luật trong các trường đại học không chuyên với việc cấu trúc lại kiến thức đào tạo ở bậc đại học” của Lê Viết Khuyến (1995), “Tiếp tục giáo dục pháp luật trong nhà trường – một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách”

của Nguyễn Duy Lãm (1995)

Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã đề cập, khai thác những khía cạnh khoa học của vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường tuy nhiên chưa có những công trình nghiên cứu trực tiếp về chương trình giáo dục môn pháp luật Hiện nay bậc học cao đẳng đã thay đổi cả về diện mạo và bản chất dẫn đến chương trình dạy môn pháp luật cũng cần phải có sự đổi mới Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về giải pháp nhằm hoàn thiện, đổi mới chương

Trang 13

trình dạy môn giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng không chuyên luật hiện nay vẫn chưa được thực hiện một cách có hệ thống và triệt để

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là góp phần nghiên cứu sâu sắc hơn các vấn đề

lý luận cũng như thực trạng của chương trình dạy môn pháp luật và đặc biệt là giải pháp đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng không chuyên luật, góp phần hoàn thiện chương trình cũng như nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chương trình dạy của môn học pháp luật trong các trường cao đẳng không chuyên luật hiện nay

Để thực hiện được mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Xây dựng khái niệm, quan niệm về chương trình dạy học nói chung

và chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng nói riêng Đồng thời làm rõ đặc điểm, nội dung của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

- Làm rõ tính đặc thù của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

- Đánh giá thực trạng về chương trình dạy môn pháp luật hiện nay, nguyên nhân dẫn đến thực trạng xảy ra trên thực tế

- Đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới chương trình dạy môn pháp luật góp phần ngày càng hoàn thiện chương trình và nâng cao hiệu quả trên thực tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi vào tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng bao gồm:

- Quan niệm, đặc điểm, nội dung của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

Trang 14

- Tính đặc thù của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

- Đánh giá thực trạng về chương trình dạy môn pháp luật cũng như thực trạng tổ chức thực hiện chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng hiện nay

- Kinh nghiệm của 1 số nước trên thế giới về chương trình dạy môn pháp luật tập trung vào phương pháp dạy học trong nhà trường

- Những giải pháp nhằm đổi mới chương trình dạy môn pháp luật

- Về thời gian: giai đoạn từ năm 1996 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp chung: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ

nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh Luận văn được thực hiện cũng như xây dựng trên cơ sở vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như quy định pháp luật của Nhà nước hiện hành

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp

phân tích, so sánh, quy nạp, diễn dịch, lịch sử, so sánh, tổng hợp, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phương pháp điều tra xã hội học pháp luật, thống kê để tiếp cận vấn đề và phân tích tổng hợp, so sánh để rút ra kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam

Trang 15

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đưa ra cái nhìn tổng quan về sự phát triển của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng thông qua đó có sự đánh giá, phân tích khách quan về thực trạng, nguyên nhân của thực trạng đó đồng thời đề xuất giải pháp đổi mới chương trình Đồng thời đưa ra một số những kinh nghiệm của 1 số quốc gia trên thế giới từ đó có thể vận dụng để đổi mới chương trình dạy môn pháp luật tại các trường cao đẳng không chuyên luật hiện nay

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những người học tập nghiên cứu về chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng, trung cấp Qua đó đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật về chương trình dạy môn pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập giáo dục khu vực cũng như nhu cầu đào tạo đội ngũ người lao động, hoàn thiện cả về chuyên môn và nhân cách làm người trong tương lai

7 Kết cấu của luận văn

Với những yêu cầu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương Cụ thể:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về chương trình dạy môn pháp luật trong

các trường cao đẳng

- Chương 2 Thực trạng xây dựng và thực hiện chương trình dạy môn

pháp luật trong các trường cao đẳng

- Chương 3 Giải pháp đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong

các trường cao đẳng

Trang 16

hệ biện chứng và phối hợp với các con đường, hoạt động khác trong quá trình giáo dục để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra Như vậy dạy học là hoạt động có phạm vi hẹp hơn so với hoạt động giáo dục nói chung

Giáo trình Giáo dục học đưa ra khái niệm Chương trình dạy học như

sau: “Chương trình dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành trong đó quy

định một cách cụ thể: vị trí, mục đích môn học, phạm vi và hệ thống nội dung môn học, sô tiết dành cho môn học nói chung, cho từng phần, từng chương, từng bài nói riêng” [29, tr.194] Cũng theo đó khái niệm chương trình dạy

học nêu trên được hiểu là chương trình dạy học của một môn học cụ thể

Theo quan điểm của một số tài liệu lí luận dạy học hiện nay, thì quan niệm về chương trình dạy học còn được hiểu theo nghĩa rộng đó là thuật ngữ Curriculum (Chương trình giáo dục) [29, tr 195]

Theo nghiên cứu của GS Nguyễn Đức Chính, thuật ngữ chương trình giáo dục xuất hiện từ năm 1820, tuy nhiên phải đến giữa thế kỉ 20, thuật ngữ này mới được sử dụng một cách chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ và một số nước có nền giáo dục phát triển Curriculum có gốc Latinh là Currere, có nghĩa là “to run” (chạy, điều hành hoặc “to run a course” - điều hành một khoá học) Do

Trang 17

vậy, định nghĩa truyền thống của chương trình giáo dục là “một khoá học” (Course of Study) [14, tr.12]

Theo K.Frey, nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu của nước Đức thì cho rằng:

Curriculum - Chương trình giáo dục là sự trình bày, diễn tả

có hệ thống việc dạy - học được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày đó là một hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh giá một cách tối ưu việc dạy - học [14, tr.15]

Một số học giả khác lại có quan niệm về chương trình giáo dục, đó là: một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hay vài năm) Như vậy một chương trình giáo dục không chỉ cho ta biết nội dung cần đào tạo mà còn chỉ ra phương pháp đào tạo

và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những định nghĩa, quan niệm về chương trình giáo dục Có thể kể đến quan điểm của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí – cố vấn Ban tuyên giáo Trung ương, ông cho rằng:

Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập, nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra [14, tr 16]

Ở góc độ pháp luật, Luật Giáo dục năm 2005, Điều 6 có đưa ra định nghĩa về chương trình giáo dục như sau:

Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục,

Trang 18

phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo [33, tr.5]

Điều 41 Luật Giáo dục năm 2005 cũng quy định:

Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác [3, tr.32]

Theo Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2015 cũng thể hiện quan điểm về chương trình giáo dục đó là một văn bản trong đó quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với từng mô-đun, tín chỉ, môn học, từng chuyên ngành hoặc từng nghề và từng trình độ

Như vậy chương trình dạy học theo quan niệm của khoa học giáo dục hiện đại pháp luật là theo nghĩa rộng bao gồm phương diện cấu trúc thứ bậc của yếu tố nội dung và phương diện phương pháp khi thực hiện nội dung chương trình dạy học cho từng người học xác định cụ thể Curriculum vừa phản ánh mặt cấu trúc thiết kế chương trình vừa phản ánh mặt vận hành của bản thiết kế đó (quá trình) Nó vừa để chỉ cái phải lĩnh hội (nội dung) vừa lẫn phương thức tổ chức, hỗ trợ hoạch định hoạt động (tiến trình) Khi đó cần hiểu chương trình dạy học là một bản thiết kế tổng thể quá trình dạy học, nó không chỉ cho biết nội dung học vấn mà còn cho biết các phương pháp dạy học và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Do đó, có thể đưa ra một khái niệm chung về chương trình dạy học như sau:

Trang 19

Chương trình dạy học là một văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo

1.1.2 Chương trình dạy học trong các trường cao đẳng

Chương trình dạy học trong các trường cao đẳng là một loại hình chương trình dạy học được xếp theo các cấp bậc giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Tùy từng quốc gia, mà chương trình dạy học trong các trường cao đẳng được xây dựng với tính chất và vị trí không hoàn toàn giống nhau

Ở Việt Nam, vị thế của chương trình dạy học hệ cao đẳng theo quy định của Luật giáo dục 2005 và Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đang có một sự thay đổi lớn

Theo Luật giáo dục 2005, hệ thống giáo dục quốc dân theo gồm các cấp như giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, giáo dục đại học và sau đại học Mỗi cấp giáo dục, lại có các loại hình cụ thể, như:

Giáo dục mầm non gồm có giáo dục nhà trẻ và mẫu giáo: thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi; Giáo dục phổ thông gồm có cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trong đó giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Giáo dục trung học cơ sở thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín, giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học,

từ lớp mười đến lớp mười hai; Giáo dục nghề nghiệp gồm có: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng;

Trang 20

học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm,

tự tạo việc làm và thích nghi với xã hội; Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ

Luật giáo dục đại học 2012 cũng quy định trường cao đẳng là một trong những cơ sở đào tạo giáo dục đại học trong hê ̣ thống giáo du ̣c quốc dân (Điều 7)

Như vậy, có thể thấy, giáo dục bậc cao đẳng trước thời điểm Luật giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực (trước ngày 01/7/2015), thuộc bậc giáo dục đại học Theo đó, chương trình dạy học bậc cao đẳng cũng sẽ thuộc hệ thống chương trình dạy học đại học Đây là loại hình chương trình phục vụ việc đào tạo trình độ cao đẳng, với thời gian cụ thể được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành Đào tạo trình

độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo, phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn

Tuy nhiên, khi Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 có hiệu lực ngày 01/7/2015, thì giáo dục cao đẳng không thuộc bậc giáo dục đại học nữa, mà thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp Cụ thể, Điều 76 của Luật này quy định:

“Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác; Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ” [36, tr 43]

Trang 21

Điều đó cho thấy, chương trình dạy học bậc cao đẳng ở Việt Nam đã và

sẽ có sự thay đổi rất lớn, từ tính chất cho đến vị trí của chương trình Điều này

sẽ tác động rất lớn đến việc vận hành, xây dựng và đổi mới chương trình dạy học cao đẳng cả về lý luận và thực tiễn

Tuy Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 không trực tiếp quy định về khái niệm chương trình dạy học cao đẳng nhưng cũng có thể đưa ra quan niệm như

sau: Chương trình dạy học cao đẳng là văn bản thể hiện được mục tiêu đào

tạo cao đẳng; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với từng mô-đun, tín chỉ, môn học,

từng chuyên ngành hoặc từng nghề của trình độ cao đẳng

1.2 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

1.2.1 Khái niệm

Các chương trình đào tạo trong các trường cao đẳng sẽ bao gồm nhiều chương trình dạy cụ thể đối với từng môn học Việc các trường có những chương trình dạy cụ thể với môn học nào là tùy thuộc vào định hướng, quy định của nhà nước, vào tính chất, mục tiêu đào tạo, đặc điểm đào tạo hoặc đối tượng được đào tạo, trong có chương trình dạy môn pháp luật

Pháp luật là một trong những môn học được xác định là môn học chính khóa trong các trường cao đẳng Môn học pháp luật là môn học bao gồm các kiến thức pháp luật về lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, một số các ngành luật cơ bản của Việt Nam và các kiến thức pháp luật liên quan đến kinh doanh, thương mại và các kiến thức pháp luật mang tính chất đặc thù, cụ thể như pháp luật về ngân hàng, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về công nghệ thông tin Đối với hệ cao đẳng đào tạo chính quy, Bộ giáo dục – đào tạo ban hành các bộ chương trình khung của các ngành đào tạo trong đó môn học pháp luật bao gồm môn học Pháp luật đại cương và môn học Pháp luật kinh

Trang 22

tế Đối với hệ cao đẳng đào tạo nghề, môn học pháp luật là môn học bao hàm tất cả nội dung chính, cơ bản của môn Pháp luật đại cương và Pháp luật kinh

tế của bậc cao đẳng chính quy Tức là bao gồm những nội dung như: lý luận chung về nhà nước và pháp luật, hệ thống pháp luật Việt Nam, ngành luật Hiến pháp, Luật Dạy nghề, pháp luật Lao động, pháp luật Kinh doanh và một

số ngành luật cơ bản của Việt Nam Chương trình dạy môn học pháp luật, giáo trình môn học pháp luật được ban hành kèm theo Thông tư 08/2014/TT – BLĐTBXH ngày 22/4/ 2014 quy định chương trình, giáo trình môn học Pháp luật dùng trong đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề có hiệu lực ngày 06/6/2014

Ở Việt Nam, trước đây, các trường ở bậc đại học nói chung và cao đẳng nói riêng, muốn có chương trình dạy môn học nào đó, đơn cử cụ thể là chương trình dạy môn pháp luật, đều phải dựa trên một "chương trình khung" do nhà nước ban hành Cụ thể, tại Luật Giáo dục năm 1998, Điều 36 có quy định:

Bộ GD&ĐT quy định chương trình khung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành; giữa lý thuyết và thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, các trường đại học và cao đẳng xác định chương trình giáo dục của trường mình [32, tr 12] Chương trình khung là những nội dung cốt lõi, chuẩn mực, tương đối

ổn định theo thời gian và bắt buộc phải có trong chương trình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng do Nhà nước xây dựng Về cơ bản, chương trình khung có nghĩa gần với nghĩa của các cụm từ “curriculum standard" hoặc

“core curriculum (chương trình giảng dạy)” của giáo dục đại học thế giới Các chương trình khung mà Bộ Giáo dục và đào tạo ký ban hành không phải là một chương trình hoàn chỉnh mà chỉ là phần nội dung cứng để đưa vào chương trình dạy, từng trường sẽ bổ sung thêm phần nội dung mềm, cấu trúc,

Trang 23

sắp xếp lại các học phần một cách hợp lý để thiết kế ra chương trình dạy cụ thể hoặc trên cơ sở những nội dung tổng quát của môn học các trường sẽ tự xây dựng chương trình môn học cho trường mình Việc quy định chương trình khung trước đây vừa với mục tiêu tạo chuẩn mực cho sự vận hành của cơ chế đảm bảo chất lượng đào tạo, tăng cường sự quản lý của Nhà nước; vừa khuyến khích sự sáng tạo của trường đại học trong sự phát triển các chương trình dạy học riêng cho mình, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của từng trường

Tuy nhiên, từ khi Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 có hiệu lực, với quy định các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tự chủ xây dựng chương trình đào tạo dựa trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ năng nghề thì việc ban hành chương trình khung có sự thay đổi Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã không ban hành chương trình khung đối với từng nghề, mà để các trường chủ động tự xây dựng chương trình đào tạo và chương trình dạy đối với từng môn học trên

cơ sở tiêu chuẩn kỹ năng nghề

Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 quy định việc Nhà nước không ban hành chương trình khung nhưng điều đó không có nghĩa là không có sự quản lý của Nhà nước về lĩnh vực này Tại Khoản 4 Điều 34 của Luật này đã nêu rõ: “Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương quy định khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với từng trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng”

Có thể thấy, theo quy định mới, chương trình giáo dục đối với môn học

cụ thể của các trường cao đẳng vẫn sẽ có sự quản lý nhất định bên cạnh sự “tự chủ” của các trường cao đẳng trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện

Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 đã thay đổi bản chất của bậc giáo dục

Trang 24

cao đẳng trong đó đào tạo cao đẳng chính quy chuyển thành đào tạo cao đẳng nghề Trước khi Luật Giáo dục nghề nghiệp ra đời thì các bậc cao đẳng chính quy vẫn áp dụng chương trình khung môn học để xây dựng chương trình dạy môn học pháp luật Tuy nhiên khi Thông tư 08/2014/TT – BLĐTBXH ngày 22/4/ 2014 quy định chương trình, giáo trình môn học Pháp luật dùng trong đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề có hiệu lực ngày 06/6/2014 trong đó xác định là chương trình môn học pháp luật cho bậc cao đẳng nghề Như vậy, Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 ban hành sau Thông tư

08, tức là các quy định về chương trình dạy môn học pháp luật vẫn được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 Do vậy bên cạnh Chương trình môn học pháp luật của Thông tư 08 thì vẫn tồn tại song song quy định về việc Nhà nước cho phép tự chủ xây dựng chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

Hiện nay ở Việt Nam, vẫn chưa có một định nghĩa riêng cho chương trình dạy môn pháp luật Ở góc độ liên quan, tại Điều 34 Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 có quy định khái niệm chương trình đào tạo Cụ thể, chương trình đào tạo là văn bản:

Thể hiện được mục tiêu đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với từng mô-đun, tín chỉ, môn học, từng chuyên ngành hoặc từng nghề và từng trình độ [36, tr 22]

Theo đó, cũng có thể tạm hiểu, chương trình dạy môn pháp luật ở các trường cao đẳng cũng sẽ cơ bản gồm các khía cạnh như các khía cạnh của chương trình đào tạo nói chung, tức là cũng sẽ gồm các quy định chuẩn về kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; phạm vi và cấu trúc, nội

Trang 25

dung, phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với môn học pháp luật Có thể đưa một khái niệm về chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng như sau:

Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng là văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục của môn học pháp luật; quy định chuẩn kiến thức,

kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục của môn học pháp luật, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học pháp luật trong trình độ đào tạo cao đẳng

1.2.2 Cấu trúc của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

Cấu trúc của chương trình dạy môn pháp luật được hiểu là các bộ phận, các thành phần có mối quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên một chương trình hoàn chỉnh thể hiện được mục tiêu môn học và đáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp ở trình độ đào tạo Cấu trúc của chương trình dạy môn pháp luật bao gồm các yếu tố cơ bản như: hệ thống kiến thức, kỹ năng, phạm vi, nội dung giáo dục của môn học pháp luật, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục pháo luật, cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học pháp luật ở trình độ đào tạo cao đẳng, cụ thể:

- Hệ thống kiến thức pháp luật, kỹ năng và thái độ mà sinh viên sẽ đạt

được sau khi học xong chương trình môn học pháp luật, bao gồm các yêu cầu

cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà sinh viên cần phải đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun)

Về kiến thức: Là hệ thống những tri thức cơ bản, tối thiểu trong chương

trình, giáo trình mà sinh viên phải nắm được để từ đó phát triển năng lực nhận thức ở mức độ cao hơn

Về kỹ năng: Là những yêu cầu về khả năng sinh viên biết vận dụng các

Trang 26

kiến thức pháp luật đã được học để giải quyết tình huống pháp luật trong thực

tế, có hành vi ứng xử phù hợp quy định pháp luật

Về thái độ: Là những yêu cầu về mặt thái độ học tập, thái độ tiếp thu và

vận dụng kiến thức pháp luật đã học trong cuộc sống

Việc xây dựng hệ thống chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ sẽ tạo nên sự thống nhất trong quá trình giảng dạy pháp luật hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung quá cao so với chuẩn kiến thức, kĩ năng vào giảng dạy, kiểm tra, đánh giá Đồng thời tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để

có thể tổ chức hoạt động giảng dạy pháp luật, học tập, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã được xác định trước đó

- Phạm vi và nội dung của môn học, phân phối thời gian cho các thành

phần của từng nội dung môn học Việc xây dựng nội dung, xác định phạm vi của chương trình có ý nghĩa quan trọng bởi để đạt được mục tiêu của giáo dục của môn học pháp luật cũng như đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục thì người thiết kế phải xây dựng, thiết kế nội dung phù hợp với mục tiêu

đã định sẵn, đồng thời thiết kế thời gian, thời lượng cho từng nội dung cho hợp lý để đạt được hiệu quả tối đa trong việc đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình dạy môn pháp luật

- Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy môn pháp luật: Phương pháp và hình thức tổ chức dạy môn pháp luật hay phương pháp dạy học là cách thức tổ chức thực hiện dạy và hoạt động học giữa người dạy và người học, thông qua đó người học nắm vững các kiến thức, kỹ năng, thái độ

Do vậy phương pháp và hình thức dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải nội dung môn học đến sinh viên, quyết định quan trọng tới hiệu quả của chương trình dạy môn pháp luật

- Cách thức kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học pháp luật là phương pháp và nội dung đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Trang 27

trên cả ba phương diện là kiến thức, kỹ năng và thái độ Đây là thành phần quyết định chất lượng của chương trình dạy môn pháp luật bởi kết quả kiểm tra đánh giá là cơ sở để đánh giá năng lực của sinh viên, thông qua đó giảng viên có kế hoạch dạy học phù hợp, có điều chỉnh kịp thời về phương pháp dạy học của mình đối với các đối tượng sinh viên khác nhau Đặc biệt các các nhà quản lý sẽ theo dõi, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, đánh giá hoạt động dạy của giảng viên và có sự đánh giá chính xác chất lượng chương trình dạy môn pháp luật của trường mình để sửa đổi, điều chỉnh chương trình dạy môn pháp luật nhằm đạt tới chất lượng tốt nhất của chương trình giáo dục môn học này

Trên đây là cấu trúc của chương trình dạy môn pháp luật bao gồm những thành phần chính, cơ bản của một chương trình dạy môn pháp luật Ngoài ra các trường có thể xây dựng thêm các thành phần khác như các điều kiện thực hiện chương trình như các dụng cụ và trang bị học tập, học liệu và các nguồn lực khác sử dụng trong quá trình học tập, giải thích và hướng dẫn thực hiện chương trình bao gồm phạm vi áp dụng của chương trình môn học giáo dục pháp luật, hướng dẫn một số điểm chính về phương pháp giảng dạy môn học, những trọng tâm chương trình cần chú ý, tài liệu cần tham khảo trong quá trình học tập

1.3 Đặc điểm của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

1.3.1 Việc thiết kế, xây dựng chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng đề cao yêu cầu phù hợp với thực tiễn và đặc thù giáo dục nghề nghiệp của từng trường

Mặc dù, theo quy định mới của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, việc thiết kế xây dựng chương trình dạy môn pháp luật hiện nay được xác định là sự tự chủ của các trường Tuy nhiên, Luật mới có hiệu lực do vậy

Trang 28

việc xây dựng chương trình còn khá mới mẻ đặc biệt là phải phù hợp với mục tiêu giáo dục nghề nghiệp như hiện nay Do đó, về cách thức thiết kế, xây dựng chương trình dạy môn pháp luật đối với bậc cao đẳng nghề sẽ có

những đặc thù như:

Thứ nhất: Trong hệ thống giáo dục trước khi Luật giáo dục nghề

nghiệp 2014 có hiệu lực thì bậc học cao đẳng gồm hai loại hình đào tạo đó là cao đẳng chính quy và cao đẳng nghề Tuy nhiên khi Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 có hiệu lực thì đào tạo cao đẳng chính quy chuyển hướng sang đào tạo cao đẳng nghề do vậy toàn bộ chương trình đào tạo trong đó có chương trình dạy các môn học pháp luật trong các trường cao đẳng sẽ phải thiết kế, xây dựng lại nhằm phù hợp với bản chất và mục tiêu đào tạo của bậc học này Như vậy đây là điểm đặc thù rất quan trọng mấu chốt trong việc thiết

kế, xây dựng lại chương trình dạy các môn học pháp luật hiện nay

Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp;

có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đặc biệt trong bối cảnh và nhu cầu đào tạo lao động nghề hiện nay là rất lớn – đây chính là cơ sở để xây dựng mục tiêu và thiết kế cấu trúc, nội dung chương trình Như vậy mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp bên cạnh đào tạo những cá nhân có chuyên môn cũng cần phải có đạo đức, ý thức trách nhiệm với xã hội, chủ nghĩa độc lập dân tộc do vậy trong việc thiết kế, xây dựng chương trình dạy các môn học pháp luật phải được xuất phát từ mục tiêu đào tạo Đây là cách tiếp cận để thiết kế chương trình dạy học thể hiện nhiều

ưu điểm bởi nó phù hợp với giáo dục nghề nghiệp

Với cách tiếp cận theo mục tiêu chương trình được xây dựng một cách chi tiết, bao gồm cả nội dung kiến thức, kỹ năng cần rèn luyện cho người học,

Trang 29

phương pháp đào tạo, nguồn học liệu, cũng như phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập (đối chiếu với mục tiêu đào tạo) Mục tiêu đào tạo ở đây cũng là mục tiêu đầu ra của quy trình đào tạo thể hiện qua những thay đổi về hành vi người học từ lúc vào trường tới lúc ra trường và tham gia vào thị trường lao động

Theo cách tiếp cận này, nội dung, kiến thức, kỹ năng vẫn được coi trọng, xong chỉ là những loại kiến thức, kỹ năng nhằm giúp đạt tới hệ mục tiêu đào tạo đã được xác định từ trước Theo cách tiếp cận này, dựa trên mục tiêu đào tạo đã được xác định một cách chi tiết, cụ thể (để có thể là chuẩn để vươn tới và đo lường đánh giá được)

Thứ hai: Chương trình dạy môn pháp luật phải được thiết kế phải phù

hợp với thực tiễn, sự phát triển của ngành và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Trong khi lĩnh vực nghề là lĩnh vực mà kỹ năng nghề nghiệp của người học phải đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc tế Do vậy thường xuyên có sự rà soát, đánh giá tính phù hợp của chương trình để thay đổi cho phù hợp

Thứ ba: Chính do đặc thù về mục tiêu và tính chất của từng nghề riêng

biệt rất phong phú đa dạng mà các trường tự xây dựng cho mình chương trình dạy môn pháp luật sao cho phù hợp với nghề của trường mình đào tạo mà không sử dụng rập khuôn, máy móc dẫn đến không phù hợp với nghề của trường mình đào tạo

1.3.2 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có thời lượng và nội dung giảng dạy theo hướng tăng cường các kiến thức pháp luật chuyên ngành, phục vụ quá trình làm nghề sau này của sinh viên

ra trường

Như đã phân tích ở trên thì mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp đó là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục

Trang 30

tiêu đào tạo nguồn lực lao động có tay nghề cao, tập trung đào tạo trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập ASEAN, quốc tế; phân luồng đào tạo và phổ cập giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên; Phấn đấu vượt chỉ tiêu lao động qua đào tạo theo Nghị quyết của Đảng; Đào tạo cho khoảng 2 triệu người /năm, trong đó trình độ trung cấp, cao đẳng chiếm khoảng 30-40%; phấn đấu khoảng 80% số người qua đào tạo có việc làm; Đến năm 2020, tiếp tục xây dựng các trường chất lượng cao tiếp cận trình độ quốc tế, khu vực ASEAN, đào tạo các nghề trọng điểm được các nước trong khu vực ASEAN và thế giới công nhận Như vậy sẽ có khả năng xây dựng chương trình bám sát hơn với thực tiễn và nhu cầu doanh nghiệp, tăng tỷ lệ thực hành trong chương trình đào tạo trong đó có chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng Điều này đồng nghĩa với việc nội dung và thời lượng của chương trình giáo dục môn học này sẽ có hướng đi mới cho phù hợp với thực tiễn hơn Hiện nay theo Thông tư số 08/2014/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 4 năm 2014 của

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) bậc cao đẳng nghề đã có

chương trình dạy môn pháp luật theo đó nội dung và thời lượng môn học pháp luật được bố trí theo hướng giảm nhẹ kiến thức mang tính hàn lâm và tăng cường kiến thức mang tính nghề nghiệp, triển khai giảng dạy các môn pháp luật theo chương trình dạy nghề theo hướng cung cấp các nội dung và thời lượng pháp luật cụ thể trong đó chú ý đặc biệt tới nội dung và thời lượng các quy định về pháp luật lao động, pháp luật dạy nghề, dân sự kinh doanh …

1.3.3 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có cách thức và phương pháp giảng dạy được thiết kế trên cơ sở phù hợp với đặc thù của đối tượng giảng dạy là các sinh viên thuộc cấp bậc giáo dục nghề nghiệp

Thứ nhất: Quá trình nhận thức và hoạt động học tập của sinh viên so với

học sinh phổ thông cao hơn rất nhiều Quá trình nhận thức của con người nói

Trang 31

chung được hiểu là sự phản ánh thế giới khách quan bên ngoài vào cái chủ quan bên trong của mỗi người Quy luật của quá trình nhận thức theo V.I

Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng

đến thực tiễn” [42, tr.189] Tuy nhiên quá trình nhận thức của sinh viên được

tổ chức một cách riêng biệt, dưới sự điều khiển của giảng viên, trong quá trình nhận thức này sinh viên tiến hành hoạt động học tập của mình nhưng trong sự tập trung mạnh mẽ của trí óc, có sự chọn lọc cao, độc lập, sáng tạo cao hơn rất nhiều so với học sinh phổ thông Thể hiện ở chỗ sinh viên biết tự đặt vấn đề, biết tự tìm cách giải quyết vấn đề đặt ra theo chiều hướng, phương thức khác nhau, biết tự đánh giá kết quả tìm được Song song với những biểu hiện trên là những phẩm chất như không rập khuôn theo mẫu, có tính chất mới lạ… Vậy nên sinh viên thường vượt qua được khỏi giới hạn những tài liệu cơ bản, biết huy động rộng rãi hợp lý các tri thức và kinh nghiệm, biết tìm ra các mối quan

hệ giữa các đối tượng để giải quyết đến cùng vấn đề đặt ra Trong khi đó quá trình nhận thức cũng như những biểu biện của nó chưa đạt đến mức độ phức tạp của sinh viên bởi mục tiêu của đào tạo cao đẳng là đào tạo sinh viên có kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành nghề nghiệp, kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo trong thực tế Chính vì vậy việc giáo dục pháp luật trong trường cao đẳng cũng như chương trình môn học giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng phải được xây dựng, thi hành phải phù hợp với đối tượng sinh viên đặc biệt là phương pháp dạy học phù hợp

Thứ hai: Đối tượng của hoạt động giáo dục cũng là đối tượng của

chương trình môn học pháp luật hướng tới Đặc biệt khi đối tượng đó là các sinh viên có độ tuổi từ 18 đến 23 – 25 tuổi, thậm chí có những đối tượng học nghề chỉ mới tốt nghiệp cấp II, tuổi đời còn rất trẻ thì khi sự phát triển sinh lý cũng như tâm lý rất đặc biệt Việc phân tích, nhận thức được đặc điểm tâm

Trang 32

sinh lý của đối tượng này sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc thực thi chương trình dạy môn pháp luật Như vậy đối tượng này thường ở lứa tuổi từ 18 đến

23 – 25 tuổi về mặt sinh lý hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt tới mức trưởng thành, điều này đảm bảo một sự liên lạc vô cùng rộng, chi tiết, tinh tế giữa vô

số kênh vào và vô số kênh ra làm cho trí tuệ của sinh viên vượt xa trí tuệ của học sinh phổ thông, ước tính có tới 2/3 số kiến thức học được trong một đời người do được tích lũy trong thời gian này [28, tr.125] Về tâm lý thì đây là thời kỳ đầy cảm xúc đối với mỗi cá nhân, còn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết

xã hội để phán đoán và xử lý tình huống, do quá nhạy cảm mà sinh viên thường lúng túng khi gặp tình huống mới nhất là khi bị thiếu tôn trọng, phê bình thái quá hay bị xúc phạm đặc biệt là tư tưởng lập trường, quan điểm sống chưa vững vàng, hay thay đổi dễ bị tác động hay ảnh hưởng bởi yếu tố ngoại cảnh hơn thế nữa do đã chớm bước vào tuổi trưởng hành nên họ thường hay thích thể hiển mình do vậy trước các hành vi bất hợp pháp xảy ra thì đối tượng này dễ bị tác động và ảnh hưởng theo hướng tiêu cực Do vậy về cách thức và phương pháp giảng dạy đối với những đối tượng sinh viên cần phải có những phương pháp dạy phù hợp

1.3.4 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có cách thức kiểm tra, đánh giá đa dạng, linh hoạt, xuất phát từ yêu cầu phù hợp với sự đa dạng của các đối tượng sinh viên được đào tạo nghề trong các trường cao đẳng

Kiểm tra đánh giá là công đoạn quyết định chất lượng của quá trình dạy học Kiểm tra đánh giá giúp giảng viên biết được hiệu quả và chất lượng giảng dạy, điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học, giúp người học biết được chất lượng học tập, giúp nhà quản lí ra quyết định về kết quả học tập của người học, điều chỉnh chương trình đào tạo và tổ chức dạy học Tuy nhiên việc kiểm tra, đánh giá phải bám sát theo mục tiêu đào tạo của từng môn học,

Trang 33

đồng thời phải kiểm tra đánh giá theo các bậc nhận thức, các bậc kĩ năng và các bậc của năng lực tư duy mà môn học dự kiến người học phải đạt được sau khi học xong Như vậy ở bậc học cao đẳng trình độ nhận thức cũng do yếu tố

độ tuổi chi phối do vậy đối với bậc học này phải bám sát đối tượng học để có cách thức kiểm tra đánh giá kết quả cho phù hợp Đặc biệt là các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá phải đa dạng trong đó có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra thường xuyên, hàng ngày bằng trả lời miệng trên lớp Điều này

rất phù hợp với đối tượng sinh viên của bậc học cao đẳng

Bậc học cao đẳng có mục tiêu đào tạo người lao động theo hướng thực hành, họ sẽ được đào tạo thành công một “nghề” cụ thể nào đó do vậy kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cho đối tượng này cần phải thể hiện nét đặc thù khi nhà trường tự xây dựng cho mình cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập cho sinh viên Sinh viên ở bậc học này theo xu thế đó sẽ được đào tạo theo hướng là họ phải tạo ra được một sản phẩm Như vậy kiểm tra đánh giá là đánh giá khả năng tiềm ẩn của sinh viên dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc sinh viên đã thực hiện thành công các sản phẩm đó Đánh giá năng lực nhằm giúp giảng viên có thông tin kết quả học tập của sinh viên để điều chỉnh hoạt động giảng dạy; giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động học tập; giúp giảng viên và nhà trường xác nhận, xếp hạng kết quả học tập

1.3.5 Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng có quy định về chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng (chuẩn đầu ra) liên quan đến pháp luật của sinh viên phải phù hợp với đặc thù nghề nghiệp và có thể phục vụ đắc lực cho quá trình hành nghề của từng đối tượng sinh viên được đào tạo trong các trường cao đẳng

Chuẩn đầu ra có thể được xem như lời cam kết của nhà trường đối với người học và xã hội về những kiến thức, kỹ năng, thái độ qua đó khẳng định

Trang 34

những năng lực lao động cụ thể mà sinh viên sẽ thực hiện được sau khi được đào tạo tại nhà trường Như vậy chuẩn đầu ra là cơ sở để nhà trường xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, đảm bảo sản phẩm đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội Việc xác định và xây dựng chuẩn đầu ra là việc làm

có ý nghĩa quan trọng, là một trong những tiêu chí và yêu cầu cần thiết đối với nhà trường bởi đây là căn cứ quan trọng để có thể xây dựng chương trình đào tạo, các chương trình dạy các môn học cụ thể trong đó có chương trình dạy môn pháp luật

- Yêu cầu về kiến thức pháp luật đối với bậc học này cũng có sự khác biệt khi ở cấp phổ thông thì kiến thức pháp luật mang tính chất rời rạc hơn, nhưng đến bậc cao đẳng thì đã thể hiện tính bản chất, xâu chuỗi các vấn đề, logic giữa các hiện tượng pháp lý và quy định pháp luật của Nhà nước Do vậy yêu cầu về kiến thức rộng hơn, sâu hơn Hơn thế nữa ở đối tượng này được đào tạo ra để làm “nghề” do vậy những kiến thức về lao động như hợp đồng lao động, an toàn lao động, dạy nghề được đề cập trong chuẩn đầu ra

và chương trình dạy học Đối với bậc học cao đẳng yêu cầu về kiến thức mang tính tư duy, logic, tập trung cao hơn so với học sinh phổ thông nhưng lại thấp hơn so với bậc đại học Trong khi ở bậc đại học thì đòi hỏi kiến thức pháp luật sâu sắc hơn, mang tính vận dụng cao trong nghề nghiệp của họ, các

pháp luật chuyên ngành được tìm hiểu sâu, rộng hơn so với bậc cao đẳng

- Yêu cầu về kỹ năng: Đối với bậc cao đẳng thì yêu cầu ở mức nhận biết và tuân thủ quy định pháp luật đơn giản trong những lĩnh vực cơ bản của cuộc sống như lĩnh vực hôn nhân gia đình, hiến pháp, hình sự, dân sự còn đối với bậc đại học họ cần phải biết vận dụng các quy định pháp luật trong

quá trình công tác một cách linh hoạt và phức tạp hơn

Chuẩn đầu ra là thước đo và là cái đích đạt tới mà nhà trường cam kết với sinh viên khi ra trường trong đó xác định sinh viên sau khi ra trường phải

Trang 35

có hiểu biết và vận dụng các kiến thức về hiến pháp, pháp luật, quyền và nghĩa vụ công dân, phát huy vai trò, trách nhiệm bản thân để bảo vệ tổ quốc

xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên hiện nay theo đánh giá của các nhà tuyển dụng nói chung đối với các sinh viên mới ra trường thì tỷ lệ giữa các yếu tố thái độ,

kỹ năng và kiến thức trong chuẩn đầu ra mà nhà trường công bố theo tỷ lệ 5/9, 3/9 và 1/9 Như vậy có thể thấy kiến thức chỉ được đánh giá với tỷ lệ rất nhỏ

là 1/9 Vậy đâu là chìa khóa để sinh viên mở được cánh cửa tương lai thì đó chính là ở vấn đề kỹ năng và thái độ của sinh viên mới ra trường – điều này thì hầu hết thiếu ở các tân sinh viên Do vậy việc xác định được chuẩn đầu ra

vô cùng quan trọng trọng việc là cơ sở về mặt lý thuyết để từ đó các chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng sẽ cụ thể hóa, hiện thực

hóa cam kết đó vào trong nội dung chương trình dạy môn pháp luật

1.4 Mục đích, vai trò của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

1.4.1 Mục đích của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

Mục đích của chương trình dạy môn pháp luật là những cái vạch ra, những tiêu chí, những giá trị nhằm đạt được trong quá trình xây dựng và thực hiện chương trình Mục đích chung nhất của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng là nhằm đạt tới việc sinh viên ra trường được đào tạo tốt về chuyên môn, có ý thức pháp luật, có hành vi phù hợp theo quy định của pháp luật, có đạo đức và tư tưởng cách mạng vững vàng

Ở khía cạnh cụ thể, mục đích của chương trình dạy môn pháp luật nhằm đạt đến các giá trị sau đây:

- Chương trình dạy môn pháp luật nhằm thiết lập cơ sở, tạo ra một quy chuẩn chung thống nhất cho hoạt động giảng dạy pháp luật trong trường cao đẳng

Việc xây dựng cho trường mình một chương trình dạy môn pháp luật là

Trang 36

xây dựng những chuẩn chung về mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ, phạm vi và cấu trúc nội dung của môn học pháp luật, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật và cách thức đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với các môn học pháp luật Chuẩn chung này sẽ được áp dụng bắt buộc chung trong phạm vi toàn trường Việc quy định này nhằm tránh tình trạng giảng dạy không thống nhất về kiến thức, kỹ năng, cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong trường, khắc phục bất cập về sự không đồng đều về kiến thức, kỹ năng tối thiểu của sinh viên, sự đánh giá không chính xác, khách quan kết quả học tập của sinh viên và quan trọng nhất

đó là ảnh hưởng đến chất lượng của sinh viên sau khi ra trường

- Chương trình dạy môn pháp luật còn nhằm đảm bảo chất lượng hoạt động giáo dục pháp luật góp phần nâng cao trách nhiệm của các trường cao đẳng trong nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật mà Nhà nước giao cho

Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng là sinh viên là nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở giáo dục, được Nhà nước quy định tại Điều 24 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trong đó hình thức giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng được thể hiện dưới dạng các môn học pháp luật bao gồm môn pháp luật đại cương, pháp luật kinh tế, ngoài ra

có thể có các môn pháp luật chuyên ngành Để thực hiện được hoạt động này

có chất lượng tốt, nâng cao trách nhiệm thì các trường cao đẳng xây dựng cho trường mình chương trình dạy các môn học pháp luật, tạo cho hoạt động giảng dạy pháp luật trong nhà trường đi vào nề nếp, quy củ Hơn thế nữa, chương trình dạy môn pháp luật được xây dựng nhằm giám sát hoạt động giảng dạy pháp luật của giảng viên, đánh giá được chất lượng giảng dạy của giảng viên, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, mức độ đạt được của chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục thông qua đó có sự đánh giá chất lượng chương trình dạy môn pháp luật nhằm có sự điều chỉnh, thay đổi

Trang 37

chương trình để đạt được tốt nhất chất lượng của chương trình dạy môn pháp luật Qua đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy pháp luật của nhà trường nói riêng cũng như chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật của nhà trường nói chung

1.4.2 Vai trò của chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng

- Chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng là thước

đo sự chủ động, sáng tạo của mỗi trường trong hoạt động giáo dục pháp luật

Một trong những hình thức của hoạt động giáo dục pháp luật thông qua việc giảng dạy pháp luật trong chương trình chính khóa, mà cụ thể đó là thông qua giảng dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng Do vậy việc nhà trường tự xây dựng chương trình dạy môn pháp luật để thực hiện tốt hoạt động giảng dạy môn học pháp luật nói riêng và hoạt động giáo dục pháp luật nói chung đã thể hiện sự chủ động cao độ trong hoạt động giáo dục pháp luật của nhà trường Điều đó thể hiện ở khía cạnh cụ thể sau:

+ Trường cao đẳng trên cơ sở quy định cứng của Nhà nước về chương trình đào tạo, khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với trình độ cao đẳng; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ cao đẳng để xây dựng chương trình dạy môn pháp luật cho nhà trường Việc đắp thêm

“phần mềm” cho “bộ khung” luôn thể hiện sự sáng tạo của mỗi trường bởi mỗi nhà trường đều mang trong mình một sứ mệnh lịch sử riêng, đó là đào tạo trong những ngành nghề, lĩnh vực riêng hay đào tạo nguồn nhân lực trên một địa phương, lãnh thổ, cơ quan chủ quản nào đó vậy nên việc xây dựng chương trình dạy môn pháp luật sao cho phù hợp với những đặc thù và sứ mệnh riêng đó luôn thể hiện sự sáng tạo chủ động của nhà trường nhằm đảm bảo tính phù hợp, tính thực tiễn cao của mỗi chương trình giáo dục Điều

Trang 38

này là rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay việc đào tạo sinh viên phải phù hợp với nhu cầu của xã hội

+ Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và khoa học giáo dục cũng như những đòi hỏi hội nhập quốc tế trong đó chương trình giáo dục nói chung

và chương trình dạy môn pháp luật nói riêng cũng không nằm ngoài xu thế

đó Vậy kế thừa những ưu điểm của chương trình dạy môn pháp luật trước đó hoặc của các cơ sở giáo dục khác và học tập những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới kết hợp với đặc thù của trường mình tạo ra một sản phẩm sáng tạo áp dụng cho hoạt động giảng dạy pháp luật ở trường mình

+ Chương trình dạy môn pháp luật luôn thể hiện sự chủ động, sáng tạo của nhà trường trong hoạt động giáo dục pháp luật là ở chỗ chương trình dạy môn pháp luật không chỉ được xây dựng và áp dụng trong mọi thời điểm và mọi đối tượng sinh viên Trong quá trình áp dụng thì chương trình dạy môn pháp luật liên tục được kiểm tra, đánh giá sự phù hợp, tính hiệu quả với đối tượng, với nhu cầu xã hội, với chuẩn đầu ra, với sự thay đổi của các văn bản pháp luật trên cơ sở đó chương trình dạy môn pháp luật sẽ được định kỳ nhà trường đánh giá để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp Điều này thể hiện sự chủ động và sáng tạo của nhà trường của nhà trường trong hoạt động giáo dục pháp luật Hơn thế nữa các trường cao đẳng đào tạo đa ngành do vậy nhu cầu giáo dục pháp luật các chuyên ngành cụ thể là rất lớn Nhà trường căn cứ vào nhu cầu xã hội, nhu cầu các nhà tuyển dụng, chuẩn đầu ra sẽ tự xây dựng cho trường mình chương trình dạy môn pháp luật chuyên ngành để đáp ứng nhu cầu đó

- Chương trình dạy môn pháp luật tạo cơ sở pháp lý để gắn kết trách nhiệm của các trường cao đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ phổ biến giáo dục pháp luật mà Đảng và Nhà nước đã quy định

Điều 3 - Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012 đã trao cho hệ thống

Trang 39

giáo dục quốc dân trách nhiệm thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân trong đó bao gồm các trường cao đẳng Điều 24 - Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012 quy định hình thức giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng thông qua việc lồng ghép trong các môn học pháp luật Như vậy giảng dạy các môn học pháp luật

là một trong những khía cạnh của hoạt động giáo dục pháp luật và là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các trường cao đẳng Vậy để gắn kết trách nhiệm này các trường cao đẳng trên cơ sở quy định của pháp luật về chương trình đào tạo, khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với trình độ cao đẳng; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ cao đẳng để xây dựng chương trình dạy môn pháp luật cho nhà trường Đó chính là văn bản mang tính pháp lý do các trường cao đẳng ban hành sẽ có hiệu lực áp dụng cho đối tượng điều chỉnh và trong phạm vi điều chỉnh của văn bản, do vậy chương trình dạy môn pháp luật được coi là một cơ sở pháp lý quan trọng cụ thể hóa trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật của nhà trường

- Việc xây dựng chương trình dạy môn pháp luật tạo ra khung khổ để

đánh giá chất lượng hoạt động giáo dục pháp luật của trường cao đẳng

Chất lượng của hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường thể hiện

ở việc sinh viên được trang bị những tri thức pháp luật nào, kỹ năng vận dụng tri thức pháp luật vào thực tiễn, có ý thức pháp luật tốt để hướng tới hành vi

và thói quen phù hợp pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, với kỷ cương xã hội Tất cả những biểu hiện đó được xác định trong chuẩn đầu ra của chương trình dạy môn pháp luật Đó cũng là lời cam kết mà mỗi trường tới sinh viên của họ sau khi ra trường Các trường tiến hành xây dựng chương trình dạy môn pháp luật đều lấy chuẩn đầu ra làm cơ sở để xây dựng chương trình giáo dục cho mình, căn cứ quy định của Nhà nước về khối lượng kiến

Trang 40

thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với trình độ đào tạo cao đẳng để xây dựng chương trình Do vậy chúng ta

có thể coi chương trình dạy môn pháp luật là “chuẩn”, là cơ sở, là bộ khung khổ để đánh giá chất lượng của sinh viên sau khi ra trường và thông qua chất lượng của sinh viên cũng có thể đánh giá được chất lượng hoạt động giáo dục pháp luật của nhà trường

- Xây dựng chương trình dạy môn pháp luật là cách thức để nhà nước thông qua đó quản lý đối với các trường cao đẳng trong việc giáo dục pháp luật cho sinh viên

Được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật được nhắc tới trước

đó về nghĩa vụ và trách nhiệm của các trường cao đẳng trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật hướng tới đối tượng là sinh viên trong đó được thể hiện rất rõ thông qua việc đưa hoạt động giáo dục pháp luật vào giảng dạy chính khóa cụ thể là giảng dạy các môn học pháp luật Việc xây dựng phải tuân theo quy định về quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình giáo dục, quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, kỹ năng của người

họ sau khi tốt nghiệp Như vậy Nhà nước quy định việc xây dựng chương trình dạy môn pháp luật là nghĩa vụ, là công cụ pháp luật hiệu quả để Nhà nước quản lý hoạt động giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng

- Chương trình dạy môn pháp luật tạo một khuôn khổ để bản thân các

trường có căn cứ để kiểm tra chất lượng giảng dạy đối với chính các giảng viên của nhà trường

Chương trình dạy môn pháp luật là văn bản do nhà trường xây dựng thể

hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục pháp

luật đồng thời đề ra các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật, cách thức đánh giá kết quả học phần giáo dục pháp luật trong trình độ đào tạo cao đẳng Như vậy chương trình dạy môn pháp luật tạo một

Ngày đăng: 16/06/2016, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thƣ trung ƣơng Đảng (2003), Chỉ thị số 32 – CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 32 – CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Ban Bí thƣ trung ƣơng Đảng
Năm: 2003
2. Bộ Giáo dục Đào tạo (2014), Thông tư 08/2014/TT – BLĐTBXH ngày 22/4/ 2014 quy định chương trình, giáo trình môn học Pháp luật dùng trong đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 08/2014/TT – BLĐTBXH ngày 22/4/ 2014 quy định chương trình, giáo trình môn học Pháp luật dùng trong đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề
Tác giả: Bộ Giáo dục Đào tạo
Năm: 2014
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Công an (2014), Báo cáo tại Hội thảo tập huấn công tác đảm bảo an ninh, trật tự trường học và công tác học sinh sinh viên năm học 2014 – 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội thảo tập huấn công tác đảm bảo an ninh, trật tự trường học và công tác học sinh sinh viên năm học 2014 – 2015
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Công an
Năm: 2014
4. Bộ giáo dục và đào tạo (1993), Quyết định số 2677/GD-ĐT ngày 3/12/1993 quy định về cấu trúc và khối lượng tối thiểu cho các cấp đào tạo trong bậc Đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2677/GD-ĐT ngày 3/12/1993 quy định về cấu trúc và khối lượng tối thiểu cho các cấp đào tạo trong bậc Đại học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 1993
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1993), Quyết định số 2678/GD-ĐT qui định về khối lượng kiến thức giáo dục đại cương tối thiểu của chương trình Đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2678/GD-ĐT qui định về khối lượng kiến thức giáo dục đại cương tối thiểu của chương trình Đại học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1993
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ- BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT về sửa đổi, bổ sung Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT về sửa đổi, bổ sung Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Hướng dẫn số 5571/BGDĐT-TTr về việc hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 5571/BGDĐT-TTr về việc hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Công văn số 4450/BGDĐT-GDĐH ngày 20/8/2014 về việc giới thiệu “Giáo trình Pháp luật đại cương” dùng chung cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng không chuyên ngành luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 4450/BGDĐT-GDĐH ngày 20/8/2014 về việc giới thiệu “Giáo trình Pháp luật đại cương” dùng chung cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng không chuyên ngành luật
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Thông tư số 01/2015/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 01 năm 2015 về ban hành Điều lệ trường cao đẳng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2015/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 01 năm 2015 về ban hành Điều lệ trường cao đẳng
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2015
12. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2014), Thông tư số 08/2014/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 4 năm 2014 ban hành chương trình, giáo trình môn học Pháp luật dùng trong đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2014/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 4 năm 2014 ban hành chương trình, giáo trình môn học Pháp luật dùng trong đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2014
13. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
14. Nguyễn Đức Chính (2008), Tập bài giảng thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2008
15. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1982), Chỉ thị 315/CT về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 315/CT về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật
Tác giả: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1982
16. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1987), Chỉ thị số 300/CT ngày 22/10/1987 về một số công tác trước mắt nhằm tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 300/CT ngày 22/10/1987 về một số công tác trước mắt nhằm tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật
Tác giả: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1987
17. Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (1992), Chỉ thị số 274/CT ngày 25/7/1992 về việc thi hành Hiến pháp 1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 274/CT ngày 25/7/1992 về việc thi hành Hiến pháp 1992
Tác giả: Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng
Năm: 1992
18. Lí Quang Diệu (1994), Tuyển tập 40 năm chính luận, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập 40 năm chính luận
Tác giả: Lí Quang Diệu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
21. Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ (2006), Báo cáo “Những quan sát về giáo dục đại học trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật điện-điện tử-viễn thông và vật lý tại một số trường đại học Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo “Những quan sát về giáo dục đại học trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật điện-điện tử-viễn thông và vật lý tại một số trường đại học Việt Nam
Tác giả: Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Mức  độ  thường  xuyên  giáo  viên  kết  hợp  các  hình - Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng
Bảng 2.1 Mức độ thường xuyên giáo viên kết hợp các hình (Trang 9)
Bảng 2.1: Mức độ thường xuyên giáo viên kết hợp các hình thức đánh giá - Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng
Bảng 2.1 Mức độ thường xuyên giáo viên kết hợp các hình thức đánh giá (Trang 92)
Bảng 2.2: Lượng đề thi giáo viên sử dụng theo từng phương pháp đánh - Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng
Bảng 2.2 Lượng đề thi giáo viên sử dụng theo từng phương pháp đánh (Trang 92)
3. Hình thức pháp luật - Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng
3. Hình thức pháp luật (Trang 136)
3. Hình thức nhà nước - Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng
3. Hình thức nhà nước (Trang 136)
2. Hình phạt và hệ thống hình phạt - Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng
2. Hình phạt và hệ thống hình phạt (Trang 139)
4.1.3. Hình thức của hợp đồng - Đổi mới chương trình dạy môn pháp luật trong các trường cao đẳng
4.1.3. Hình thức của hợp đồng (Trang 146)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w