1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An

75 361 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,33 MB
File đính kèm 2010-NN-MT-01.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình hình thành các khu đô thị, khu dân cư và công nghiệp ở huyện Quỳnh Lưu tạo ra một lượng đáng kể chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp. Huyện Quỳnh Lưu cũng như các huyện phụ cận chưa có khu xử lý rác thải sinh hoạt đảm bảo vệ sinh môi trường, do hạn chế về tài chính và hình thức tổ chức quản lý nên việc thu gom rác thải chưa được thực hiện một cách triệt để. Việc thải bỏ chất thải rắn một cách bừa bãi và không đảm bảo các điều kiện vệ sinh ở các khu đô thị, khu dân cư và công nghiệp là nguồn gốc chính gây ô nhiễm môi trường, làm nảy sinh các bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khoẻ và cuộc sống con người. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý việc thu gom và xử lý rác thải trên một cách hợp lý, cũng như việc nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay. Đề tài: “ Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An” sẽ giải quyết vấn đề này và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý môi trường tốt hơn.

Trang 1

1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước nhưng đồng thời gây ra những áp lực lớn tới môi trường Đó là mức sống của người dân ngày một nâng cao và nền kinh tế càng phát triển sâu rộng Bên cạnh đó, lượng rác thải cũng được tạo ra ngày càng nhiều với những thành phần phức tạp và đa dạng Theo Báo cáo diễn biến môi trường năm 2004, hàng năm trên toàn quốc có hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ các nguồn khác nhau, trong đó tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước là 12,8 triệu tấn và mới chỉ thu gom được 70%, chủ yếu tập trung ở các khu đô thị Dự báo đến năm 2010 lượng chất thải rắn sinh hoạt có thể tăng 60% Lượng rác còn lại được thải xuống ao hồ, sông ngòi, bên đường Điều đó đã gây ra ô nhiễm môi trường, nguồn nước mặt, nước ngầm, làm dịch bệnh phát sinh, phát triển và ảnh hưởng đến đời sống của người dân, cảnh quan môi trường.[1]

Huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An là huyện có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, dịch vụ, du lịch Trong đó, thị trấn Cầu Giát là đô thị loại IV, trung tâm thương mại – hành chính, thuộc hệ thống đô thị vệ tinh dự kiến phát triển đến năm 2025 tại các huyện trong vùng Bên cạnh đó, huyện còn

có tiềm năng du lịch ở các xã như xã Quỳnh Phương, xã Quỳnh Bảng, xã Quỳnh Liên, Cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, sự gia tăng dân số đã phát sinh khối lượng rác thải ngày càng nhiều, gây ra những áp lực rất lớn cho môi trường và cảnh quan khu vực

Như vậy, quá trình hình thành các khu đô thị, khu dân cư và công nghiệp ở huyện sẽ tạo ra một lượng đáng kể chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp Cũng tương tự như hầu hết các huyện của tỉnh Nghệ

An, huyện Quỳnh Lưu và các huyện phụ cận chưa có khu xử lý rác thải sinh

Trang 2

và cuộc sống con người

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý việc thu gom và xử lý rác thải trên một cách hợp lý, cũng như việc nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của ban chủ nhiệm

khoa Tài nguyên và Môi trường, tôi tiến hành đề tài: “ Điều tra, đánh giá

thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An”, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý môi trường tốt hơn

Cơ sở pháp lý của việc xây dựng đề tài:

Chỉ thị 199/TTg ngày 03/04/1997 của Thủ tướng Chính phủ về biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp;

Quyết định số 152/1999/QĐ – TTg ngày 10/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020;

Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18/01/2001 hướng dẫn các quy định về BVMT đối với việc lựa chọn điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn;

Nghị quyết số 113/2005/NQ-HĐND ngày 29/12/2005 của UBND huyện Quỳnh Lưu về việc phê duyệt đề án đảm bảo vệ sinh môi trường giai đoạn 2005-2010;

Trang 3

3

Quyết định số 74/2007/QĐ–UBND ngày 12/06/2007 của UBND tỉnh Nghệ An về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

Nghị quyết số 264/2009/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Nghệ An ngày 23/7/2009 thông qua đối tượng, mức thu, tỷ lệ trích nộp phí vệ sinh môi trường và phí bảo vệ môi trường đối vơi chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Nghệ

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý

và xử lý rác thải trên địa bàn huyện

1.2.2 Yêu cầu

- Nguồn số liệu đảm bảo độ tin cậy

- Kết quả nghiên cứu thu được trung thực

- Phân tích để thấy rõ vấn đề nổi cộm trong quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện

Trang 4

lệ cao nhất Số lượng, thành phần rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học và kĩ thuật [2]

Theo quan niệm chung: CTR là toàn bộ vật chất được con người loại

bỏ trong các hoạt động kinh tế – xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động duy trì sự tồn tại của cộng đồng,…) Trong đó, quan trọng nhất là các hoạt động sản xuất và hoạt động sống [3]

Theo quan điểm mới: CTR đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là: Vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là CTR đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như là một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ [3]

2.1.2 Nguồn gốc và phân loại chất thải rắn

2.1.2.1 Nguồn phát sinh chủ yếu CTR đô thị

Trang 5

5

Sơ đồ 1: Nguồn phát sinh chất thải rắn

(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự Quản lý chất thải rắn Nhà xuất bản xây dựng, 2001)

2.1.2.2 Phân loại chất thải rắn

- Theo vị trí hình thành: Người ta phân biệt CTR (còn gọi là rác thải) trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ,…

- Theo thành phần hóa học và vật lý: Người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo,…

- Theo bản chất nguồn tạo thành: CTR được chia thành các loại: Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt

động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt

có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương dộng vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả,… [2]

Cơ quan trường học

Nông nghiệp, hoạt động xử lý rác thải

Chất thải rắn

Nơi vui chơi, giải trí

Bệnh viện,

cơ sở y tế

Khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp

Trang 6

6

Chất thải rắn công nghiệp: Là chất thải phát sinh từ hoạt động công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Chất thải nông nghiệp: Là những chất thải và những mẩu thừa thải ra

từ các hoạt động nông nghiệp (như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ,…) Hiên tại, việc quản

lý và xả các loại chất thải nông nghiệp không thuộc về trách nhiệm của các công ty môi trường đô thị của các địa phương

- Theo mức độ nguy hại: CTR được chia thành các loại:

Chất thải nguy hại: Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc

hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác (Khoản 11, Điều 3, Luật BVMT, 2005)

Chất thải không nguy hại: Là những loại chất thải không chứa các

chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần

Trong số các chất thải của thành phố, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ có thể

sơ chế dùng ngay trong sản xuất và tiêu dùng, song phần lớn phải huỷ bỏ hoặc phải qua một quá trình chế biến phức tạp, qua nhiều khâu mới có thể sử dụng lại nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của con người Lượng chất thải trong thành phố tăng lên do tác động của nhiều nhân tố như: sự tăng trưởng

và phát triển của sản xuất, sự gia tăng dân số, sự phát triển về trình độ vàtính chất của người tiêu dùng trong thành phố,… [2]

2.2 Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới.

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật dẫn đến sự phát triển kinh tế mạnh

mẽ và sự bùng nổ về dân số thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ

lệ phát sinh rác thải cũng tăng lên tính theo đầu người Quá trình phát sinh rác thải ở mỗi quốc gia là khác nhau; tuỳ theo điều kiện kinh tế, mức sống

và phụ thuộc vào cơ chế chính sách của quốc gia đó

Trang 7

7

Tại các nước phát triển quy định đối với việc thu gom và vận chuyển rác thải rất rõ ràng Công tác thu gom, phân loại rác tại nguồn mang lại nhiều thuận lợi cho công tác xử lý

Công tác quản lý CTR tại Nhật Bản

Nhật Bản được nhận định là một nước đi đầu trong vấn đề bảo vệ môi trường, với khung pháp lý quốc gia hướng tới giảm thiểu chất thải nhằm xây dựng một xã hội tái chế bao gồm hệ thống luật và quy định của Nhà nước: Luật quản lý rác thải và giữ vệ sinh công cộng (1970); Luật quản lý rác thải (1992); Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái chế (1991); Luật tái chế vỏ hộp và bao bì (1996); Luật tái chế thiết bị điện (1998)

Theo đó, Nhật chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình công nghệ 3R

Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa các nhà máy tái chế Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho

ô tô đến đem các túi rác đó đi Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng

Trang 8

xử lý rác thải như vậy vừa tận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường Túi đựng rác là do các gia đình bỏ tiền mua ở cửa hàng

Theo số liệu của Bộ Môi trường Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó, phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được

xử lý bằng cách đốt, hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác [8]

Công tác quản lý CTR tại Singapore

Singapore tổ chức chính quyền quản lý theo mô hình chính quyền 1 cấp Quản lý chất thải là một bộ phận trong hệ thống quản lý môi trường của quốc gia Hệ thống quản lý xuyên suốt, chỉ chịu sự quản lý của Chính phủ

Bộ phận quản lý chất thải có chức năng lập kế hoạch, phát triển và quản lý chất thải phát sinh Cấp giấy phép cho lực lượng thu gom chất thải, ban hành những quy định trong việc thu gom chất thải hộ gia đình và chất thải thương mại và xử lý những hành vi vứt rác không đúng quy định Xúc tiến thực hiện 3R (tái chế, tái sử dụng và làm giảm sự phát sinh chất thải) để bảo tồn tài nguyên

Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu quả Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn

cụ thể trong thời hạn 7 năm

Trang 9

9

Singapore có 9 khu vực thu gom rác Rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế Quốc gia Trong số các nhà thầu thu gom rác hiện nay tại Singapore, có bốn nhà thầu thuộc khu vực công, còn lại thuộc khu vực tư nhân Các nhà thầu tư nhân đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu gom rác thải, khoảng 50% lượng rác thải phát sinh do tư nhân thu gom, chủ yếu là rác của các cơ

sở thương mại, công nghiệp và xây dựng Chất thải của khu vực này đều thuộc loại vô cơ nên không cần thu gom hàng ngày

Nhà nước quản lý các hoạt động này theo luật pháp Cụ thể, từ năm

1989, chính phủ ban hành các qui định y tế công cộng và môi trường để kiểm soát các nhà thầu tư nhân thông qua việc xét cấp giấy phép Theo qui định, các nhà thầu tư nhân phải sử dụng xe máy và trang thiết bị không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân, phải tuân thủ các qui định về phân loại rác để đốt hoặc đem chôn nhằm hạn chế lượng rác tại bãi chôn lấp Qui định các xí nghiệp công nghiệp và thương mại chỉ được thuê mướn các dịch

vụ từ các nhà thầu được cấp phép

Phí cho dịch vụ thu gom rác được cập nhật trên mạng Internet công khai để người dân có thể theo dõi Bộ môi trường Singapore qui định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức 6-15 đôla/tháng, tùy theo phương thức phục vụ (15 đôla đối với các dịch vụ thu gom trực tiếp, 6 đôla đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác công cộng ở các chung cư) Đối với các nguồn thải không phải là hộ gia đình, phí thu gom được tính tùy vào khối lượng rác phát sinh có các mức 30-70-175-235 đôla/tháng Các phí đổ rác được thu hàng tháng do ngân hàng PUB đại diện cho Bộ môi trường Singapore thực hiện

Trang 10

10

Thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp của người dân thông qua đường dây điện thoại nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời tình trạng phát sinh rác và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ [9]

Công tác quản lý CTR tại Thái Lan

Ở Thái Lan nhà nước quản lý CTR bằng pháp luật thông qua: Luật Môi trường quốc gia 1992; Luật nhà máy, xí ngiệp; Luật y tế Ở đây, việc phân loại rác được thực hiện ngay tại nguồn Người ta chia ra 3 loại rác và

bỏ vào 3 thùng riêng biệt: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và chất độc hại Các loại này được thu gom và chở bằng các xe ép rác có màu sắc khác nhau (Nguồn: Tamar Heiler, 2004)

Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ tại nguồn được chuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái sản xuất Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử

lý bằng phương pháp đốt

Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ Ngoài những phương tiện cơ giới lớn như xe ép rác được sử dụng trên các đường phố chính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến các điểm tập kết Rác trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của các cơ quan quản lý môi trường Rác thải được thu gom và vận chuyển đến các trung tâm

xử lý rác hàng ngày từ 18h00 tối hôm trước đến 3h00 sáng hôm sau Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố ít nhất 30 km

Tại các nước đang phát triển thì việc thu gom rác thải còn nhiều bất cập Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang thiết bị còn thô sơ và thiếu thốn dẫn đến chi phí thu gom tăng lên Do vậy, các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng cần học hỏi công

Trang 11

2.3.1 Hiện trạng CTR sinh hoạt ở Vịêt Nam

Mỗi năm có hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam, trong

đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm tới 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước Lượng còn lại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp Chất thải nguy hại công nghiệp

và các nguồn thải đáng lưu ý do chúng có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ và môi trường rất cao nếu như không được xử lý theo cách thích hợp

Hầu hết, các thành phố ở Việt Nam là nguồn phát sinh chủ yếu của chất thải sinh hoạt Các khu đô thị tuy dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước) Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng trên 2/3kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng bình quân đầu người ở vùng nông thôn (Bảng 1)

Bảng 1 Lượng phát sinh chất thải theo đầu người

Lượng phát sinh CTR

(kg/người/ngày)

% so với tổng lượng thải

% thành phần hữu cơ

(Nguồn: Khảo sát của nhóm tư vấn năm 2004; Số liệu về nông thôn tính toán từ số liệu của Cục MT 2000 và ĐHNNI năm 2003)

Trang 12

12

Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và đô thị có thành phần khác nhau Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, các khu chợ và khu kinh doanh ở nông thôn chứa một tỷ lệ lớn các chất hữu cơ dễ phân huỷ (chiếm 60-65%) Ở các vùng đô thị, chất thải có thành phần chất hữu cơ dễ phân huỷ thấp hơn (chỉ chiếm cỡ 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt) Sự thay đổi về mô hình tiêu thụ và sản phẩm là nguyên nhân dẫn đến làm tăng tỷ lệ phát sinh chất thải nguy hại và chất thải không phân huỷ được như nhựa, kim loại và thuỷ tinh (Bảng 2, 3, 4))

Bảng 2 Số liệu quan trắc về thành phần rác thải (Nguồn: CEETIA

2 Lá cây, rác hữu cơ 45,90 50,40 53,0 50,10

3 Túi nilon, đồ nhựa 1,70 3,20 4,10 5,50

Trang 13

Nông thôn, tấn/năm

Tổng, tấn/năm

- Mức sống, mùa, thói quen, tín ngưỡng, chính sách quản lý chất thải

và tăng trưởng kinh tế

- Tăng dân số

- Đô thị hoá

Do đó mà tính chất rác thải ở các vùng khác nhau thì khác nhau

Bên cạnh rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp cũng chiếm thị phần không nhỏ, số liệu sau đây thể hiện chất thải rắn phát sinh tính trên đơn vị sản phẩm của một số ngành công nghiệp đặc trưng

Bảng 5 CTR của một số nghành công nghiệp ở Vịêt Nam [8]

Loại hình công nghiệp Chất thải

Công nghiệp rượu bia Bã rượu: 300-560 kg/1000lit cồn;

Trang 14

- Năng suất của nhà máy

- Mức tiên tiến của sản xuất

- Loại hình công nghiệp

- Các chính sách, luật về QLCTR

Để QLCTR tốt hơn và mang tính chiến lược, người ta đã dự báo CTRSH và CTRCN dựa trên các giả thiết gần với thực tế như sau:

Tính dự báo CTR:

* Lượng CTRSH phát sinh năm thứ i: Gi = N (1+q)I

Ta gọi năm làm mốc nội suy là năm thứ 0 và nội suy ra các năm phía sau (năm thứ i)

N: Số dân của năm thứ 0

q: Tốc độ tăng dân số, (%)

i: Năm thứ i

I: Tiêu chuẩn thải, (kg/người/ngày)

Trên đây là tổng quan về sự phát sinh rác thải trên toàn quốc Quỳnh Lưu là một huyện đang trên đà đổi mới, đô thị hoá, công nghiệp hoá đang manh nha phát triển, nạn rác thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc của người dân và lãnh đạo Huyện

2.3.2 Hệ thống quản lý CTR sinh hoạt tại Việt Nam

Công tác bảo vệ môi trường được Đảng, Chính phủ và các cấp chính quyền quan tâm từ rất sớm Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 199/TTg ngày 03/04/1997 về các biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp Theo đó, các Bộ, Ngành có chức năng

Trang 15

15

quản lý chất thải rắn và các địa phương phải đề ra các biện pháp, chương trình hữu hiệu cho công tác quản lý chất thải rắn, giữ gìn môi trường trong sạch

Việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ta do các cơ quan sau chịu trách nhiệm, đó là: [1]

Cơ quan Bộ chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực môi trường là Bộ Tài nguyên và Môi trường Bộ này có 3 Cục/Vụ liên quan chính đóng vai trò chủ chốt trong quản lý chất thải:

+ Vụ Môi trường: Hoạch định các chính sách, chiến lược và pháp luật

ở các cấp trung ương và địa phương Hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam

+ Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường: Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án xây dựng các hệ thống quản

lý chất thải rắn, các khu chôn lấp, xử lý

+ Cục Bảo vệ môi trường: Phối hợp thực hiện thanh tra môi trường đối với các bãi chôn lấp Thực hiện giám sát và phối hợp, cưỡng chế về mặt môi trường đối với các khu đô thị Nâng cao nhận thức cộng đồng, thẩm định công nghệ xử lý và phối hợp quy hoạch các khu chôn lấp

- Bộ Xây dựng: Hoạch định các chính sách, kế hoạch, quy hoạch và xây dựng các cơ sở quản lý chất thải rắn Xây dựng và quản lý các kế hoạch xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng liên quan đến chất thải rắn ở cả cấp trung ương và địa phương

- Bộ y tế: Đánh giá tác động của chất thải rắn đến sức khoẻ con người

- Bộ Giao thông vận tải: Bao gồm sở GTCC có trách nhiệm giám sát các hoạt động của các công ty Môi trường đô thị

Trang 16

16

- Bộ Kế hoạch và đầu tư: Quy hoạch tổng thể các dự án đầu tư và điều

phối các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) liên quan đến quản

lý chất thải

- Uỷ ban nhân dân các Tỉnh/Thành phố: Giám sát công tác quản lý

môi trường trong phạm vi quyền hạn cho phép Quy hoạch, quản lý các khu

đô thị và việc thu các loại phí

- Các công ty Môi trường đô thị trực thuộc UBND các tỉnh, thành

phố: Có nhiệm vụ thu gom và tiêu huỷ chất thải

Để bảo vệ môi trường trước sự bùng nổ rác thải và năng lực thu gom

hiện nay, Chính phủ đã đề ra chiến lược BVMT quốc gia và ngân sách tài

chính cho công tác BVMT như sau:

Về đường lối chiến lược:

Bảng 6 Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia VN đến năm 2020 [1]

Mục tiêu Hiện nay

CTR được phân Phổ biến nhưng chưa rõ

30% hộ gia đình

80% tổng lượng CTR loại tại nguồn

mức độ tham gia của người dân

70% doanh nghiệp

ở các đô thị và khu CN

Trang 17

17

50% hàng tiêu dùng trong nước

Về ngân sách và tài chính cho QLCTR:

Bảng 7 Ngân sách và tài chính cho QLCTR Đầu tư cho QLMT trước

đây và theo dự báo, 1999-2020

Đầu tư quản lý chất thải trước đây và theo dự báo, 1999-2020 Đầu tư (nghìn tỉ VNĐ) 1999-2003 2004-2010 2011-2020

Tổng đã đầu tư và có KH đầu tư 3,3 8,6 29,8

Nguồn: Báo cáo diễn biến MT Việt Nam 2004, CTR Đầu tư giai đoạn 1999-2003 dựa trên thống kê của Chính Phủ và các nhà tài trợ Ước tính nhu cầu đầu tư theo Chiến lược Quản lý CTR tại các đô thị và khu công nghiệp đên 2020, Bộ Công nghiệp, 1999

*: Theo ước tính của các chuyên gia tư vấn Ngân hàng Thế giới

Theo đó tính đến nguồn chi trả của các hộ gia đình ở đô thị theo số

liệu điều tra sau:

Bảng 8 Mức chi phí trả cho CTR của các hộ gia đình ở đô thị

Mức chi phí trả cho CTR của các hộ gia đình ở đô thị

Thành phố VNĐ/hộ gia đình/tháng % chi phí của hộ gia đình

(Nguồn: Báo cáo diễn biến MT Việt Nam 2004, CTR Điều tra mức

sống của các hộ gia đình ở Việt Nam, 2003)

Trang 18

18

2.3.3 Một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam

Việc xử lý rác thải sinh hoạt phụ thuộc vào tính chất, thành phần chất thải, điều kiện địa lý, kinh tế của từng địa phương Mỗi phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt đều có ưu, nhược điểm khác nhau, khả năng ứng dụng cũng như giá thành xử lý khác nhau

2.2.4.1 Xử lý rác thải thành phân hữu cơ vi sinh

Một trong những đặc điểm dễ thấy nhất ở rác thải sinh hoạt của Việt Nam là thành phần chất hữu cơ chiếm tỷ lệ rất cao 55- 65% Ở các nước phát triển, do mức sống của người dân cao, tỷ lệ thành phần hữu cơ trong rác thải sinh hoạt trường chỉ chiếm 35- 40% Như vậy so với thế giới thì rác thải sinh hoạt ở Việt Nam có tỷ lệ chất hữu cơ cao hơn rất nhiều Chính nhờ đặc điểm này, nên việc xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam bằng công nghệ vi sinh vật để sản xuất phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho sản xuất nông nghiệp rất thuân lợi

Hiện nay, ở nước ta chỉ có khoảng hơn 9% các đô thị (từ thị xã trở lên) có nhà máy chế biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt Theo xuất xứ công nghệ, hiện Việt Nam đang có một số công nghệ điển hình như công nghệ Tây Ban Nha tại Cầu Diễn (Hà Nội), công nghệ Việt Nam – Trung Quốc tại Việt Trì, Công nghệ Pháp – Tây Ban Nha tại Nam Định, công nghệ DANO tại Hóc Môn (TP.HCM), Do nguồn vốn đầu tư tương đối lớn, nên chủ yếu các nhà máy xử lý rác thải này được xây dựng từ nguồn vốn ODA cũng có không ít những khó khăn đó là vốn đầu tư cao và thường thi công chậm; công nghệ không hoàn toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam, khó khăn sửa chữa, thay thế thiết bị,…

Chẳng hạn, năm 1992 đã xây dựng được nhà máy chế biến rác làm phân bón tại Cầu Diễn, dựa theo nguyên lý thổi cưỡng theo sơ đồ 2 sau: [3]

giữ phân hữu

Vun đống

Ủ thổi khí Thu

gom

Trang 19

19

Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, một số doanh nghiệp trong nước

đã nghiên cứu, áp dụng một vài công nghệ mới trong thu gom, xử lý rác thải

sinh hoạt đô thị với các quy mô khác nhau từ cấp thị trấn, thị tứ đến thị xã,

thành phố và đã thu được những kết quả nhất định Điển hình là công nghệ

SERAPHIN và công nghệ AN SINH – ASC

Chẳng hạn, năm 1993 xây dựng quy trình ủ rác kỵ khí nhờ vi sinh vật

tự nhiên với các công đoạn sau:

Sơ đồ 3: Công nghệ SERAPHIN trong xử lý rác thải sinh hoạt

(Nguồn: Lê Văn Nhương Báo cáo đề tài cấp nhà nước mã 02- 04)

Các công nghệ này được hình thành từ năm quy trình công nghệ

chính: phân loại, ủ sinh học, tái chế chất dẻo, công nghệ thiêu huỷ và chôn

lấp Sản phẩm sau khi xử lý rác thải là phân vi sinh và những sản phẩm nhựa

như: ống nước, balet nhựa, dải phân cách, thùng rác, bàn ghế ngoài trời, xô

nhựa và gạch lát đường,… Công nghệ SERAPHIN đang được ứng dụng tại

Nhà máy xử lý rác Đông Vinh (thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An); nhà máy xử

lý rác thải tại thị xã Sơn Tây (nay là Hà Nội) và công nghệ An Sinh – ASC

10 – 20cm

Ủ 2–3 tháng

Sàng khô

Vun đống ủ tiếp 2 tuần

Trộn

N, P, K

Vo viên Sấy

Đóng

gói

Trang 20

4 tỷ đồng cho chi phí xử lý rác.[5]

Tuyên bố chung của Hội nghị Bộ trưởng Môi trường Đông Á lần thứ nhất với chủ đề “Hướng tới các thành phố bền vững bền vững về môi trường trong khu vực Đông Á”, vào ngày 9/10/2008 tại Hà Nội Trong tuyên bố thứ

7 đưa ra vấn đề: Cần xem xét kinh nghiệm, kiến thức và công nghệ của các quốc gia trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, trong đó co bảo vệ cảnh quan đô thị, quản lý quản lý chất thải và vệ sinh môi trường, 3R(giảm thiểu, tái sử

dụng, tái chế) (Báo Bảo vệ Môi trường, số 113 tháng 19 năm 2008, Tr6)

Để giải quyết vấn đề về rác thải sinh hoạt ở nước ta nói chung, Hà Nội nói riêng và hướng tới mục tiêu phát triển bên vững, thành phố Hà Nội đặt mục tiêu thúc đẩy cuộc vận động tái chế chất thải nằm trong Chiến lược môi trường quốc gia là tái chế 30% tất cả lượng chất thải sinh hoạt vào năm

2020

Với thông điệp “Hãy phân loại rác vì đó là tài nguyên quý giá! 3R vì cuộc sống của bạn” 3R là sự hài hoà dựa trên các chương trình phân loại rác thải hữu cơ tại nguồn và khuyến khích việc phân loại rác thải gia đình ngay tại nhà nhằm nâng cao năng lực quản lý và xử lý rác thải hiệu quả hơn

Trang 21

21

Phân loại rác tại nguồn - sự khởi đầu của công nghệ tái chế chất thải Các loại rác hữu cơ đã và đang sử dụng làm phân bón Các loại rác như nilon, giấy bìa loại, nhựa,… sẽ được tái chế dùng làm nguyên liệu Còn các loại rác vô cơ khác được tái chế thành vật liệu xây dựng nhẹ cấp thấp được dùng cho các công trình cảnh quan đô thị Như vậy phần rác chôn lấp sẽ giảm đi

2.3.4.3 Xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp

Bên cạnh các công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt trên Ở các tỉnh và thành phố như Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Hoà Bình hoặc là đang xây dựng khu xử lý CTR, hoặc là đang làm các thủ tục quy hoạch xây dựng khu

xử lý chất thải rắn Do chưa xây dựng xong khu xử lý (bãi chôn lấp CTR) hợp vệ sinh, chất thải rắn vẫn thải đổ và xử lý theo phương pháp lộ thiên, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; ví dụ như Bãi Thia tại thị xã Hoà Bình, bãi thải lộ thiên ở Trung Hầm (Hà Nam), Thung Quèn Khó (Ninh Bình) là bãi thải lộ thiêngây ô nhiễm môi trường nơi đây, đặc biệt là ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - Đáy

Các thị trấn, thị tứ và các huyện ở một số tỉnh (như Thanh Hóa, Nghệ An, ) mặc dù đã quy hoạch xây dựng các bãi chôn lấp CTR nhưng mới chỉ ở mức xác định vị trí và quy mô bãi rác, mà chưa quy hoạch xây dựng hoàn chỉnh (do thiếu kinh phí) nên CTR vẫn chưa được xử lý và thu gom đúng nơi quy định Lượng chất thải rắn không nhỏ vẫn phát tán ra môi trường trên những địa bàn này

2.4 Tình hình chung về quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Nghệ An

Tình hình chung về quản lý chất thải rắn nói chung và quản lý RTSH

nói riêng trên địa bàn tỉnh Nghệ An được tóm tắt trong văn kiện Dự án “Cải thiện công tác quản lý chất thải rắn tại tỉnh Nghệ An” như sau:

Trang 22

2.5 Cơ sở khoa học của một số biện biện pháp xử lý rác thải

2.5.1 Thành phần hoá học các chất hữu cơ có trong rác thải

Thành phần của rác thải chủ yếu là: C, H, O, N, S và các chất tro Tùy thuộc vào các thành phần hữu cơ mà hàm lượng của nguyên tố trên dao động khác nhau

Bảng 9 Thành phần hoá học các chất hữu cơ có trong rác thải

Các loại chất thải Thành phần các nguyên tố (%)

C H O N S Nguyên tố trơ Thực phẩm 48,0 6,4 37,6 2,6 0,4 5,0

Trang 23

là cao nhất (10%), độ trơ của gỗ là thấp nhất (1,5%)

Tóm lại, RTSH là một hỗn hợp không đồng nhất và mỗi thành phần trong đó có TPHH, cấu trúc hóa học khác nhau Do đó, việc xử lý chúng cũng rất khác nhau, bởi vậy mà công việc phân loại RTSH là khâu quan trọng để tiết kiệm kinh phí cho vấn đề xử lý RTSH

2.5.2 Cơ sở khoa học và quy trình công nghệ xử lý rác thải hữu cơ

Hiện nay, Việt Nam đã và đang áp dụng 4 phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt Trong đó phương pháp sinh học được đánh gía là tối ưu hiện nay Bốn phương phương pháp là phương pháp chôn lấp, phương pháp thu khí sinh học, phương pháp thiêu đốt, phương pháp ủ phân hữu cơ

* Phương pháp chôn lấp

Đây là phương pháp phân hủy kỵ khí với khối lượng chất hữu cơ lớn Đây là phương pháp lâu đời, khá đơn giản và hiệu quả đối với lượng rác thải ở các thành phố đông dân cư

Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là phân giải yếm khí các hợp chất hữu cơ có trong rác thải Và các chất dễ bị thối rữa tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và các khí CO2, CH4 [2]

Một hiện trạng hiện nay, hầu hết các bãi rác đều chưa đạt tiêu chuẩn môi trường, hiện nay cả nước chỉ có 12/64 tỉnh thành có đầu tư bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, với tổng số bãi chôn lấp là 91 bãi, trong đó chỉ có

Trang 24

24

17 bãi được thiết kế, xây dựng hợp vệ sinh nhưng lại chưa được vận hành theo đúng yêu cầu bảo vệ môi trường Hiện nay có 20 dự án công nghệ xử lý chất thải xin triển khai, tuy nhiên cũng chỉ có 50% dự án thành công Ngay

cả các lò công nghệ thiêu, đốt công nghệ nhập từ nước ngoài cũng chỉ thành công có 30% về xử lý rác [6]

Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp:

Quy mô bãi rác: Phụ thuộc vào quy mô dân số, chất lượng rác thải

phát sinh, đặc điểm rác thải Quy mô bãi chôn lấp được chia làm 4 loại là: Loại nhỏ, loại vừa, loại lớn và loại rất lớn

Bảng 10 Quy mô bãi chôn lấp

Quy mô bãi

chôn lấp

Dân số (1000 người)

Lượng chất thải (tấn/năm)

Diện tích (ha) Thời gian tái

sử dụng (năm)

Vị trí của bãi rác: Bãi rác cần được đặt ở những nơi ít ảnh hưởng tới

cộng đồng dân cư, gần đường giao thông để thuận tiện cho công tác thu gom

và vận chuyễn, phải có điều kiện thủy văn phù hợp (hướng gió, tốc độ gió, ít ngập lụt,…) Nếu điều kiện thủy văn không phù hợp thì bãi chôn lấp phải

Trang 25

Công nghệ đốt thường được sử dụng ở các quốc gia phát triển và phải có một nền kinh tế đủ mạnh bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như

là một hoạt động phúc lợi xã hội của toàn dân

Cơ sở khoa học:

Cơ sở của phương pháp này là oxy hóa ở nhiệt độ cao, với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển hóa thành dạng khí và các chất thải rắn không cháy Các chất khí được làm sạch hoặc

Trang 26

+ Tiền đầu tư và chi phí vận hành cao

+ Không phù hợp cho đốt rác sinh hoạt ở những nước nghèo + Thành phần không thể đốt và tro vẫn phải sử dụng phương pháp chôn lấp

+ Khí thải chưa được xử lý triệt để gây ô nhiễm không khí

+ Lượng tro đốt phải được quản lý chặt chẽ

* Phương pháp ủ làm phân compost

Cơ sở khoa học:

Trong hoạt động sống của vi sinh vật, chúng tiết ra các loại enzym để phá vỡ cấu trúc của các cấu tử xenluloza Đây là phức hệ enzym phân huỷ xenluloza tạo ra các đường đủ nhỏ để đi qua tế bào vi sinh vật Ở một số loại

vi sinh vật enzym oxy hoá và enzym phân giải protein cũng tham gia vào quá trình phân huỷ xenluloza

Ưu điểm:

+ Rác hay than bùn không được bỏ đi mà được tái chế thành sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp

Trang 27

27

+ Một nhà máy chế biến phân ủ đặt ở trung tâm giảm chi phí vận chuyển so với việc chôn lấp

+ Dễ dàng thu gom các nguyên liệu có thể tái chế được

+ Có thể xử lý được nước thải, mùi cống

+ Các nguyên tắc trong sản xuất phân ủ từ rác thải đô thị và phế thải nông nghiệp có thể ứng dụng cho xử lý một số rác thải công nghiệp

Nhược điểm:

+ Vốn và chi phí tương đối lớn

+ Gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thị sản phẩm

+ Đòi hỏi người vận hành phải được đào tạo với trình độ phù hợp

+ Còn thiếu kinh nghiệm trong vận hành nhà máy hiện đại

+ Các phương pháp ủ rác hiện đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, chi phí lớn Nhà máy không được thiết kế tốt gây bệnh phổi cho công nhân trực tiếp sản xuất

+ Vấn đề tuyển chọn và phân loại rác thải được coi trọng để tránh các mảnh kim loại, thủy tinh có lẫn trong sản phẩm

+ Phân phi hữu cơ và phân hữu cơ không phân giả hết phải chôn lấp còn khá lớn [3]

Phương pháp này có nhiều phương pháp ủ khác nhau.Chẳng hạn:

Phương pháp ủ rác thành đống lên men tự nhiên có đảo lộn

Đây là phương pháp được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới , đặc biệt là các nước châu Á như: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ,…

Rác được chất thành đống cao 1,5- 2,5 m, mỗi tuần đảo trộn một lần Nhiệt độ trong đống ủ là 550

C, thời gian ủ là khoảng 4 tuần, độ ẩm là 50- 60% Trong 3- 4 tuần tiếp theo không đảo trộn Phương pháp này đơn giản nhưng mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường nước và không khí [3]

Trang 28

28

Phương pháp ủ rác thành đống không đảo trộn và có thổi khí

Đây là phương pháp do Viện nghiên cứu Nông nghiệp thực nghiệm Beltsville, Hoa Kỳ thực hiện Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở các phương pháp xử lý nước thải Theo phương pháp này mỗi đống phế thải

có chiều cao 2- 2,5m, phía dưới lắp một hệ thống phân phối khí Nhờ có quá trình thổi khí cưỡng bức mà các quá trình chuyển hóa được nhanh hơn, nhiệt

độ ổn định và ít ô nhiễm [3]

Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học, con người nhận thấy tính ưu việt của phân hữu cơ được chế biến từ các loại phế thải, rác thải Chúng không những làm sạch môi trường, giảm tính độc hại mà còn được coi là nguồn nguyên liệu tái chế làm phân hữu cơ, có tác dụng cải tạo đất, nâng cao độ phì nhiêu của đất Ngoài ra, chúng có tác dụng làm tăng hiệu quả của phân hóa học bằng cách trộn một phần phân hóa học với phân hữu cơ bón cho cây trồng

Như vậy, có rất nhiều công nghệ cho việc lựa chọn xử lý chất thải nói chung và rác thải nói riêng, nhưng mỗi công nghệ có có những đặc điểm riêng Vấn đề lựa chọn công nghệ xử lý như thế nào vừa phù hợp với điều kiện của quốc gia, vùng, miền, huyện, lỵ,…

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Rác thải sinh hoạt (RTSH) từ hộ gia đình, cơ quan, trường học, khu thương mại, dịch vụ tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 29

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, KT- XH tại Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ

An

3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý;

- Đất đai;

- Khí hậu thời tiết;

- Cảnh quan môi trường

3.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế theo nghành (2007,

Trang 30

+ Thành phần, khối lượng rác thải từ khu công sở;

+ Thành phần, khối lượng rác thải từ trường học;

+ Thành phần, khối lượng rác thải từ bệnh viện, trung tâm y tế;

+ Thành phần, khối lượng rác thải từ chợ và khu thương mại, dịch vụ nhà hàng

3.2.3 Điều tra, đánh giá công tác quản lý và thu gom rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An

- Hình thức quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện;

- Tình hình thu gom và phân loại rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu;

- Giáo dục cộng đồng trong việc thu gom và phân loại RTSH tại nguồn;

- Tình hình thu phí vệ sinh môi trường

3.2.4 Đánh giá tình hình xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu

Hinh thức, phương pháp xử lý đang thực hiện trên địa bàn huyện

2.2.5 Đề xuất mốt số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An

Dự báo khối lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện đến năm

2020

Trang 31

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra thực địa

- Địa điểm, vị trí khu vưc nghiên cứu;

- Xác định điểm tập kết rác tạm thời;

- Thu thập hình ảnh,…

3.3.2 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA)

- Sử dụng phiếu điều tra hộ gia đình thuộc 3 nhóm hộ: Hộ nông nghiệp, hộ công chức nhà nước, hộ buôn bán kinh doanh (30 hộ/nhóm hộ)

- Số lượng phiếu điều tra: 30 phiếu/xã Tổng số phiếu là 90 phiếu

3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập số liệu về ĐKTN, KT- XH của khu vực nghiên cứu tại UBND huyện Quỳnh Lưu

- Sưu tầm, tập hợp các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, kết quả thực tiễn trong và ngoài nước thông qua các kênh thông tin khác nhau như báo chí, tư liệu, thông tin đại chúng, Internet,… liên quan đến lĩnh vực chôn lấp và xử lý rác thải sinh hoạt, ứng dụng công nghệ sinh hoạc trong phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt,… Tham khảo kết quả đạt được từ những đề án KHCN của tỉnh Nghệ An trong chương trình KHCN phục vụ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong các năm trước,…

3.3.4 Phương pháp định lượng rác thải

3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Trang 32

32

Xử lý kết quả thu được từ phiếu điều tra phỏng vấn bằng phần mềm Excel

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

a, Vị trí địa lý

Quỳnh Lưu là một huyện ven biển tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh

60 Km về hướng Bắc; có vị trí địa lý nằm ở 19005’- 19023’vĩ độ Bắc, 105026’–105049’ kinh độ Đông

Phía Bắc giáp huyện Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hoá

Phía Đông giáp Biển Đông

Phía Nam giáp hai huyện Diễn Châu và Yên Thành

Phía Tây giáp huyện Nghĩa Đàn

Nằm trên các trục giao thông chính: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 48, đường sắt Bắc Nam, đướng sắt Cầu Giát – Nghĩa Đàn, tỉnh lộ 537, là trung tâm giao lưu kinh tế và thị trường hàng hoá giữa các huyện đồng bằng, miền núi

và trung du

Huyện có 41 đơn vị cấp xã và 2 thị trấn: Cầu Giát và Hoàng Mai Tổng diện tích tự nhiên là: 60.706,00 ha Trong đó: Đất nông nghiệp 43.903,64 ha chiếm 72,32% diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiếp 10.453,41 ha chiếm 17,22% diện tích đất tự nhiên; đất chưa sử dụng 6.348,95 ha chiếm 10.46% diện tích đất tự nhiên

b, Đặc điểm địa hình địa mạo

Trang 33

33

Quỳnh Lưu là một huyện ven biển, vừa là huyện bán sơn địa miềm núi Trên cơ sở những đặc điểm về hình thái, địa hình, tiềm năng đất đai, tập quán sản xuất huyện Quỳnh Lưu được chia làm 3 vùng chính sau:

Vùng bán sơn địa miền núi gồm các xã phía Tây và Tây Nam Đặc điểm vùng này là xen kẽ cả 3 dạng địa hình đồi núi, đồi và thung lũng

Vùng ven biển gồm các xã nằm phía Bắc của huyện từ Quỳnh Lập đến Quỳnh Thọ có chiều dài 34 km; có ba cửa sông thông ra biển, là trung tâm giao lưu kinh tế - xã hội quan trọng của huyện

Vùng đồng bằng: Địa hình tương đối bằng phẳng, là địa bàn phát triển kinh tế - xã hội của huyện Quỳnh Lưu

c, Đặc điểm khí hậu thời tiết

Khí hậu ở Quỳnh Lưu mang tính chất chuyển tiếp giữa khí hậu Bắc

Bộ và Bắc Trung Bộ Nhìn chung khí hậu chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa nên có tính chất đa dạng và phức tạp.Trong năm có hai mùa chuyển tiếp: mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng

4 đến giữa tháng 11

Chế độ nhiệt: Quỳnh Lưu có chế độ nhiệt binh quân từ 200C - 240C, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng khá cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 39,80C và các tháng lạnh nhất (tháng12 năm trước đến tháng 2 năm sau) là khoảng 100C Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.600 – 1.700 giờ Tổng tích ôn 8.400-8.6000C thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển

Chế độ mưa: Quỳnh Lưu là huyện có lượng mưa bình quân hàng năm

là 1.459 mm, xếp vào loại trung bình trong cả nước nhưng do địa hình đồi núi dốc, độ che phủ thấp nên hàng năm gây ra xói mòn mạnh Lượng mưa hàng năm dao động từ 920 mm đến 2.047 mm

Trang 34

34

Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí hàng năm của huyện là 86%,

tương đương với mức bình quân trong Tỉnh Độ ẩm không khí cũng có sự chênh lệch giữa các tiểu vùng và theo mùa Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất lên 18 – 19% Cường độ bốc hơi từ 1.200 mm đến 1.300 mm/năm, cao hơn nhiều so với mức bình quân trong tỉnh (700 – 940 mm/năm)

Chế độ gió: Quỳnh Lưu chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió

mùa Đông Bắc và gió Phơn Tây Nam

Gió mùa Đông Bắc thường xuyên xuất hiện vào mùa Đông từ tháng

10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống từ 5 –100C so với nhiệt độ trung bình năm

Gió Phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của Bắc Trung Bộ Loại gió này thường xuyên xuất hiện ở Huyện vào tháng

5 đến tháng 6 hàng năm Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuẩt và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn huyện

Bên cạnh những yếu tố chủ yếu trên, Quỳnh Lưu còn là một địa phương chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Trung bình mỗi năm

có 2 – 3 cơn bão, sức gió mạnh nhất có lúc giật trên cấp 12, mùa bão thường vào tháng 8 – 10, bão về thường kèm theo mưa lớn cùng với sự tàn phá của sức gió gây ra lũ lụt và nhiều thiệt hại lớn

d, Đặc điểm thuỷ văn

Quỳnh Lưu có 3 con sông lớn là sông Hoàng Mai, sông Thơi và sông

Mơ với tổng diện tích lưu vực 570 km2, gần hạ lưu nước lợ, tỷ lệ mặn tăng lên

Trang 35

35

Toàn huyện có 80 hồ đập lớn nhỏ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân với trữ lượng 300 triệu m3 tưới cho khoảng 300 ha Nguồn nước ngọt của Quỳnh Lưu còn được lấy từ hệ thống thuỷ nông Bắc tưới khoảng trên

400 ha và hệ thống kênh tiêu Bình Sơn,…phục vụ sản xuất và tiêu xả nhỏ

Chế độ thuỷ triều là nhật triều không đều Mùa đông triều thường lên nhanh vào ban đêm, mùa hè lên nhanh vào ban ngày

e, Cảnh quan môi trường

Quỳnh Lưu là một huyện vừa có núi, có sông, có đồng, có biển; thuộc loại hình trung du, đồi núi và đồng bằng xen kẽ với nhiều núi thấp và

có nhiều khu di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đẹp

Quỳnh Lưu có nhiều di tích lịch sử - văn hóa được bộ văn hoá cấp bằng chứng nhận như Đền Phùng Hưng, Đền Cờn, Đền Xuân Hoà, Đền Vương, Đền Xuân Úc, Đền Thượng, Đình làng Quỳnh Đôi, Nhà thờ họ Hồ,…

So với các huyện trong tỉnh, huyện Quỳnh Lưu có thảm thực vật rừng ven biển đặc trưng Tuy chưa có thảm thực vật rừng ven biển đa dạng như các huyện ven biển của vùng Nam Trung Bộ nhưng với hệ sinh thái rừng ngập mặn của huyện với nhiều loại động thực vật thủy sinh không chỉ góp phần làm đa dạng tài nguyên rừng của huyện mà còn có giá trị về cả kinh tế, khoa học du lịch và môi trường

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a, Tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế theo ngành huyện Quỳnh Lưu giai đoạn 2007 – 2010

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của tỉnh và

cả nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện Uỷ, Hội đồng Nhân dân và UBND, sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, sự giúp đỡ của các ngành và nỗ lực của nhân dân, nền kinh tế huyện Quỳnh Lưu đã có nhiều chuyển biến

Trang 36

36

tích cực Kết quả phát triển kinh tế trong những năm qua cho thấy: Số hộ khá và giàu ngày càng tăng, ngược lại số hộ đói không còn và số hộ nghèo giảm mạnh từ 13,7 % năm 2007 xuống chỉ còn 10,85% năm 2009 Dự kiến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9,73%

Bảng 11: Tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế từ năm 2007 – 2009 và Kế hoạch năm 2010

Năm GDP Tỷ lệ đóng góp của các ngành kinh tế

(%) Dịch vụ Nông - Lâm -Ngư Công nghiệp - Xây dựng

Cơ cấu kinh tế trong những năm qua trên địa bàn huyện đã có những chuyển dịch rõ rệt, theo chiều hướng tích cực: Giảm tỷ trọng Nông – Lâm – Ngư nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng, thương mại và dịch vụ

- Nông – Lâm – Ngư: Giảm từ 38,40% năm 2007, xuống 29,47% sau hai năm Dự kiến năm 2010 sẽ giảm còn 27,83%;

- Công nghiệp – Xây dựng: Tăng từ 40,36% năm 2007, lên 46,78 năm

2009 Dự kiến năm 2010 sẽ tăng đến 47,99%;

Trang 37

Dịch vụ Nông - Lâm - Ngư Công nghiệp - Xây dựng

c, Thực trạng phát triển dân số, lao động

*Dân số:

Theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2009, tổng dân số của huyện năm 2009 là 379.052 người, tăng 1.01 % so với năm 2008, tăng bình quân 1,22 % trong giai đoạn 2001-2005 và đang có xu hướng giảm dần trong vài năm gần đây (bình quân 0,88 %/năm giai đoạn 2007-2009) Nhờ thực hiện tốt công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, tỷ lệ tăng dân số trong những năm gần đây thấp hơn so với mức tăng bình quân của tỉnh (1,15 %)

Tỷ lệ dân số nam và nữ của huyện không biến động nhiều trong những năm qua và dân số nữ thường cao hơn dân số nam, tuy nhiên mức chênh lệch không lớn, năm 2009 tỷ lệ dân số nữ là 51,0 %

Ngày đăng: 16/06/2016, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự, 2001. Quản lý chất thải rắn. NXB XD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn
Nhà XB: NXB XD
[3]. Nguyễn Xuân Thành và cộng sự, 2003. Giáo trình Vi sinh vật đại cương. NXB SP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Vi sinh vật đại cương
Nhà XB: NXB SP
[6]. Nguyễn Xuân Nguyên và cộng sự, 2004. Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp vi sinh và sản xuất phân bón. NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp vi sinh và sản xuất phân bón
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
[9]. Thạc sỹ Trần Nhật Nguyên. Kinh nghiệm Quản lý Chất thải rắn. http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/VDKT/tnmt35.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm Quản lý Chất thải rắn
[1]. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004. Báo cáo diễn biến môi trường chất thải rắn Khác
[7]. Phòng Thống kê huyện Quỳnh Lưu – Phòng Dân số. Báo cáo Lao động – Việc làm năm 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Nguồn phát sinh chất thải rắn. - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Sơ đồ 1 Nguồn phát sinh chất thải rắn (Trang 5)
Bảng 1. Lượng phát sinh chất thải theo đầu người - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 1. Lượng phát sinh chất thải theo đầu người (Trang 11)
Bảng 8. Mức chi phí trả cho CTR của các hộ gia đình ở đô thị - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 8. Mức chi phí trả cho CTR của các hộ gia đình ở đô thị (Trang 17)
Sơ đồ 3: Công nghệ SERAPHIN trong xử lý rác thải sinh hoạt - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Sơ đồ 3 Công nghệ SERAPHIN trong xử lý rác thải sinh hoạt (Trang 19)
Bảng 9. Thành phần hoá học các chất hữu cơ có trong rác thải - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 9. Thành phần hoá học các chất hữu cơ có trong rác thải (Trang 22)
Bảng 11: Tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế từ năm 2007  – 2009 và Kế hoạch năm 2010 - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 11 Tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế từ năm 2007 – 2009 và Kế hoạch năm 2010 (Trang 36)
Đồ thị thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
th ị thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Trang 37)
Bảng  13:  Thống  kê  khối  lƣợng  rác  thải  hàng  ngày  của  một  số  nguồn phát sinh RTSH ở TT.Cầu Giát và hai xã Quỳnh Phương, Quỳnh  Lâm - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
ng 13: Thống kê khối lƣợng rác thải hàng ngày của một số nguồn phát sinh RTSH ở TT.Cầu Giát và hai xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lâm (Trang 43)
Bảng 14: Khối lƣợng thành phần rác thải sinh hoạt vào ngày đầu - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 14 Khối lƣợng thành phần rác thải sinh hoạt vào ngày đầu (Trang 46)
Bảng  16.  Cơ  sở  vật  chất  trong  thu  gom  và  vận  chuyển  rác  thải  sinh hoạt. - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
ng 16. Cơ sở vật chất trong thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt (Trang 52)
Bảng 18: Đánh giá của người dân về HTMT địa phương (Đơn vị: %) - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 18 Đánh giá của người dân về HTMT địa phương (Đơn vị: %) (Trang 58)
Bảng 19: Đánh giá ý thức của người dân về BVMT địa phương. - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 19 Đánh giá ý thức của người dân về BVMT địa phương (Trang 59)
Bảng 22: Dự báo dân số và khối lƣợng rác phát sinh đến năm 2020. - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
Bảng 22 Dự báo dân số và khối lƣợng rác phát sinh đến năm 2020 (Trang 64)
H3: Hình ảnh trước khi vào Bãi rác Tân Phong, xã Quỳnh Phương. - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
3 Hình ảnh trước khi vào Bãi rác Tân Phong, xã Quỳnh Phương (Trang 73)
H4: Hình ảnh Bãi rác Tân Phong đã chất đầy rác thải. - Điều tra, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An
4 Hình ảnh Bãi rác Tân Phong đã chất đầy rác thải (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w