1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải

30 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 427,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải Nguyễn Thanh Loan Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60 Người hư

Trang 1

Pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về bảo hiểm thân tàu trong thương mại

hàng hải Nguyễn Thanh Loan

Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến

Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Trình bày những l ý luận chung về bảo hiểm thân tàu , vai trò , lịch sử hình

thành và cơ sở pháp l ý của bảo hiểm thân tàu Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải như hợp đồng bảo hiểm thân tàu, phạm

vi bảo hiểm thân tàu, các điều khoản cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới Đưa ra những giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam

Keywords: Luật Quốc tế; Pháp luật Việt Nam; Bảo hiểm thân tàu; Thương mại hàng

hải; Luật hàng hải

Content

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Vận tải đường biển đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thế giới, đứng đầu trong hệ thống vận chuyển quốc tế Theo số liệu của Liên Hợp Quốc, vận tải đường biển đảm nhận hơn 90% lượng hàng hóa lưu thông toàn cầu Các tàu chở dầu chuyên chở khoảng 60% lượng dầu thô thế giới, loại năng lượng chính hiện nay của con người

Vận tải bằng đường biển luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể dẫn đến tổn thất và thiệt hại Các trường hợp bất khả kháng hay hành vi sai sót của các nhân viên hàng hải có thể gây ra những tổn thất rất lớn Bảo đảm an toàn hàng hải và giảm thiểu tai nạn trên tàu

là một vấn đề phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh như kỹ thuật, tổ chức, nhân sự, kinh

tế và pháp l‎ý Trong đó, bảo hiểm hàng hải được xem là một biện pháp bảo đảm an toàn hiệu quả trong vận tải biển, vừa là một công cụ pháp l‎ý vừa là một khái niệm kinh

tế

Vận tải đường biển mang tính quốc tế, vì vậy bảo hiểm hàng hải cũng vượt ra ngoài lãnh thổ của một quốc gia và nắm những nguồn tài chính khổng lồ tập trung ở những trung tâm tài chính quốc tế Theo nghĩa rộng, bảo hiểm hàng hải được xem là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ theo hợp đồng k‎ý kết giữa các chủ thể tham gia vận tải biển Quan điểm này xuất phát từ chỗ cho rằng vận tải biển luôn đi cùng với những rủi ro có thể gây ra những thiệt hại vật chất lớn, thiệt hại về tính mạng và những thảm họa môi trường khó khắc phục cũng như những hậu quả khác và bảo hiểm hàng hải là nguồn

Trang 2

bồi thường những thiệt hại gây ra cũng như giảm thiểu hay ngăn ngừa những tổn thất

có thể lường trước

Có thể nói, tàu biển là phương tiện duy nhất trong vận tải đường biển Là một cấu trúc nổi phức tạp về công nghệ, mỗi con tàu đã hạ thủy và qua chạy thử vào thời điểm hiện nay có giá trị tương đối lớn, khoảng 30-40 triệu đô la Mỹ đối với tàu của các nước phát triển Tàu biển Việt Nam thường có giá trị khoảng 2-3 triệu đô la Mỹ, so với các nước là nhỏ, nhưng so với khả năng tài chính của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam, đây là một con số không nhỏ Do đó, những rủi ro xảy ra với con tàu trong quá trình hành thủy có nguy cơ khiến các chủ tàu phải gánh chịu những thiệt hại vật chất rất lớn, thường vượt quá khả năng tài chính của họ Bảo hiểm thân tàu sẽ giúp các chủ tàu được bảo vệ khi con tàu gặp phải những hiểm họa của Biển cả và Đại dương và khi có tổn thất xảy ra, sẽ giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả của các rủi ro, đưa con tàu trở về trạng thái làm việc bình thường

Hiện nay, vấn đề bảo hiểm thân tàu ngày càng trở nên cấp thiết bởi tai nạn trên biển tuy có giảm về số lượng nhưng tác hại của chúng lại ngày càng lớn và đôi khi tổn thất thường dẫn đến phá sản và bảo hiểm thân tàu giúp giảm nhẹ gánh nặng do những tai nạn có thể gây ra Bảo hiểm thân tàu là loại bảo hiểm lớn, cả gói, bao gồm những rủi

ro đặc biệt phát sinh trong quá trình vận hành tàu biển, đòi hỏi kinh nghiệm, quan hệ quốc tế, sự hiểu biết tường tận công việc hàng hải, các đặc điểm kỹ thuật trong khai thác tàu biển và nhiều kiến thức khác

Bảo hiểm hàng hải Việt Nam nói chung cũng như bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam nói riêng còn đang trên con đường hình thành và phát triển, lại đang đứng trước những thử thách to lớn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia toàn cầu hóa Trước tình hình đó, việc nghiên cứu về đề tài pháp luật về bảo hiểm thân tàu là hết sức cần thiết Việc nghiên cứu sâu về bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải là một việc làm quan trọng và cấp bách, bởi có liên quan chặt chẽ với thực tiễn hoạt động hàng ngày của thuyền trưởng, thuyền viên và chủ tàu Hiểu rõ về bảo hiểm thân tàu sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng tàu và ngăn ngừa được những thiệt hại có thể xảy ra, góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế biển và thương mại hàng hải

2 Tình hình nghiên cứu và những đóng góp của đề tài

Như đã đề cập ở trên, bảo hiểm thân tàu Việt Nam là một trong những lĩnh vực tương đối mới mẻ và chưa được quan tâm đúng mức nên hiện nay hầu như chưa có công trình riêng nào nghiên cứu về vấn đề này

Dưới góc độ nghiệp vụ nói chung thì vấn đề bảo hiểm thân tàu được đề cập đến trong một số tài liệu mang tính chuyên ngành khác nhau như: chuyên ngành bảo hiểm, chuyên ngành ngoại thương …

Dưới góc độ khoa học pháp l‎ý, có thể khẳng định rằng cho tới thời điểm này mới chỉ

có đề tài luận văn thạc sỹ năm 2005 của Nguyễn Thị Hoài Quy về “Bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới” Tuy nhiên, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hoài Quy hoàn thành vào năm

2005 khi Bộ luật hàng hải 2005 chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa cập nhật được một cách có hệ thống, toàn diện các khía cạnh pháp l‎ý mới về bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam Do đó, nghiên cứu đề tài này trong thời điểm hiện nay là việc làm không có

sự trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào hiện có trong lĩnh vực này tại Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở l‎ý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo hiểm thân tàu Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật về bảo hiểm thân

Trang 3

tàu của một số nước láng giềng và các nước có nền bảo hiểm thân tàu phát triển trên thế giới Qua đó, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam

Để đạt được những mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những l‎ý luận chung về bảo hiểm thân tàu, ‎‎ý nghĩa vai trò và lịch sử hình thành, phát triển của bảo hiểm thân tàu, cơ sở pháp l‎ý của bảo hiểm thân tàu

- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải như hợp đồng bảo hiểm thân tàu, phạm vi bảo hiểm thân tàu, các điều khoản cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới

- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Bảo hiểm thân tàu là một đề tài tương đối rộng và phức tạp, liên quan đến nhiều vấn

đề kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật bảo hiểm, luận văn này chỉ giới hạn trong phạm vi tìm hiểu bảo hiểm thân tàu đối với các tàu biển chạy tuyến quốc tế và tập trung tìm hiểu những vấn đề cơ bản của bảo hiểm thân tàu như khái niệm, phân loại bảo hiểm thân tàu, ý‎ nghĩa vai trò và lịch sử hình thành, phát triển của bảo hiểm thân tàu, cơ sở pháp l‎ý của bảo hiểm thân tàu Đồng thời, luận văn cũng đi sâu phân tích khía cạnh Điều kiện bảo hiểm thân tàu thời hạn – điều khoản làm cơ sở cho hợp đồng bảo hiểm thân tàu trên thế giới và đang được áp dụng chủ yếu trong các đơn bảo hiểm thân tàu chạy tuyến quốc tế của Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, diễn giải, quy nạp để nghiên cứu đề tài khóa luận Ngoài ra, khóa luận còn vận dụng các quan điểm, đường lối, chủ trương phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước để khái quát hệ thống và khẳng định kết quả nghiên cứu

Luận văn sử dụng các số liệu thống kê phù hợp trong quá trình phân tích, tổng hợp thực tiễn vận dụng và hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam; phân tích và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế (Anh, Mỹ, Canada, Phần Lan, Ấn Độ, Singapore) trong việc đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam

Luận văn tổng hợp l‎ý luận về bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải của các quốc gia theo một khung phân tích Luận văn so sánh bối cảnh hoàn thiện của Việt Nam với các quốc gia kể trên Các công cụ của pháp luật được so sánh, đối chiếu theo từng giai đoạn lịch sử

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, trang bìa và phụ bìa, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu như sau:

Chương 1 – Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải

Chương này làm rõ cơ sở l‎ý‎ luận và cơ sở pháp l‎ý của bảo hiểm thân tàu bao gồm các nội dung: Khái niệm, ‎‎ý nghĩa, vai trò và lịch sử hình thành, phát triển của bảo hiểm thân tàu, các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm thân tàu

Trang 4

Chương 2 – Nội dung của bảo hiểm thân tàu theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới (Anh, Mỹ, Ấn Độ, Singapore, Phần Lan, Canada)

Chương 2 tập trung phân tích những nội dung cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thân tàu (Khái niệm hợp đồng bảo hiểm thân tàu, Quyền lợi bảo hiểm, Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, Nghĩa vụ của các bên khi xảy ra tổn thất, Phạm vi trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu), phạm vi bảo hiểm thân tàu, tai nạn đâm va và cách giải quyết, giải quyết tranh chấp về bảo hiểm thân tàu

Chương 3 – Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam

Trên cơ sở những l‎ý‎ luận và thực tiễn được phân tích, chương này xem xét những bất cập của pháp luật bảo hiểm thân tàu Việt Nam; trình bày và đánh giá thực trạng thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam; đề xuất một số quan điểm và các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU

TRONG THƯƠNG MẠI HÀNG HẢI 1.1 Khái niệm bảo hiểm thân tàu

1.1.1 Giới thiệu tổng quát về tàu biển

Tàu biển là thuật ngữ dùng để chỉ những phương tiện nổi trên mặt nước có khả năng chuyên chở hàng hoá, vật phẩm, hành khách hoặc sử dụng vào mục đích khác trên biển hoặc trên những vùng nước khác mà tàu có thể đi lại được Ngoài ra, còn có các khái niệm khác nhau về tàu thuỷ; chẳng hạn, trong "qui tắc phòng ngừa va chạm tàu thuyền trên biển" (International regulation for preventing collision at sea, 1972) thì tàu biển bao gồm tất cả các phương tiện hoặc có thể dùng làm phương tiện vận chuyển trên mặt nước, kể cả

các loại tàu thuyền không có trọng lượng chiếm nước và thuỷ phi cơ

1.1.2 Khái niệm bảo hiểm thân tàu

Trang 5

Bảo hiểm tàu biển là một loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất trong số các loại hình bảo hiểm Đơn bảo hiểm cổ nhất còn lưu giữ được đến ngày nay là đơn bảo hiểm cấp năm

1347 cho tàu Santa Clara trong hành trình vận chuyển hàng hóa từ Genoa (Ý) đến quần đảo Majorca ( Tây Ban Nha ) Bảo hiểm thân tàu là một loại bảo hiểm quan trọng nhất về tàu biển, bởi tàu biển là một đối tượng đặc biệt Tàu biển, theo quy định của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam, là cấu trúc nổi, có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển, dùng để vận chuyển hàng hóa, hành khách, hành lý, thăm dò - khai thác - chế biến tài nguyên biển, lai dắt cứu hộ trên biển, trục vớt tài sản chìm đắm và thực hiện các mục đích kinh tế khác Một con tàu thương mại hiện đại mới hạ thủy và đã qua chạy thử thường có giá trị lớn, chưa kể đến hàng hóa trên tàu, đôi khi còn vượt qua giá trị con tàu

Ở Việt Nam hiện nay, tàu biển phần nhiều thuộc loại già cỗi, có tuổi tàu thường trên 15 năm Do đó việc bảo hiểm tàu là rất cần thiết, bởi những con tàu loại này thường tiềm ẩn

rất nhiều rủi ro khi hoạt động trên biển

1.1.3 Sự ra đời của bảo hiểm thân tàu

Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu

Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh Anh là nước đứng đầu trên thị trường bảo hiểm thân tàu thế giới Chiến tranh Thế giới thứ hai đã làm cô lập đội tàu biển của nhiều quốc gia, việc mất vị thế trong hàng hải cũng như trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau đã khiến Anh không còn thế độc quyền trong bảo hiểm thân tàu Tuy nhiên các nước khác vẫn tái bảo hiểm thân tàu cho các công ty bảo hiểm của Anh và kết quả là vào những năm 1970, có đến 40 – 45% phí bảo hiểm thân tàu của thế giới vẫn do các nhà bảo hiểm Anh thu

Thị trường bảo hiểm thân tàu khác của thế giới là Mỹ Những năm 1945 thị trường bảo hiểm Mỹ còn chưa thể nhận bảo hiểm tàu giá trị lớn hơn 2,5 triệu đô la Mỹ thì vào năm

1970 nó đã có thể bảo hiểm tàu trị giá 15 triệu đô la Mỹ và hiện nay, theo Chủ tịch Viện bảo hiểm Mỹ, các nhà bảo hiểm Mỹ có thể bảo hiểm mọi loại tàu, bất kể với giá trị bao nhiêu

1.1.3.2 Ở Việt Nam:

Việt Nam là một đất nước có bờ biển dài hơn 3.200 km, có nhiều vùng vũng, vịnh nằm trên đường hàng hải quốc tế, vì vậy ngay từ thời xa xưa hoạt động thương thuyền và đóng tàu thuyền và phát triển cảng đã khuyến khích sự giao lưu thương mại với nước ngoài; đồng thời góp phần trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Ở Miền Bắc bảo hiểm thân tàu chỉ chính thức xuất hiện cùng với sự ra đời của Công ty Bảo hiểm Việt Nam ( gọi tắt là Bảo Việt ) ngày 15/01/1965, nhưng cũng chỉ là đại lý cho hàng Loyd tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu Viễn dương

Bảo hiểm thân tàu ở Việt Nam có thể nói được chính thức ra đời sau Quyết định số 254 TC/BH ngày 25/05/1990 cho phép Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành bảo hiểm thân tàu và thuyền viên

Có thể nói bảo hiểm thân tàu còn tương đối mới mẻ với Việt Nam Bộ luật hàng hải Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 5 năm 2005 ( Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2005 ) đã

Trang 6

có những sửa đổi bổ sung quan trọng về bảo hiểm hàng hải, trong đó có bảo hiểm thân tàu

1.2 Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm thân tàu

1.2.1 Rủi ro trong bảo hiểm thân tàu

Rủi ro là một trong những khái niệm cơ bản của bảo hiểm Có nhiều quan niệm khác nhau

về rủi ro, nhưng tựu trung lại có thể định nghĩa rủi ro là những tại nạn, tai họa, sự cố sảy

ra bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm

- Chìm đắm: Là hiện tượng tàu chìm hẳn xuống nước, không chạy được và hành trình bị chấm dứt

- Cháy: Nói chung, cháy là do lửa gây nên Lửa bốc cháy ở trên tàu là một vấn đề rất nghiêm trọng vì so với một vụ cháy ở trên bờ thì khó dập tắt hơn Lửa phải đến mức làm cho hành trình của tàu bị gián đoạn chứ chỉ làm hỏng một phần cơ cấu của tàu thì không gọi là cháy Có nhiều nguyên nhân gây ra cháy:

+ Do biến cố thiên nhiên như sét đánh

+ Do sơ suất của con người gây ra như hút thuốc, nhóm lửa

+ Do chủ tâm gây ra như cố ý phóng hoả nhằm một mục đích nào đó

- Đâm va: Đâm va tức là các công cụ vận chuyển va chạm với các vật thể chuyển động hay cố định khác Tai nạn đâm va chỉ hạn chế trong trường hợp tàu này đâm va tàu khác theo như quy định của điều khoản đâm va

1.2.1.2 Nhóm rủi ro thông thường được bảo hiểm:

Thực ra đây là nhóm rủi ro mở rộng thêm sau thời kỳ sơ khai của bảo hiểm hàng hải và người ta quen gọi là rủi ro thông thường được bảo hiểm Nhóm rủi ro này bao gồm các rủi

ro sau:

- Hành vi phi pháp của thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàn là những người không đồng sở hữu với chủ tàu đối với con tàu Hành vi phi pháp bao hàm hành vi xảo trá hay lường gạt của thuyền trưởng hoặc thuỷ thủ gây ra đối với tàu có hại cho chủ tàu hoặc người thuê tàu

- Mất tích: Khi một chiếc tàu không đến cảng đã quy định và sau một thời gian hợp lý không nhận được tin tức gì về tàu đó thì người ta coi là con tàu đã bị mất tích Thế nào là một thời gian hợp lý thì còn phải tuỳ thuộc vào loại tàu, loại hàng, tính chất hành trình và con đường dài ngắn khác nhau

- Rủi ro cướp biển: Trước đây, rủi ro cướp biển được coi là một phần của rủi ro chiến tranh và được xếp vào loại rủi ro riêng Ngày nay, người ta coi tổn thất do hành động cướp biển là sự mở rộng của quy mô mất cắp

Trang 7

1.2.1.4 Nhóm rủi ro có thể được bảo hiểm

- Vi phạm về phạm vi hoạt động hoặc hành trình của con tàu bảo hiểm nếu không vì các trường hợp sau đây:

+ Được phép trong hợp đồng bảo hiểm thể hiện bằng điều khoản riêng

+ Xảy ra trong trường hợp thuỷ thủ đoàn không thể khống chế được (điều kiện bất khả kháng như bão gió thời tiết xấu, địch đuổi)

+ Là điều kiện cần thiết hợp lý thực hiện các đảm bảo hoặc ngụ ý đảm bảo cho con tàu đủ khả năng đi biển

+ Để cứu người hoặc con tàu khác đang thực sự bị nạn

+ Do hành vi phi pháp của thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàn

- Vi phạm về kinh doanh và khai thác tàu: Chở quá tải, xếp hàng trên boong không theo tập quán thương mại, vi phạm thủ tục hải quan xuất nhập cảnh, kiểm dịch

- Vi phạm về lai dắt: Tàu chạy bình thường trên sông hồ biển không cần lai dắt Nhưng nếu tàu chạy trên đoạn đường đó hay ra vào cảng biển phải có lai dắt bắt buộc theo luật lệ, tập quán hoặc lai dắt trong cứu nạn là những lai dắt hợp pháp được bảo hiểm

- Vi phạm về hàng hoá chuyên chở: Đó là những hàng hoá cấm chuyên chở (vũ khí, chất độc hại, chất dễ cháy, hàng lậu, hàng phá bao vây )

- Chậm trễ hành trình: Là sự kéo dài thời gian hành trình so với hành trình bình thường không phải vì lý do cứu nạn, bị tai nạn dẫn đến tổn thất cho con tàu

- Tàu không đủ khả năng đi biển: Là tàu không đủ máy móc trang thiết bị, đội ngũ sĩ quan thuỷ thủ thuyền viên, nhiên liệu thực phẩm dự trữ cho hành trình đã quy định

- Tàu đi chệch hướng: Là tàu đi sai trình tự hoặc đi ra ngoài trình tự được quy định không

vì nguyên nhân cứu nạn, lánh nạn hay tránh gặp rủi ro

1.2.2 Tổn thất trong bảo hiểm thân tàu

Tổn thất trong bảo hiểm thân tàu là những hư hỏng, thiệt hại của tàu được bảo hiểm do rủi

* Tổn thất toàn bộ tức là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm bị mất mát,

hư hỏng, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới bảo hiểm nữa Một tổn thất toàn bộ có thể là tổn thất toàn bộ thực tế hay tổn thất toàn bộ ước tính:

- Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng hay bị phá huỷ toàn bộ, không lấy lại được như lúc mới bảo hiểm nữa

- Tổn thất toàn bộ ước tính tức là thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm chưa tới mức tổn thất toàn bộ nhưng đối tượng bảo hiểm bị từ bỏ một cách hợp lý vì tổn thất toàn bộ thực tế xét ra là không thể tránh khỏi hoặc những chi phí đề phòng, phục hồi tổn thất lớn hơn giá trị của hàng hoá được bảo hiểm

Căn cứ vào tính chất tổn thất và trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất được chia làm hai loại

là tổn thất chung và tổn thất riêng:

Trang 8

* Tổn thất chung là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng

* Tổn thất riêng: là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hay một số quyền lợi của các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu

1.3 Ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải

1.3.1 Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất

Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó, ổn định đời sống và quá trình sản xuất – kinh doanh

1.3.2 Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất

Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế – xã hội cũng được chủ động phòng

ro hiện nay, đảm bảo mức độ an toàn tương đối về khả năng tài chính khi xảy ra rủi ro mà vẫn không gây đọng vốn

1.3.4 Tăng thu cho ngân sách nhà nước

Qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm tự thân nó đã trở thành một ngành kinh doanh độc lập, có hạch toán thu chi, lỗ lãi rõ ràng Vì vậy, các công ty bảo hiểm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước như mọi doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh

tế Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản

công cộng, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc

1.3.5 Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống

Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người

ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới Những rủi ro do thiên nhiên như bão lũ, hạn hán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên… đang trở nên hết sức phức tạp, khó dự đoán do môi trường thế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu Chiến tranh, xung đột, khủng bố, đình công… không những không giảm bớt mà lại ngày càng diễn biến phức tạp

ở nhiều nơi trên thế giới Trong tình hình như vậy, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống cho con người

1.4 Nguồn luật điều chỉnh bảo hiểm thân tàu

Trang 9

1.4.1 Các Điều ƣớc quốc tế về bảo hiểm thân tàu

Công ước của tổ chức hàng hải quốc tế:

- Công ước quốc tế về cứu hộ 1989;

- Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với tổn thất ô nhiễm dầu 1992;

- Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển 1999

Các công ước của Liên hợp quốc và các tổ chức của Liên hợp quốc:

- Công ước của Liên hợp quốc về điều kiện đăng ký tàu biển 1986

- Quy tắc York – Antwerp 1994

- Các nguyên tắc hướng dẫn của các Hiệp hội phân cấp tàu biển 1998

Các công ước của Ủy ban hàng hải quốc tế:

- Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến đâm va giữa các tàu thuyền 1910;

- Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến trợ giúp và cứu hộ trên biển

1.4.2.Luật quốc gia

Bộ luật hàng hải sửa đổi bổ sung được quốc hội thông qua tháng 5 năm 2005 Ngoài ra còn có các văn bản dưới luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm thân tàu, như Nghị định số 42/2001/NĐ – CP ngày 1/8/2001 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật kinh doanh Bảo hiểm; quy tắc bảo hiểm thân tàu, ngư lưới cụ đối với tàu thuyền cá hoạt động trong vùng nội thủy và vùng biển Việt Nam của Bảo Việt ( 2001 ), quy tắc bảo hiểm thân tàu đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng nội thủy, vùng biển Việt Nam của Bảo Minh ( 1990 )… Bộ luật dân sự 2005 có những quy định chung nhất về hợp đồng bảo hiểm (Điều 567-580), điều khoản loại trừ trách nhiệm của người bảo hiểm trong gây ô nhiễm hay nguy cơ ô nhiễm hay tổn hại môi trường lại cần phải tham chiếu Luật bảo vệ môi trường 2005…

1.4.3 Tập quán hàng hải

Tập quán quốc tế về hàng hải cũng là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm thân tàu Tập quán hàng hải sẽ được áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu trong 3 trường hợp sau:

- Khi hợp đồng bảo hiểm quy định

- Khi các điều ước quốc tế liên quan quy định

- Khi luật (luật quốc gia) do các bên thoả thuận lựa chọn, không có hoặc có nhưng không đầy đủ, còn khiếm khuyết về vấn đề tranh chấp, về vấn đề cần phải điều chỉnh (Điều 759 khoản 3 Bộ luật dân sự Việt Nam)

1.4.4 Các phán quyết của Tòa án, Trọng tài về bảo hiểm thân tàu

Phán quyết của Tòa án Nova Scotia Canada ngày 03/04/2006 về bảo hiểm tàu bị mất chân vịt và trục đuôi khi kéo một xà lan nhập cảng Stephenville, phán quyết của Tòa án Vancouver Canada ngày 02/10/2006 về bảo hiểm sà lan bị đánh chìm, phán quyết của Tòa

án tối cao Philippin ngày 31/3/2005, phán quyết của Tòa án tối cao Mỹ ngày 30/5/2005…là một nguồn luật điều chỉnh bảo hiểm thân tàu khi đơn bảo hiểm và nguồn luật áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm không đề cập đến vấn đề nào đó gây ra tranh chấp giữa các bên

Bên cạnh đó, cần phải kể đến các phán quyết của Trọng tài trong lĩnh vực bảo hiểm thân tàu Cụ thể là phán quyết của Trọng tài Canada 14/4/2005 liên quan đến tàu lai dắt bị chìm

Kết luận

Bảo hiểm thân tàu có vai trò lớn trong đời sống kinh tế của xã hội, góp phần thúc đẩy kinh

tế phát triển và hội nhập quốc tế Với tư cách là loại hình bảo hiểm đầu tiên, bảo hiểm

Trang 10

thân tàu có một lịch sử phát triển lâu đời, có nguồn gốc từ Địa Trung Hải và đặc biệt phát triển ở Anh Bảo hiểm thân tàu cũng là một trong những loại hình bảo hiểm xuất hiện sớm nhất tại Việt Nam, tuy có bề dày phát triển chưa lâu, chỉ mới từ năm 1965, với quy mô ban đầu rất hạn chế, ngày nay đã trở thành một loại hình bảo hiểm quan trọng của Việt Nam, góp phần không nhỏ trong việc phát triển đội tàu Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc

tế

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA BẢO HIỂM THÂN TÀU THEO QUY ĐỊNH

CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

(ANH, MỸ, ẤN ĐỘ, SINGAPORE, PHẦN LAN, CANADA) 2.1 Hợp đồng bảo hiểm thân tàu

2.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm thân tàu

Luật bảo hiểm hàng hải Mỹ 1893 và Luật bảo hiểm hàng hải Canada 1993 quy định rõ hợp đồng bảo hiểm thân tàu mang tính chất là hợp đồng bồi thường và là một hợp đồng tín nhiệm

Qua điều 1 và điều 2, Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906, có thể định nghĩa hợp đồng bảo hiểm thân tàu như sau: hợp đồng bảo hiểm thân tàu là một hợp đồng mà trong đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải, nghĩa là những tổn thất xảy ra do những rủi ro hàng hải gây ra đối với đối tượng bảo hiểm thân tàu, theo cách thức và mức độ mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng

Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906 đưa ra giải thích chi tiết thế nào là rủi ro hàng hải Luật bảo hiểm hàng hải Singapore năm 1997 lại cho rằng: Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là cam kết giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm về việc trả tiền hoặc giá trị tiền cho người được bảo hiểm để bồi thường thiệt hại khi sự kiện bảo hiểm xảy ra [ 8; đ4 ] Hợp đồng bảo hiểm thân tàu theo Luật bảo hiểm hàng hải Ấn Độ năm 1963 được định nghĩa gần giống với Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906

Luật hợp đồng bảo hiểm của Phần Lan năm 1994 quy định: Hợp đồng bảo hiểm thân tàu

là một hình thức của hợp đồng hàng hải trong đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm tổn thất của tàu khi xảy ra sự kiện bảo hiểm [9; đ2]

Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005 đã sửa đổi về căn bản khái niệm hợp đồng bảo hiểm thân tàu, dựa vào Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906 một cách tối đa Về bản chất, quy định về hợp đồng bảo hiểm hàng hải theo Bộ luật hàng hải Việt Nam cũng tương tự như quy định chung về hợp đồng này theo các Điều ước quốc tế và pháp luật các nước khác Tuy nhiên, Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 chỉ đưa ra khái niệm “hành trình đường biển”

mà không định nghĩa khái niệm này

Như vậy, qua phân tích ở trên, có thể định nghĩa hợp đồng bảo hiểm thân tàu như sau: Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro hàng hải mà theo đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải do các rủi

ro được bảo hiểm xảy ra trong một hành trình đường biển gây ra cho đối tượng bảo hiểm, theo cách thức và điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng

2.1.2 Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm thân tàu

Luật bảo hiểm hàng hải Mỹ 1893, Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906, Bộ luật thương mại hàng hải Canada 1993 và Luật bảo hiểm hàng hải Singapore 1997 quy định tương đối thống nhất về đặc điểm hợp đồng bảo hiểm thân tàu: Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là một hợp đồng tương thuận, hai chiều, may rủi, bồi thường và gia nhập

Theo Luật bảo hiểm hàng hải Ấn Độ và Luật hợp đồng bảo hiểm Phần Lan, hợp đồng bảo hiểm thân tàu là hợp đồng có các tính chất sau: các rủi ro được bảo hiểm và gia nhập

Trang 11

Căn cứ quy định của Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật hàng hải 2005 Việt Nam, hợp đồng bảo hiểm thân tàu có các đặc điểm sau: Là một văn bản bồi thường (contract of indemnity);Là một hợp đồng tín nhiệm (contract of goodfaith);Là một hợp đồng có thể chuyển nhượng được (negotiable contract)

2.1.3 Hình thức hợp đồng bảo hiểm thân tàu

Hợp đồng bảo hiểm phải được thể hiện bằng đơn bảo hiểm hoặc bằng giấy chứng nhận bảo hiểm và chỉ có hợp đồng mới có giá trị dẫn chứng và ngược lại Đơn bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hợp đồng bảo hiểm Một hợp đồng sẽ bị vô hiệu khi mà chủ tàu không thông báo cho người bảo hiểm biết một trong các trường hợp sau:

- Tàu bị thay đổi người quản lý hay thay đổi quốc tịch

- Tàu bị hoán cải về cấu trúc

- Tàu thay đổi vùng hoạt động, thay đổi loại hàng vận chuyển

- Tàu bị thay đổi cấp tàu

- Chủ tàu không thanh toán phí bảo hiểm theo đúng quy định

- Tàu bị cầm giữ v.v

2.1.4 Nội dung hợp đồng bảo hiểm thân tàu

Hợp đồng bảo hiểm thân tàu bao gồm những điều khoản cơ bản sau:

- Những thông tin liên quan đến người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm

- Nguyên tắc chung

- Luật, điều khoản, điều kiện chi phố hợp đồng

- Thủ tục bảo hiểm

- Phí bảo hiểm

- Bảo quản kiểm tra tàu và công tác đề phong hạn chế tổn thất

- Thông báo giải quyết tai nạn

- Trách nhiệm bảo lưu quyền khiếu nại người thứ ba

- Chế tài bổi thường

- Thời hạn khiếu nại

- Hiệu lực của hợp đồng

- Xử lý tranh chấp

2.1.5 Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu

Các bên tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm bao gồm người bảo hiểm, người được bảo hiểm (chủ tàu, người thuê tàu), người đại diện được uỷ quyền của chủ tàu

Về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các bên chủ thể trong hợp đồng thì hầu hết các bên chủ thể trong hợp đồng thì hầu hết luật pháp của các nước quy định việc xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các bên chủ thể trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài sẽ căn cứ theo luật nhân thân của họ

Đối với pháp nhân ký kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu có yếu tố nước ngoài, pháp luật các nước thường xác định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân theo 1 trong các dấu hiệu:

- Nơi trung tâm quản lý của pháp nhân

- Nơi đăng ký điều lệ

- Nơi kinh doanh sản xuất chính của pháp nhân

2.1.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu

- Người được bảo hiểm có thể là người chủ tàu hoặc người kinh doanh khai thác con tàu dưới dạng thuê tàu định hạn Mặc dù không cam kết trong hợp đồng nhưng theo tập quán quốc tế người được bảo hiểm phải có trách nhiệm đảm bảo cho con tàu được bảo hiểm đạt các ngụ ý đảm bảo sau:

+ Tàu đủ khả năng đi biển trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

+ Quốc tịch tàu không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm

+ Hành trình của con tàu phải hợp pháp

Trang 12

- Ngoài những trách nhiệm trên theo hợp đồng bảo hiểm người được bảo hiểm còn có những nghĩa vụ sau đây:

+ Phải khai báo đầy đủ các các điều kiện cần thiết khi lập hợp đồng bảo hiểm

+ Khi đã ký xong hợp đồng bảo hiểm phải thực hiện mọi biện pháp nhằm phòng ngừa hoặc hạn chế tổn thất phát triển

+ Khi xảy ra tai nạn thuộc phạm vi trách nhiệm của hợp đồng bảo hiểm làm cho tài sản được bảo hiểm bị hư hại mất mát phải kịp thời báo ngay cho người bảo hiểm hoặc giám định viên đã được chỉ định tại nơi xảy ra tai nạn để yêu cầu giám định tổn thất và cấp biên bản giám định tổn thất

Trách nhiệm của người bảo hiểm:

- Người bảo hiểm chịu trách nhiệm bảo hiểm với số tiền bảo hiểm tối đa bằng giá trị con tàu tại thời điểm tham gia bảo hiểm Ngoài ra để đảm bảo kinh doanh cho chủ tàu hoặc người khai thác tàu, người bảo hiểm có thể nhận thêm:

+ Bảo hiểm cước phí chuyên chở có thể thu được

+ Phí tổn điều hành, lời lãi thặng dư của con tàu trong phạm vi khống chế (không quá 25% số tiền bảo hiểm thân tàu)

Hai khoản nhận bảo hiểm thêm không vượt quá 80% giá trị của bản thân con tàu

Trách nhiệm của người bảo hiểm về không gian và thời gian được ghi rõ trong hợp đồng bảo hiểm:

+ Về thời gian bắt đầu từ 24 giờ ngày ký kết hợp đồng và kết thúc vào 24 giờ ngày kết thúc hợp đồng Nếu tàu còn ở ngoài khơi thì được gia hạn cho đến khi tàu về cảng cuối cùng

+ Về không gian với hợp đồng chỉ rõ "tại và từ cảng quy định" thì hiệu lực bắt đầu khi tàu vào cảng đó mặc dù lúc ký kết hợp đồng tàu chưa về tới cảng này

2.1.7 Đối tƣợng bảo hiểm

Đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu là toàn bộ con tàu và trang thiết bị của con tàu đó Do đặc điểm hoạt động của tàu biển nên đối tượng bảo hiểm cần được kê khai chi tiết các mục sau:

- Tên tàu

- Tên cảng đăng ký trụ sở của chủ tàu hay người thuê tàu định hạn

- Quốc tịch của con tàu

- Năm và nơi đóng tàu

- Cấp của con tàu

- Trọng tải và sức kéo của con tàu

2.1.8 Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm

2.1.8.1 Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người được bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm Giá trị bảo hiểm là toàn bộ giá trị của con tàu được bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm = Giá trị bảo hiểm + Cước phí chuyên chở + Phí điều hành

Số tiền bảo hiểm nếu vượt quá giá trị con tàu và trang thiết bị thì khi gặp tổn thất toàn bộ thực tế hoặc ước tính người bảo hiểm chỉ bồi thường theo giá trị thực tế

Khi ký hợp đồng bảo hiểm thân tàu, người được bảo hiểm kê khai số tiền mà người được bảo hiểm muốn bảo hiểm con tàu của mình Số tiền bảo hiểm do người được bảo hiểm kê khai không thể tùy tiện Bởi số tiền bảo hiểm, thông thường chính là giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm khi nhận trách nhiệm bảo hiểm những tổn thất gây ra cho người được bảo hiểm, giúp người được bảo hiểm khôi phục tình trạng tài chính như trước khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm

2.1.8.2 Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm thân tàu do các chủ tàu thoả thuận với người bảo hiểm và bao gồm những bộ phận sau đây:

Trang 13

 Phí cơ bản: bao gồm phí bảo hiểm cho tổn thất toàn bộ và phí bảo hiểm cho tổn thất bộ phận

- Phí bảo hiểm cho tổn thất toàn bộ = Tỷ lệ phí x Số tiền bảo hiểm

Tỷ lệ phí phụ thuộc vào độ tuổi, tầm vóc và trang thiết bị của tàu Tàu càng cũ, tầm vóc càng lớn, trang thiết bị kém hiện đại , phí càng cao

- Phí bảo hiểm cho tổn thất bộ phận

 Phụ phí: Phụ phí phân biệt theo các yếu tố sau;

+ Trọng tải hoặc sức kéo của con tàu

+ Phạm vi hoạt động của con tàu

+ Loại tàu

+ Tuổi tàu

+ Phẩm cấp phân loại tàu

Phụ phí bao gồm chi phí quản lý hành chính, chi phí tuyên truyền quảng cáo, chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, chi phí lạm phát làm mất giá trị đồng tiền Điều kiện bảo hiểm luôn là yếu tố quan trọng đối với mức phí bảo hiểm

 Việc đóng phí và hoàn phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm có thời hạn (thường là 1 năm) được chia ra làm nhiều kỳ, quy định trên hợp đồng bảo hiểm

Hoàn phí bảo hiểm trong các trường hợp sau:

- Chấm dứt hợp đồng theo thoả thuận, do tàu phải bán hoặc chuyển quyền khai thác sử dụng, tàu ngừng hoạt động lâu dài

- Tàu ngừng hoạt động một thời gian ngắn trong thời hạn của hợp đồng không sửa chữa, neo đậu an toàn tại cảng trong nước

- Tàu ngừng hoạt động để sửa chữa hoặc neo đậu tại cảng nước ngoài

2.1.9 Các loại hợp đồng bảo hiểm thân tàu

Hợp đồng bảo hiểm thân tàu (hợp đồng bảo hiểm) có thể được ký kết theo hai loại: Hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm thời hạn

Hợp đồng bảo hiểm chuyến: Khi một hợp đồng bảo hiểm thân tàu có bao gồm thuật ngữ

“tại và từ” hoặc từ một địa điểm này đến địa điểm khác thì gọi là hợp đồng bảo hiểm chuyến

Hợp đồng bảo hiểm thời hạn: Nếu một hợp đồng bảo hiểm cho một con tàu trong một thời gian nhất định từ 3 tháng đến 1 năm và thường là một năm thì gọi là hợp đồng bảo hiểm thời hạn

2.1.10 Thời hạn bảo hiểm

- Đối với hợp đồng bảo hiểm thời hạn:

Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực từ 24 giờ của ngày ký kết đến 24 giờ của ngày hết hạn hợp đồng trong trường hợp tàu hết hạn hợp đồng nhưng vẫn tiếp tục bảo hiểm nhưng vẫn trên đường hành trình thì người bảo hiểm vẫn tiếp tục bảo hiểm cho đến khi chấm dứt hành trình và yêu cầu tàu đóng thêm phí bảo hiểm

- Đối với hợp đồng bảo hiểm chuyến:

Hợp đồng bảo hiểm “Tại và từ”: Có hiệu lực bắt đầu tàu được bảo hiểm vào phạm vi địa phận cảng “Tại và từ” một cách khá an toàn và với ý đồ thực hiện cuộc hành trình và kết thúc lúc 24 giờ khi tàu neo tại cảng đến

Hợp đồng bảo hiểm “Tại và từ”: Có hiệu lực từ khi tàu khởi hành ở cảng quy định để thực hiện cuộc hành trình đã ghi trong hợp đồng và kết thúc lúc 24 giờ khi tàu neo ở cảng đến

Cần phải lưu ý rằng: Hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên kết thúc khi tàu đi chệch hướng, thay đổi cờ tàu, thay đổi quyền sở hữu tàu

2.2 Phạm vi bảo hiểm thân tàu

Trang 14

Những rủi ro được bảo hiểm thường là 4 rủi ro chính, 3 rủi ro thông thường và rủi ro riêng

về chiến tranh Ngoài ra, theo đặc thù của hoạt động kinh doanh, khai thác tàu biển người bảo hiểm còn đề ra các rủi ro có thể được bảo hiểm Đó là những rủi ro nếu không khai báo kịp thời để mua bảo hiểm thì chúng là rủi ro loại trừ

Theo thực tiễn bảo hiểm thân tàu của Anh, Mỹ và Phần Lan, thân tàu thường được bảo hiểm theo các điều kiện sau:

i) Bảo hiểm mọi rủi ro

ii) Bảo hiểm tổn thất toàn bộ và tổn thất bộ phận

iii) Bảo hiểm tổn thất toàn bộ

Ngoài ra còn có thể có những hình thức bảo hiểm thân tàu khác như chỉ bảo hiểm tổn thất toàn bộ thực tế, chỉ bảo hiểm tổn thất bộ phận…

Thực tiễn bảo hiểm của Canada và Ấn Độ cho thấy thân tàu thường được bảo hiểm theo các điều kiện sau:

i) Bảo hiểm tổn thất toàn bộ và tổn thất bộ phận

ii) Bảo hiểm tổn thất bộ phận

iii) Bảo hiểm tổn thất toàn bộ

Tại Việt Nam, các công ty bảo hiểm thường nhận bảo hiểm thân tàu theo điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro và bảo hiểm tổn thất toàn bộ (quy tắc bảo hiểm thân tàu của Bảo Việt, Bảo Minh)

2.3 Tai nạn đâm va và cách giải quyết

+ Hai tàu cùng có lỗi:

Mỗi bên phải chịu trách nhiệm về thiệt hại của tàu bên kia do lỗi của mình gây nên tùy theo mức độ sai sót nhiều hay ít Thường mức độ lỗi được xác định: 1/5, 1/4, 1/3, 1/2, 3/4

2.3.2 Trách nhiệm của bảo hiểm thân tàu trong tai nạn đâm va

- Trách nhiệm với con tàu được bảo hiểm bị đâm va:

+ Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất vật chất của chính con tàu được bảo hiểm gọi tắt là tổn thất đâm va gồm: vỏ tàu, máy móc, trang thiết bị

+ Bảo hiểm thân tàu không chịu trách nhiệm về thiệt hại kinh doanh của tàu được bảo hiểm, thiệt hại về hàng hóa chuyên chở, thiệt hại về người

- Trách nhiệm với con tàu bị tàu được bảo hiểm đâm va:

+ Là trách nhiệm của bảo hiểm bồi thường cho bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu được bảo hiểm đối với các chủ tàu khác bị đâm va theo lỗi mà họ gây nên gọi tắt là trách nhiệm đâm va Trách nhiệm này bao gồm:

+ Tổn thất, thiệt hại vật chất của chiếc tàu bị đâm va

+ Tổn thất và thiệt hại về tài sản, hàng hóa tàu bị đâm va

+ Thiệt hại về kinh doanh tàu đâm va

+ Ngoài ra nếu có tổn thất chung, chi phí cứu hộ của tàu bị đâm va do tai nạn đâm va gây

ra thì chủ tàu đâm va cũng phải gánh chịu vì những chi phí này thực tế làm giảm bớt những tổn thất cho tàu bị đâm va

2.3.3 Giới hạn trách nhiệm của bảo hiểm thân tàu đối với tai nạn đâm va

Trang 15

Bảo hiểm chỉ bồi thường 3/4 trách nhiệm đâm va và không được vượt quá 3/4 số tiền bảo hiểm thân tàu

Số tiền bồi thường = 3/4 trách nhiệm đâm va ≤ 3/4 số tiền bảo hiểm

Còn lại 1/4 trách nhiệm đâm va, chủ tàu gánh chịu với lý do là để chủ tàu thận trọng hơn trong điều hành tàu, tránh tai nạn đâm va

2.3.4 Giới hạn trách nhiệm của chủ tàu trong tai nạn đâm va

Trong thực tế, khi tai nạn đâm va xảy ra thì không phải chủ tàu nào cũng đủ khả năng để bồi thường tổn thất cho tàu bị đâm va, nhất là trong trường hợp tàu nhỏ đâm va với tàu lớn Trong trường hợp như vậy, các chủ tàu nhỏ sẽ rơi vào tình trạng bị phá sản vì phần trách nhiệm vượt quá khả năng tài chính của mình

Để bảo vệ quyền lợi cho các chủ tàu, nhất là đối với các tàu nhỏ, luật ở một số nước đưa

ra mức giới hạn trách nhiệm cho chủ tàu Đó là số tiền tối đa mà chủ tàu phải gánh vác trong trách nhiệm đâm va Mức giới hạn này được xác định theo độ lớn của tàu, thường được tình bằng tấn dung tích đăng ký toàn phần GRT (Gross Registered Tonnage) hoặc giá trị con tàu

2.3.5 Tính toán thiệt hại đâm va theo trách nhiệm chéo

Điều kiện để giải quyết theo trách nhiệm chéo là:

- Hai tàu cùng có lỗi và cùng gây ra tổn thất cho nhau

- Hai tàu không vận dụng giới hạn trách nhiệm của chủ tàu

Thông thường, các đơn bảo hiểm nếu không đề cập đến vấn đề giải quyết trách nhiệm đâm va, thì người ta đều vận dụng phương pháp trách nhiệm chéo

2.3.6 Tính toán thiệt hại đâm va theo trách nhiệm đơn

Điều kiện để giải quyết theo trách nhiệm này là:

- Hai bên chủ tàu cùng có lỗi và cùng gây ra tổn thất cho nhau

- Một trong hai chủ tàu xin giới hạn trách nhiệm để được quyền bồi thường ít hơn

Theo cách giải quyết này, bên chủ tàu nào phải bồi thường trách nhiệm đâm va nhiều hơn theo lỗi và mức độ gây thiệt hại gây ra sẽ phải bồi thường cho chủ tàu kia Số tiền bồi thường là chênh lệch giữa trách nhiệm đâm va của hai chủ tàu

2.4 Giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm thân tàu

2.4.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp

- Giải quyết tranh chấp hợp đồng đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng bằng một phương thức chọn lựa phù hợp để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, vừa đảm bảo trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, giáo dục được ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần chủ động ngăn ngừa các vi phạm hợp đồng

- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp hợp đồng phải đảm bảo nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật

- Quyết định giải quyết các tranh chấp hợp đồng phải có tính khả thi cao, thi hành được và quá trình giải quyết phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp

- Tranh chấp hợp đồng có thể được giải quyết bằng các phương thức khác nhau: hòa giải, trọng tài hay Tòa án

- Các bên tranh chấp có thể chọn lựa một phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng phù hợp hoặc sử dụng phối hợp nhiều phương pháp

2.4.2 Luật áp dụng giải quyết tranh chấp

- Trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp là trọng tài: Pháp luật các nước, các điều ước quốc tế về trọng tài và quy tắc trọng tài của các tổ chức trọng tài trên thế giới đều cho phép, khuyến khích các bên chủ thể thỏa thuận về luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung khi sử dụng con đường giải quyết tranh chấp là trọng tài

- Trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp là tòa án: Tư pháp quốc tế của nước có tòa án

sẽ là cơ sở để xem việc thỏa thuận chọn luật áp dụng của các bên có hợp pháp hay không

Ngày đăng: 16/06/2016, 05:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w