1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam và pháp luật nước ngoài

120 532 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để quy định về tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN nới room nói riêng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam nói chung được thực hiện trên thực tế, Việt Nam cần sớm hoàn t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ CẨM ANH

địa vị pháp lý của nhà đầu t- n-ớc ngoài

Trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam

và pháp luật n-ớc ngoài

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ CẨM ANH

địa vị pháp lý của nhà đầu t- n-ớc ngoài

Trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam

và pháp luật n-ớc ngoài

Chuyờn ngành: Luật Quốc tế

Mó số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS Lấ VĂN BÍNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

HOÀNG THỊ CẨM ANH

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 8

1.1 Khái niệm, vai trò của nhà đầu tư nước ngoài 8

1.1.1 Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài 8

1.1.2 Vai trò của nhà đầu tư nước ngoài 11

1.2 Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài 12

1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc xác định 12

1.2.2 Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 17

Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN 19

2.1 Theo Pháp luật Việt Nam 19

2.1.1 Các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam 19

2.1.2 Các chính sách và bảo đảm đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 22

2.1.3 Quy chế pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam 28

2.2 Theo Pháp luật nước ngoài 63

2.2.1 Vấn đề đầu tư nước ngoài của các quốc gia trên thế giới 63

2.2.2 Địa vị pháp lý của Nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán theo Pháp luật một số nước 67

Trang 5

Chương 3: THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 85 3.1 Thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài

trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam 85 3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề địa vị

pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam 96

3.2.1 Các giải pháp thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường

chứng khoán Việt Nam 99 3.2.2 Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề

địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán 101

KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ

Số hiệu

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá khả năng tiếp cận thị

Bảng 3.2: Cổ phiếu có tỷ lệ sở hữu nước ngoài khoảng 49% tính đến

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thế giới đã trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm Đến nay, thị trường chứng khoán của các quốc gia đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, theo đó số lượng lên đến hơn 160 sở giao dịch, chất lượng hoạt động của thị trường ngày càng đáp ứng cho

số đông những nhà đầu tư trong và ngoài nước

Có thể thấy, thị trường chứng khoán là bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế, đó là bức tranh phản ánh sâu sắc và rõ ràng sự phát triển nền kinh

tế của quốc gia Trong việc đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến

sự phát triển của thị trường chứng khoán thì yếu tố đầu tiên phải kể đến là môi trường pháp lý, thứ hai là hàng hoá trên thị trường và thứ ba là tình hình chính trị,

sự hiểu biết của công chúng về thị trường chứng khoán Bởi vậy, thị trường chứng khoán không thể vận hành và phát triển mạnh nếu không có một khuôn khổ pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt động của thị trường

Tại thị trường chứng khoán của mỗi quốc gia đều có sự tham gia của một chủ thể quan trọng có tác động rõ rệt đến thị trường – đó là Nhà đầu tư nước ngoài Các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách ưu đãi và khuôn khổ pháp lý để bảo vệ quyền lợi của nhóm chủ thể này nhằm thu hút vốn đầu tư

Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, tại Việt Nam, gần đây vấn đề mở rộng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán đang ngày được chú trọng

và trở thành một trong những vấn đề tâm điểm được công chúng chào đón Theo ông Vũ Bằng – chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Việt Nam đang thể hiện quyết tâm nâng hạng TTCK từ thị trường cận biên hiện nay lên mức thị trường mới nổi sẽ tăng sức hấp dẫn với các nhà đầu tư quốc tế Đặc biệt, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán có hiệu

Trang 9

lực vào ngày 01/9/2015, trong đó có nội dung quan trọng là tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN lên đến 100%

Đây là một tín hiệu rất đáng mừng vì việc tăng độ mở của TTCK thông qua việc tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN là biện pháp tăng cường các hoạt động đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam, cũng như là động lực quan trọng để đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường

Tuy nhiên, để quy định về tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN (nới room) nói riêng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam nói chung được thực hiện trên thực tế, Việt Nam cần sớm hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán Đồng thời, xây dựng cơ chế thu hút NĐTNN phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thông qua chính sách tài chính ưu đãi và đơn giản hóa thủ tục đầu tư

Thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ, mới mẻ, chính bởi lẽ đó, Pháp luật về chứng khoán của nước ta còn một số tồn tại nhất định cần sớm hoàn thiện để phù hợp với sự vận động và phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng

và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung Bởi vậy, chúng ta cần sàng lọc để loại bỏ những nhược điểm, phát huy những ưu điểm trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới Hiện nay, quy định về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Bởi vậy, cần thiết phải có một/một số nghiên cứu có tính hệ thống về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và so sánh với một số nước điển hình trên thế giới, từ đó vận dụng những kinh nghiệm quốc tế vào thị trường chứng khoán Việt Nam để bảo đảm quyền và lợi ích cho nhà đầu tư, mở rộng sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, thu hút vốn cho thị trường

Do đó, học viên quyết định chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của nhà đầu tư

nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài” làm luận văn Thạc sỹ luật học

Khi chủ trương tăng tỷ lệ sở hữu của khối ngoại đã được pháp điển hóa như

Trang 10

hiện nay, vấn đề cấp bách đặt ra là cần phải xây dựng hành lang pháp lý để (i) triển khai thực hiện trên thực tế; (ii) bảo đảm quyền lợi của NĐTNN nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài và (iii) quy định rõ nghĩa vụ pháp lý khi NĐTNN tham gia vào TTCK Việt Nam để phòng ngừa thâu tóm, rút vốn ồ ạt hoặc các hệ quả khác ảnh hưởng đến thị trường Vì vậy, theo ý kiến chủ quan của tác giả luận văn, vấn đề địa

vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán vẫn tiếp tục là vấn đề được các

cơ quan có thẩm quyền cũng như thị trường dành nhiều sự quan tâm

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Từ đó, phân tích những kinh nghiệm quốc tế để vận dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán

Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại một số nước trong phạm vi nghiên cứu như Việt Nam, Brazil, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc

- Phân tích những hạn chế, thiếu sót của các chính sách, quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn áp dụng của Việt Nam

- Đề xuất phương án nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề địa

vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán là vấn

đề khá mới mẻ trong pháp luật Việt Nam Hiện nay, vấn đề này đang được quy định rải rác trong một số văn bản pháp luật như Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư và một

số văn bản dưới luật

Trang 11

Đến nay, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến vấn đề này như:

- Hoàng Văn Thứ (2009), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư trên thị trường

chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học Nghd: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

- Lê Anh Tuấn (2010), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh

vực chứng khoán, kinh nghiệm quốc tế và hướng hoàn thiện, luận văn thạc sỹ luật

học Nghd: TS Lê Văn Bính

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư

của một số nước, báo cáo nghiên cứu

- Và một số công trình nghiên cứu về Nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực

chứng khoán của các tác giả công tác trong lĩnh vực chứng khoán hoặc học tập,

công tác trong các trường về kinh tế, tài chính Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này đề cập sâu về khía cạnh tài chính, chứng khoán chứ không đi sâu vào khía cạnh pháp lý

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập đến vấn đề đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam Tuy nhiên, luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Văn Thứ có phạm vi nghiên cứu bao phủ toàn bộ chủ thể “nhà đầu tư”, tức là gồm

cả nhà đầu tư trong và ngoài nước trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Anh Tuấn nghiên cứu về riêng đối tượng “nhà đầu tư nước ngoài”, nhưng thị trường nghiên cứu chỉ gói gọn trong thị trường chứng khoán Việt Nam, chỉ có một phần rất nhỏ về chính sách thu hút đầu tư của thị trường chứng

khoán Ấn Độ Còn Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư của một số nước của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư có phân tích về pháp luật đầu tư của các nước Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines nhưng trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp chứ không nghiên cứu trong lĩnh vực chứng khoán

Chính bởi lẽ đó, luận văn có mục tiêu đi sâu nghiên cứu về địa vị pháp lý của

“nhà đầu tư nước ngoài” trong lĩnh vực chứng khoán tại “thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới như Brazil, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc nhằm so sánh, đánh giá, cụ thể hóa các

Trang 12

kinh nghiệm của thị trường chứng khoán nước ngoài để vận dụng linh hoạt vào thị trường chứng khoán Việt Nam

Hiện nay, theo tìm hiểu của học viên, chưa có công trình nghiên cứu nào hệ thống hóa các quy định pháp luật và thực tiễn về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của các nước Brazil, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc Do đó, luận văn sẽ nghiên cứu về thị trường chứng khoán của các nước nêu trên để người đọc thấy được tính đa dạng cũng như những kinh nghiệm quốc tế mà Việt Nam cần học hỏi, đồng thời đóng góp những nghiên cứu, tìm hiểu mới mẻ, cập nhật của mình cho bạn đọc Luận văn cũng phân tích chi tiết các yếu tố mà luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Văn Thứ và Lê Anh Tuấn chưa đề cập hoặc chưa đề cập cụ thể

Bên cạnh đó, gần đây vấn đề đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam là vấn đề được quan tâm sát sao, được nhà đầu tư mong đợi

và ảnh hưởng lớn đến thị trường chứng khoán Một số văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này vừa được ban hành như: Nghị định 60/2015/NĐ-CP ngày 26/6/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, có hiệu lực kể từ ngày 1/9/2015, Nghị định này đã bổ sung Điều 2a quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; Thông tư số 123/2015/TT-BTC ngày 19/8/2015 hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 1/10/2015

Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền cũng đang trong quá trình lấy ý kiến của các chủ thể liên quan để chính thức ban hành các văn bản pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế những quy định về Địa vị pháp lý của Nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán

Bởi vậy, từ quy định pháp luật cho đến thực tiễn, đều đã có các điểm mới rất

cập nhật hứa hẹn những điểm sáng cho thị trường mà từ thời điểm năm 2009, 2010

khi luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Văn Thứ và Lê Anh Tuấn ra đời, chưa có một công trình nghiên cứu nào cập nhật Luận văn sẽ cập nhật một cách đầy đủ, rõ ràng nhất những điểm mới đó để người đọc có cái nhìn khái quát cũng như sâu sắc hơn

Trang 13

Luận văn sẽ phân tích các quy định pháp luật của một số nước, có thể vận dụng kết quả nghiên cứu vào thị trường Việt Nam mà các công trình tương tự chưa

đề cập đến Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam để phù hợp với các cam kết của Việt Nam về vấn đề này khi gia nhập WTO, cũng như phù hợp với thị trường chứng khoán thế giới Luận văn có giá trị tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới như Brazil, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc

Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện tiếp cận hạn chế, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu

về thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong năm nước điển hình là Brazil, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, học viên sử dụng phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên nền tảng phương pháp luận đó, học viên áp dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp hệ thống, tổng hợp, thống

kê, phân tích, so sánh Học viên đã tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thông qua các ví dụ cụ thể liên quan đến nội dung nghiên cứu Bên cạnh đó,

so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật với thực tiễn liên quan đến quyền và nghĩa

vụ của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán để chỉ ra những điểm hạn chế, không phù hợp trong các quy định pháp luật hiện hành Từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm tiếp tục bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài cũng như thu hút đầu tư cho thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 14

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm ba chương như sau:

Chương 1 Tổng quan về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị

trường chứng khoán

Chương 2 Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng

khoán theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài

Chương 3 Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt

Nam về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán

Trang 15

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm, vai trò của nhà đầu tư nước ngoài

1.1.1 Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài

Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cá nhân nước ngoài và tổ chức nước ngoài

Thứ nhất, về cá nhân nước ngoài Cá nhân nước ngoài, theo pháp luật của đa số

các nước trên thế giới, là những cá nhân không có quốc tịch của nước sở tại [12, tr.119]

Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng xác định người nước ngoài theo cách

trên Cụ thể, tại khoản 5, điều 3, Luật Quốc tịch 2008 quy định “Người nước ngoài

cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” [17] Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

“Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam’’ [18]

Thứ hai, về tổ chức nước ngoài Tổ chức nước ngoài, theo quan niệm của các

nước trên thế giới, là tổ chức được thành lập theo những quy định của pháp luật nước này nhưng hoạt động tại nước khác nhằm những mục đích đã được xác định trước [12, tr.137]

Theo pháp luật Việt Nam, khoản 26 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 quy định,

tổ chức nước ngoài là tổ chức thành lập ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài

Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự 2005, một tổ chức được công nhận

là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Thông thường một tổ chức được công nhận có tư cách pháp nhân ở nước nó được thành lập thì cũng được công nhận có tư cách pháp nhân ở các nước khác Đối với Việt Nam, pháp nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch nước ngoài

Việc xác định quốc tịch của pháp nhân tạo cơ sở xác định nội dung quy chế

Trang 16

pháp lý của pháp nhân, góp phần kiểm soát các hoạt động của pháp nhân, bảo vệ an ninh, chủ quyền và lợi ích kinh tế xã hội của nhà nước nơi pháp nhân đặt trụ sở hoặc hoạt động Vấn đề xác định quốc tịch của pháp nhân đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay Pháp luật các quốc gia có quy định khác nhau về vấn đề xác định quốc tịch của pháp nhân

Pháp luật của Pháp, Đức và của nhiều nước khác, pháp nhân đặt trung tâm quản lý ở nước nào thì mang quốc tịch nước đó, không phân biệt nơi đăng ký thành lập hay tiến hành hoạt động của pháp nhân Pháp luật của Anh, Mỹ xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập Ở Nga và các nước Đông Âu, áp dụng cả hai nguyên tắc quốc tịch pháp nhân tuỳ thuộc vào nơi thành lập pháp nhân và nơi đặt trụ sở chính của pháp nhân [22]

Pháp luật Việt Nam không có quy định nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân Tuy nhiên, Điều 765 Bộ luật dân sự 2005 đã quy định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Khoản 20 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước và vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh Tuy nhiên quy định này chỉ bao gồm các doanh nghiệp mà không phải tất cả các pháp nhân Song điều khoản này đã không còn được quy định trong Luật doanh nghiệp 2014

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã thừa nhận nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân tuỳ thuộc vào nước, nơi pháp nhân được thành lập Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam là pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam Những pháp nhân không mang quốc tịch Việt Nam đều được coi là pháp nhân nước ngoài

Về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, hiện nay Luật đầu tư 2014 đã phân biệt

rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để

Trang 17

giải quyết những nhầm lẫn, tranh cãi, mâu thuẫn về định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài của Luật đầu tư 2005 và các văn bản dưới luật khác Theo đó, Nhà đầu tư

nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật

nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Còn tổ chức kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

Bên cạnh cách phân loại này, theo tư cách chủ thể, nhà đầu tư nước ngoài có thể được phân loại thành nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân Nhà đầu tư tổ chức có số lượng ít hơn nhưng do tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, vị thế kinh doanh nên họ là lực lượng có vị thế và đóng góp nhiều hơn cho Việt Nam

Theo thông lệ phổ biến trên thế giới thì nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp theo pháp luật nước sở tại thì coi là nhà đầu tư trong nước, đương nhiên họ có nghĩa vụ và quyền lợi như doanh nghiệp trong nước, đồng thời được khuyến khích đầu tư với tỷ lệ cổ phần không hạn chế vào doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, một số doanh nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực hạn chế thì có thể hạn chế tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài Quy định như vậy giúp khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực tài chính chứng khoán, nhằm thành lập các công ty quản lý quỹ, ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư để thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển Bên cạnh đó, để bơm vốn nhiều hơn cho nền kinh tế, đồng thời khuyến khích thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn để làm cho thị trường vốn phát triển

ổn định, thể hiện chủ trương thúc đẩy đầu tư ở khía cạnh không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài;

Khi Luật đầu tư 2014 chưa ra đời, theo điểm b khoản 1 Điều 2 Quyết định 88/2009/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam quy định tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49% là nhà đầu

tư nước ngoài Điều này là bất hợp lý, không phù hợp với thông lệ thế giới cũng như cản trở việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp Việt Nam bởi doanh nghiệp sinh ra tại Việt Nam mà bị coi là doanh nghiệp nước ngoài

Trang 18

là không hợp lý Họ phải chịu rất nhiều nghĩa vụ và thủ tục hành chính như doanh nghiệp trong nước nhưng quyền lợi lại không được như doanh nghiệp trong nước

Luật chứng khoán 2006 không có quy định cụ thể về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, nhưng tại Điều 2 lại quy định về đối tượng áp dụng của Luật là tổ chức,

cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư chứng khoán và hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Như vậy, từ các quy định nêu trên, có thể hiểu nhà đầu tư nước ngoài trên thị

trường chứng khoán Việt Nam là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành

lập theo pháp luật nước ngoài tham gia đầu tư chứng khoán và hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.1.2 Vai trò của nhà đầu tư nước ngoài

Ngày nay, vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng, họ là lực lượng tổ chức phân công lao động trên phạm vi thế giới, là lực lượng phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia, thúc đẩy dòng vốn vận động trên toàn cầu và đóng góp quan trọng cho sự phát triển của một số quốc gia

Đối với quốc gia đang rất cần thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài như Việt Nam thì vai trò của nhà đầu tư nước ngoài càng trở lên quan trọng

Từ năm 2005 trở về trước, vai trò của nhà đầu tư nước ngoài không nổi bật trên thị trường chứng khoán Việt Nam Điều này có thể giải thích do hoạt động chưa đạt mức độ tăng trưởng mạnh của thị trường chứng khoán, cũng như giai đoạn nằm ngang kéo dài quá lâu của chỉ số chứng khoán đã khiến cho không chỉ nhà đầu

tư trong nước mà cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng không đánh giá cao về tiềm năng hồi phục và phát triển của giá cả cổ phiếu

Từ năm 2006 trở đi, nhà đầu tư nước ngoài đã tham gia khá tích cực vào thị trường Năm 2006 là một năm bản lề đối với nhà đầu tư nước ngoài Chỉ riêng trong năm này, đã có 3,050 cá nhân và 239 tổ chức nước ngoài được cấp mã giao dịch, giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đạt khoảng 4 tỷ USD, chiếm 16.4% mức vốn hóa của toàn thị trường Tính đến tháng 30/04/2013, nhà đầu tư nước ngoài vẫn là những nhà đầu tư mạnh nhất trên thị trường niêm yết, với những

Trang 19

quỹ đầu tư VinaCapital, Indochina Capital, Dragon Capital, IDG Vietnam, PXP Vietnam, City Group, HSBC, JP Morgan, Deutsch AG,… các quỹ này được đánh giá là hoạt động thành công trên thị trường Việt Nam [11]

Có thể thấy, khối ngoại có động thái đặc biệt và khác biệt với nhà đầu tư trong nước, trong đa số trường hợp biến động về giá cổ phiếu, dường như nhà đầu

tư nước ngoài luôn giữ một tư thế độc lập và tách rời hẳn tâm lý đám đông của các nhà đầu tư Việt Nam Vì vậy, có những lúc nhà đầu tư Việt Nam đổ xô ra bán thì nhà đầu tư nước ngoài lại mua vào

Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài không chỉ có vai trò đem lại nguồn vốn đầu

tư nước ngoài cho quốc gia, thúc đẩy dòng vốn vận động trên toàn cầu mà những quyết định đầu tư của họ còn mang tính chất tham khảo, học hỏi cho nhà đầu tư trong nước Đặc biệt là như thực tế hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài vẫn là những nhà đầu tư mạnh nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chủ yếu là các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp

Bên cạnh những tác động tích cực thì đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư gián tiếp có thể tạo ra bong bong tài chính ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các quốc gia

1.2 Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài

1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc xác định

1.2.1.1 Khái niệm

Địa vị pháp lý của người nước ngoài là những quyền cụ thể mà người nước ngoài được hưởng và những nghĩa vụ mà họ phải gánh vác khi cư trú ở nước sở tại cũng như các cơ chế pháp luật của nước sở tại bảo đảm cho người nước ngoài thực thi các quyền và nghĩa vụ nói trên

Chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài được xác định bởi pháp luật nước

sở tại và các quy phạm điều ước quốc tế, tập quán quốc tế Người nước ngoài sống trên lãnh thổ của nước khác cùng một lúc chịu sự ràng buộc của hai chế độ pháp lý: chế độ pháp lý theo nước mà họ là công dân và chế độ pháp lý của nước sở tại nơi người đó cư trú [12, tr.122]

Trang 20

Pháp luật của mỗi quốc gia quy định địa vị pháp lý của người nước ngoài phù hợp với nguyên tắc chung của luật quốc tế và các điều ước quốc tế mà nước

đó tham gia

Khi đề cập đến vấn đề địa vị pháp lý của người nước ngoài, trước hết phải tìm hiểu việc giải quyết xung đột pháp luật về năng lực pháp luật và năng lực hành

vi của người nước ngoài

Với cá nhân, năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng của người đó được

hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ mà theo pháp luật quy định Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng của chính người đó bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ theo pháp luật quy định Thông thường các quốc gia quy định năng lực pháp luật của người nước ngoài ngang hoặc tương đương công dân nước sở tại Đại đa số các quốc gia xác định năng lực hành vi theo nguyên tắc luật quốc tịch Một số nước như Anh, Mỹ xác định năng lực hành vi theo nguyên tắc luật nơi cư trú

Bộ luật dân sự 2005 quy định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác (Điều 761) Còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác Trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam (Điều 762)

Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) 2015 quy định, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó

có quốc tịch Trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam Viê ̣c xác đi ̣nh cá nhân bi ̣ mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ta ̣i Viê ̣t Nam theo pháp luật Việt Nam

Trang 21

Với pháp nhân, khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở một

nước nào đó, năng lực pháp luật của pháp nhân tại nước sở tại tuỳ thuộc vào quy định ở nước sở tại

Như vậy, bên cạnh các quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi của công dân, từng quốc gia đều phải đối diện với nghĩa vụ quốc tế là tạo cơ sở và điều kiện

để người nước ngoài được hưởng chế độ pháp lý phù hợp với sự tồn tại hợp pháp của họ trên lãnh thổ quốc gia đó Một đặc thù quan trọng liên quan đến địa vị pháp

lý của người nước ngoài trên lãnh thổ nước sở tại là người nước ngoài không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước người đó là công dân và luật quốc tế Vì vậy, một quốc gia không thể đơn phương áp dụng các quy định đối với người nước ngoài nếu các quy định đó không phù hợp với các thỏa thuận quốc tế và ảnh hưởng đến lợi ích của các quốc gia khác [26, tr.119]

Bộ luật dân sự 2005 quy định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập Trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Việt Nam (Điều 765)

Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) 2015 quy định quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; tên gọi của pháp nhân; việc tổ chức, tổ chức lại, giải thể pháp nhân; quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân; trách nhiệm của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đối với các nghĩa vụ của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc ti ̣ch Trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực pháp luật dân

sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam

Như vậy, khi xác định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, pháp nhân; năng lực hành vi dân sự của cá nhân người nước ngoài, pháp luật Việt Nam quy định dựa trên sự kết hợp hệ thuộc Luật quốc tịch, Luật nơi cư trú và Luật nơi thực hiện hành vi

Trang 22

1.2.1.2 Nguyên tắc xác định

Theo quy định của pháp luật và phụ thuộc vào mức độ quan hệ giữa các quốc gia và tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể, các quy định về địa vị pháp lý của người nước ngoài (thể nhân và pháp nhân) có thể được xây dựng trên nguyên tắc hay các chế độ pháp lý sau:

Một là, chế độ đãi ngộ quốc gia, là chế độ cho phép người nước ngoài có quyền

và nghĩa vụ tương ứng như công dân nước sở tại trong các quan hệ xã hội nhất định

Nội dung cơ bản của chế độ đãi ngộ quốc gia là người nước ngoài được hưởng các quyền dân sự và lao động, cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác tương đương hoặc bằng với những quyền và nghĩa vụ mà công dân nước sở tại đang được hưởng và sẽ được hưởng trong tương lai Ví dụ: trong giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, người nước ngoài được hưởng quyền và nghĩa vụ như công dân nước sở tại không phải ở tất cả mọi mặt, người nước ngoài bị hạn chế ở một số quyền nhất định Ví dụ: quyền bầu cử, quyền ứng cử, đề cử, quyền hành nghề, học

tập trong lĩnh vực an ninh quốc phòng…

Hai là, chế độ tối huệ quốc Nội dung cơ bản của chế độ tối huệ quốc là

người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được hưởng một chế độ mà nước sở tại dành cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài của bất kỳ nước thứ ba nào đang hưởng và sẽ được hưởng trong tương lai

Đây là một chế độ pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ kinh tế, thương mại và hàng hải Chế độ tối huệ quốc dành riêng cho công dân và pháp nhân nước này hay nước kia cần phải được quy định rõ ràng và cụ thể trong các Hiệp định quốc tế (thường trong các Hiệp định thương mại và hàng hải; Hiệp định về thuế quan và mậu dịch; Hiệp định về thị trường chung hay thị trường tự do…)

Theo chế độ tối huệ quốc thì người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được hưởng đầy đủ và hoàn toàn các quyền hợp pháp mà một quốc gia đã dành cho và sẽ dành cho bất kỳ một nhóm người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài nào đang sinh sống hay hoạt động trên lãnh thổ của quốc gia đó Đây chính là sự thể hiện rõ nhất của thuật ngữ “tối huệ quốc” được hiểu trong khoa học pháp lý

Trang 23

quốc tế Như vậy chế độ tối huệ quốc đưa lại các điều kiện cũng như các tiêu chuẩn pháp lý như nhau (theo nghĩa bình đẳng, bình quyền) cho người nước ngoài

và pháp nhân nước ngoài của các quốc gia đã ký kết với nhau hiệp định mà trong

đó có quy định chế độ này

Tiêu chí của chế độ tối huệ quốc được ghi nhận là trong các hiệp định song phương, đa phương là dành cho các công dân và pháp nhân của các nước ký kết các điều kiện và cơ hội ngang nhau trong thương mại, hàng hải và trong các quan hệ kinh tế khác, đồng thời xoá bỏ mọi sự kỳ thị, phân biệt với các lý do khác nhau trong hoạt động thương mại quốc tế Ngoài ra, còn củng cố và thúc đẩy sự hợp tác kinh tế thương mại và các quan hệ toàn diện khác giữa các quốc gia trên thế giới, cơ

sở tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi

Ba là, chế độ đãi ngộ đặc biệt Thực chất của chế độ này thể hiện ở chỗ

người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được hưởng chế độ ưu tiên, ưu đãi đặc biệt hoặc các quyền mà nước sở tại dành cho họ, thậm chí công dân nước sở tại cũng không được hưởng Các ưu tiên, ưu đãi hoặc các đặc quyền này thường được quy định trong luật pháp của các quốc gia cũng như trong các điều ước quốc tế

Bốn là, chế độ có đi có lại và chế độ báo phục quốc Nội dung của chế độ có

đi có lại là nước này sẽ dành một số quyền, nghĩa vụ pháp lý nhất định, một số ưu đãi và các điều kiện thuận lợi nhất định cho công dân của một nước kia ở nước này trên cơ sở những điều kiện thực tế cụ thể phát sinh trong quan hệ giữa hai nước hữu quan và công dân nước này cũng được hưởng sự đối xử tương tự tại nước kia Trong quan hệ quốc tế, quy chế này được hiện diện dưới các hoạt động được gọi là

có đi có lại thực chất và có đi có lại hình thức, được hiểu đồng nghĩa với quy chế cùng có lợi trong quan hệ quốc tế

Chế độ báo phục quốc được áp dụng trên cơ sở của chế độ có đi có lại và cùng xuất phát từ tinh thần “có đi có lại” nên vấn đề “báo phục” được đặt ra trong quan hệ giữa các quốc gia Báo phục được hiểu là các biện pháp trả đũa Nếu một quốc gia nào đó đơn phương sử dụng những biện pháp hoặc có hành vi gây thiệt hại hoặc tổn hại cho các quốc gia khác hay công dân, pháp nhân của quốc gia khác thì

Trang 24

chính quốc gia bị tổn hại đó hoặc công dân, pháp nhân của nó được phép sử dụng những biện pháp trả đũa như hạn chế hoặc có các hành động tương ứng đối phó hoặc đáp lại các hành vi của quốc gia đầu tiên đơn phương gây ra các thiệt hại đó Tổng hợp các hành vi đối phó đáp lại được gọi là các biện pháp báo phục và hoàn toàn hợp pháp trên cơ sở có đi có lại Thực tiễn Tư pháp quốc tế coi các quy định này như nguyên tắc tập quán trong quan hệ giữa các quốc gia Mục đích của các biện pháp báo phục là nhằm khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị vi phạm và giống như biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật [12, tr.122-124]; [26, tr.120-121]

1.2.2 Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán

Bên cạnh việc được hưởng các quyền lợi và lợi ích được ghi nhận theo các chế

độ pháp lý nêu trên thì người nước ngoài phải có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ pháp luật nước sở tại, thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật nước sở tại Trong trường hợp vi phạm pháp luật nước sở tại, họ sẽ bị xử lý theo quy định của nước này hoặc theo điều ước quốc tế mà nước sở tại tham gia Trong thời gian sinh sống ở nước sở tại, người nước ngoài phải tuân thủ pháp luật nước này nhưng họ vẫn không mất đi mối liên hệ pháp lý với nước mà họ mang quốc tịch Xuất phát từ cơ sở pháp lý của mối quan hệ này, các quốc gia có quyền bảo hộ ngoại giao đối với công dân của mình sống ở nước ngoài, đồng thời công dân có quyền yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao – lãnh sự của nước mình thực hiện bảo hộ ngoại giao đối với họ trong trường hợp họ bị xâm phạm đến quyền lợi và lợi ích ở nước ngoài [26, tr.119]

Nhà đầu tư nước ngoài là người nước ngoài nên địa vị pháp lý của họ là địa

vị pháp lý của người nước ngoài Tuy nhiên, họ là nhà đầu tư nên địa vị pháp lý của

họ còn có những quy định riêng về địa vị pháp lý của nhà đầu tư

Trước đây, khi Luật đầu tư nước ngoài còn có hiệu lực pháp luật, quy chế pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài được xây dựng trên cơ sở chế độ tối huệ quốc và chế độ đãi ngộ đặc biệt

Hiện nay, đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật Việt Nam quy định địa vị pháp lý của họ dựa trên chế độ tối huệ quốc Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đến từ các quốc gia khác nhau đều bình đẳng với nhau

Trang 25

Trên cơ sở những vấn đề lý luận về nhà đầu tư nước ngoài, địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài như phân tích nêu trên, có thể định nghĩa về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam như sau:

Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam là tổng hợp tất cả các yếu tố như quyền năng chủ thể của tổ chức, cá nhân nước ngoài; quyền và nghĩa vụ pháp lý, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân nước ngoài; các chính sách và cơ chế pháp luật bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp

lý cũng như lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân nước ngoài khi họ tham gia đầu

tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phạm vi đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm:

Một là, mua bán cổ phiếu, trái phiếu khi các doanh nghiệp chào bán chứng

Trang 26

Chương 2

PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN

2.1 Theo Pháp luật Việt Nam

2.1.1 Các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thứ nhất là Luật đầu tư 2014 được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày

26/11/2014 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 Luật này quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài, áp dụng đối với nhà đầu tư và tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh

Luật đầu tư 2014 không còn phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp như Luật đầu tư 2005, thay vào đó là khái niệm “đầu tư kinh doanh” Theo đó, đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư

Luật đầu tư 2014 đã quy định thống nhất khái niệm nhà đầu tư nước ngoài

mà trước đó, khi Luật đầu tư 2014 chưa ra đời, khái niệm này còn chưa thống nhất

và gây nhiều tranh cãi Theo đó, Luật đầu tư 2014 quy định nhà đầu tư nước ngoài

là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

Đồng thời, Luật đầu tư 2014 phân định rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

Bên cạnh đó, Luật đầu tư 2014 còn bổ sung quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các tổ chức kinh tế (Luật đầu tư 2005 không có nội dung này) tại khoản 3 Điều 22 Theo đó, Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ trường hợp (i) tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư

Trang 27

nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán; (ii) tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước; (iii) trường hợp không thuộc những quy định trên thì tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Luật đầu tư 2014 còn quy định về bảo đảm đầu tư; ưu đãi và hỗ trợ đầu tư; hoạt động đầu tư; hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần vào tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài; thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần

Thứ hai là Luật chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật chứng khoán năm 2010 Hai văn bản này quy định tập trung về chứng khoán

và thị trường chứng khoán gồm hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Thứ ba là Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán về chào bán chứng khoán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu

tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Thứ tư là Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị

định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán Nghị định này bổ sung một số quy định như Tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; một số điều khoản về chào bán chứng khoán riêng lẻ, chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết chứng khoán… Theo quy định tại khoản

2 Điều 2 của Nghị định 60/2015/NĐ-CP thì Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày

Trang 28

15 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị bãi bỏ

Thứ năm là Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về

chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần và Nghị định 189/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 59/2011/NĐ-CP Nghị định này quy định về chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Nghị định quy định về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhưng có những quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phần của các doanh nghiệp này

Thứ sáu là Quyết định số 88/2009/QĐ -TTg ngày 18 tháng 6 năm 2009 của

Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu

tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam Văn bản này quy định về việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, khi Luật đầu tư 2014 và Nghị định 60/2015/NĐ-CP ra đời, thì khái niệm

về “nhà đầu tư nước ngoài” cũng như quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong Quyết định 88/2009/QĐ-TTg không còn được áp dụng Quyết định này cần sớm được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế

Thứ bảy là Thông tư số 123/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của

Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam Thông tư này quy định các nội dung liên quan đến địa vị pháp lý, hướng dẫn hoạt động giao dịch, đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngoài các văn bản trên còn có một số văn bản khác liên quan đến việc xác định địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán như: Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/1/2014 của Chính phủ quy định về nhà đầu

tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam; Thông tư BTC hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 29

52/2012/TT-Như vậy đặc điểm nguồn điều chỉnh địa vị pháp lý nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tồn tại ở nhiều văn bản khác nhau nhưng không có văn bản nào quy định tập trung Mỗi văn bản chỉ chứa đựng một số quy định liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Do đó việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật sẽ rất khó khăn, phức tạp

2.1.2 Các chính sách và bảo đảm đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán

2.1.2.1 Chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK

Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và khuyến khích hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài Đầu tư thông qua thị trường chứng khoán có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài để phát triển kinh

tế đất nước Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo mọi điều kiện thuận lợi và ưu đãi đối với hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán nói riêng, tạo sân chơi bình đẳng giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài

Cụ thể, Điều 5 Luật đầu tư 2014 quy định về chính sách về đầu tư kinh doanh Theo đó, nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật; được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ

hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên khác theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư; đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư kinh doanh mà Việt Nam là thành viên

Điều 5 Luật chứng khoán 2006 quy địn h về chính sách phát triển thị trường chứng khoán Theo đó, Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân dân tham gia đầu tư và hoạt động trên thị trường chứng khoán nhằm huy động các

Trang 30

nguồn vốn trung hạn và dài hạn cho đầu tư phát triển Nhà nước có chính sách quản

lý, giám sát bảo đảm thị trường chứng khoán hoạt động công bằng, công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả Đồng thời, Nhà nước có chính sách đầu tư hiện đại hoá cơ sở hạ tầng cho hoạt động của thị trường chứng khoán, phát triển nguồn nhân lực cho ngành chứng khoán, tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Như vậy, dù đầu tư ở lĩnh vực, ngành nghề, địa điểm nào, các nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư nước ngoài nói riêng cũng được Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tạo các điều kiện thuận lợi và khuyến khích đầu tư Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán thực hiện các cam kết đối với hoạt động đầu tư, coi kinh

tế có yếu tố nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,

là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân

Đối với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư tham gia thị trường như quy định thủ tục tham gia thị trường đơn giản; đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và tạo nhiều hàng hoá trên thị trường chứng khoán; nhanh chóng hoàn thiện

cơ chế, chính sách pháp luật về thị trường chứng khoán; miễn giảm thuế; tăng cường giám sát, xử lý vi phạm để bảo vệ nhà đầu tư Trong những năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã vận hành tích cực là kênh huy động vốn, đầu tư

có hiệu quả cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư

2.1.2.2 Bảo đảm đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK

Để thể hiện sự minh bạch, nhất quán trong chính sách đầu tư cũng như để nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư kinh doanh, Nhà nước quy định tại Luật đầu tư các bảo đảm đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trên thị trường chứng khoán như sau:

Trang 31

ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu

tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài

Có thể nói đây là bảo đảm quan trọng nhất đối với hoạt động đầu tư vì về bản chất đầu tư là bỏ vốn để thu lợi nhuận Bảo đảm thể hiện việc tôn trọng quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức nói chung, nhà đầu tư nói riêng và thể hiện sự bình đẳng, chính sách nhất quán khuyến khích đầu tư của Nhà nước Việt Nam

Hai là, bảo đảm chuyển vốn, tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài

Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài sản như vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư; thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh; tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư

Việc chuyển ra nước ngoài các tài sản trên được thực hiện bằng đồng tiền tự

do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn

Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, đây là bảo đảm quan trọng vì hoạt động đầu tư

là nhằm mục đích thu hồi vốn Vấn đề đặt ra là thủ tục thực hiện có nhanh chóng, dễ dàng hay không Bởi vì, liên quan đến vấn đề thoái vốn của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của nhà nước

Ba là, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan Ngày nay, quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quan tâm

Trang 32

đặc biệt vì nền kinh tế thế giới bây giờ là nền kinh tế tri thức, nền tảng là các sáng tạo trên các lĩnh vực

Bốn là, mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại

Để phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Nhà nước bảo đảm thực hiện đối với nhà đầu tư nước ngoài về mở cửa thị trường và đầu tư liên quan đến thương mại như (i) mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết; (ii) không bắt buộc nhà đầu

tư phải thực hiện các yêu cầu như ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước; đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước; cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài; đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể

Trong các cam kết quốc tế như cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO và gia nhập các điều ước quốc tế khác, Việt Nam luôn cam kết việc mở cửa thị trường đầu

tư và thương mại Về nguyên tắc, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường theo lộ trình đã cam kết Trong lĩnh vực chứng khoán, theo lộ trình đã cam kết thì đến 01/01/2012, Việt Nam sẽ dỡ bỏ quy định khống chế mức vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào Công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư chứng khoán, cho phép Công ty chứng khoán nước ngoài thành lập chi nhánh tại Việt Nam Ngay từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bên nước ngoài được phép liên doanh với đối tác Việt Nam để thành lập tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán với tỷ lệ góp vốn tối

đa không quá 49% Sau 5 năm, từ tháng 1/2012, cam kết WTO của Việt Nam về lĩnh vực dịch vụ chứng khoán yêu cầu cho phép bên nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ chứng khoán

Để triển khai cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, Nghị định số 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Chứng khoán và Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung đã chốt hai mô hình tham gia của nhà đầu tư nước ngoài là: được mua cổ phần, góp vốn để sở hữu 49% vốn điều lệ của tổ chức kinh doanh chứng khoán (Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ) trong nước hoặc mua,

Trang 33

thành lập mới tổ chức kinh doanh chứng khoán sở hữu 100% vốn nước ngoài Trong đó, đối với các Công ty chứng khoán đang niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép mua cổ phần hoặc góp vốn để sở hữu tối đa 49%, còn đối với Công

ty chứng khoán chưa niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần để sở hữu 100% vốn

Ngày 26/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP, theo đó Việt Nam đã chính thức thực hiện cam kết khi gia nhập WTO sau thời gian dài chuẩn bị, khi không hạn chế tỷ

lệ đầu tư của NĐTNN trong các công ty đại chúng (Trừ trường hợp công ty đại chúng hoạt động trong ngành nghề đầu tư kinh doanh có quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài hoặc công ty đại chúng hoạt động trong ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện) Nghị định 60/2015/NĐ-CP cũng quy định NĐTNN được đầu tư không hạn chế vào chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán, cổ phiếu không có quyền biểu quyết của công ty đại chúng, chứng khoán phái sinh, chứng chỉ lưu ký; các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm đáp ứng các quy định tại Khoản 10 Điều 71 Nghị định 58/2012/NĐ-CP thì được mua để sở hữu đến 100% vốn điều lệ của tổ chức kinh doanh chứng khoán; được thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán 100% vốn nước ngoài

Năm là, áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất Trong quá trình hoạt động đầu tư

tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát Bảo đảm này giúp nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư trong thời gian dài do sự thống nhất, ổn định của giá, phí, lệ phí, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài

Sáu là, bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật

Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng

ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp

Trang 34

tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại Quy định này không áp dụng trong trường hợp thay đổi quy định của văn bản pháp luật vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường Trong trường hợp này, nhà đầu tư được xem xét giải quyết bằng một hoặc một số biện pháp sau đây: (i) Khấu trừ thiệt hại thực tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế; (ii) Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư; (iii) Hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại

Đối với thực tế tại Việt Nam, việc văn bản pháp luật thay đổi theo thời gian

là điều thường xuyên xảy ra, các văn bản pháp luật mới cũng như các văn bản sửa đổi, bổ sung được ban hành với số lượng lớn mỗi năm Nhà đầu tư nước ngoài luôn phải cập nhật các quy định mới, có những quy định mới mang lại lợi ích, sự thông thoáng trong môi trường đầu tư nhưng cũng có những quy định hạn chế hoặc mang lại những bất lợi nhất định cho nhà đầu tư Do đó, bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật là cam kết quan trọng để nhà đầu tư nước ngoài yên tâm thực hiện hoạt động đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của đầu tư nước ngoài

Bảy là, bảo đảm quyền được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp

Khi đầu tư kinh doanh, khó tránh khỏi việc xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, do

đó cần có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư nước ngoài nói riêng khi xảy ra tranh chấp

Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài cũng được pháp luật Việt Nam bảo vệ, cụ thể, tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật Tranh chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức như Toà án Việt Nam; Trọng tài Việt Nam; Trọng tài nước ngoài; Trọng tài quốc tế; Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập

Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông

Trang 35

qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên

Theo cơ chế này, nhà đầu tư nước ngoài được tạo các điều kiện thuận lợi nhất trong việc giải quyết tranh chấp như có thể yêu cầu Toà án Việt Nam, trọng tài Việt Nam hoặc trọng tài nước ngoài, trọng tài quốc tế giải quyết

Tóm lại, đây là những bảo đảm đầu tư chung cho các hoạt động đầu tư, trong

đó có hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam Những biện pháp bảo đảm đầu tư này góp phần tạo nên một môi trường đầu tư ổn định, thuận lợi, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư vào thị trường Việt Nam một cách hiệu quả

2.1.3 Quy chế pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.3.1 Tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam

Tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tại nước sở tại là một trong những quy định quy định quan trọng thể hiện quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia vào thị trường chứng khoán Đồng thời, quy định này cũng thể hiện rõ chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán của mỗi quốc gia

Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, các quy định về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán ngày càng hoàn thiện theo hướng nâng cao tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài để phù hợp với

sự phát triển của thị trường chứng khoán thế giới

Thông lệ phổ biến trên thế giới là không hạn chế tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong hầu hết các lĩnh vực và ngành nghề, trừ một số ngành nghề đặc biệt quan trọng như sản xuất vũ khí, báo chí, ngân hàng … Việc không hạn chế tỷ lệ

sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang lại ba lợi ích cơ bản là: (i) thay đổi

Trang 36

phương thức quản trị doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp dễ dàng huy động được nguồn vốn và tăng tính thanh khoản của cổ phiếu; (ii) kích thích dòng vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời kích thích mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trong nước; (iii) cơ cấu cổ đông sẽ thay đổi cơ bản theo hướng tỷ trọng cổ phần của nhà đầu tư

tổ chức chiếm đa số, điều đó sẽ tạo thuận lợi trong công tác quản trị doanh nghiệp

và huy động vốn

Với nhiều quốc gia có chính sách không hạn chế sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thì việc mua cổ phiếu không có quyền biểu quyết từ nhà đầu tư nước ngoài hay nhà đầu tư trong nước sẽ không chỉ có ý nghĩa trong việc huy động vốn

mà còn rất có ý nghĩa trong quản trị doanh nghiệp Một số quốc gia có hạn chế sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh có điều kiện thì việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào cổ phiếu không có quyền biểu quyết sẽ hết sức có ý nghĩa ở khía cạnh vừa làm tăng tính thanh khoản cổ phiếu và tăng khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp từ các nhà đầu tư nước ngoài

Ở nước ta, cho đến 26/6/2015, chưa có quy định nào cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu không có quyền biểu quyết Nghị định số 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán ban hành ngày 26/6/2015 và có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2015 đã chính thức cho phép nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư không hạn chế vào cổ phiếu không có quyền biểu quyết của công ty đại chúng Đây là một bước tiến mới của thị trường chứng khoán Việt Nam, mang lại điểm sáng cho thị trường, hứa hẹn thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán

Pháp luật Việt Nam đã có nhiều văn bản quy định về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, cụ thể như sau:

Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam đã quy định doanh nghiệp Việt Nam nhận vốn góp, bán cổ phần cho các Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp Nhà nước thực hiện cổ phần hoá,

Trang 37

công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc uỷ quyền Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố ở từng thời kỳ Mức góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài ở doanh nghiệp Việt Nam

tối đa bằng 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp Việt Nam (Điều 3 và Điều 4)

Tại Điều 1,2 và 3 của Quyết định 146/2003/QĐ-TTg ngày 17/7/2003 của Thủ tướng chính phủ về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, thì tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán cổ phiếu trên thị trường

chứng khoán Việt Nam được nắm giữ tối đa 30% tổng số cổ phiếu niêm yết của tổ

chức phát hành Tỷ lệ góp vốn của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài trong Công ty chứng khoán liên doanh hoặc Công ty quản lý quỹ liên doanh tối đa

là 49% vốn điều lệ Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ không giới hạn tỷ

lệ trái phiếu lưu hành trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg ngày 29/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ

về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam (thay thế quyết định số 146/2003/QĐ-TTg) đã quy định rằng tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm giữ (i)

tối đa 49% tổng số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch của một tổ chức niêm yết,

đăng ký giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Đối với tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần theo Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2003 thì tổng số cổ phiếu niêm yết là số cổ phiếu phát hành ra công chúng theo

phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; (ii) tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ

đầu tư niêm yết, đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán; (iii) không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành (Điều 1)

Bên cạnh đó, Điều 2 của Quyết định nói trên quy định về việc tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần, góp vốn liên doanh thành lập Công ty chứng khoán hoặc Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tối

đa là 49% vốn điều lệ

Trang 38

Văn bản này đã được thay thế bởi Quyết định số 88/2009/QĐ -TTg ngày 18/6/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các Doanh nghiệp Việt Nam và Quyết định

số 55/2009/QĐ –TTg ngày 15/4/2009 của Thủ tướng chính phủ về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam Cụ thể:

Theo Quyết định số 88/2009/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ thì mức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các công ty đại chúng theo tỷ lệ quy định của pháp luật về chứng khoán và các văn bản hướng dẫn

liên quan Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt

Nam hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề thuộc pháp luật chuyên ngành theo tỷ lệ

quy định của pháp luật chuyên ngành đó Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu

tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh thương mại dịch vụ

tuân theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Đối với doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực, bao gồm cả một số ngành nghề, lĩnh vực có quy định khác nhau về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thì nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần không quá mức của ngành nghề, lĩnh vực có quy định tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước

ngoài thấp nhất Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi sở

hữu, nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần theo tỷ lệ tại phương án được cấp

có thẩm quyền phê duyệt Các trường hợp còn lại, nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với mức không hạn chế

Còn theo Quyết định 55/2009/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ thì nhà đầu tư nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam

được nắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng Trường

hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành Trường hợp tỷ lệ sở hữu bên nước ngoài được phân loại theo danh mục các ngành nghề cụ thể thì áp dụng theo danh mục phân loại

Nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu

tư của một quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng, 49% vốn điều lệ của một công ty

Trang 39

đầu tư chứng khoán đại chúng Đối với trái phiếu, tổ chức phát hành có thể quy định giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành

Ngoài ra, chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn mua cổ phần thành lập công ty chứng khoán Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước

ngoài tối đa là 49% vốn điều lệ của công ty chứng khoán Chỉ có tổ chức kinh

doanh chứng khoán nước ngoài có nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức kinh doanh bảo hiểm nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần thành lập công

ty quản lý quỹ Tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài tối đa là 49% vốn điều

lệ của công ty quản lý quỹ

Bên cạnh đó, đối với các tổ chức tín dụng, Nghị định 01/2014/NĐ-CP ngày 03/1/2014 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Điều 7 như sau: Tỷ lệ

sở hữu cổ phần của một cá nhân nước ngoài không được vượt quá 5% vốn điều lệ

của một tổ chức tín dụng Việt Nam; tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài

không được vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam; tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá 20%

vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam; tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu

tư nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó không được vượt

quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng

thương mại Việt Nam Trong trường hợp đặc biệt để thực hiện cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém, gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu

tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn quy định

nêu trên đối với từng trường hợp cụ thể

Đối với các công ty kinh doanh thương mại dịch vụ thì tỷ lệ sở hữu tuân theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Việt Nam đã gia nhập WTO, trong biểu cam kết dịch vụ có quy định cụ thể về lộ trình mở cửa thị trường trong lĩnh vực

này Nhìn chung theo biểu cam kết hiện tại mức mở cửa thị trường tối thiểu là 49%

Trang 40

Quy định về tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thị trường chứng khoán thể hiện nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mua, bán trong tỷ lệ quy định đó

Trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến 2014, các cơ quan có thẩm quyền

đã soạn thảo Dự thảo các văn bản pháp luật về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam theo hướng nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài để đáp ứng các cam kết quốc tế như cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO và gia nhập các điều ước quốc tế khác cũng như để thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam

Trả lời phỏng vấn ngày 28/11/2014, Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán nhà nước – ông Vũ Bằng cho biết UBCNKNN phải điều chỉnh kế hoạch nâng sở hữu của NĐTNN ở một số ngành từ 49% lên 60% Theo ông, đề xuất mới sẽ được trình lên Chính phủ vào tháng 10/2015 Ông Attila Vajd, Giám đốc điều hành Project Asia Research & Consulting Pte, nhận định đây là một điều khá thất vọng vì thị trường đang tăng điểm trước kỳ vọng việc nới room sẽ diễn ra trong năm nay Theo ông Vajda, sớm nhất phải đến năm 2016, đề xuất sửa đổi mới nhận được phê chuẩn cuối cùng Được biết, chính dự đoán về việc nới room khối ngoại đã đẩy chỉ số VN-Index tăng 22% trong năm 2013 và tiếp tục tăng 12% trong năm 2014 [13]

Theo Quyết định 55/2009/QĐ-TTg, tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp niêm yết cố định 49%, trong khi Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 quy định một công ty có vốn đầu tư nước ngoài khi sở hữu trên 51% vốn điều lệ của công ty đại chúng Điều 1.2 của dự thảo quy định thay thế Quyết định 55/2009/QĐ-TTg cũng quy định công ty có vốn đầu tư nước ngoài khi các nhà đầu tư này nắm giữ 51% của công ty đại chúng

Tuy nhiên, đáng mừng là sớm hơn so với nội dung trả lời phỏng vấn nêu trên của Chủ tịch UBCKNN, ngày 26/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP, theo

đó việc tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN đã chính thức được quy định tại Điều 2a

Cụ thể, nới room sẽ tiến hành theo ba nhóm ngành: thứ nhất là nhóm hạn chế

tỷ lệ sở hữu nước ngoài thực hiện theo các quy định chuyên ngành (ví dụ như nhóm

Ngày đăng: 16/06/2016, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Xuân Bách (2015), Bắt đầu nới room, nâng hạng thị trường, http://www.nhandan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắt đầu nới room, nâng hạng thị trường
Tác giả: Xuân Bách
Năm: 2015
2. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2014), Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư một số nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư một số nước
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Năm: 2014
3. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
4. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 123/2015/TT-BTC ngày 19/8/2015 hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 123/2015/TT-BTC ngày 19/8/2015 hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
5. Chính phủ (2011), Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
6. Chính phủ (2012), Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
7. Chính phủ (2014), Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/1/2014 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/1/2014 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Nguyễn Đức Cường (Phòng Nghiên cứu Vietstock) (2014), Nới room nước ngoài: Cổ phiếu nào sẽ hưởng lợi, http://vietstock.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nới room nước ngoài: Cổ phiếu nào sẽ hưởng lợi
Tác giả: Nguyễn Đức Cường (Phòng Nghiên cứu Vietstock)
Năm: 2014
11. Duy Hoàng (Vietstock) (2013), Khối ngoại tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào, https://www.shs.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khối ngoại tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào
Tác giả: Duy Hoàng (Vietstock)
Năm: 2013
12. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2013), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Tác giả: Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
14. Quốc hội (2005), Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
15. Quốc hội (2005), Luật đầu tư số 59/2005/QH11ngày 29/11/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư số 59/2005/QH11ngày 29/11/2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
16. Quốc hội (2006), Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
18. Quốc hội (2014), Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
19. Quốc hội (2014), Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
20. Tạp chí chứng khoán số 176 (2013), Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam - Những bước tiến bộ trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam - Những bước tiến bộ trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp lý
Tác giả: Tạp chí chứng khoán số 176
Năm: 2013
21. Tạp chí tài chính (2015), Nới room - sức nóng từ chính sách, http://tapchitaichinh.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nới room - sức nóng từ chính sách
Tác giả: Tạp chí tài chính
Năm: 2015
22. Lê Anh Tuấn (2010), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán, kinh nghiệm quốc tế và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán, kinh nghiệm quốc tế và hướng hoàn thiện
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Năm: 2010
23. Giang Thanh (2014), Cổ phiếu không có quyền biểu quyết –cần cân nhắc, http://tinnhanhchungkhoan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phiếu không có quyền biểu quyết –cần cân nhắc
Tác giả: Giang Thanh
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  Bảng  tổng  hợp  kết  quả  đánh  giá  khả  năng  tiếp  cận  thị - Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam và pháp luật nước ngoài
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá khả năng tiếp cận thị (Trang 7)
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá khả năng tiếp cận - Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam và pháp luật nước ngoài
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá khả năng tiếp cận (Trang 93)
Bảng 3.2: Cổ phiếu có tỷ lệ sở hữu nước ngoài khoảng 49% tính đến ngày 06/01/2014 - Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam và pháp luật nước ngoài
Bảng 3.2 Cổ phiếu có tỷ lệ sở hữu nước ngoài khoảng 49% tính đến ngày 06/01/2014 (Trang 99)
Bảng 3.3: Cổ phiếu có tỷ lệ sở hữu nước ngoài khoảng 30%-49% - Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam và pháp luật nước ngoài
Bảng 3.3 Cổ phiếu có tỷ lệ sở hữu nước ngoài khoảng 30%-49% (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w