1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và việt nam

123 626 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Bộ luật nhân quyền Liên Hợp quốc LHQ; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965 CERD; Công ước về các dân tộc và bộ lạc bản địa ở các quốc gia độc lập 1989

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN BÁ DIẾN

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Xuân Trình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ 8

1.1 Quyền con người 8

1.1.1 Khái niệm quyền con người 8

1.1.2 Đặc điểm quyền con người 11

1.2 Dân tộc thiểu số 13

1.2.1 Lý luận về nhóm người thiểu số 13

1.2.2 Lý luận về khái niệm "dân tộc thiểu số" 17

1.2.3 Đặc điểm dân tộc thiểu số 24

1.2.4 Nhận thức chung về dân tộc thiểu số ở Việt Nam 26

Chương 2: QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ 40

2.1 Khái quát các văn kiện quốc tế về quyền của người dân tộc thiểu số 40

2.2 Vấn đề có tính nguyên tắc trong việc ghi nhận và đảm bảo quyền của DTTS 48

2.2.1 Bình đẳng, không phân biệt đối xử 48

2.2.2 Vai trò tích cực của các quốc gia 51

2.3 Phạm vi quyền của người dân tộc thiểu số trong luật quốc tế 54

Trang 5

2.4 Các nhóm quyền cơ bản của người dân tộc thiểu số được luật

quốc tế ghi nhận 57

2.4.1 Quyền có quốc tịch, được xác định dân tộc 59

2.4.2 Quyền tham gia quản lý Nhà nước 61

2.4.3 Quyền đối với văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ 63

2.4.4 Quyền được giáo dục 64

2.4.5 Quyền được chăm sóc sức khỏe 66

2.4.6 Quyền được hưởng an sinh xã hội 67

2.4.7 Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn giáo 68

2.4.8 Quyền lập hội, tự do hội họp 70

2.4.9 Quyền tự do đi lại, cư trú 71

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 73

3.1 Quy định của pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu số 73

3.2 Vấn đề thực hiện quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay 80

3.2.1 Những kết quả đạt được 80

3.2.2 Những hạn chế, khó khăn 89

3.3 Một số giải pháp kiến nghị 98

3.3.1 Nhóm các giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm quyền của DTTS 98

3.3.2 Nhóm các giải pháp về cơ chế thực thi pháp luật đảm bảo quyền của DTTS 106

3.3.3 Nhóm các giải pháp về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền của DTTS 108

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 6

UDHR: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quyền con người là khát vọng và thành quả của quá trình phát triển nhận thức lâu dài trong lịch sử nhân loại, là động lực phát triển của xã hội loài người, nó gắn liền với quá trình phát triển đầy biến động của lịch sử Quyền con người thể hiện được giá trị mà mọi dân tộc văn minh đều hướng tới Cùng với sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc tế về quyền con người, nhận thức về quyền con người trên toàn thế giới đã không ngừng được tăng lên trong nhiều thập kỷ qua Công cụ hiệu quả nhất cho việc bảo vệ quyền con người chính là hệ thống pháp luật Chỉ thông qua việc thể chế hóa thành luật, quyền con người mới được bảo đảm và bảo vệ tốt nhất

Có nhiều cách phân loại quyền con người dựa trên các tiêu chí và cách tiếp cận khác nhau Nếu phân loại theo chủ thể của quyền thì quyền con người bao gồm 02 nhóm: Quyền của cá nhân và quyền con người theo nhóm

Dân tộc thiểu số (DTTS) là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương Quyền của người thiểu số được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế mang tính phổ cập toàn cầu và điều ước quốc tế khu vực Trong Bộ luật nhân quyền Liên Hợp quốc (LHQ); Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965 (CERD); Công ước về các dân tộc và bộ lạc bản địa ở các quốc gia độc lập 1989 (ILO); Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ 1992 Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR)- Điều 27:

Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo

và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn

Trang 8

Trong năm 1992, Đại hội đồng LHQ đã thông qua Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ (the Declaration on the Rights of Persons Belonging to National or Ethnic, Religious and Linguistic Minorities) Diễn đàn về các vấn đề thiểu số (the Forum on Minority Issues) được thành lập trong năm 2007 thay thế cho Nhóm công tác LHQ về người thiểu số (the United Nations Working Group

on Minorities) được thành lập năm 1995

Ở Việt Nam, theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước, trong đó dân tộc Kinh có 73,594 triệu người (chiếm 85,7%) và 53 DTTS có 12,253 triệu người (chiếm 14,3%) Các DTTS có số lượng trên một triệu người, gồm: dân tộc Tày: 1.626.392 người, chiếm 1,9%; dân tộc Thái: 1.550.423 người (1,8%); dân tộc Mường: 1.268.963 người (1,5%); dân tộc Khmer: 1.260.640 người (1,5%) và dân tộc Mông: 1.068.189 người (1,2%) Còn lại là các dân tộc dưới 1 triệu người Trong đó có nhiều dân tộc chỉ vài trăm người như: Si La 709, Pu Péo 687, Rơ Măm 436, Brâu 397, Ơ Đu 376 người [24]

Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết lâu đời trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất Trong mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta thì đoàn kết thống nhất là đặc điểm nổi bật nhất, xuyên suốt trong mọi thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta trong những giai đoạn khác nhau, nhưng đều có chung một vận mệnh lịch sử Đoàn kết gắn bó là đảm bảo sự sống còn của từng dân tộc cũng như của cả cộng đồng các dân tộc trong quá trình phát triển Sự liên kết thành phần dân cư sớm có ý thức tự giác, cùng chung sống trong một đất nước ngay từ buổi bình minh của lịch sử đã tạo nên một cộng đồng quốc gia dân tộc bền vững Truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng được củng cố và phát triển, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã trở thành

Trang 9

nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam Bản sắc văn hóa của các dân tộc được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc Sự thống nhất trong đa dạng là đặc điểm của nền văn hóa cộng đồng các dân tộc nước ta

Cộng đồng các dân tộc Việt Nam với nhiều thành phần khác nhau, mỗi thành phần dân tộc không phải là một cộng đồng riêng rẽ, biệt lập về chính trị- xã hội, mà là bộ phận cấu thành dân tộc Việt Nam thống nhất Các thành phần dân tộc cư trú đan xen lẫn nhau và phân tán trên mọi vùng miền của đất nước không có lãnh địa riêng biệt của từng dân tộc Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản quan trọng thể hiện chủ trương, chính sách nhất quán về chính sách đối với đồng bào DTTS

Hiến pháp hiện hành 2013 ghi nhận:

1- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam 2- Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc 3- Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình 4- Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu

số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước [23, Điều 5]

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ, sự cố gắng của các bộ, ban, ngành, địa phương và của cả hệ thống chính trị, đời sống về vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS đã được cải thiện đáng kể Các quyền cơ bản của đồng bào DTTS về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, chăm sóc y tế… được đảm bảo Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đời sống

Trang 10

của đồng bào DTTS ở nước ta nhìn chung còn rất nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể với dân tộc đa số, giữa miền xuôi và miền ngược Việc thể chế quyền của DTTS bằng pháp luật cũng như cơ chế thực hiện quyền của DTTS còn những bất cập

Với lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam” làm luận

văn thạc sĩ của mình, trên cơ sở đó có những giải pháp đề xuất sát hợp góp phần bảo đảm quyền của người DTTS, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc

2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu quyền của người DTTS được quy định trong điều ước quốc

tế và pháp luật quốc gia, việc thực hiện quyền của người DTTS ở Việt Nam Qua đó có nhận thức đúng đắn về quyền của người DTTS, góp phần thúc đẩy việc bảo đảm các quyền của DTTS ở Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm DTTS trên cơ

sở quy định của luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia, của các học giả trong nước, quốc tế Từ đó, làm rõ DTTS là một trong các nhóm người thiểu số, nhóm người dễ bị tổn thương cần được bảo vệ mà quyền của họ đã được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận

- Đề tài nghiên cứu làm rõ các nhóm quyền của người DTTS được ghi nhận trong các điều ước quốc tế, đặc biệt là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

- Đề tài nghiên cứu chủ trương, chính sách, pháp luật của Việt Nam về DTTS, những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được cũng như những hạn chế, khó khăn trong việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền của người DTTS

- Đưa ra một số giải pháp góp phần thúc đẩy và bảo vệ quyền của

Trang 11

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu các Điều ước quốc tế quy định về các nhóm quyền của người DTTS

- Nghiên cứu các chủ trương, chính sách đối với DTTS được quy định trong pháp luật của Việt Nam

Trên cơ sở những số liệu thu được về DTTS ở Việt Nam, tiến hành phân tích, đánh giá làm cơ sở cho những kết luận của đề tài

3 Tình hình nghiên cứu

DTTS và quyền của DTTS là một đề tài tuy không mới, tuy nhiên việc nghiên cứu đề tài này hầu như còn hạn chế, nhất là nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận từ luật pháp quốc tế Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu dưới dạng các bài

viết, các bài tham luận tại các Hội thảo trong và ngoài nước Mới đây, tại "Hội

thảo quốc tế Cơ chế đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam và kinh nghiệm

ở một số nước Châu Âu, khu vực Đông Nam Á" do Ủy ban Dân tộc và Phái

đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam tổ chức tháng 7/2012, đáng chú ý có

các bài tham luận: “Một số nội dung cơ bản về công tác nhân quyền và giải

pháp đảm bảo quyền các DTTS trong thời gian tới”- Tác giả Vy Xuân Hoa

(Ủy ban Dân tộc), TS Đỗ Văn Hòa (Bộ NPTNT); “Phát huy vai trò của cộng

đồng trong phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS”- TS Bế Trường Thành-

nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; “Chương trình mục tiêu quốc gia đưa

thông tin về cơ sở, giải pháp cải thiện quyền tiếp cận thông tin của các DTTS Việt Nam”- Tác giả Lê Văn Nghiêm- Cục trưởng, Cục Thông tin đối ngoại Bộ

Thông tin và Truyền thông; "Đảm bảo quyền phát triển kinh tế- xã hội của các

DTTS Việt Nam trong tình hình hiện nay"- Hoàng Xuân Lương, Phó Chủ

nhiệm Ủy ban Dân tộc; "Một số vấn đề về quyền tham chính của người DTTS ở

Việt Nam"- Trung tướng Nông Văn Lưu, Bộ Công an; "Quyền của các nhóm DTTS trong bối cảnh quốc tế hiện nay"- Nguyễn Chí Dũng, Học viện Chính trị

Trang 12

quốc gia Hồ Chí Minh; "Quyền DTTS- Các tiêu chuẩn của cơ quan và quốc

tế"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các vấn đề thiểu số của EU; "Kinh nghiệm Châu Âu về các quyền DTTS thực tế"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các vấn đề

thiểu số của EU; "Khu vực Asean và DTTS"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các vấn đề thiểu số của EU… Dưới gốc độ luận văn cao học, có đề tài “Hoàn thiện

pháp luật về quyền của người DTTS ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nông

Thị Kiều Diễm- Ths K17- Khoa Luật, ĐHQGHN

Với cách tiếp cận của đề tài “Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam” tác giả mong muốn làm rõ

các quy định của luật pháp quốc tế, cũng như pháp luật quốc gia hiện nay về các vấn đề liên quan đến quyền của người DTTS Từ đó có những giải pháp, kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật trong nước, hợp tác quốc tế cũng như cơ chế đảm bảo quyền của người DTTS ở nước ta hiện nay

4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các điều ước quốc tế có quy định liên quan đến quyền của DTTS

- Nghiên cứu pháp luật quốc gia và chính sách của nhà nước về DTTS

- Nghiên cứu về tình hình, đặc điểm DTTS ở Việt Nam liên quan đến việc thực hiện quyền của họ

- Nghiên cứu về việc thực hiện quyền của DTTS của Chính phủ và Nhà nước Việt Nam

- Thu thập các số liệu liên quan

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về nhân quyền và DTTS

Trang 13

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích- tổng hợp, so sánh, đánh giá, xã hội học, phương pháp chuyên gia, tiếp xúc tranh thủ người có uy tín trong đồng bào DTTS

5 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

Dưới gốc độ là một luận văn nghiên cứu thạc sĩ, đề tài có nhận thức và đánh giá tổng quan quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam về quyền của người DTTS, trên cơ sở đó có những nhận định đánh giá, giải pháp sát hợp về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hợp tác quốc tế và cơ chế đảm bảo quyền của DTTS ở nước ta Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần bổ sung

hệ thống lý luận về một trong những nhóm người dễ bị tổn thương cần được bảo vệ trong pháp luật quốc tế và trong hệ thống pháp luật quốc gia

Đề tài có thể làm tài liệu trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở các cơ sở đào tạo pháp luật về nhân quyền; tài liệu nghiên cứu, phục vụ công tác, đặc biệt là đối với các cán bộ làm công tác dân tộc trong các cơ quan nhà nước và ở các ban, ngành trong các tổ chức chính trị xã hội

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn này gồm phần mở đầu, ba chương và phần kết luận

- Chương 1: Khái quát về quyền con người và dân tộc thiểu số

- Chương 2: Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của luật

pháp quốc tế

- Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền của dân tộc thiểu

số và các giải pháp đề xuất

Trang 14

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Quyền con người

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người hay còn gọi là nhân quyền (human rights) là vấn đề

có tầm quan trọng rất lớn trong sự phát triển văn minh nhân loại Quyền con người là thành tựu chung của cả loài người, là kết tinh của nền văn minh nhân loại Những thành tựu pháp lý quốc tế về quyền con người hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài của toàn thể nhân loại tiến bộ, chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc

Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau Thuật ngữ quyền con người lần đầu tiên có trong nhiều đề xuất của các nước Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Anh trong năm

1944 rồi sau đó được chính thức đưa vào Hiến chương LHQ năm 1945 Dù ở góc độ nào, những đặc tính quan trọng nhất của quyền con người được tất cả các văn kiện của LHQ công nhận Quyền con người là một phạm trù đa diện,

do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người

Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những

Trang 15

hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [15]

Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

Như vậy, xét ở góc độ nào và ở mức độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Cho

dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng

ở góc độ nào, quyền con người cũng được xác định như một chuẩn mực, dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do Dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa, pháp điển hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại,

áp dụng cho tất cả mọi người

Xuất phát từ quan điểm khoa học, coi con người là một thực thể sinh

Trang 16

vật- xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã xem quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa "quyền tự nhiên" (như một đặc quyền vốn có và chỉ có con người mới có) và "quyền xã hội"- tức là sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thể hiện sâu sắc các giá trị của các quan hệ xã hội và mang bản chất xã hội Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng khái niệm nhân quyền hay "quyền con người" là một phạm trù lịch sử Quyền con người không phải chỉ là các quyền mang tính tự nhiên mà luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ Quyền con người bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất, với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị xã hội ấy Quyền con người luôn mang tính giai cấp Mác đã chỉ ra rằng, tự do của mỗi giai cấp là sự mất tự do của giai cấp đối lập Trong xã hội có đối kháng giai cấp không thể có sự bình đẳng, bình đẳng chỉ tồn tại trong nội bộ của giai cấp cùng quyền lợi Như vậy, bản chất xã hội, bản chất giai cấp quy định nên bản chất của quyền con người Quyền con người mang tính nhân loại sâu sắc Bởi vì nó là kết quả của cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động nhằm đập tan ách thống trị trên toàn thế giới giành lại quyền tự do chân chính cho mình, là giá trị nhân văn cao quý nhất mà xã hội loài người hướng tới, là sự giải phóng hoàn toàn cá nhân con người để phát triển toàn diện nhân cách của mình

Ngày nay, vấn đề quyền con người gắn rất chặt với các quyền dân tộc

cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia vì nó là một bộ phận của quá trình phát triển nội tại của từng nước Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xương máu để giành lấy những quyền cơ bản của con người- được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành, nhân phẩm được tôn trọng Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính

Trang 17

sách kinh tế xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế- xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực để bảo đảm cho người dân được hưởng thụ quyền con người một cách tốt nhất Việc bảo đảm và thúc đẩy quyển con người trước hết

là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia Không một nước nào có quyền

áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác

1.1.2 Đặc điểm quyền con người

Nhân quyền là thành quả đấu tranh chung của nhân loại nhưng nhân quyền cũng mang tính đặc thù với bản sắc riêng, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế- xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (1993) đã viết:

Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các tự do cơ bản

Theo nhận thức chung, quyền con người có các đặc trưng cơ bản là: Tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [15], cụ thể như sau:

- Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con người là những

gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi

Trang 18

thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý

do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản

- Tính không thể chuyển nhượng (inalienable): Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế quyền con người

- Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người Quyền con người được cấu thành bởi nhiều quyền, nhiều yếu tố xoay quanh những giá trị cao quý của con người Tất cả các yếu tố, tất

cả các quyền đều có giá trị như nhau, không phân biệt Mọi khía cạnh về quyền con người đều được bảo vệ như nhau trong bất kỳ hoàn cảnh nào

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác Tất cả các quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia Ngược lại, khi có một quyền

bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác

Trang 19

1.2 Dân tộc thiểu số

1.2.1 Lý luận về nhóm người thiểu số

"Dân tộc thiểu số" là khái niệm thuộc phạm trù "người thiểu số"- một trong những nhóm người dễ bị tổn thương, được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như trong công tác nghiên cứu

Để hiểu rõ khái niệm "dân tộc thiểu số" trước hết chúng ta cần nghiên cứu, phân tích làm rõ khái niệm "người thiểu số" Mặc dù quyền của người thiểu số đã được luật quốc tế khẳng định, ghi nhận tại Điều 27- ICCPR và trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992, CERD 1965 Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức nào về “người thiểu số” được xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của LHQ Điều này nói lên tính chất phức tạp của vấn đề DTTS nói riêng và nhóm những người thiểu số nói chung trên thế giới

Như vậy, căn cứ vào các văn kiện pháp lý này, "người thiểu số" được hiểu là những nhóm người thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ Ở những nhóm người này do có những đặc điểm về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ nên

họ được công nhận là người thiểu số

Có nhiều định nghĩa về người thiểu số ở nhiều gốc độ khác nhau đã được nêu ra Năm 1930, Tòa án Công lý quốc tế thường trực (Permanent Court of International Justice - PCIJ, cơ quan tài phán của Hội Quốc Liên), đưa ra ý kiến tư vấn về vụ tranh cãi giữa hai nước Hy Lạp và Bungari liên quan đến vị thế của các cộng đồng nhập cư thiểu số ở hai nước này PCIJ xác định một cộng đồng thiểu số là:

Một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm

Trang 20

thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ [31]

Định nghĩa của PCIJ khẳng định để xác định là "người thiểu số" trước hết phải gắn với một quốc gia hoặc địa phương nhất định và có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống Có thể thấy rằng PCIJ đã có những đóng góp đáng kể để định nghĩa trên được sử dụng như là một định nghĩa chính thức về người thiểu số Tuy nhiên, định nghĩa của PCIJ cũng còn những hạn chế và gặp phải trở ngại Những thuộc tính nêu ra trong định nghĩa này quá rộng, còn chung chung chưa rõ ràng, đặc biệt là động chạm đến mối lo ngại thường trực của các quốc gia về những rắc rối về an ninh, trật tự xã hội có thể nảy sinh trong các vấn đề liên quan đến người thiểu số

Năm 1977, ông Francesco Capotorti, báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số của LHQ Trong báo cáo nghiên cứu công bố vào năm 1977, chuyên gia này định nghĩa “người thiểu số” là:

một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn so với phần dân

cư còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm- mà đang là công dân của một nước- có những đặc trưng về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cư còn lại

và chứng tỏ rất rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tồn nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ [31]

Định nghĩ của Francesco cơ bản giống định nghĩa của PCIJ, tuy nhiên còn bổ sung thêm 02 thuộc tính để xác định là "người thiểu số", đó là về mặt

số lượng, một nhóm được coi là thiểu sổ phải ít hơn so với phần dân cư còn lại của quốc gia và về mặt vai trò, một nhóm được coi là thiểu số phải có vị

Trang 21

thế yếu trong xã hội Như vậy, phạm vi xác định là "người thiểu số" theo định nghĩa của Francesco đã thu hẹp lại so với PCIJ Ở một góc độ nhất định, định nghĩa của Francesco khiến cho mối lo ngại của các quốc gia giảm đi, do phạm

vi chủ thể được coi là người thiểu số thu hẹp lại Định nghĩa này trên thực tế

đã được các tổ chức quốc tế viện dẫn trong một số trường hợp, tuy nhiên, nó vẫn chưa nhận được sự chấp nhận của các quốc gia như là một định nghĩa chung về người thiểu số trong luật quốc tế

Từ những văn kiện pháp lý quốc tế, từ ý kiến của các chuyên gia, các thiết chế quốc tế, để xác định là "người thiểu số" ta dựa vào những đặc trưng sau:

- "Người thiểu số" được hiểu là những nhóm người thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ Những nhóm người này do có những đặc điểm về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ nên và yếu tố khác nên họ được công nhận là người thiểu số;

- Về mặt số lượng: Có số lượng ít so với nhóm đa số cùng sinh sống xét trên cùng một lãnh thổ (Quốc gia);

- Về vị thế xã hội: Là nhóm yếu thế trong xã hội (chính trị, kinh tế,

xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống) mà quyền của họ dễ bị xâm phạm hoặc

- Về đặc điểm chủ quan: Thành viên của cộng đồng ấy phải có ý thức

tự giác bảo tồn những đặc trưng văn hóa của mình, có ý thức mình là thành viên của cộng đồng ấy

Thời kỳ đầu mới thành lập, LHQ không dành sự quan tâm thích đáng đến vấn đề người thiểu số Đa số các quốc gia thành viên khi đó đều cho rằng

Trang 22

vấn đề quyền của người thiểu số đã bao gồm trong vấn đề quyền con người nói chung nên không cần thiết phải xây dựng những văn kiện hay cơ chế riêng cho nhóm này Chính vì vậy, năm 1946 khi Hung-ga-ri đã đưa ra đề xuất ban hành một điều ước quốc tế về người thiểu số nhưng chỉ nhận được rất ít sự ủng hộ Trong quá trình soạn thảo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948) cũng có ý kiến nêu rằng cần đưa vào ít nhất một điều khoản đề cập riêng đến quyền của người thiểu số, song ý kiến này cũng không nhận được sự ủng hộ rộng rãi, chủ yếu do tính chất phức tạp của vấn đề

Tuy nhiên, tương tự như các nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác, cần hiểu rằng người thiểu số cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con người Quyền của nhóm này đã được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong một số điều của UDHR, trong đó bao gồm: Điều 18 (về tự do tôn giáo), Điều

19 (về tự do ngôn luận và ý kiến), Điều 20 (về tự do hội họp, lập hội), Điều

26 (về tự do lựa chọn hình thức giáo dục), Điều 27 (về tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng), và đặc biệt là Điều 2 (về nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong việc hưởng thụ các quyền con người)

Mặc dù gặp khó khăn trong việc pháp điển hóa các quyền của người thiểu số vào luật quốc tế, song những nỗ lực quốc tế vận động cho vấn đề này cũng dẫn tới một kết quả quan trọng là việc thành lập Tiểu ban về ngăn ngừa

và bảo vệ người thiểu số vào năm 1947 Tuy Tiểu ban này có nhiều nhiệm vụ khác nhau nhưng chức năng chủ yếu của nó là bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người thiểu số Trong Nghị quyết 217C (III) ngày 10/12/1948, Đại hội đồng LHQ đã khuyến nghị Hội đồng kinh tế và xã hội LHQ (ECOSOC) tiến hành những nghiên cứu về vấn đề quyền của nhóm này Đây là cơ sở để Tiểu ban về ngăn ngừa và bảo vệ người thiểu số tiến hành một loạt công trình nghiên cứu và đưa ra những khuyến nghị quan trọng về quyền của người thiểu

số Kết quả nổi bật là việc đưa vào ICCPR một điều khoản riêng về quyền của

Trang 23

người thiểu số cũng như thông qua Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992- những văn kiện mà hiện đang đóng vai trò nền tảng cho việc bảo vệ quyền của người thiểu số trên thế giới

1.2.2 Lý luận về khái niệm "dân tộc thiểu số"

Cũng như khái niệm "người thiểu số", khái niệm "dân tộc thiểu số" cũng được sử dụng chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật các quốc gia Trong Hiến pháp hiện hành của Việt Nam 2013 là:

1 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc 3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình 4 Nhà nước thực hiện

chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu

số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước [23, Điều 5]

Tuy nhiên, đến nay chưa có một khái niệm pháp lý mang tính toàn cầu nào chỉ rõ nội hàm của khái niệm "dân tộc thiểu số" đạt được sự đồng thuận cao của các quốc gia

Tùy theo từng bộ môn, lĩnh vực nghiên cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia, DTTS (minorité ethnique, ethnic) là thuật ngữ có nhiều định nghĩa khác nhau trên thế giới

- Các nhà nghiên cứu nhân chủng học, cho rằng DTTS gồm 2 thành phần: DTTS có nguồn gốc lịch sử (minorités historiques) là tập thể tộc người

đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản địa (peuples autochtones); DTTS di cư (minorités immigrées) là những người

Trang 24

- Trên phương diện chính trị, trên các diễn đàn LHQ, các quốc gia luôn đưa ra các khái niệm khác nhau về DTTS phụ thuộc vào chế độ chính trị và lợi ích các quốc gia Có thể nói rằng vấn đề DTTS (sắc tộc) là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm nhất của tất cả các quốc gia thành viên LHQ, ở cấp

độ toàn cầu cũng như ở các khu vực khác nhau trên thế giới và cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất, luôn có những ý kiến trái chiều

- Đáng chú ý, năm 1992 Đại hội đồng LHQ đã thông qua thuật ngữ

“dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của Gs Francesco Capotorti (đặc phái viên của LHQ) đã đưa ra vào năm 1977:

Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người:

a Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ

là công dân của quốc gia này

b Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống

c Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ

d Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này

e Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ [39]

- Năm 1995, Liên Hiệp Âu Châu đưa ra khái niệm về DTTS trong Công ước của Liên Hiệp Âu Châu về DTTS, rất gần gũi với khái niệm của

LHQ biểu quyết vào năm 1992: “DTTS ám chỉ cho một nhóm người từ một

quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của quốc gia thuộc Liện Hiệp Âu Châu

và có quốc tịch của khối Âu Châu" [40]

- Tại khu vực Đông Nam Á, ASEAN chưa đưa ra một thuật ngữ chính thức nào về "dân tộc thiểu số" Quan niệm thế nào là "dân tộc thiểu số" hoàn

Trang 25

- Đề cập đến "dân tộc thiểu số", chúng ta cũng cần phân biệt với khái niệm "dân tộc bản địa" Dân tộc bản địa cũng thuộc một trong những nhóm người dễ bị tổn thương mà quyền của họ vì nhiều lí do thường bị bỏ quên hoặc xâm phạm

Quyền của người dân tộc bản địa sớm được cộng đồng quốc tế ghi nhận Đáng chú ý nhất vào ngày 13-9-2007, Đại hội đồng LHQ đã biểu quyết thông qua bản "Tuyên ngôn về quyền của dân tộc bản địa" với 143 quốc gia ủng hộ, 4 phiếu chống (Úc, Canada, New Zealand và Hoa Kỳ) và 11 phiếu trắng (Azerbaijan, Bangladesh, Bhutan, Burundi, Cô-lôm-bi-a, Georgia, Kenya, Nigeria, Nga Liên đoàn, Samoa và Ukraine) Việt Nam là quốc gia thành viên của LHQ đã ký vào bản Tuyên Ngôn này

Năm 1993, Đại hội đồng LHQ tuyên bố là “Năm quốc tế về các dân tộc bản địa” (the International Year of the World's Indigenous People) và thập kỷ 1995-2004 là “Thập kỷ quốc tế về các dân tộc bản địa” (the International Decade for the World's Indigenous People) nhằm tăng cường sự hợp tác quốc

tế để giải quyết những vấn đề của cộng đồng người bản địa mà cơ bản nhất là quyền sở hữu đất đai, quyền phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, môi trường của dân tộc này Chính đó là nguyên nhân giải thích cho sự ra đời của 2 chương trình LHQ mang tên là: “Nhóm công tác về các dân tộc bản địa” (the Working Group on Indigenous Populations) và “Diễn đàn thường trực về các vấn đề bản địa” (the Permanent Forum on Indigenous Issues), đã tích cực nghiên cứu thúc đẩy việc thực hiện các quyền của những người bản địa qua việc biên soạn bản thảo “Tuyên Ngôn về quyền của các dân tộc bản địa” (the Declaration on the Rights of the Indigenous Peoples), một dự án vô cùng khó khăn mà LHQ tìm mọi cách để chinh phục các quốc gia thành viên phải ký vào

Đề cập đến khái niệm "dân tộc bản địa", đáng chú ý là khái niệm của

Trang 26

Martinez-Cobo, đặc phái viên LHQ đưa ra vào năm 1984 mà sau đó Đại hội đồng LHQ xem đó như là mẫu mực pháp lý để tiến hành các dự án về quyền của dân tộc bản địa trong tương lai:

Cộng đồng bản địa, chủng tộc bản địa hay dân tộc bản địa là nhóm người có một chiều dài lịch sử xuất thân từ một xã hội đã có mặt trên một lãnh thổ trước thời kỳ xâm lược và đô hộ của dân tộc khác Họ tự nhận diện bản thân của họ có nguồn gốc khác biệt đối với nhóm dân tộc đang nắm quyền hành trên toàn lãnh thổ hay một phần lãnh thổ của họ Họ là thành phần tộc người không có quyền lực trong một xã hội nhưng lúc nào cũng cương quyết bảo vệ, phát triển và chuyển đạt cho thế hệ tương lai, lãnh thổ do cha ông của họ

để lại cũng như bản sắc dân tộc dựa trên mô hình văn hóa, hệ thống

xã hội và qui chế luật tục mà họ xem đó là yếu tố quyết định trong cuộc sống của dân tộc này [41]

Sau mấy năm bàn luận về quan điểm của Martinez-Cobo, Đại hội đồng LHQ đưa ra nghị quyết số 50-157 vào ngày 21-2-1996 nhằm hình thành dự án bảo vệ quyền của dân tộc bản địa Đây là bước đầu thành công của LHQ nhằm nhằm kêu gọi các quốc gia thành viên phải tìm mọi cách để hoàn thành một bản Tuyên Ngôn về quyền của dân tộc bản địa trong tương lai

Dựa vào nghị quyết số 50-157 ngày 21-2-1996 của LHQ, Cao Ủy Nhân Quyền LHQ đưa ra vào tháng 4-1996 một định nghĩa rõ ràng về ý nghĩa của dân tộc bản địa Đây là văn bản bằng tiếng Pháp đăng trên bản tin số 9 (Rev 1) của Cao Ủy Nhân Quyền:

Người dân bản địa là cộng đồng tộc người đã có mặt trên khu vực rộng lớn của bề mặt trái đất Là tập thể sinh sống rải rác trên khắp thế giới từ Bắc Cực đến Nam Thái Bình Dương, dân tộc bản địa hôm nay có vào khoảng 300 triệu người Dân tộc bản địa (peuples

Trang 27

autochtones) hay còn gọi là thổ dân (aborigènes) là nhóm người đã từng có mặt trên một khu vực đất đai rõ ràng trước ngày di dân (colons) của nhóm dân tộc khác vào lãnh thổ của họ Dân tộc bản địa hôm nay là hậu duệ của nhóm tộc người đã có mặt từ lâu đời trên một lãnh thổ đất đai hay khu vực địa lý, nhưng sau đó các nhóm dân cư có nền văn hóa và nguồn gốc chủng tộc hoàn toàn khác biệt, tìm cách di dân vào lãnh thổ của họ để rồi trở thành nhóm người có quyền lực thông qua chính sách thống trị, xâm chiếm, đô hộ hay thông qua những hình thức khác [42]

Dựa vào quan điểm về dân tộc bản địa của Cao Ủy Nhân Quyền vào năm 1996, LHQ tiếp tục thương thuyết với những quốc gia thành viên để đi tìm sự đồng thuận chung về dân tộc bản địa Sau 10 năm bàn cãi, Đại Hội Đồng LHQ thông qua bản Tuyên Ngôn về Quyền của Dân Tộc Bản Địa vào ngày 13-9-2007 tại hội trường New York, Hoa Kỳ Đối với Cao Ủy Nhân Quyền, đây là một chiến thắng lớn lao cho công lý và phẩm giá của con người sau hơn hai thập kỷ qua các cuộc đàm phán giữa đại diện của các quốc gia và người dân bản địa

Bản "Tuyên Ngôn về Quyền của Dân Tộc Bản Địa" đã được thông qua vào năm 2007 với 143 quốc gia ủng hộ, trong đó có Việt Nam Sau ngày ra đời của Tuyên Ngôn vào năm 2007, Nhật Bản (quốc gia ký tên) và 4 quốc gia khác, mặc dù không ký tên (Úc, Canada, New Zealand và Hoa Kỳ) đã công nhận chính thức nội dung của bản Tuyên Ngôn về dân tộc bản địa

- Cũng cần phân biệt khái niệm "dân tộc thiểu số" với khái niệm "dân tộc" hiểu theo nghĩa là quốc gia dân tộc (nation) mà chúng ta thường sử dụng, hiểu lẫn lộn nhất là trong cuộc sống hàng ngày

Theo nghĩa là quốc gia dân tộc, dân tộc (Nation) là một cộng đồng chính trị -xã hội, được quản lý bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất

Trang 28

định Dân tộc (Nation) có những đặc trưng cơ bản là: Có mộtlãnh thổ chung,

là vùng đất, vùng trời, vùng biển (nếu có) mà ở đó các tộc người cùng nhau sinh sống Lãnh thổ này được phân định với các nước bằng đường biên giới trên đất liền, trên biển và trên không; có một đời sống kinh tế chung, một chế

độ kinh tế với một thị trường, một đồng tiền thống nhất Nền kinh tế ấy là điều kiện vật chất cơ bản bảo đảm sự cố kết chặt chẽ của cộng đồng quốc gia dân tộc; có ngôn ngữ giao tiếp chung, trong quốc gia dân tộc có thể các dân tộc có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng một quốc gia dân tộc bao giờ cũng có ngôn ngữ chung để giao tiếp; có tâm lý chung biểu hiện ở nền văn hoá, làm cho mỗi quốc gia dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng Đây là một yếu tố rất cơ bản để phân biệt quốc gia dân tộc này với quốc gia dân tộc khác; có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất, để quản lý, điều hành hoạt động của đất nước

và quan hệ với các quốc gia dân tộc khác

Những đặc trưng của dân tộc với ý nghĩa là quốc gia dân tộc như trên tạo nên một thể thống nhất, đảm bảo cho sự cố kết dân tộc chặt chẽ và ổn định của quốc gia dân tộc

- Như vậy có thể thấy “Dân tộc thiểu số” là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành khoa học khác nhau trên thế giới, trong đó có khoa học pháp lý Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ

có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa

vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít,

mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc DTTS là thuật ngữ chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét

Trang 29

văn hoá đặc thù; Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; Kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó DTTS luôn gắn với một quốc gia và là một

bộ phận của quốc gia có chủ quyền

Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản hiến pháp Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại K2- Đ4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc

đa số trên phạm vi lãnh thổ nước CHXHCNVN"; K3- Điều 4: "Dân tộc đa số

là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân

số quốc gia" Căn cứ vào kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia 2009, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với số dân 12,253 triệu người (chiếm 14,3%) Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác

Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới

Trang 30

1.2.3 Đặc điểm dân tộc thiểu số

DTTS thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây: + Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc

+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc

cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước

+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm

+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc)

Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề cập ở đây- về thực chất

là một cộng đồng xã hội- tộc người, trong đó những nhân tố tộc người đan kết, hoà quyện vào các nhân tố xã hội Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc, chủng tộc- thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn màu da

Nghiên cứu khái niệm và các đặc trưng của dân tộc cần thấy rằng khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau Bởi vì, dân tộc

ra đời trong một quốc gia nhất định, thông thường thì những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia- chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau

Trang 31

Nếu như cộng đồng thị tộc (trong xã hội nguyên thuỷ) mang tính thuần tuý tộc người, trong đó quan hệ huyết thống còn đóng vai trò chi phối tuyệt đối, thì ở cộng đồng bộ lạc và liên minh bộ lạc (xuất hiện vào cuối xã hội nguyên thuỷ) đã xuất hiện dưới dạng đầu tiên những thiết chế chính trị- xã hội, trong đó những quan hệ tộc người xen với những quan hệ chính trị- xã hội Cộng đồng bộ tộc xuất hiện vào thời kỳ xã hội có sự phân chia rõ rệt hơn

về giai cấp và sau đó là sự xuất hiện nhà nước - quốc gia Từ đây, sự cố kết bộ tộc là nhân tố quan trọng trong sự hình thành và củng cố quốc gia Ngược lại,

sự hình thành, củng cố quốc gia là điều kiện có ý nghĩa quyết định sự củng cố

và phát triển của cộng đồng bộ tộc, là sự chuẩn bị quan trọng nhất để cộng đồng bộ tộc chuyển lên một hình thức cao hơn, tức là dân tộc

Tính tộc người và tính chính trị- xã hội đó ghi đậm vào tâm trí của đông đảo dân cư ý thức gắn bó quyền lợi và nghĩa vụ của mình với dân tộc, với nhà nước, quốc gia Tình cảm đối với dân tộc hoà nhập vào tình cảm đối với Tổ quốc và trở thành một trong những giá trị thiêng liêng, bền vững của nhiều thế hệ con người ở nhiều dân tộc, quốc gia Tình cảm ấy xuất hiện và được củng cố trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài, trở thành nét truyền thống đặc sắc của các dân tộc, quốc gia đó

Nhận thức vấn đề này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng Bởi vì, công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới- từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng và các quan hệ xã hội không thể thiếu nội dung cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc Ngược lại, việc cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc không thể tách rời công cuộc cải tạo, xây dựng toàn diện

xã hội mà trước hết là xây dựng chế độ chính trị- xã hội, xây dựng nhà nước theo con đường tiến bộ

Trong thực tiễn, không nên xem nhẹ hoặc làm lu mờ những nhân tố

Trang 32

dân tộc tồn tại lâu dài trong một cộng đồng quốc gia gồm nhiều dân tộc Nhân tố dân tộc đó được biểu hiện nổi bật nhất trong văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tâm lý và tình cảm, chúng hoà quyện vào nhau tạo thành một thể thống nhất trong đa dạng về bản sắc dân tộc, là căn

cứ chủ yếu để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Điều đó đòi hỏi nhà nước trong khi hoạch định và thực hiện mọi chính sách chung của quốc gia, cần chú ý đến tính đặc thù của cộng đồng gồm nhiều dân tộc, hơn nữa, cần

có những chính sách riêng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng mang tính đặc thù của từng dân tộc

1.2.4 Nhận thức chung về dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Đến nay, ở Việt Nam chưa có một khái niệm pháp lý chính thức nào chỉ

rõ nội hàm của khái niệm “dân tộc thiểu số” Nhằm phục vụ Tổng điều tra dân

số cả nước 1979 và công tác thống kê thường xuyên, công tác nghiên cứu,

được sự chỉ đạo của Chính phủ, ngày 02 tháng 3 năm 1979, Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê đã ra Quyết định ban hành “Danh mục các thành phần dân

tộc Việt Nam” để sử dụng thống nhất trong các ngành, các cấp ở trung ương và địa phương trong cuộc tổng điều tra dân số nói trên Các dân tộc trong danh mục này là những cộng đồng được xác định dựa trên ba tiêu chuẩn cơ bản: Đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt- văn hóa và ý thức tự giác dân tộc Theo bảng danh mục này số lượng dân tộc trong toàn quốc là 54, trong đó có 53 DTTS Các thành phần dân tộc trong bản danh mục này không bao gồm các ngoại kiều Bảng danh mục này được thống nhất sử dụng cho đến nay

Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân

số của Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,47 triệu người so với năm

1999 Dân tộc Kinh chiếm trên 85% dân số, còn lại là các DTTS, trong đó

có những DTTS như Brâu, Ơ đu và Rơ Măm chỉ có trên 300 người Hầu hết các DTTS (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm) sống tại các

Trang 33

vùng trung du và miền núi

1.2.4.1 Vai trò của các DTTS ở Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước

Các DTTS ở Việt Nam có vai trò rất to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước Lịch sử dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm qua đã khẳng định các DTTS là một lực lượng cơ bản, không thể thay thế trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các DTTS

ở nước ta ngày càng phát huy vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Trong buổi bình minh dựng nước, từ các Nhà nước Âu Lạc, Nhà nước Văn Lang, Việt Nam đã là một quốc gia đa dân tộc Không phải từ ngày đầu lập nước đã có 54 dân tộc như hôm nay, nhưng chắc chắn lúc đó đã có vài dân tộc sinh sống Đó là tổ tiên của người Kinh (Lạc Việt) và tổ tiên của người Tày Cùng với thời gian, do nhu cầu phải hợp sức để có đủ sức mạnh chinh phục tự nhiên và chống lại sự xâm lược của các thế lực ngoại bang, ngày càng nhiều dân tộc gia nhập vào đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam, làm cho lãnh thổ quốc gia Việt Nam được mở rộng dần Bằng sự trải nghiệm của chính mình trong lịch sử, các DTTS đã hiểu rằng khi đất nước Việt Nam bị suy yếu thì cuộc sống của mọi dân tộc đều khó khăn, khi Tổ quốc Việt Nam bị xâm lược, bị ngoại bang đô hộ thì tất cả các dân tộc đều đứng trước nguy cơ bị diệt vong Vì thế, trong mỗi dân tộc ở Việt Nam vừa có ý thức về Tổ quốc Việt Nam vừa có ý thức về dân tộc- tộc người của mình Do đó, ý chí xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi dân tộc rất mạnh mẽ, bởi đây chính là ý chí xây dựng

và bảo vệ đất nước của chính mình, bảo vệ lãnh thổ và cuộc sống của chính mình Đây là nguyên nhân sâu xa quy định vai trò to lớn của các DTTS trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thống nhất

Suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, các DTTS luôn sát cánh

Trang 34

bên nhau, đoàn kết thống nhất để chống chọi với thiên tai địch họa, giữ gìn và xây dựng nên non sông Việt Nam Điều đó đã nói lên vai trò to lớn của các DTTS ở Việt Nam ngay từ khi quốc gia Việt Nam mới ra đời và trong suốt quá trình phát triển Cần khẳng định rõ rằng, nếu không có sự đoàn kết giữa dân tộc Kinh với các DTTS, không có sự ủng hộ, góp sức của các DTTS thì chắc chắn không thể có một quốc gia Việt Nam thống nhất như ngày nay

Các DTTS ở nước ta thường cư trú ở miền núi, suốt dọc biên giới phía Bắc và phía Tây của Tổ quốc Đây là vùng đất rộng lớn, chiếm 3/4 diện tích

cả nước, lại có nguồn tài nguyên phong phú, là địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Với ưu thế về đất đai, khoáng sản, lâm sản các DTTS cung cấp nguồn sức kéo, nguyên liệu, vật liệu cho đồng bằng, đồng thời nhận từ đồng bằng lương thực, muối, dụng cụ lao động Sự trao đổi gắn kết chặt chẽ về kinh tế giữa các DTTS với dân tộc Kinh ở đồng bằng tạo nên một nền kinh tế thống nhất, với thế mạnh của cả miền núi và đồng bằng Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, đồng bào các DTTS ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng đất nước Hàng loạt nông trường, lâm trường, nhiều khu công nghiệp, nhà máy điện đã được xây dựng ở miền núi, vùng đồng bào DTTS sinh sống Những thành tựu đạt được về kinh tế, văn hóa- xã hội khẳng định sự đóng góp to lớn, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của đồng bào các DTTS

Cư trú dọc biên giới, trên những địa bàn chiến lược xung yếu của Tổ quốc, trong lịch sử các DTTS luôn là lực lượng che chắn, là "phên dậu", thường xuyên phải chống lại những âm mưu, thủ đoạn xâm phạm bờ cõi của

kẻ thù Khi đất nước bị xâm lược, các DTTS cũng là bộ phận đầu tiên đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Những đội quân kháng chiến của đồng bào các DTTS dũng cảm, mưu trí, thông thạo địa bàn rừng núi là nỗi nỗi khiếp đảm

Trang 35

của kẻ thù Địa bàn vùng đồng bào DTTS sinh sống với ưu thế rộng lớn, hiểm trở, đặc biệt là nhân dân các DTTS có tinh thần yêu nước rất cao, vì thế nơi đây thường trở thành những căn cứ địa của các cuộc kháng chiến

Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của các triều đại phong kiến đều có sự đóng góp sức người, sức của rất to lớn của đồng bào các DTTS Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chiến khu Việt Bắc, vùng rừng núi miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ không những là căn cứ vững chắc của cách mạng mà còn là nơi quân thù bị giáng những đòn rất nặng nề, dẫn tới thất bại cuối cùng của chúng Ngày nay, sự vững mạnh về an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào các

DTTS có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt

Nam xã hội chủ nghĩa

Ghi nhận sự hy sinh, đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước đã phong tặng nhiều danh hiệu cao quý cho các tập thể, cá nhân, địa phương vùng dân tộc thiểu số Đã có 145 cá nhân là người dân tộc thiểu số được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang, 25 người được tặng danh hiệu anh hùng lao động [8],

1.2.4.2 Truyền thống đoàn kết của các DTTS ở Việt Nam

Qua lịch sử dựng nước và giữ nước, có thể khẳng định rằng đoàn kết,

cố kết chặt chẽ với nhau là một truyền thống nổi bật, cực kỳ quý báu của các dân tộc ở Việt Nam Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta chứng minh rằng chỉ có đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam mới tạo ra sức mạnh để bảo vệ mình và phát triển

Việt Nam hàng ngàn năm qua là một nước nông nghiệp, từ xa xưa nền kinh tế chủ yếu là trồng lúa nước Để chủ động nguồn nước phục vụ cho cây lúa- ngành kinh tế chủ yếu của đất nước, yêu cầu trị thuỷ đặt ra rất lớn, liên tục đối với các thế hệ các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Muốn trị thuỷ

Trang 36

sông ngòi, mương phai để lấy nước cấy lúa trong mùa khô Dần dần các dân tộc ở Việt Nam hiểu rằng phải chung sức trị thuỷ mới có thế có cơm no, áo ấm

Cùng với trị thuỷ, các dân tộc ở Việt Nam sinh sống trên các địa bàn, các vùng miền khác nhau, với những thế mạnh kinh tế khác nhau, tất yếu nảy sinh nhu cầu trao đổi sản vật, hàng hoá từ vùng này qua vùng khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác Quá trình trao đổi ấy được duy trì từ đời này sang đời khác, đảm bảo cho cuộc sống của từng dân tộc và của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tình đoàn kết giữa các dân tộc ở Việt Nam đã được hình thành từ hoạt động lao động sản xuất vì cuộc sống của chính mình

Các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam luôn phải đương đầu chống lại các thế lực xâm lược to lớn, hung hãn Từ xa xưa, các triều đại phong kiến phương Bắc đều có dã tâm thôn tính Việt Nam, hầu như tất cả các triều đại đều đưa quân xâm lược Việt Nam Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những thế lực thực dân, đế quốc to lớn cùng thay nhau xâm lược, thống trị nước ta Để chống lại quân xâm lược, các dân tộc ở Việt Nam không còn con đường nào khác là phải đoàn kết nhau lại, cùng hợp sức

để đánh bại kẻ thù, bảo vệ nền độc lập tự do của cả cộng đồng dân tộc

Lịch sử đã chứng tỏ rằng không đoàn kết nhau lại để chống kẻ thù chung thì nước Việt Nam sẽ bị thôn tính Khi Tổ quốc Việt Nam bị xâm lược thì các dân tộc cũng bị mất độc lập tự do Các thế lực xâm lược cũng luôn tìm cách chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc ở Việt Nam để chúng dễ bề xâm lược và thống trị Chính vì vậy, có đoàn kết, chung sức chung lòng mới đủ sức mạnh để trụ vững trước các thế lực xâm lược, đó là yêu cầu sống còn của các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam

Ở khu vực châu Á, Việt Nam là một nước nhỏ, nằm gần hai nước lớn có nền văn minh phát triển sớm là Trung Quốc và Ấn Độ Tác động của hai nền văn minh Trung Quốc và Ấn Độ đến các nước trong khu vực là rất lớn, rất

Trang 37

mạnh Vì thế các dân tộc ở Việt Nam phải đoàn kết, thật sự chung sức chung lòng để xây dựng và giữ gìn một nền văn hóa mang bản sắc của mình thì mới

đủ sức trụ vững không bị đồng hoá bởi các nền văn minh khác Chỉ có như vậy, các dân tộc ở Việt Nam mới còn là chính mình, mới giữ được phong tục tập quán, tâm lý dân tộc, giữ được cội nguồn, tên gọi của mình, không bị trở thành người khác Chính vì xây dựng và giữ được bản sắc văn hóa của mình nên trong lịch sử mặc dù có thời kỳ bị đô hộ hàng nghìn năm, nhưng dân tộc Việt Nam không bị đồng hoá Với ý thức dân tộc ấy, các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đã liên tục vùng lên đấu tranh và cuối cùng đã giành được độc lập

Như vậy, đoàn kết một lòng, các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đã tạo nên một nền văn hóa mang bản sắc của mình Nhờ có bản sắc văn hóa ấy, cộng đồng các dân tộc càng cố kết chặt chẽ tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam trụ vững và phát triển trước mọi thử thách khắc nghiệt của lịch sử Có thể khẳng định rằng đoàn kết để xây dựng và giữ gìn một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc cũng là một đòi hỏi khách quan để các dân tộc

ở Việt Nam tồn tại và phát triển Đoàn kết dân tộc là một truyền thống, một đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam Lịch sử đoàn kết dân tộc ở Việt Nam đã để lại nhiều bài học quý báu cho sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ngày nay

1.2.4.3 Đặc điểm các DTTS ở Việt Nam

Nghiên cứu về DTTS ở Việt Nam, có thể khái quát DTTS ở nước ta với những đặc điểm cơ bản như sau:

- Các DTTS ở nước ta có những nét khác nhau về nguồn gốc lịch sử:

Thực tế cho thấy cộng đồng quốc gia- dân tộc Việt Nam được hình thành bởi các yếu tố khách quan và chủ quan Nhiều tộc người và nhóm tộc người gia nhập vào cộng đồng chung đó vào những thời điểm khác nhau và trong bối cảnh, điều kiện khác nhau Vì thế, các DTTS ở nước ta không đồng nhất về

Trang 38

nguồn gốc lịch sử

Một phần lớn các DTTS có nguồn gốc tại chỗ, như dân tộc Tày, Mường, Thổ, La Hủ, Xinh Mun Đây là những dân tộc có quá trình hình thành, phát triển tộc người trên vùng lãnh thổ đang cư trú Họ thường có ý thức tộc người rõ nét và gắn bó với quê hương, đất nước Bên cạnh đó, nhiều DTTS, có nguồn gốc từ nơi khác đến, nhất là từ Nam Trung Quốc, như dân tộc Mông, Thái, Dao, Nùng Các dân tộc này đến nước ta trong nhiều thời điểm, có thể là toàn bộ hoặc chỉ là các nhóm, các bộ phận tộc người, từ đó phát sinh quan hệ đồng tộc, thân tộc ngoài biên giới quốc gia Đặc biệt, một

số DTTS do xung đột, biến động trong lịch sử mà trở thành thành viên gắn bó của cộng đồng quốc gia- dân tộc Việt Nam (như dân tộc Chăm và dân tộc Khmer Nam bộ) Những dân tộc này đã từng là chủ nhân của các vương quốc

cổ xưa Quá trình bang giao hữu hảo và cả những va chạm, chiến tranh với triều đình phong kiến của người Việt trong nhiều thế kỷ đã đưa các vùng đất thuộc các vương quốc đó sáp nhập vào đất Việt, đưa các dân tộc đó tham gia vào đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Nguồn gốc tộc người và những va chạm, xung đột trong lịch sử thường

để lại dấu ấn sâu đậm trong nhận thức, tình cảm dân tộc Đặc biệt là có thể phát sinh và lan truyền chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoạn, tâm lý kỳ thị, hận thù giữa các dân tộc Hơn nữa, vấn đề nguồn gốc lịch sử tộc người là yếu tố luôn bị các thế lực thù địch xuyên tạc, khai thác, lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xâm hại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước Chúng thường lợi dụng vấn đề này nhằm tác động, chia rẽ, khơi dậy mối nghi

kỵ, mặc cảm, gây ly gián, hận thù dân tộc, mâu thuẫn dân tộc, kích động ý thức tộc người biệt lập, làm lu mờ ý thức quốc gia của đồng bào các DTTS, tạo dựng khuynh hướng ly tâm, ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc và tổ chức lực lượng chống đối người DTTS

Trang 39

- Các DTTS cư trú đan xen không có lãnh thổ tộc người riêng biệt,

phân bổ chủ yếu ở những địa bàn có vị trí quan trọng chiến lược về an ninh quốc phòng, vùng miền núi, cao nguyên, biên giới

Các DTTS ở Việt Nam chỉ chiếm 14,3% dân số cả nước nhưng cư trú trên vùng lãnh thổ bằng 70% diện tích của cả nước Mặc dù vậy, ở Việt Nam các DTTS sống rất phân tán và xen kẽ nhau Không có bất kỳ một DTTS nào

cư trú tập trung và duy nhất trong một địa bàn Tính chất phân tán và xen kẽ trong cư trú của các DTTS thể hiện trên phạm vi cả nước cũng như ở từng tỉnh, huyện, xã Hiện nay ở nước ta, những xã có một DTTS sinh sống chỉ đếm được trên đầu ngón tay Trong khi đó, có huyện miền núi có tới hơn 20 DTTS cùng sinh sống

Đồng bào các DTTS ở nước ta cư trú tập trung chủ yếu ở 4 vùng: Vùng

miền núi và trung du phía Bắc tính từ phía tây Quảng Bình trở ra, có núi cao,

rừng rậm, hiểm trở, với khoảng trên 30 DTTS cư trú, đông nhất là người Tày, Thái, Mường có biên giới giáp với Trung Quốc, Lào dài hàng nghìn km Vùng này có nhiều DTTS có nguồn gốc từ nơi khác di cư đến (Mông, Dao,

Nùng, ) nên có mối quan hệ đồng tộc, dân tộc ở bên kia biên giới Vùng

Trường Sơn- Tây nguyên, tính từ phía tây Quảng Trị trở vào đến hết 5 tỉnh

Tây nguyên và vùng phụ cận, bao gồm khu vực dọc dãy Trường sơn, các cao nguyên Nam Trung Bộ và vùng cao của các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Vùng này có nhiều bộ phận dân tộc hợp

thành, trong đó có gần 20 DTTS tại chỗ Vùng Duyên hải nam Trung Bộ là

nơi cư trú chủ yếu của người Chăm (tập trung chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận) Xưa kia vùng đất này thuộc “ vương quốc Chăm Pa”, cư dân chủ yếu

là người Chăm, kéo dài từ đèo Ngang theo ven biển miền Trung đến giáp vùng Thủy Chân lạp (Nam Bộ hiện nay) Do biến động của lịch sử, đến cuối thế kỷ XVII vương quốc này không còn tồn tại và dân tộc Chăm trở thành

Trang 40

một thành viên gắn bó trong cộng đồng quốc gia các dân tộc Việt Nam Vùng

đồng bằng sông Cửu Long hay Miền Tây nam Bộ được hình thành trong lịch

sử do công khai phá của người Kinh, người Hoa, người Khmer Đây cũng là nơi cư trú tập trung của người dân tộc Khmer (gọi là người Khmer Nam bộ hay Khmer Krom) có cùng nguồn gốc, đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán

và tín ngưỡng, tôn giáo với người Khmer ở Cămpuchia, vùng này còn có một

bộ phận người Chăm và người Hoa sinh sống

Đặc điểm nổi trội trong phân bố của các dân tộc ở Việt Nam là cư trú đan xen, không có lãnh thổ tộc người riêng biệt Tuy một số dân tộc có vùng

cư trú tương đối tập trung (người Thái ở Tây Bắc và Tây Thanh Hóa- Nghệ An; người Mường tập trung ở Hòa Bình; người Chăm ở Nam trung bộ; người Khmer ở Tây Nam bộ ) song các dân tộc ở nước ta cư trú xen kẽ với nhau và xu hướng cư trú đó ngày càng tăng Tại các xã, thậm chí là trong phạm vi bản, thường có cư dân nhiều dân tộc cùng sinh sống xen kẽ Đặc điểm cư trú đó có tác động tích cực và tiêu cực đến quan hệ dân tộc, vừa tăng cường sự hiểu biết, gắn kết, hòa hợp với nhau, vừa dễ dẫn đến va chạm, hiềm khích mâu thuẫn dân tộc

Nhiều DTTS phân bố, sinh sống tập trung ở vùng miền núi, cao nguyên, biên giới, thường có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn

Đó lại là những địa bàn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng Khu vực cư trú của đồng bào các DTTS chính là địa bàn "phên dậu”, vùng “ biên viễn” của đất nước, gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và là nơi kẻ địch thường có điều kiện xâm nhập, ẩn náu, hoạt động chống phá cách mạng

- Các DTTS có quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội

nhìn chung còn thấp và không đồng đều nhau

Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, nước ta có 54 dân tộc, trong đó

Ngày đăng: 16/06/2016, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tƣ pháp (2005), Việt Nam và quyền con người, chịu TNXB, PGS.TS Hoàng Thế Liên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và quyền con người
Tác giả: Bộ tƣ pháp
Năm: 2005
2. Trần Bình (2015), Một số vấn đề về tộc người và dân tộc ở Việt Nam, (Cổng thông tin điện tử của Đại học Văn hóa Hà Nội, http://Huc.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tộc người và dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Năm: 2015
3. Chính phủ (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về Công tác dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về Công tác dân tộc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
4. Nông Thị Kiều Diễm (2014), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo quyền của DTTS trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo quyền của DTTS trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nông Thị Kiều Diễm
Năm: 2014
5. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) (2013), Giáo trình Công pháp quốc tế, NXB ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công pháp quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2013
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đại hội IX, X, XI, XII; Nghị quyết số 24 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc 3/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội IX, X, XI, XII; Nghị quyết số 24 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc 3/2003
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2003
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW về công tác dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW về công tác dân tộc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2008
14. Đỗ Văn Hòa, Vy Xuân Hoa (2012), Một số nội dung cơ bản về công tác nhân quyền và giải pháp đảm bảo quyền các DTTS trong thời gian tới (Ủy ban Dân tộc) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung cơ bản về công tác nhân quyền và giải pháp đảm bảo quyền các DTTS trong thời gian tới
Tác giả: Đỗ Văn Hòa, Vy Xuân Hoa
Năm: 2012
15. Khoa luật, ĐHQGHN (2009), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Khoa luật, ĐHQGHN
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
16. Hoàng Xuân Lương, Đặng Dũng Trí (2012), Đảm bảo quyền phát triển kinh tế xã hội của các DTTS Việt Nam trong tình hình hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền phát triển kinh tế xã hội của các DTTS Việt Nam trong tình hình hiện nay
Tác giả: Hoàng Xuân Lương, Đặng Dũng Trí
Năm: 2012
17. Nông Văn Lưu (2012), Một số vấn đề về quyền tham chính của người DTTS ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền tham chính của người DTTS ở Việt Nam
Tác giả: Nông Văn Lưu
Năm: 2012
18. Lê Văn Nghiêm (2012), Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở, giải pháp cải thiện quyền tiếp cận thông tin của các DTTS Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở, giải pháp cải thiện quyền tiếp cận thông tin của các DTTS Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Nghiêm
Năm: 2012
19. Quốc hội (1946), Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1946
20. Quốc hội (1959), Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1959
21. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1980
22. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1992
23. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
35. http://Cema.gov.vn (2015), Cổng thông tin điện tử của Ủy ban Dân tộc Link
36. http://Crights.org.vn (2015), Cổng thông tin điện tử của TT nghiên cứu quyền con người và quyền công dân- Khoa luật ĐHQGHN Link
37. http://Dangcongsan.org.vn (2015), Tiếp tục đổi mới công tác dân tộc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình hiện nay Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w