Từ việc phân tích đánh giá các mối liên kết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, đề xuất các giải pháp phát triển tốt các mối liên kết đó. Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về liên kết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm. Đánh giá thực trạng liên kết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm qua 3 năm 2006 2008 ở Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến đến sự phát triển mối quan hệ liên kết nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các mối quan hệ liên kết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tôm của huyện thời gian tới.
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Với lợi thế là quốc gia biển, Việt Nam có chiều dài bờ biển hơn 3.260
km Tổng diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226 nghìn km2, diện tíchvùng biển đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền.Ngoài ra trong vùng biển có 4 nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảolớn có dân cư như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc…, cónhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hảisản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi trồng
và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá Bên cạnh điều kiện tự nhiênvùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt ở trong 2.860 consông lớn nhỏ, nhiều triệu héc ta đất ngập nước, ao hồ, ruộng trũng, rừng ngậpmặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long v.v… Như vậy cóthể nói đây là nơi có đủ các điều kiện tạo nên thế mạnh cho phát triển ngànhkinh tế thủy sản [4]
Hội nhập WTO đã tạo ra cho ngành thủy sản có nhiều cơ hội về thị trường,lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên một thực tế là hội nhập cũng nảy sinh nhiềuthách thức đối với thủy sản Việt Nam, đó là sự cạnh tranh khốc liệt về giá cả,chất lượng sản phẩm, thị trường với những quy định ngặt nghèo mới Do đótăng cường hợp tác liên kết để hỗ trợ, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
là một xu thế tất yếu
Huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh có nhiều thế mạnh về tự nhiên để pháttriển nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở cả vùng nước mặn, nước lợ và nước ngọt,đặc biệt là phù hợp cho phát triển nuôi tôm Tính đến thời điểm năm 2008huyện Yên Hưng có diện tích nuôi tôm đạt 6.330,6 ha, chiếm 60,05% diệntích nuôi của tỉnh, trong khi sản lượng đạt 21.252 tạ chỉ bằng 30,36% Tuy
Trang 2nhiên một thực tế cho thấy ngành nuôi trồng thủy sản ở Yên Hưng vẫn cònchưa phát triển đúng với tiềm năng, mà nguyên nhân là do vấn đề về vốn, tiếpcận thông tin, áp dụng khoa học kỹ thuật của hộ nuôi trồng, chế biến và tiêuthụ còn nhiều hạn chế, giá bán không ổn định, chất lượng chưa cao, cách thứclàm ăn còn đơn giản Các hộ nông dân tự đắp đê, đập, xây cống đầm, lấynước vào đầm theo thủy triều, nguồn giống dựa vào tự nhiên, thức ăn có sẵntrong môi trường nước[9]… Một hạn chế được cho là quan trọng trong pháttriển NTTS là các mối quan hệ liên kết giữa hộ nông dân nuôi trồng với cáccông ty chế biến, tiêu thụ chưa hiệu quả, các mối quan hệ liên kết giữa doanhnghiệp với hộ sản xuất không bền vững, ràng buộc và trách nhiệm giữa cácbên tham gia liên kết chưa được rõ ràng, còn khó hiểu dẫn đến tình trạng phá
vỡ hợp đồng, thiếu nguyên liệu… Bên cạnh đó, là vai trò của Nhà nước, chínhquyền địa phương và các nhà khoa học chưa thật sự rõ nét trong quá trình sảnxuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Việc tìm hiểu và nghiên cứu sự hợp tác,các mối quan hệ liên kết cũng là một trong những biện pháp góp phần giải quyếtcác hạn chế trên
Xuất phát từ những nhận định trên, tôi lựa chọn chuyên đề “Nghiên cứu các mối liên kết chủ yếu trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm ở huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài thực tập tốt nghiệp của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Từ việc phân tích đánh giá các mối liên kết trong nuôi, chế biến
và tiêu thụ tôm ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, đề xuất các giải phápphát triển tốt các mối liên kết đó
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về liênkết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm
Trang 3- Đánh giá thực trạng liên kết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm qua 3năm 2006 - 2008 ở Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến đến sự phát triển mối quan hệliên kết nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các mối quan hệ liên kết trongnuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tôm của huyện thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận, thực tiễn về các mối quan hệ liên kết trong pháttriển nuôi, chế biến và tiêu thụ, với chủ thể là các hộ nuôi tôm, các công
ty chế biến và các hộ thu gom tôm trên địa bàn huyện Yên Hưng, tỉnhQuảng Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu lý luận, thực trạng, yếu tố ảnh hưởng và
giải pháp để phát triển các mối quan hệ liên kết trong nuôi, chế biến và tiêuthụ tôm
Về không gian: Đề tài chỉ đi vào nghiên cứu tại các hộ nuôi, cơ sở chế
biến và thu gom tôm có quy mô tương đối lớn (không tìm hiểu tình hình sảnxuất ở các cơ sở, hộ nuôi tôm nhỏ lẻ) Đề tài được thực hiện trên địa bànhuyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu một số nội dung trong thời gian từ năm
2006 - 2008, tập trung nghiên cứu khảo sát năm 2008, phần phương hướngđến năm 2015
Trang 42 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG NUÔI, CHẾ BIẾN VÀ
Các khái niệm về liên kết
Liên kết (tiếng Anh là “integration”) trong hệ
thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sáp nhậpcủa nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biếtđến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết Sau đây là một
số quan điểm về liên kết kinh tế:
♦ Trong Từ điển Kinh tế học hiện đại (David W Pearce) cho rằng
liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững[3]
♦ Trong các văn bản của Nhà nước mà cụ thể là trong quy định ban
hành theo Quyết định số 38-HĐBT ra ngày 10/04/1989 thì liên kết kinh tế là
những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất.
Sau khi bàn bạc thống nhất, các đơn vị thành viên trong tổ chức liên kết kinh tếcùng nhau ký hợp đồng về những vấn đề có liên quan đến phần hoạt động củamình để thực hiện[7]
Trang 5♦ Theo ThS Hồ Quế Hậu thì Liên kết
kinh tế trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế là sự chủ động nhận thức
và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung[6].
♦ Tổng hợp những khái niệm trên có thể kết tóm lược “Liên kết kinh tế làcác quan hệ kinh tế giữa hai hay nhiều chủ thể kinh tế với mục đích đạt đượclợi ích kinh tế xã hội của các bên, dựa trên những hợp đồng đã ký kết vớinhững thoả thuận nhất định, những giấy tờ bằng chứng có tính ràng buộc bằngpháp luật, những cam kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh”
Phương thức liên kết kinh tế
Liên kết theo chiều dọc (Liên kết giữa các tác nhân trong cùng một ngành
hàng mà trong đó mỗi tác nhân đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạnnào đó) là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuấtkinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theo chiều dọctoàn diện nhất bao gồm các giai đoạn từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đếnphân phối thành phẩm Trong mối liên kết này, thông thường mỗi tác nhântham gia vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân kề trước đó, đồng thời bánsản phẩm cho tác nhân kế tiếp của chuỗi hàng Kết quả của liên kết dọc làhình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kểchi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian[13]
Liên kết theo chiều ngang (Liên kết diễn ra giữa các tác nhân hoạt động
trong cùng một ngành) là hình thức liên kết giữa các chủ thể nhằm mục đíchlàm chủ thị trường sản phẩm Hình thức này được tổ chức dưới nhiều dạng, cóthể thông qua các hội nghề nghiệp hoặc hiệp hội, ví dụ như Hiệp hội Míađường… Các cơ sở liên kết với nhau là những cơ sở độc lập nhưng có quan
hệ với nhau và thông qua một bộ máy kiểm soát chung Với hình thức liên kết
Trang 6này có thể hạn chế được sự ép giá của các cơ sở chế biến nhờ sự làm chủ thịtrường [12].
Như vậy liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinhdoanh, thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọithành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý, mỗi loại hình liênkết có những đặc điểm riêng cũng như những ưu điểm riêng của nó
Mục tiêu của liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế nhằm tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua cáchợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết để tiếnhành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốthơn tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết, góp phần nâng cao sảnlượng, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập củacác bên liên kết, cũng như tăng thu ngân sách Nhà nước
Liên kết để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sảnlượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để bảo vệ lợiích kinh tế của nhau, tạo cho nhau có khoản lợi nhuận cao nhất
Liên kết kinh tế giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh vàquản lý, giúp đỡ nhau về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản
lý, công nhân kỹ thuật, cũng như thực hiện cho nhau các công việc cung ứngvật tư, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ vận chuyển, thông tin, xử lý thông tin v.v Các hoạt động này được ghi thành hợp đồng kinh tế [7]
Các nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế
- Tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh: Đây chính là mục tiêu của mọihoạt động sản xuất của các cơ sở, việc mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi cácphương thức sản xuất của từng thành viên khi ra nhập tổ chức kinh tế hợp tácnói riêng hay khi thiết lập các mối quan hệ với các đối tác khác phải đạt mục tiêuhiệu quả
Trang 7- Tự nguyện: Việc liên kết kinh tế phải xuất phát từ nhu cầu của mỗithành viên, không có sự gò ép mới thực sự có hiệu quả
- Bình đẳng và công bằng trong phân phối lợi nhuận và rủi ro: nguyêntắc này sẽ là động lực thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế [12][7]
Nội dung liên kết kinh tế
Từ những quan điểm về liên kết, các hình thức và mục tiêu của liên kếtkinh tế cho thấy các liên kết trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các tácnhân rất đa dạng và gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang, đan xen lẫn nhau
Cơ chế liên kết cũng rất đa dạng, thể hiện sự phát triển của cung cách sản xuất
từ sản xuất đơn lẻ, manh mún sang dạng hàng hoá và mức độ phức tạp của việccung cấp tiếp cận thị trường, cung cấp nguồn lực và công tác tổ chức quản lýsản xuất kinh doanh và để đánh giá mức độ liên kết, mức độ quan hệ chặt chẽgiữa các tác nhân khi tham gia liên kết nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Sơ đồ 2.1: Các hình thức, các khâu và cơ chế liên kết
- Liên kết theo chiều dọc
- Liên kết theo chiều ngang
Cơ sở B
Trang 8biến và tiêu thụ sản phẩm thể hiện sự hợp tác giúp đỡ nhau vì lợi ích chungcho cả hai bên, dựa trên nguyên tắc tự nguyện bình đẳng và sự phát triển của
cả hai bên
Các cam kết, thoả thuận phải có các điều kiện ưu đãi, các ưu đãi này phảiđược xây dựng thông qua bàn bạc, thống nhất vì lợi ích của cả hai bên và dựatrên các quan hệ cung cầu thị trường
Các thoả thuận, cam kết phải thể hiện trách nhiệm của mỗi bên khi thựchiện cam kết và các hình thức phạt nếu một bên không thực hiện đúng, đủtheo thoả thuận, cam kết Các mối liên kết này thể hiện thông qua các hìnhthức liên kết như sau:
- Hợp đồng bằng văn bản: Theo Eaton and Shepherd (2001), hợp đồng là
sư thoả thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với mức giá đặt trước Liên
kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa các tácnhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm
Theo Michael Boland (2002) Liên kết dạng hợp đồng là hình thức mộtcông ty mua hàng hoá từ một nhà sản xuất với một mức giá được xác địnhtrước khi mua Mối quan hệ hợp đồng giữa nhà sản xuất và nhà chế biến chỉ
sự điều chỉnh của những văn bản thoả thuận cá nhân mang tính pháp lý,những giao dịch này có thể là giá mua bán, thị trường, chất lượng và số lượngnguyên vật liệu đầu vào, các dịch vụ kỹ thuật, cung cấp tài chính… được thoảthuận trước khi bán Liên kết hợp đồng tạo ra sự linh hoạt trong việc chia sẻrủi ro và quyền kiểm soát giữa các chủ thể tham gia hợp đồng [33][34]
Hợp đồng được ký kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức, ngân hàng, tíndụng, trung tân khoa học kỹ thuật và hộ theo các hình thức:
+ Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sảnhàng hoá
Trang 9+ Bán vật tư mua lại sản phẩm
+ Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn tư vấn kỹ thuật, mua vật tư,thiết bị, nguyên liệu đầu vào, vay vốn
+ Liên kết sản xuất bằng việc góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết vớicác doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê đất, diện tích mặt nước, sau đó
hộ được sản xuất trên diện tích đó hoặc cho thuê và bán lại sản phẩm chodoanh nghiệp tạo sự gắn kết bền vững giữa hộ và doanh nghiệp [30]
- Hợp đồng miệng (thoả thuận miệng): Là các thoả thuận không được thểhiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạtđộng, công việc nào đó Hợp đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về sốlượng, chất lượng, giá cả, thời hạn và địa điểm Cơ sở của hợp đồng là niềmtin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham giahợp đồng Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan
hệ thân thiết (họ hàng, anh em ruột thịt, bạn bè,…) hoặc giữa các tác nhân đã
có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh với nhau mà trong suốt thờigian hợp tác luôn thể hiện nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và tráchnhiệm, giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên, hợp đồng miệng thường chỉ làcác thoả thuận trên nguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng.Hợp đồng miệng cũng có thể hoặc không có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật
tư, cũng như các hỗ trợ giám sát kỹ thuật So với hợp đồng văn bản thì hợpđồng miệng lỏng lẻo và có tính chất pháp lý thấp hơn
Tóm lại nội dung liên kết kinh tế là sự thể hiện cụ thể mối quan hệ phâncông và hợp tác lao động giữa hai chủ thể tham gia một liên kết kinh tế Nóqui định những hoạt động, trách nhiệm, chức năng, việc làm cụ thể về kinh tế
- kỹ thuật mà mỗi bên phải thực hiện để cùng nhau hợp tác, tạo ra thành quảlao động chung của liên kết kinh tế Nội dung liên kết kinh tế bao gồm: Liênkết hợp tác trong tiêu thụ nông sản phẩm, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật cho
Trang 10nông dân, huy động vốn phục vụ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh [6].
Hình thức liên kết kinh tế
- Liên kết sản xuất: Là hình thức hợp tác giữa các chủ thể nhưng không
thay đổi tư cách pháp nhân cũng như hình thức tổ chức của từng chủ thể.Thường thì việc liên kết chỉ thực hiện ở một số khâu hay lĩnh vực nào đó củahoạt động sản xuất kinh doanh Ví dụ liên kết giữa nông dân trồng mía và nhàmáy đường phải có nghĩa vụ mua, bán số mía theo như hợp đồng đã ký kết dùcho thị trường có biến động như thế nào đi nữa [12]
- Liên doanh sản xuất: Là hình thức hùn vốn giữa các bên tham gia.
Các bên tham gia hùn vốn sẽ là các thành viên của doanh nghiệp liên doanh,
có quyền hạn trong quản lý doanh nghiệp, được hưởng lợi nhuận và chịu rủi
ro theo số vốn đóng góp Sau khi hùn vốn liên doanh, có thể có những thayđổi sau: Thường thì dẫn đến hình thành các doanh nghiệp mới nhưng cũng cóthể không hình thành doanh nghiệp mới mà chỉ đổi mới phương thức hoạt độngcủa doanh nghiệp cũ [13]
- Liên hiệp hoá sản xuất: Là kiểu liên kết ở mức độ cao theo
chiều dọc, chiều ngang theo một tổ chức thống nhất Nói cách khác, sự liênkết này vừa làm chủ thị trường, vừa làm chủ dây chuyền sản xuất ở mức độcao, được thể hiện như
+ Xí nghiệp liên hiệp ngành: Là hình thức liên kết dọc giữa hai khâusản xuất nguyên liệu và chế biến thành một tổ chức thống nhất hoặc liên kếtgiữa sản
xuất với vận chuyển để tiêu thụ sản phẩm
+ Liên hiệp các xí nghiệp ngành là kiểu quản lý ngành ở phạm vivùng hay
toàn quốc Nó là kiểu liên kết ngang nhằm liên kết các xí nghiệp độc lập trongtoàn ngành Các liên hiệp xí nghiệp có chức năng vừa quản lý kinh tế vừa
Trang 11quản lý kỹ thuật Hình thức này có tác dụng lớn trong phối hợp phát triểnngành hay vùng và giải quyết các vấn đề mà mỗi xí nghiệp không tự giảiquyết được như quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng hay các công trình đầutư…[12]
Một số phương thức NTTS
Nuôi quảng canh truyền thống: là hình thức nuôi trong đó, con giống,
thức ăn dựa hoàn toàn vào tự nhiên, không đòi hỏi kỹ thuật hay trang thiết bị.Điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có những loại hải sản khác nhau, thường cócác loại hải sản như tôm sú, tôm tự nhiên, cá tự nhiên, rong câu và cua biển.Diện tích các đầm nuôi thường rất lớn, thường trên 20 ha /đầm Việc thaynước cũng như thu hoạch sản phẩm là dựa vào chế độ thuỷ triều
Nuôi quảng canh cải tiến: Là hình thức nuôi dựa trên nền tảng của mô
hình nuôi quảng canh truyền thống nhưng có bổ sung thêm giống và thức ăn.Giống thường là tôm sú hay cua biển, tôm sú thường nuôi ở mật độ 2-3con /m2 Việc thay nước cũng chủ yếu dựa vào chế độ thuỷ triều nhưng có thểtrang bị thêm máy bơm để chủ động trong việc điều chỉnh mức nước, do phảiđầu tư thêm trong quá trình nuôi nên diện tích các đầm nuôi thường nhỏ hơn
Nuôi bán thâm canh: Là hình thức nuôi trồng có áp dụng các tiến bộ
của khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất con giống, sản xuất thức ăncũng như quản lý và chăm sóc hàng ngày Mức độ này đã bắt đầu hình thànhnuôi chuyên canh một loại hải sản nhất định Diện tích của từng đầm nuôithường nhỏ, khoảng 5-10 ha/đầm Đây là hình thức nuôi được sử dụng rộngrãi ở Việt Nam hiện nay vì nó phù hợp với khả năng đầu tư cũng như kiến thứcnuôi của người dân
Nuôi thâm canh hay còn gọi là nuôi công nghiệp: Là hình thức nuôi trong đó có người chủ động hoàn toàn về
số lượng và chất lượng con giống, dùng thức ăn nhân tạo, mật độ thả giống
Trang 12cao Diện tích đầm nuôi thường nhỏ dưới 2 ha/đầm Máy móc thiết bị đầy đủ,
kỹ thuật viên có trình độ và được trang bị đầy đủ các dụng cụ để quản lý.Hình thức này đòi hỏi đầu tư lớn về vốn và kiến thức Đây là hình thức nuôiđộc canh
Nuôi siêu thâm canh: Là hình thức nuôi hiện đại, sử dụng một tập hợp
các máy móc và thiết bị để tạo ra cho đối tượng nuôi có những điều kiện sốngkhá tối ưu Nuôi siêu thâm canh thường có diện tích nhỏ, mật độ giống cao,chu kỳ nuôi ngắn Các máy móc được trang bị trong hình thức nuôi này gồm:
hệ thống làm sạch nước (có bể lọc sinh vật, tháp lọc sinh vật, tháp ôxy hoá,thiết bị lọc nước ), hệ thống làm tăng dưỡng khí (máy phun nước và sục khí)
hệ thống chế nhiệt độ (các thiết bị điều chỉnh nhiệt độ tự động), hệ thống cungcấp thức ăn hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi [11]
2.1.1.2 Vai trò vị trí của ngành hàng tôm
- Vai trò của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ thương mạiquốc tế: Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về
mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thếgiới Năm 1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới Đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng
ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ, trong đósản phẩm chủ yếu là tôm xuất khẩu
- Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngànhthuỷ sản đã tạo dựng được uy tín lớn Những nước công nghiệp phát triển như
Mỹ, Nhật và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn vàthường xuyên của ngành Năm 2003, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vàobốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75%tổng giá trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ
- Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của
Trang 13ngành thuỷ sản đã góp phần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiềubài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộnghơn vào khu vực và thế giới.
- Vai trò của ngành hàng tôm trong an ninh lương thực quốc gia, tạoviệc làm, xoá đói giảm nghèo: Tôm được đánh giá là nguồn cung cấp chínhđạm động vật cho người dân Cũng giống như một số nước châu Á khác, thunhập tăng đã khiến người dân có xu hướng chuyển sang tiêu dùng nhiều hơnmặt hàng tôm Có thể nói ngành hàng tôm có đóng góp không nhỏ trong việcbảo đảm an ninh lương thực quốc gia
Ngành thuỷ sản nói chung và ngành tôm nói riêng với sự phát triểnnhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút một lực lượng laođộng đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức épcủa nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước
Số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ 3,12 triệu người (năm1996) lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001 (kể cả lao động thời vụ), như vậy,mỗi năm tăng thêm hơn 100 nghìn người Tỷ lệ tăng bình quân số lao độngthường xuyên của ngành thuỷ sản là 2,4%/năm, cao hơn mức tăng bình quâncủa cả nước (2%/năm)
Với diện tích nuôi tôm liên tục tăng đến năm 2008 đạt khoảng 636,2nghìn ha, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước khoảng 388.359 tấntôm các loại và đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cả nước khoảng794.753.535 USD Có thể nói tôm có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tếquốc dân
Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như nuôi trồng thuỷ sản chủyếu là ở quy mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút mọi lực lượng laođộng, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp xoá đóigiảm nghèo Các hoạt động phục vụ như cung cấp thực phẩm, tiêu thụ sản
Trang 14phẩm… chủ yếu do lao động nữ thực hiện, đã tạo ra thu nhập đáng kể, cảithiện vị thế kinh tế của người phụ nữ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miềnnúi Riêng trong các hoạt động bán lẻ thuỷ sản, nữ giới chiếm tỉ lệ lên đến90% [10]
Tôm nước ngọt
Tôm biển
Hình 2.1 Một số hình ảnh về sản phẩm tôm nuôi phổ biến ở Yên Hưng
2.1.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của nghề NTTS
♦ Đặc điểm kỹ thuật của nghề thuỷ sản
Môi trường khắt khe: Nuôi trồng hải sản là quá trình khai thác khả năng
sinh trưởng của các loại sinh vật dưới tác động hỗn hợp của các yếu tố tựnhiên như đất đai, nguồn nước, lượng mưa, độ mặn, độ pH, nhiệt độ, dưỡngkhí, độ kiềm Các yếu tố này phải luôn ổn định, nếu một trong các yếu tố đódao động mạnh sẽ làm cho vật nuôi bị sốc và chết hàng loạt, ảnh hưởng đếnhiệu quả kinh tế trong nuôi trồng
TÔM CÀNG XANH – SCAMPI
Tên tiếng Anh : Giant river prawn, Scampi, Giant freshwater Shrimp
Tên khoa học : Macrobrachium rosenbergii
TÔM SÚ - BLACK TIGER SHRIMP
Tên khoa học : Penaeus monodon
Tên Tiếng Anh : Black tiger shrimp; Giant tiger shrimp; Jumbo tiger shrimp
Trang 15Thời gian nuôi trồng giữa các loài là không đồng nhất: Với các hình
thức nuôi trồng quảng canh truyền thống, quảng canh cải tiến hay bán thâmcanh trên một diện tích nhất định thường nuôi nhiều loại hải sản, mỗi loại cómột thời gian sinh trưởng và phát triển khác nhau Ví dụ: tôm sú có thể nuôi 2
vụ trong một năm, vụ 1 từ tháng 3 đến tháng 7, vụ 2 từ tháng 9 đến tháng 12(riêng ở miền Bắc thì vụ 1 là chính) Với cua biển, có thể nuôi quanh nămnhưng chủ yếu là nuôi từ tháng 8 đến tháng 12 Do vậy, làm thế nào để có thể
có được mô hình nuôi hợp lý, tận dụng được đặc điểm sinh trưởng và pháttriển để đạt hiệu quả kinh tế cao là việc làm rất khó
Khả năng lan truyền dịch bệnh nhanh: Nuôi trồng thuỷ hải sản thường
là trong môi trường nước rộng, hình thức nuôi trồng hiện nay là phải thườngxuyên thay nước trong đầm nuôi, nguồn nước lấy vào, thải ra chủ yếu từ sông,kênh mương, cửa biển thường ít có sự kiểm soát chặt chẽ, trong khi đó khảnăng phòng và chữa bệnh cho đối tượng nuôi trồng này là rất khó và kém hiệuquả, khả năng lan truyền các bệnh dịch rất nhanh và khó kiểm soát, làm ảnhhưởng đến cả một vùng nuôi trồng rộng lớn
Chịu tác động lớn của môi trường phía bên ngoài: Vị trí các đầm nuôi
phần lớn là ở các bãi triều cửa sông, cửa biển nên nguồn nước thường bị ảnhhưởng do ô nhiễm từ các dòng sông chảy ra, cũng như các chất thải (nguyhiểm nhất là váng dầu) từ các tàu thuyền hoạt động từ ngoài khơi đưa vào.Điều đó cho thấy việc kiểm soát các yếu tố gây bệnh trong nuôi trồng thuỷ hảisản không chỉ giới hạn trong nội bộ ngành thuỷ hải sản[21]
♦ Đặc điểm kinh tế
Các đối tượng vật nuôi rất dễ cho việc thâm canh tăng năng suất: Theo
kết quả nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy nuôi trồng thủy hải sản rất dễthâm canh đặc biệt là nuôi tôm sú, khi bảo đảm đủ các yếu tố như thức ăn,lượng ôxi hoà tan trong nước, độ mặn nếu mật độ nuôi từ 5- 10 con/m2 sẽ
Trang 16cho năng suất từ 1-1,5 tấn/ha/vụ, từ 20-35 con/m2sẽ cho năng suất khoảng 3tấn/ha/vụ Mặt khác khi đầu tư đủ và hợp lý sẽ rút ngắn thời gian nuôi trồngtạo điều kiện cho thâm canh tăng vụ.
Sản phẩm có giá trị kinh tế cao: Do giá trị của các loài thuỷ hải sản có giá
trị dinh dưỡng rất cao nên được đông đảo người tiêu dùng ưa chuộng Phần lớncác nước trên thế giới đều có nhu cầu tiêu dùng thuỷ hải sản, trong khi đó cácnước có điều kiện nuôi trồng không nhiều, điều đó làm cho cán cân cung - cầuluôn mất thăng bằng, điều đó có lợi cho người sản xuất Hiện nay giá cổng trại của
1 kg tôm sú loại 25 - 30 con/kg sống khoảng 170.000 đồng cao hơn khoảng 34 lần
so với 1 kg lúa Đặc biệt đối tượng mua của thị trường thuỷ hải sản là nhữngngười có mức sống cao, thường sống ở thành phố hay các nước đang phát triển,những người sản xuất cũng như những người có mức sống trung bình khó có cơhội mua những hải sản này vì giá quá đắt Điều đó cũng thúc đẩy nghề nuôi trồngthuỷ hải sản phát triển vì không những nó tạo công ăn việc làm tăng thu nhập chongười dân mà còn là mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước[13]
2.1.2 Liên kết kinh tế trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm
và số lượng tôm cung ứng Điều này dẫn đến sự dao động về giá cả, số lượng
và chất lượng tôm trên thị trường
Nuôi tôm là ngành sản xuất mang tính hàng hoá cao, sản phẩm yêu cầutươi sống, khó bảo quản và vận chuyển Mức độ đầu tư phụ thuộc vào hìnhthức nuôi
Trang 17Nuôi mang tính thời vụ, do vậy khả năng cung cấp dồi dào ở chính vụ,nhưng lại khan hiếm ở thời điểm giáp vụ Song nhu cầu tiêu dùng thì ở bất kỳthời điểm nào trong năm Tiêu thụ tôm còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố thunhập và thói quen tiêu dùng Hiên nay nhu cầu tiêu dùng hàng tươi sống củangười dân càng ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, chủng loại sảnphẩm Các định mức kỹ thuật nuôi xem ở (phần phụ lục 1).
- Tác nhân là các hộ (hộ nuôi tôm, hộ kinh doanh tôm (hộ buôn), ngườitiêu thụ)
- Tác nhân là đơn vị kinh tế tham gia nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm, hỗ trợngành hàng tôm (các doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty, nhà máy…)
- Tác nhân là các tổ chức (tổ chức tín dụng, ngân hàng, thương mại khác…)
- Tác nhân là các Trung tâm Khoa học, Nhà nước (các cơ chế chính sáchtác động, hỗ trợ)
2.1.2.3 Mối quan hệ liên kết giữa các tác nhân
Với các hoạt động kinh tế riêng của mình, các tác nhân này thực hiệntừng nội dung trao đổi, hợp tác với nhau thông qua mối quan hệ liên kết qualại, dựa trên các ràng buộc cụ thể và được thể hiện trong hợp đồng đôi bên, từ
đó tạo lên sự gắn kết trách nhiệm hỗ trợ phát huy thế mạnh của các tác nhân,đồng thời cùng chia sẻ những rủi ro trong kinh doanh
Các tác nhân có các mối quan hệ liên kết với nhau ở mọi khâu của quátrình nuôi, chế biến, tiêu thụ và có thể mô phỏng các quan hệ đó trên sơ đồ
Trang 18vụ khác từ Nhà nước hay các từ các chính sách của Nhà nước, như chính sáchkhuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ sản, hộ được các cơ sở chế biến, hộbuôn ứng trước vốn, ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.
Các cơ sở chế biến đặt hàng, hợp đồng sử dụng các sản phẩm của hộnuôi trồng, của các hộ thu gom, bằng công nghệ, kỹ thuật… để tạo ra sảnphẩm mới đáp ứng nhu cầu, thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng, xuất khẩu
NHÀ NƯỚC
TỔ CHỨC NGÂN HÀNG, TÍN DỤNG NHÀ KHOA HỌC
CS Chế biến tôm
Tiêu thụ
Hộ nuôi
tôm
Trang 19Các cơ sở chế biến trong quá trình hoạt động cũng cần có vốn, có kỹ thuật vàcần có thị trường tiêu thụ ổn định và tiềm năng Do đó trong quá trình sảnxuất các cơ sở cũng có các quan hệ với các tổ chức tín dụng, ngân hàng, cácnhà khoa học, nhà cung cấp công nghệ, với mạng lưới tiêu thụ và quan hệ dựatrên các cơ chế chính sách của Nhà nước…
Các cơ sở, hộ tiêu thụ thu mua và tiêu thụ sản phẩm Tác nhân này huyđộng vốn từ Nhà nước, các tổ chức, ngân hàng, tín dụng nhằm đáp ứng nhucầu vốn trong kinh doanh Thông qua các kỹ năng, các phương thức riêng sẽlưu thông và tiêu thụ các sản phẩm, từ đó thu được lợi nhuận, các cơ sở, hộtiêu thụ trong quá trình lưu thông cũng cần nhận được hỗ trợ về kỹ thuật,công nghệ, cách thức tiêu thụ có hiệu quả
Nhà khoa học, khuyến nông: xác định những khó khăn, vướng mắc mà
hộ gặp phải để nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
Nhà Bank: cung cấp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tín dụng cho nhànông và doanh nghiệp
Nhà nước: ra các chính sách, khung pháp lý giám sát, kiểm tra, cungcấp thông tin thị trường
Các mối quan hệ liên kết trên trong thực tế rất đa dạng, đan xen nhau
có thể một cơ sở, một hộ nuôi trồng là tác nhân của nhiều mối quan hệ, cũng
có thể một mối quan hệ song lại có liên quan đến nhiều tác nhân, có thể làquan hệ một chiều, cũng có thể là hai chiều, đa chiều [2]
2.1.2.4 Lợi ích của các tác nhân
Liên kết kinh tế xảy ra khi một trong các bên tham gia liên kết không thể
tự mình hoạt động hoặc nếu có hoạt động thì hiệu quả hoạt động không caonên cần phải có sự tham gia cùng hành động của nhều bên, khi đó liên kếtkinh tế sẽ đem lại lợi ích chắc chắn cho các bên liên quan
Trang 20- Tạo điều kiện để tiết kiệm chi phí đầu tư không hiệu quả trong hoạt động SXKD
Mỗi doanh nghiệp đều có một hoặc vài lĩnh vực hoạt động chủ đạo,mang tính đặc thù, chuyên biệt Bên cạnh đó, là một loạt các hoạt động phụ,
mà bản thân doanh nghiệp không thể thực hiện được, hoặc nếu thực hiện thì
sẽ phải mở rộng quy mô và chi phí nhưng không đem lại hiệu quả cho doanhnghiệp, nhưng nó lại không thể thiếu đối với dây chuyền sản xuất chính Do
đó liên kết giúp cho doanh nghiệp có thể giải quyết được nhu cầu đó Ví dụtrong cơ sở chế biến tôm thì hoạt động chế biến tôm là hoạt động chủ đạo,nuôi tôm để cung cấp nguyên liệu cho chế biến là hoạt động phụ song khôngthể thiếu nguyên liệu
- Liên kết giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh, tiếp cận, phản ứng nhanh hơn với thay đổi của thị trường
Thực hiện liên kết thông qua hợp đồng giúp cho các cơ sở chế biến, xuấtkhẩu có điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động do có sự bảo đảm ổn định về
số lượng, chất lượng và tiến độ của nguyên liệu nông sản cung cấp cho sảnxuất, doanh nghiệp không phải lo đến sự thất thường của thị trường, cũng nhưnâng cao được sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường
Nhu cầu của thị trường luôn thay đổi, điều đó buộc các doanh nghiệpvừa phải luôn thay đổi mẫu mã của các sản phẩm hiện có, nâng cao chấtlượng, hạ giá thành sản phẩm Để có được những thay đổi phù hợp với nhucầu của thị trường, doanh nghiệp cần phải có thông tin và có đủ khả năngtriển khai nhanh các phương án sản xuất mới Chính sự liên kết kinh tế sẽgiúp cho doanh nghiệp đạt được điều đó
Liên kết của hệ thống các nhà thương mại thông qua hình thức đại lý bánhàng Với hình thức liên kết này, các cửa hàng kinh doanh sẽ nhận làm đại lýbán buôn hay bán lẻ sản phẩm cho doanh nghiệp sản xuất, nhờ đó sản phẩmcủa doanh nghiệp sẽ được đưa vào thị trường một cách nhanh chóng hơn, kịp
Trang 21thời hơn.
Khi liên kết sản xuất các bên tham gia liên kết có thể chuyển giao côngnghệ kỹ thuật mới cho nhau, với những chi phí hợp lý và thời gian nhanhchóng, do sự tin cậy lẫn nhau, giúp sản xuất có hiệu quả hơn
Khi những thay đổi của thị trường vượt ra ngoài khả năng đáp ứng củadoanh nghiệp, thì buộc doanh nghiệp phải liên kết với các đối tác khác để tìmkiếm sự hỗ trợ về vốn và công nghệ, khắc phục những hạn chế về quy mô,nâng cao sức cạnh tranh
Liên kết giúp doanh nghiệp dễ dàng chinh phục những thị trường mới dokhả năng tài chính, tận dụng lợi thế chi phí thấp (hợp đồng cung cấp sảnphẩm )
Liên kết kinh tế thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệpchế biến có nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định, có thể tiếp cận với côngnghệ khoa học tiên tiến, có thêm cơ hội đầu tư theo chiều sâu, giải phóng sứclao động từ đó phấn đấu giảm giá thành, nâng cao được khả năng cạnh tranhđối với sản phẩm của mình trên thị trường trong nước và quốc tế [1]
- Liên kết giúp doanh giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh
Khi tham gia liên kết, rủi ro sẽ được phân bổ cho các đối tác tham gia,chứ không phải chỉ tập trung vào một chủ thể, khi đó khả năng vượt qua khókhăn sẽ cao hơn
Trước một dự án sản xuất vượt quá khả năng sản xuất của doanh nghiệp,nếu doanh nghiệp bỏ sẽ mất cơ hội làm ăn, nhưng nếu doanh nghiệp đơn độcmột mình triển khai thực hiện dự án, nhiều khi, do không kham nổi, sẽ dễ dẫnđến hiệu quả thấp, thậm chí thua lỗ Để tránh được hiện tượng này buộcdoanh nghiệp liên kết với doanh nghiệp khác cùng tham gia thực hiện dự án,mỗi doanh nghiệp đảm nhận một phần công việc, tuỳ theo năng lực Như vậy,mỗi doanh nghiệp tham gia dự án chỉ phải chịu một phần rủi ro (nếu có)
Trang 22Liên kết để giảm thiểu rủi ro do cạnh tranh nhờ vào sự thoả hiệp để phânchia thị trường, kể cả việc sát nhập để tạo nên độc quyền nhóm [1][5]
+ Bảo đảm được thị trường tiêu thụ và giảm rủi ro về giá cả đối với nôngsản sản xuất ra
+ Được hỗ trợ về giống, kỹ thuật và các thông tin về thị trường nên khắcphục được nhiều hạn chế của hộ nông dân, đồng thời tạo điều kiện cho hộ tiếpcận được với công nghiệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến
+ Ổn định và phát triển được sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảmnghèo cho bộ phận hộ nông dân ở các vùng khó khăn
Việc tham gia liên kết sẽ bảo đảm được lượng hàng cần thiết, có chấtlượng, ngoài ra khi liên kết sẽ có nhiều cơ hội về vốn, công nghệ, kĩ thuật, cơhội mở rộng kênh tiêu thụ, mở rộng phạm vi, đối tác tiềm năng mới đem lạihiệu quả cao trong kinh doanh
♦ Đối với các tổ chức ngân hàng, tín dụng, TT khoa học kỹ thuật, khuyến nông
Khi tham gia liên kết sẽ mang lại một phần thu cho đơn vị, đồng thờihoàn thành tốt nhiệm vụ của Nhà nước giao phó, góp phần thúc đẩy nuôitrồng thuỷ sản theo định hướng phát triển bền vững
Loại bỏ được vai trò của tầng lớp mua bán trung gian nên trực tiếp bảo
vệ được người sản xuất, nhất là người nghèo khi bán sản phẩm, khuyến khíchphát triển sản phẩm cung cấp cho tiêu dùng và nguyên liêu cho các ngành chếbiến, xuất khẩu
Liên kết giữa doanh nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản và hộ nông dâncung cấp nguyên liệu cho phép xóa bỏ độc quyền đối với các doanh nghiệp épcấp, ép giá khi mua sản phẩm của người nông dân
Trang 23Tăng cường liên minh công nông: việc chuyển đổi phương thức sảnxuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá thì việc liên minhcông nông có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho quá trình sản xuất chếbiến tiêu thụ được hiệu quả hơn.
Thực hiện quan hệ hợp tác: qua liên kết tăng cường quan hệ hợp tácgiữa các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn
Giải quyết quan hệ phân phối: thông qua liên kết vấn đề phân phối thunhập, trách nhiệm quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể hơn,sản phẩm đến với người tiêu dùng nhanh hơn
Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật: liên kết giúp cho việc vậndụng, sử dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất sẽ đem lại hiệu quả caohơn, chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn
Tạo sự gắn kết “4 nhà” (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp,nhà nông), khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì hiệu quả thu được sẽcao hơn đồng bộ hơn trong thực hiện Với việc tham gia của nhà nước (Nhàquản lý) tình trạng chồng chéo về cơ chế chính sách sẽ được hạn chế tối đathay vào đó là một chính sách đồng bộ trong sản xuất Với sự có mặt của cácnhà khoa học kỹ thuật, tiến bộ kỹ thuật được cập nhật và áp dụng thườngxuyên trong sản xuất thay thế cho những kỹ thuật lạc hậu không hiệu quả,giống giống cây, giống con cho năng suất và hiệu quả thấp Còn với cácdoanh nghiệp và người dân thông qua liên kết giúp cho họ yên tâm hơn trongsản xuất, mạnh dạn đầu tư trong sản xuất, ổn định yếu tố đầu vào và thịtrường đầu ra, giảm thiểu rủi ro cũng như được chia sẻ rủi ro trong sản xuất
và với sự liên kết như vậy sẽ đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình sảnxuất, kinh doanh (Phụ lục 2)
Nâng cao hiệu quả kinh tế trong trong sản xuất và lưu thông hàng hoá,giúp cho nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng ngày một phát
Trang 24triển bền vững phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tếnước nhà theo định hướng XHCN.
Như vậy tham gia liên kết trong sản xuất kinh doanh không chỉ có ýnghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà nó còn có ý nghĩa về mặt xã hội, nó giúpnâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, phân phối xã hội được côngbằng, sự đoàn kết hợp tác trong kinh doanh, giá cả, sản lượng, thị trường cungcầu sản phẩm và thu nhập người dân ổn định Thông qua liên kết giúp cho nềnkinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng ngày càng phát triển bền vữngphù hợp với xu thế hội nhập và phát triển của kinh tế thế giới
Từ lợi ích nhiều mặt của liên kết kinh tế đem lại do vậy cần phải nghiêncứu, duy trì và phát triển các loại hình liên kết là một xu thế, là tất yếu của hộinhập phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
2.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ liên kết
Môi trường tự nhiên gồm các yếu tố về điều kiện tự nhiên, thời tiết, môitrường nước điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư mở rộng quy mô sảnxuất kinh doanh, ảnh hưởng đến hình thức và mức độ tham gia liên kết kinh tế
Môi trường sản xuất kinh doanh gồm các yếu tố đầu vào, đầu ra, cácyếu tố hỗ trợ trong quá trình sản xuất cụ thể như giống tôm, thức ăn cho nuôitôm, giá cả vật tư, khoa học kỹ thuật, giá tôm thương phẩm, cạnh tranh
Điều kiện về vốn gồm các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cho thuê tàichính đây chính là điều kiện tiên quyết để cho các dự án đầu tư được thựchiện, duy trì và phát triển, nhờ đó mới có các mối quan hệ liên kết
Cơ chế chính sách của Nhà nước gồm các chính sách về đất đai, vốnsản xuất, thuế, xuất nhập khẩu, các chế tài, luật định nếu là lĩnh vực Nhànước cấm hay không khuyến khích phát triển thì sẽ không tồn tại hay rất ítcác mối quan hệ liên kết vì sẽ không đem lại hiệu quả trong sản xuất
Ngoài ra còn các yếu tố như trình độ quản lý, trình độ của hộ sản xuất
Trang 25kinh doanh, điều kiện kinh tế
2.1.2.6 Những vấn đề phát sinh trong liên kết đối với ngành hàng tôm
Trong thực tế để duy trì và phát triển các mối quan hệ liên kết luôn là
một vấn đề khó và chịu nhiều yếu tố tác động bởi nhiều những mâu thuẫn, bấtcập trong qua trình triển khai thực hiện giữa tác nhân cung cấp với tác nhânthu mua
Mục tiêu lựa chọn đối tác mua là phải thuận tiện, giá cả phải cao, ổnđịnh song thực tế trong liên kết kinh tế muốn ràng buộc trách nhiệm hai bênthì các tác nhân phải có hợp đồng ký kết, số lượng thường cố định, giá cảthường không được như mong đợi
Mục tiêu lựa chọn đối tác cung cấp đầu vào là sản phẩmphải có chất lượng tốt, giá cả phải chăng, ổn định về số lượng Trong thực tế,mặt hàng tôm lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố, nên chất lượng số lượngthường không ổn định, giá cả các yếu tố đầu vào, đầu ra thường xuyên biếnđộng
Các hợp đồng thường là mẫu in sẵn thể hiện trên hợp đồng là nhữngcam kết chặt chẽ, có đôi chỗ gây khó hiểu đối với trình độ của hộ, trong khingười ký hợp đồng thường không giải thích rõ ràng gây hiểu nhầm Mặt khácvai trò hướng dẫn hộ hiểu, tự lập hợp đồng chưa có gây khó khăn cho hộ
Do không có ý thức, chưa hiểu biết nhiều nên tình trạng thực hiệnkhông tuân thủ theo như hợp đồng đã ký kết về chất lượng, gây phiền hà,thiếu sự tôn trọng sau khi đã ký được hợp đồng vẫn còn nhiều
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ tôm nói chung
Trên thế giới, Tôm được đánh giá là một loại hải sản bổ dưỡng, ăn ngon
dễ chế biến, nên đã trở thành một loại hải sản có giá trị kinh tế cao và sản lượngtiêu thụ khá lớn Tôm được nhiều nước nuôi, với nhiều chủng loại khác nhau và
Trang 26hàng năm sản lượng tôm luôn tăng, song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu Điều đóđược thể hiện qua tình hình phát triển của sản lượng tôm hàng năm.
Bảng 2.1: Sản lượng các loại tôm nuôi chính trên thế giới
(ĐVT: tấn)
Loài 2001 2002 2003 02/01 Tốc độ phát triển (%) 03/02 BQ
Tôm sú 676.262 593.011 666.071 87,69 112,32 99,24 Tôm chân trắng 280.114 430.976 723.858 153,86 167,96 160,75 Tôm he 70.507 75.718 78.018 107,39 103,04 105,19 Tôm rảo 20.009 22.379 23.215 111,84 103,74 107,71 Tôm thẻ AĐ 25.559 25.736 31.560 100,69 122,63 111,12 Tổng số 1.348.275 1.405.367 1.804.932 104,23 128,43 115,70
(Nguồn: Theo FAO, 2007)
Bảng 2.1 Cho biết các loại tôm chính được nuôi phổ biến hiện nay trênthế giới Số lượng nuôi ngày một tăng, năm 2002 so với năm 2001 tăng4,23%; năm 2003 so với năm 2002 tăng 28,43% và tốc độ tăng bình quân 3năm 2001-2003 là 15,7%, cho thấy thị trường tiêu thụ tôm ngày một tăng dẫnđến việc đầu tư nuôi tôm và sản lượng cung cấp ngày một tăng, đặc biệt làtôm chân trắng có tốc độ tăng BQ từ năm 2001-2003 lên tới 60,75%; tôm hetăng 5,19%; tôm thẻ AĐ tăng 11,12% Sản lượng tôm hàng năm trên thế giớiđược thể hiện trên bảng 2.2
Bảng 2.2 Sản lượng tôm ở các nước nuôi tôm đứng đầu trên thế giới
(Nguồn: Seafood Inter 12/2007)
Sản lượng tôm hàng năm của các nước nuôi tôm hàng đầu hơn Việt
Trang 27Nam như Trung Quốc, Thái Lan hay một số nước như Inđônêxia, Ấn Độ có
xu hướng tăng lên, điều đó chứng tỏ sản phẩm tôm ngày càng được ưachuộng, đem lại giá trị kinh tế và rất có tiềm năng phát triển Trong đó ViệtNam cũng được coi là nước cung cấp sản lượng tôm lớn hàng năm, với ưu thế
về điều kiện tự nhiên, lao động thì phát triển ngành tôm sẽ đem lại hiệu quả
và nguồn thu cho quốc gia
Bảng 2.3 Tình hình nhập khẩu tôm của một số thị trường qua các năm
(Nguồn: Tài liệu INFOFISH 12/2007)
Bảng 2.3 ta thấy thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất hiện nay, trong đó cóViệt Nam là Mỹ, Nhật, các nước EU Với số lượng nhập có chiều hướng tăngqua các năm và đây cũng là tín hiệu tốt đối với ngành tôm Việt Nam
2.2.1.2 Kinh nghiệm các nước, chế biến và tiêu thụ ở một số nước
* Nước Nhật Bản
Để hỗ trợ người dân trong tiêu thụ nông lâm thuỷ hải sản được thuậnlợi và giảm bớt tình trạng thất thường của thị trường, ép giá của lái buôn,Chính phủ Nhật trong quá trình quy hoạch phát triển vùng nuôi trồng đã đồngthời phát triển khu chợ đầu mối, hệ thống kho tàng bảo quản nông lâm hảisản, nhà máy chế biến…, nhờ đó khi hộ có sản phẩm chỉ việc mang sản phẩmcủa mình sản xuất đến chợ, ở đó đã có dịch vụ người bán thuê, giá là do hộquyết định sau khi tham khảo các thông tin chung về thị trường tại thời điểmbán, hộ phải thanh toán một khoản phí nhất định căn cứ vào % sản phẩm tiêuthụ được Nhờ vào hình thức liên kết trên hộ sẽ yên tâm hơn trong đầu tư sản
Trang 28xuất, không phải lo nhiều về tiêu thụ sản phẩm do những người bán là nhữngchuyên gia trong lĩnh vực bán Các doanh nghiệp, siêu thị, nhà hàng có nhucầu lớn về nguyên liệu có thể trực tiếp đến khu chợ đầu mối để thu mua màkhông mất công tìm đến từng hộ, giảm bớt chi phí đi thi mua, giảm bớt chiphí cử tác nhân trung gian do người sản xuất đực gặp trực tiếp người có nhucầu, ngoài ra số lượng thu mua cũng rất linh hoạt, giá cả hợp lý.
và yên tâm về giá luôn đảm bảo có lãi Từ chính sách trên đã giúp cho cungcầu sản phẩm trên thị trường được hợp lý, dẫn tới ít gây ra tình trạng biếnđộng giá cả trên thị trường, người dân yên tâm sản xuất, Nhà nước cũngkhông phải lo nhiều về kho dự trữ và chính sách bình ổn giá cả thị trường
* Trung Quốc
Dưới tác động của chính sách đầu tư cho khoa học, khuyến nông nhằmphát triển khâu giống và hỗ trợ đến với hộ dân Sản lượng của hộ sản xuất rangoài một phần để tiêu dùng số còn lại đem tiêu thụ hết, giống cho vụ sau căn
cứ vào đăng ký về quy mô sản xuất của hộ sẽ được trung tâm khoa học cấpmiễn phí, nhờ đó hộ luôn có giống tốt từ tay của nhà khoa học bảo đảm năngxuất cao, phía trung tâm khoa học thực hiện được mục tiêu chuyển giao khoahọc kỹ thuật đến tay người sản xuất, hoàn thành nhiệm vụ với Nhà nước giaocho Nhà nước nhờ chính sách hỗ trợ trên giúp tăng tính liên kết giữa hộ vớinhà khoa học, góp phần tạo thêm sản phẩm cho xã hội
Trang 292.2.2 Tính hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ tôm của Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình chung
Nghề nuôi trồng thuỷ sản dẫu ra đời từ rất sớm, song cho đến nhữngnăm 1954 là thời kỳ kinh tế thuỷ sản bắt đầu được chăm lo phát triển để trởthành một ngành kinh tế kỹ thuật Nghề nuôi tôm từ chỗ là một nghề sản xuấtphụ, mang tính chất tự cấp tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoátập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nướcngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hoàvới các ngành kinh tế khác [4]
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động của phát triển nuôi tôm trong một số năm
qua tại Việt Nam
Theo như kết quả thống kê cho thấy thì hầu hết diện tích cho nuôi tôm
là nước mặn, nước lợ và diện tích có chiều hướng tăng qua các năm, điều nàythể hiện định hướng và sự quan tâm của Nhà nước luôn tạo điều kiện cho pháttriển nuôi tôm
Như vậy Quảng Ninh chiếm hầu hết sản lượng tôm khu vực Đông Bắc,song so với các khu vực thì còn thấp, mặc dù điều kiện nuôi khá thuận lợi Vậyphát triển nuôi tôm chưa phát triển xứng với tiềm năng mà thiên nhiên ban tặng
Bảng 2.5 Sản lượng tôm nuôi phân theo địa phương trong cả nước
(ĐVT: tấn)
Địa phương 2003 2004 2005 2006 2007 Sơ bộ
2008
Cả nước 237.880 281.816 327.19 354.514 384.51 388.35
Trang 30307.07 0
Nguồn: Theo [27]
- Chế biến xuất khẩu Việt Nam đã tiếp cận với trình độ công nghệ và quản
lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực chế biến thuỷ sản Sảnphẩm thủy sản xuất khẩu bảo đảm chất lượng và có tính cạnh tranh, tạo dựngđược uy tín trên thị trường thế giới Năm 1995, Việt Nam gia nhập các nướcASEAN và ngành thủy sản Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức nghề cáĐông Nam Á (SEAFDEC), cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu đã tạođiều kiện cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản có chiều hướng phát triển tốt.Đến năm 2003, cả nước có 332 cơ sở chế biến thủy sản Từ 18 doanh nghiệpnăm 1999, đến nay đã có 171 doanh nghiệp Việt Nam được đưa vào danh sách Ixuất khẩu vào EU, 222 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào Hàn Quốc.Ngành đã chủ động đi trước trong hội nhập quốc tế, đẩy mạnh việc áp dụng khoahọc công nghệ tiên tiến vào sản xuất, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến, xúctiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu [4]
Trang 31Bảng 2.6 Tình hình xuất khẩu chính ngạch các mặt hàng tôm của Việt
lạnh 155.858,2 1.359.146.658 143.614,8 1.335.777.305 73.347,4 720.985.405Tôm chế biên 14.818,2 124.388.756 8.410,4 69.133.048Tôm khô 944,4 3.608.062 4.603,2 5.881.154 2.745,3 3.706.114
rõ nét qua các năm 2005-2007 số lượng và giá trị xuất khẩu đều giảm
Bảng 2.7 Thị trường tỷ trọng, giá trị xuất khẩu tôm
của Việt Nam năm 2006
Thị trường Sản lượng (tấn) Tỷ lệ (%) Giá trị (USD)
Trang 32là Nhật Bản, Mỹ, các nước EU và một số nước châu Á
2.2.2.2 Các chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về phát triển các mối quan
hệ liên kết NTTS
1 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24tháng 11 năm 2000” về một số chính sách khuyến khích phát triển ngànhnghề nông thôn” trong đó có phát triển nuôi trồng thuỷ sản Các chính sách
ưu tiên gồm: tạo điều kiện về vốn, đào tạo kỹ thuật, về đất đai,
2 Nghị Quyết của Hội đồng Bộ trưởng số 38/HĐBT ngày 10 tháng 4năm 1989 ”liên kết kinh tế trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ” Quy định vềliên kết kinh tế giữa các đơn vị và tổ chức kinh tế kinh doanh sản xuất, lưuthông dịch vụ thuộc tất cả các thành phần kinh tế
3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 224/1999/QĐ-TTg ngày8/12/1999” phê duyệt chương trình phát triển nuôi tồng thuỷ sản thời kỳ 1999-2010”
4 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 13/2009/QĐ-TTg ngày 21tháng 1 năm 2009” về việc sử dụng vốn tính dụng đầu tư phát triển của Nhànước để tiếp tục thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương Phát triểnđường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản và cơ sở hạtầng làng nghề ở nông thôn giai đoạn 2009-2015”
5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 02/2001/QĐ-TTg ngày 02tháng 01 năm 2001” về chính sách hỗ trợ đầu tư từ quỹ hỗ trợ phát triển đốivới các dự án phát triển sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các dự án pháttriển nông nghiệp”
6 Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày24/06/2002” về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thôngqua hợp đồng”
Tỉnh Quảng Ninh đã có những cơ chế chính sách tạo điều
Trang 33kiện cho ngư dân vay vốn với số lượng lớn và thời gian, lãi suất vay thích hợp
để đầu tư phát triển nuôi trồng thuỷ sản Đầu tư vốn ngân sách theo các dự ántrên cơ sở quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng nuôi công nghiệp tậptrung, hỗ trợ và khuyến khích đầu tư xây dựng hệ thống các trại giống, nghiêncứu khoa học, đào tạo nhân lực và hoạt động khuyến ngư; hỗ trợ tiền cho ngưdân các xã vùng khó khăn mua con giống để nuôi Đưa chính sách sử dụngmặt nước nuôi trồng thuỷ sản trên biển vào luật đất đai để có điều kiện cụ thểhoá, hướng dẫn sử dụng có hiệu quả Ngành Thuỷ sản Quảng Ninh đã thammưu cho UBND tỉnh đưa ra một số chính sách khuyến khích đầu tư phát triểnnuôi trồng thuỷ sản phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh nhằm thực hiện
có hiệu quả Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản như [24][13]
a) Quyết định số 1169/2000/QĐ-UB ngày 09 tháng 5 năm 2000của UBND tỉnh" Về một số chính sách, biện pháp khuyến khích phát triểnngành nghề, thu hút lao động giải quyết việc làm"
b) Quyết định số 4284/2001/QĐ-UB ngày 15 tháng 11 năm 2001của UBND tỉnh" Về việc quy định tạm thời quy chế chính sách khuyến khíchđầu tư phát triển nuôi trồng thuỷ sản"
c) Chỉ thị số 05/ 2002/CT- UB ngày 28 tháng 01 năm 2002 củaUBND tỉnh Quảng Ninh" Về việc thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước vậnchuyển năm 2002 đối với các mặt hàng phục vụ đồng bào dân tộc, miền núi,hải đảo trong tỉnh"
2.2.2.3 Thực trạng về quan hệ liên kết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ thủy sản ở Việt Nam
- HTX tiêu thụ sản phẩm nông sản ở Thái Bình
+ Các xã viên HTX được HTX ký hợp đồng tiêu thụ toàn bộ sản phẩmsản xuất ra theo giá thị trường Các sản phẩm này được bán thẳng tới nơi tiêuthụ, giá mua nơi tiêu thụ là giá bán của HTX Xã viên phải trả HTX 2 khoản:
Trang 34Cước phí vận chuyển đến nơi bán và chi phí dịch vụ (30đ/kg sản phẩm) Nếutính cả 2 loại chi phí khi bán sản phẩm thì kết quả đạt được vẫn rẻ hơn xã viên
tự lo, ngoài ra hộ xã viên chủ động, không nơm nớp đầu ra, yên tâm tập trungvào sản xuất
+ Khâu thức ăn, để đáp ứng được cả về số lượng và chấp lượng tốtđang lưu hành trên thị trường cho người dân HTX tiến hành thử nghiệm và
sử dụng một số loại thức ăn và chọn ra loại có chất lượng tốt nhất cung ứngcho các xã viên Thức ăn được HTX mua tại nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất
và đưa về cho các trang trại, số lượng và thời gian theo yêu cầu của trang trại
Để phân biệt thức ăn do HTX cung ứng với các loại thức ăn đang có trên thịtrường, HTX xây dựng bao bì, mẫu mã riêng Giá mua ở nơi sản xuất cũng làgiá bán cho xã viên, xã viên cũng phải trả 2 khoản phí: Dịch vụ 30đ/kg vàcước vận chuyển Với cách làm này trang trại chủ động về thức ăn, chất lượngbảo đảm, giá cả rẻ hơn giá thị trường từ 5-7% (do không phải chịu chi phí tiếpthị, kho bãi cất giữ…) HTX sẽ được nhà máy chi trả 2-2,5% giá bán (chiếtkhấu khuyến khích HTX mua hàng lâu dài)
+ Khâu giống, thuốc hoá chất, HTX cũng sẽ cung ứng thẳng từ cơ sởsản xuất đến các trang trại theo yêu cầu cụ thể của từng trang trại Phần trangtrại chỉ phải trả tiền vận chuyển và tiền dịch vụ, ngoài ra trang trại còn đượchưởng lợi như tư vấn kỹ thuật, được chia lãi theo tỷ lệ góp vốn điều lệ vàoHTX (sau khi trừ mọi chi phí) được đóng bảo hiểm xã hội và được hưởng cácphúc lợi xã hội (hiếu, hỉ, tham quan…)
+ Về phía các công ty như công ty giống chăn nuôi, công ty thức ăn giasúc, công ty giết mổ, công ty chế biến thực phẩm…, khi tham gia HTX họ sẽđược HTX ký hợp đồng cung ứng các loại sản phẩm mà họ đang kinh doanh,
do vậy sẽ có điều kiện tăng được quy mô, bạn hàng và chủ động về thời gian,
số lượng, chủng loại sản phẩm kinh doanh, chủ động nguồn vốn, quay vòng
Trang 35vốn hợp lý, cơ hội phát triển và chiếm lĩnh thị trường về cung ứng sản phẩm
+ Hình thức tham gia HTX của xã viên là góp vốn điều lệ, mức gópkhác nhau tuỳ theo quy mô và mức độ tham gia vào HTX (người trong banchủ nhiệm thì góp nhiều hơn xã viên bình thường)
- Mối quan hệ về vốn giải pháp về nợ tồn đọng của nhà sản xuất
+ Thay thế hình thức tín dụng thương mại bằng tín dụng ngân hànghoặc tín dụng Nhà nước đối với những thương vụ ứng trước vật tư cho nhàsản xuất nông sản phải là pháp nhân Cụ thể doanh nghiệp hợp tác với các tổchức tín dụng, trong đó doanh nghiệp sẽ cam kết bảo đảm tiêu thụ sản phẩmcủa người sản xuất thông qua hợp đồng tiêu thụ, còn tổ chức tín dụng sẽ ứngvốn cho nhà sản xuất vay để thực hiện phương án sản xuất Lợi ích, đối vớidoanh nghiệp vẫn cung ứng được vật tư, kỹ thuật, công nghệ cho người sảnxuất mà không bị rủi ro tín dụng, nhà sản xuất được hỗ trợ cả đầu vào và đầu
ra của quá trình sản xuất của mình, đối với tổ chức tín dụng có cơ sở để xétduyệt cho vay, đó là đầu ra của phương án sản xuất được đảm bảo
+ Tín dụng thương mại thông qua việc sử dụng thương phiếu đối vớinhững thương vụ ứng trước vật tư cho nhà sản xuất nông sản là pháp nhân
Doanh nghiệp cung ứng vật tư sản xuất cho người sản xuất nông nghiệpđối lại nhà sản xuất sẽ ký chấp nhận thanh toán tiền vật tư vào thời hạn do haibên tự thoả thuận trên tờ hối phiếu do doanh nghiệp lập Khi đến hạn thanhtoán, người thụ hưởng của hối phiếu (có thể là bản thân doanh nghiệp hoặcchủ thể doanh nghiệp khác do doanh nghiệp chỉ định) sẽ yêu cầu người thanhtoán chấp nhận hối phiếu thanh toán số tiền đã ghi trên hối phiếu Việc giảiquyết tranh chấp nếu có sẽ tuân thủ quy định của pháp lệnh, thông qua toà ánkinh tế các cấp
Trang 36Lợi thế của hối phiếu là khả năng chuyển nhượng Doanh nghiệp đã kýphát hối phiếu, khi có nhu cầu về vốn, có thể cầm cố hối phiếu để vay tiền, bán
hối phiếu cho các tổ chức tín dụng thông qua nghiệp vụ chiết khấu (Thương phiếu
gồm có 2 loại: hối phiếu là do người bán ký phát; lệnh phiếu là do người mua hàng phát) Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu sẽ chuyển khoản nợ tín dụng
thương mại thành tín dụng ngân hàng (nếu các ngân hàng thương mại nhận chiếtkhấu) hoặc tín dụng Nhà nước (nếu ngân hàng Chính sách Xã hội nhận chiếtkhấu) Người dân còn khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng thì nghiệp
vụ thương phiếu sẽ góp phần chuyển giao đồng vốn tín dụng từ các tổ chức tíndụng đến tay người nông dân thông qua các HTX của họ
+ Phát triển quan hệ tín dụng thương mại lên thành hình thức liêndoanh, liên kết từ thấp đến cao đối với những nhà sản xuất có quá trình hợptác tốt với DN
Thay vì ứng trước vật tư cho nhà sản xuất, doanh nghiệp sẽ lựa chọncác hình thức liên kết từ thấp đến cao như: Doanh nghiệp hợp đồng hợp táckinh doanh (theo mùa vụ) hoặc kết nạp các nhà sản xuất vào mạng lưới “vệtinh” sản xuất, cao hơn là lập pháp nhân (hợp tác xã, công ty cổ phần) nhằmcùng với nhà sản xuất chia sẻ rủi ro và lợi nhuận
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ liên kết nuôi, chế biến, tiêu thụ thủy sản
* Lê Trịnh Minh Châu, Trương Đình Chiến, Đặng Chương Linh, Giải
pháp phát triển hệ thống phân phối liên kết dọc các nhóm hàng lương thực vàthực phẩm, NXB viện nghiên cứu thương mại (2005 – 134tr), Hà Nội,
Trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống phân phối liên kếtdọc (HTPP-LKD ) các nhóm hàng lương thực và thực phẩm ở Việt Nam.Đềxuất các giải pháp phát triển HTPPLKD hàng lương thực và thực phẩm củaViệt Nam
Trang 37* Hoàng Thụy Giang (chủ nhiệm đề tài) , Nguyễn Mạnh Hùng; NguyễnQuang Tạo; Phạm Ngọc Sơn – H, “Về các xu thế và các hình thức liên kết,liên minh, tập hợp lực lượng trên thế giới hiện nay Chiến lược và sách lượccủa chúng ta” Ban Đối ngoại Trung ương (2001 - 166 tr).
Làm rõ các nhân tố khách quan quy định và tác động đến việc liên kết,liên minh, tập hợp lực lượng (THLL) trên thế giới Chỉ ra các xu thế chủ yếu
và các hình thức liên kết, liên minh, THLL trên thế giới ngày nay Phân tíchcác hình thức liên kết, liên minh, THLL trong chủ nghĩa tư bản Làm rõ sựtham gia của Việt Nam trong các liên kết quốc tế Đưa ra những luận cứ vàkiến nghị về một số vấn đề chiến lược và sách lược của ta đối với liên kết,liên minh, THLL trên trường quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đốingoại độc lập tự chủ, đa phương hóa các quan hệ của Đảng và Nhà nước ta
* Cao Đông, PTS (chủ nhiệm đề tài), Nguyễn Cảnh Hoan; Nguyễn ThếNhã; Nguyễn Đình Phan - H “Phát triển các hình thức liên kết kinh tế nôngthôn ở các tỉnh phía Bắc trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Học việnCTQG Hồ Chí Minh (1995 - 155 tr)
Phân tích một số mô hình liên kết kinh tế nông thôn ở các tỉnh phíaBắc, xác định hiệu quả và những nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển cáchình thức liên kết kinh tế nông thôn Kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiệnphát triển các hình thức liên kết kinh tế trong nông thôn các tỉnh phía Bắc Đềxuất các mô hình liên kết, đổi mới công tác quản lý kinh tế vĩ mô, tạo điềukiện đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng kinh tế cho các cán bộ lãnh đạo ởnông thôn
Trang 383 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Yên Hưng có 19 đơn vị hành chính gồm: 1 thị trấn và 18 xã Thịtrấn Quảng Yên nằm giữa tam giác 3 thành phố, thị xã Cách thành phố HạLong 40 km về phía Tây Nam, cách thị xã Uông Bí 18 km về phía Đông Namcách, thành phố cảng Hải Phòng khoảng 20 km về phía Tây
Vị trí tọa độ: - 20 độ 45’ 06’’ - 21 độ 02’ 09’’ độ vĩ Bắc
- 106 độ 45’ 30’’ - 106 độ 0’ 59’’ độ kinh Đông
Ranh giới:
- Phía Bắc giáp thị xã Uông Bí và huyện Hoành Bồ
- Phía Nam giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu
- Phía Đông giáp thành phố Hạ Long
- Phía Tây giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng [31] [17]
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu và môi trường nước
Yên Hưng có đặc trưng khí hậu của vùng ven biển miền Bắc Việt Nam,
khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh
Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 – 240C, số giờ nắng khá dồi dào,trung bình từ 1.700-1.800 h/năm, số ngày nắng tập trung nhiều vào tháng 5đến tháng 12, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 2, tháng 3 Mùa mưa kéodài từ tháng 5 đến tháng 10 tập trung 88% tổng lượng mưa cả năm Độ ẩmkhông khí hàng năm khá cao, trung bình 81%, cao nhất vào tháng 3, 4 lên tới86% và thấp nhất 70% vào tháng 10,11 Nhìn chung chế độ khí hậu và thờitiết ở Yên Hưng ôn hoà, thuận lợi cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp và phát
Trang 40triển du lịch Thời tiết mùa đông lạnh gây ảnh hưởng phần nào đến sản xuấtnông nghiệp và sinh hoạt nhưng cũng tạo điều kiện cho sản xuất vụ đông, đadạng hoá sản phẩm [17].
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế đã có sự chuyển dịch mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá,kim ngạch xuất khẩu tăng khá, đạt bình quân 19%/năm Sản xuất nông nghiệpphát triển nhanh và ngày càng vững chắc Đặc biệt sản xuất thuỷ sản có bướcđột phá, đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm, đóng góp quan trọng vào sựtăng trưởng chung của nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Sự nghiệpphát triển văn hoá - xã hội cũng đạt nhiều kết quả quan trọng và vượt trướcmột số chỉ tiêu quy hoạch Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân về cơbản được nâng lên một bước Trong vòng 10 năm, thu nhập bình quân của các
hộ gia đình đã tăng lên gấp 2,5 lần, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 15% xuống còndưới 4,7%, tuổi thọ trung bình của dân số từ 65 tuổi tăng lên 70 tuổi Năm
1995 huyện mới hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, đến
2003 đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS, vượt trước thời gian theo quy