Các chuyên gia quốc tế OECD, USAID, v.v… cũng phân tích cách thức điều hành bằng các quy định của chính phủ và thấy có ba vấn đề: i chức năng hoạch định chính sách; ii phối hợp chính sác
Trang 1BA ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC:
SUY NGHĨ TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
GS Nguyễn Quang Thái
Tại Đại Hội lần thứ XI của Đảng (2011) đã thông qua Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội với ba đột phá chiến lược:
(1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính
(2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ
(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.Dưới đây, xin trình bày mấy vấn đề kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam với ba đột phá chiến lược nêu trên
1 Thể chế kinh tế
Thể chế kinh tế 130 là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế kinh tế - xã hội, tồn tại bên cạnh các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế giáo dục, v.v… Thể chế kinh tế nói chung gồm một hệ thống các luật lệ và quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế Nó bao gồm các yếu
tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài về xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản
lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh,
cơ chế vận hành nền kinh tế
130Có thể xem thêm Geoffrey Hodgson (2006) “What Are Institutions?”, Journal of Economic
Issues, XL:1, 1-25 và các tác giả khác.
Trang 2Thể chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy
tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường Theo định nghĩa này, có thể thấy Thể chế kinh tế thị trường bao gồm:
(1) “Người chơi”: các bên tham gia thị trường với tư cách là các
chủ thể thị trường, thực hiện các hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường theo các quy định
(2) “Luật chơi”: cách thức thực hiện các quy tắc, luật lệ nhằm
đạt được mục tiêu hay kết quả mà các bên tham gia thị trường mong muốn
(3) “Sân chơi”: các thị trường - nơi hàng hóa được giao dịch, trao
đổi trên cơ sở các yêu cầu, quy định của luật lệ (các thị trường quan trọng như hàng hóa và dịch vụ, vốn, lao động, công nghệ, bất động sản, v.v…)
Thể chế kinh tế hiện đang là một khâu “yếu kém” nhất, cản trở nhất cho sự phát triển kinh tế ở nước ta, cần có những đột phá mang tính chiến lược, như đã thực hiện 30 năm trước qua khoán hộ trong nông nghiệp và các lĩnh vực khác Tuy nhiên, muốn đột phá mới không phải
dễ Thể chế kinh tế cần làm rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân, nhưng hiện đó lại là khâu yếu kém trước hết do cản trở về tư duy phát triển Hãy phân tích một số bất cập trong thể chế:
Về quan hệ Nhà nước và xã hội, người dân: do định kiến mơ hồ coi
kinh tế Nhà nước chủ đạo, dẫn tới tình trạng bất bình đẳng trong kinh doanh Hơn thế, có người vẫn nghĩ trong Hiến pháp chỉ cần quy định các quyền và nghĩa vụ của người dân khi chịu sự quản lý của Nhà nước,
mà “quên” không quy định rõ cả các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, được người dân “ủy nhiệm” và “giao việc” thực hiện chức năng quản lý
Do đó, thực hiện trong thực tế, dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền Thêm vào đó, tình trạng tham nhũng, cửa quyền, hành dân, v.v… phổ biến và nghiêm trọng hiện nay nên các cơ quan chính quyền và tổ chức Đảng nhiều nơi đã bị mất tín nhiệm, do lời nói chưa đi đôi với việc làm, nhiều
sự kiện cho thấy tự coi các cơ quan công quyền và công chức đang đứng
Trang 3trên dân chứ không phải “phục vụ” dân, thậm chí còn định ra nhiều luật
lệ và quy định hành dân, mất lòng dân Thậm chí dù đã ban hành rất nhiều luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, v.v…vẫn thiếu tính khả thi
Về bình đẳng của người dân và vấn đề đất đai: những khác biệt
trong tư duy phát triển, không chấp nhận bình đẳng giữa các thành phần kinh tế nên càng khó thực hiện quyền dân chủ thực tế trong lĩnh vực phát triển kinh tế Cũng vậy, trong vấn đề cụ thể về đất đai cũng
có những bất cập Hiến pháp chỉ coi đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mà không phân biệt các phạm trù khác nhau về đất đai Khi đất đai là lãnh thổ - Tổ quốc thì đất đai là thống nhất và bất khả xâm phạm Khi đất đai
là nguồn tài nguyên khan hiếm thì cần được phân bổ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm Khi người dân đã đầu tư ít nhiều vào phần đất đai được phép khai phá thì trong đất đai lúc đó đã hàm chứa như một tài sản nhất định,
do đó người dân cần có quyền sở hữu (có giới hạn) đối với đất đai đó trong nền kinh tế thị trường, trước hết là quyền định đoạt và các quyền khác đã được luật định Nhưng vẫn thiếu hành lang pháp lý bình đẳng cho người dân tự do kinh doanh, trong khi các cơ quan Nhà nước lại thích dùng các mệnh lệnh hành chính hơn là tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của mọi người dân
Để hoàn thiện thể chế, cần tham khảo kinh nghiệm thành công và chưa thành công của các nước
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), cải cách thể chế là tạo ra “các thay đổi nhằm nâng cao chất lượng thể chế” và đặc biệt chú trọng tới tác động của thể chế về mặt kinh tế Cải cách thể chế rộng hơn nhiều so với cải cách hành chính, cải cách pháp lý và các loại cải cách khác ở chỗ cải cách thể chế bắt đầu bằng việc xác định mối quan hệ và vai trò nên có giữa Nhà nước và xã hội Nói cách khác, cải cách thể chế xác định tính cần thiết và hình thức can thiệp của Nhà nước, trong đó chú trọng tác động của can thiệp đối với xã hội và nền kinh tế Hành động can thiệp chỉ là công cụ Chính cải cách thể chế mới giúp xác định liệu quyết định can thiệp có cần thiết hay không và nên can thiệp như thế nào để có hiệu quả nhất
Trang 4Trong một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho năm
2012 về đánh giá trình độ phát triển các nước theo các chỉ tiêu của kinh
tế tri thức KEI thì vấn đề thể chế kinh tế thị trường được xem là tiêu chí hàng đầu Kinh tế càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao thì dường như thể chế kinh tế cũng được coi trọng hơn (thang điểm 10):
Hạng Các nền kinh tế KEI Chỉ số kinh tế tri thức Thể chế kinh tế công nghệ Đổi mới Giáo dục ICT
Thu nhập cao 8,60 8,39 9,16 8,46 8,37 Thu nhập trung bình cao 5,10 5,18 6,21 4,72 4,28 Thu nhập trung bình thấp 3,42 3,32 4,90 2,84 2,62 Thu nhập thấp 1,58 1,61 2,13 1,54 1,05
Tuy Việt Nam được xếp hạng trung bình của các nước có thu nhập thấp, nhưng thể chế kinh tế đang là khâu yếu kém, thấp xa các nước thu nhập thấp, càng thấp xa các nước trung bình trên thế giới, dù việc ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông ICT là khá, thậm chí đạt mức cao hơn trung bình của các nước thế giới và các nước có thu nhập trung bình cao
Trang 5Các chuyên gia quốc tế (OECD, USAID, v.v…) cũng phân tích cách thức điều hành bằng các quy định của chính phủ và thấy có ba vấn đề: (i) chức năng hoạch định chính sách; (ii) phối hợp chính sách; (iii) tính chuyên nghiệp của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vốn được coi trọng trong các nền kinh tế phát triển lại thường chưa được quan tâm đúng mức ở các nước đang phát triển Hệ quả đã làm môi trường thể chế không thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân
Kinh nghiệm các nước về xây dựng thể chế cho thấy: trong những năm 1960, nhiều nhà nước trên thế giới, với hy vọng công nghiệp hóa,
đã can thiệp sâu rộng vào mọi khía cạnh của nền kinh tế Sự can thiệp quá đà này đã gây ra nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô, mà đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng nợ năm 1982 Như là hậu quả, “hình ảnh Nhà nước như là một yếu tố thay đổi” đã được biến thành “hình ảnh Nhà nước như là cản trở chính của phát triển” Rõ ràng, cần phải kiểm định các đặc tính nào của thể chế nhà nước mạnh mà có ích cho tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo Một số tác giả đã nhấn mạnh các vấn đề sau đây:
Năng lực thể chế: sự thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài
Loan là nhờ vào năng lực của toàn bộ hệ thống thể chế Nhà nước, trong một đất nước có nền dân trí khá cao Để xây dựng thể chế nhà nước tốt, các quốc gia này đã dựa vào việc tuyển chọn các nhân viên có năng lực, cam kết cho phát triển quốc gia và tạo cơ hội nghề nghiệp lâu dài như trong các tập đoàn kinh tế Hệ thống thể chế mạnh của các quốc gia này
đã điều phối các thành phần khác nhau trong nước, đàm phán hiệu quả với các đối tác nước ngoài Từ đó tạo ra năng lực nội sinh của nền kinh
tế và chủ động hấp thu có kết quả các nguồn lực đa dạng từ bên ngoài Cũng vậy, việc quản lý hiệu quả viện trợ nước ngoài, thương mại quốc
tế, đầu tư tư bản và các khoản vay phụ thuộc rất lớn vào năng lực của thể chế nhà nước Vì thế, các quốc gia này đã tập trung khá tốt “vào năng lực của các thể chế nội địa để sử dụng nguồn lực ngoại nhập phục
vụ cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu ưu tiên của quốc gia”
Lựa chọn can thiệp: các quốc gia phát triển có thuận lợi lớn từ
năng lực quản trị mạnh của thể chế, và các nước này cũng hạn chế can
Trang 6thiệp của bộ máy vào các dự án mang tính chiến lược và chuyển đổi (ngay tên lửa đạn đạo tầm xa của Hoa Kỳ cũng được đặt hành cho hàng nghìn xí nghiệp giá công các chi tiết khác nhau, nhưng kiểm soát Nhà nước được nhấn vào việc cấm xuất khẩu bí mật ra nước ngoài) Ngược lại, ở các nước đang phát triển có năng lực Nhà nước yếu kém nhưng lại thường can thiệp một cách tràn lan dưới hình thức hành chính trực tiếp vào các hoạt động kinh tế nên thường ít thành công, trong khi lại góp phần cho các bất ổn kinh tế và cả những thất bại tăng trưởng của nền kinh tế Vì thế, Chính phủ ở các nước đang phát triển cần lựa chọn đúng mức với phạm vi hạn chế sự can thiệp của mình vào hoạt động kinh tế, tránh làm nền kinh tế bị méo mó và biến dạng vì năng lực yếu của bộ máy hoặc lợi ích nhóm
“Bén rễ” trong xã hội: nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến
sự gắn kết nhất quán của hệ thống hành chính công của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), v.v… Một mạng lưới các quan hệ xã hội giữa các thành viên đã tạo ra nền tảng cho sự tin tưởng và giúp cho quá trình chuẩn bị và ra quyết định tốt hơn Mạng lưới này giúp giảm chi phí hoạt động và giao dịch giữa Chính phủ, giới kinh doanh và các thành phần xã hội khác Nó gắn kết Nhà nước với xã hội và cung cấp các kênh được thể chế hóa cho quá trình đàm phán và tái đàm phán về các vấn đề liên quan đến chính sách và phát triển Có những tác giả cho rằng, một nền chính trị cố kết, cấu trúc quyền lực có chủ đích và tập trung thường được “ăn sâu bén rễ” vào trong xã hội như là một điều kiện tất yếu cho thành công của các thể chế nhà nước Chính sự hòa nhập và bám rễ này đã đảm bảo xã hội dân sự gắn kết trong bộ ba kinh
tế thị trường, Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, trở thành một phần của giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Cởi mở và tính trách nhiệm: tiềm năng tăng trưởng kinh tế và
xóa đói giảm nghèo phụ thuộc rất lớn vào Nhà nước và các thể chế xã hội Một trong những yếu tố cần phải được nhận ra đó là tính minh bạch
và trách nhiệm giải trình của các thể chế nhà nước Trong báo cáo phát triển của mình, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) nhấn
Trang 7mạnh đến tầm quan trọng của việc xây dựng các thể chế minh bạch và các cơ chế tham gia dân chủ Đây chính là điều kiện cho các thể chế của nhà nước triển khai các chính sách hiệu quả, không bị tham nhũng hoặc lạm dụng quyền hành Kết quả sẽ là cải thiện trong việc cung cấp dịch
vụ công của Chính phủ và thúc đẩy tăng trưởng của thành phần kinh tế
tư nhân
Tuy nhiên, việc xây dựng thể chế nhà nước là một nhiệm vụ khó khăn cho các quốc gia đang phát triển cho dù có ủng hộ và tài trợ của các nhà tài trợ song phương, các tổ chức đa phương và phi chính phủ quốc tế Cải tổ thể chế có nghĩa là động chạm đến hầu hết các khía cạnh của lĩnh vực công trong khi nguồn lực để triển khai luôn có giới hạn Thể chế của các nước đang phát triển rất yếu, dễ bị đổ vỡ và không hoàn thiện Quá trình ra quyết định về cải cách thể chế lại thường bị hạn chế bới các yêu cầu của các nhà tài trợ với các mục đích khác nhau Các nhân viên làm cho Chính phủ được hình thành từ nhiều nguồn, nên có thể xem là ít được đào tạo theo đúng yêu cầu của cải cách Xã hội dân
sự còn manh mún, chia rẽ và khả năng tham gia hiệu quả cũng rất hạn chế Một thách thức nữa đó là lợi ích nhóm dẫn đến những tranh chấp cản trở quá trình cải cách thể chế Các nhóm lợi ích thường thúc đẩy hoặc cản trở một chính sách cải tổ nào đó tùy thuộc vào việc đó có lợi hay gây hại cho lợi ích của họ Trong nhiều trường hợp, các nhóm lợi ích đã thành công trong việc cản trở chính sách cải tổ Các nhóm lợi ích khác nhau thu được lợi trong ngắn hạn cũng có thể sẽ tìm mọi cách để cản trở cải tổ cho dù cải tổ đó có thể mang lại lợi ích tuyệt đối lớn hơn cho họ trong dài hạn Như vậy, để cải tổ thành công thì phải thắng được các phản đối về cả kinh tế lẫn chính trị của các lợi ích riêng lẻ, ngắn hạn Thể chế phải được xây dựng bởi một quá trình nội sinh Không thể áp đặt việc xây dựng thể chế bằng ý chí chủ quan từ bên trên hoặc áp đặt từ bên ngoài, nếu không, thể chế sẽ không bền vững và dễ thích nghi với nhu cầu của người dân và xã hội và các biến động của thời cuộc Các nhà nghiên cứu cũng thấy không có một “khuôn mẫu” hoặc
“cách làm phổ quát” cho việc xây dựng thể chế Tùy vào mỗi quốc gia
Trang 8xây dựng và triển khai quá trình cải cách thể chế cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu của mình Đặc biệt nhấn mạnh đến kỷ luật, kỷ cương thực hiện các quy định của thể chế đã ban hành, tránh tùy tiện.
Nhiều nhà nghiên cứu đã phê phán sự áp đặt bất cứ một mô hình thể chế nào lên các quốc gia bởi các nhà tài trợ đa phương hay song phương Đáng lưu ý là nhận xét cho rằng mô hình thể chế của các nước phương tây là không phù hợp vì sự khác biệt về văn hóa, chính trị và điều kiện kinh tế Điều quan trọng là phải cổ xúy cho việc cải cách thể chế nhằm giúp cải thiện được năng lực của công dân, các nhóm xã hội
tự ra quyết định cho mình hơn là thỏa mãn nhu cầu của các nhà tài trợ bên ngoài Gần đây, một số tổ chức tài chính quốc tế khi tổng kết việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ MDG đã cổ xúy cho quan điểm về
tăng trưởng “bao trùm” (inclusive growth)131, tạo cơ hội phát triển cho tất cả mọi người, trong đó có người nghèo
Xây dựng thể chế có sự tham gia rộng rãi (kể cả phúc quyết Hiến pháp) sẽ là điều kiện để ứng phó mềm dẻo hơn với các bất ổn của môi trường kinh doanh quốc tế và trong nước, bảo vệ lợi ích cốt lõi của người dân Đây là quá trình từng bước hoàn thiện thể chế, không thể làm một lần là hoàn thiện
Kinh nghiệm như Nhật Bản cũng đã từng bước xây dựng các thể chế đảm bảo phát triển xã hội132 Chính quyền mới của Nhật đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp, cam kết trách nhiệm xã hội lớn hơn từ phía chính quyền như: Luật Trợ giúp quốc gia năm 1946 (mở rộng tiêu chuẩn và đối tượng được nhận trợ cấp nghèo khổ), Luật Phúc lợi trẻ em năm 1947, Luật Phúc lợi dành cho người tàn tật năm 1948, Luật Chuẩn mực lao động năm 1947, Luật Bảo hiểm việc làm năm 1947 và Luật Đền bù cho người lao động năm
1947 Cùng với sự hồi phục kinh tế vào những năm 1950 và 1960, chế
độ phúc lợi ở Nhật Bản ngày càng được mở rộng Các đạo luật mới về chế độ đảm bảo xã hội cũng được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung trong
131 Framework of Inclusive Growth Indicators 2012 và 2013 của ADB
132 Xem Trương Hồng Quang (2010): Kinh nghiệm Nhật Bản trong xây dựng thể chế.
Trang 9giai đoạn này như: Luật Bảo hiểm y tế quốc gia năm 1958, Luật Hưu trí quốc gia năm 1959 (hai luật này quy định theo hướng mọi người dân Nhật đều được quyền tham gia chương trình bảo hiểm y tế quốc gia và bảo hiểm hưu trí quốc gia) Nói cách khác, nhờ quy định của hai đạo luật này, chế độ bảo hiểm toàn dân về y tế và hưu trí đã được thiết lập Cũng trong thời gian đầu thập niên 1960, Nhật Bản đã ban hành Luật Phúc lợi đối với người mắc bệnh tâm thần (năm 1960), Luật Phúc lợi cho người già năm 1963, Luật Phúc lợi cho bà mẹ và trẻ em (năm 1964), Luật Trợ cấp nuôi trẻ em do cha mẹ ly hôn hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (chẳng hạn bị khuyết tật) năm 1964, v.v…
Tỷ lệ chi tiêu cho các chương trình phúc lợi xã hội ở Nhật Bản cũng đã tăng đáng kể trong những năm 1970 và 1980 từ mức 6% tổng thu nhập quốc dân năm 1970 lên mức 18% vào năm 1989 Năm 2000, tổng chi phí cho các chương trình bảo đảm xã hội ở Nhật lên tới 78,127 ngàn tỷ Yên (tương đương khoảng 800 tỷ USD) và con số ngày của năm
2004 là 85,647 ngàn tỷ Yên (tương đương khoảng 850 tỷ USD) Trong
số này, chi phí cho việc trả lương hưu chiếm khoảng 53,1%, chi phí cho các dịch vụ chăm sóc y tế chiếm khoảng 31,7% và các khoản mục khác (như bảo hiểm tai nạn lao động, trợ cấp cho các gia đình nuôi con, chi bảo hiểm thất nghiệp, v.v…) chỉ chiếm 15,1%
2 Nguồn nhân lực chất lượng cao
Kinh nghiệm quốc tế đều cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là một nhân tố của phát triển, mà còn có ý nghĩa quyết định đến năng lực nội sinh cho phát triển lâu dài133 Kinh nghiệm khôi phục sau chiến tranh của Nhật Bản, Hàn Quốc có thể đạt tốc độ phát triển thần
133 Thuật ngữ nguồn nhân lực (human resources) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX và sau đó xuất hiện chính thức trong Báo cáo hằng năm của UNDP khi đã có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người Từ đó cũng dẫn tới khái niệm
về nguồn lực con người (human capital).
Trang 10kỳ dù cơ sở hạ tầng bị tàn phá là do có nguồn nhân lực chất lượng cao đã không bị tiêu diệt trong chiến tranh Hơn thế, khi đất nước khó khăn, thì
do có nguồn nhân lực chất lượng cao, các nước này đã huy động và tạo
ra sức đột phá từ bên trong, ngay khi vốn vật chất còn rất thiếu thốn Vậy nguồn nhân lực này có những tiêu chí quan trọng gì cần bảo đảm cho phát triển dài hạn Các quy định này không thể là cứng nhắc
mà cần biến chuyển, tiến hóa theo thời gian Chẳng hạn khi so sánh trình độ phát triển nguồn nhân lực qua giáo dục, các nhà nghiên cứu của UNDP trong nhiều năm chỉ dùng chỉ tiêu biết chữ Nhưng sau 2008, UNDP đã sử dụng thước đo mới là số năm đã đi học và số năm dự kiến
đi học để đo chất lượng nguồn nhân lực tốt hơn cùng với thu nhập và tuổi thọ Hằng năm UNDP lập các báo cáo về phát triển nguồn nhân lực
và đưa ra chỉ số HDI rất nổi tiếng Rất tiếc là chỉ số này của nước ta còn rất thấp, được xếp ngoài thứ hạng dưới 100134
Stivastava M/P (Ấn Độ) trong cuốn “Human resource planning:
Approach needs assessments and priorities in manpower planning”;
NXB Manak New Delhi 1997, đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế như sau: “nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mọi cá nhân
sở hữu Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới dạng một nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được gắn vào quá trình lao động sản xuất Do vậy, các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng, v.v… để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào con người”
134 Theo UNDP Human Development Report 2013, Việt Nam được xếp hạng thứ 127 (thuộc nhóm nước có HDI trung bình, nhưng dưới Trung Quốc thứ 101, Thái Lan thứ 103, Philippines
114, Indonesia thứ 121, v.v… ) trong số 187 nước có so sánh Phải vượt qua nhóm nước có HDI cao (47 nước, trong đó Malaysia thứ 64) và nhóm nước có HDI rất cao (47 nước, trong đó
có Nhật Bản thứ 10, Hàn Quốc thứ 12, Singapore thứ 18, Brunei thứ 30) Đây là chặng đường dài.
Trang 11Trên cơ sở định nghĩa trên, tác giả đã chỉ ra những lợi ích lớn của đầu tư vào nguồn nhân lực gồm:
- Đầu tư vào nguồn nhân lực có tỷ lệ thu hồi vốn cao, do vốn nhân lực càng được sử dụng nhiều thì giá trị gia tăng càng tăng lên, càng tạo
ra nhiều thu nhập Vốn nhân lực không mang đặc điểm có tính quy luật như các nguồn vốn khác, đó là khấu hao vốn đã đầu tư vào các tài sản
và loại hình vật chất khác;
- Đầu tư vào vốn nhân lực không gây áp lực về khối lượng vốn lớn cần huy động trong khoảng thời gian ngắn, do quá trình đầu tư dài và sau khi đã đầu tư thì vốn nhân lực tự duy trì và phát triển lên;
- Hiệu ứng lan tỏa của đầu tư vào vốn nhân lực là rất lớn, tạo ra những đột biến không lường trước được đối với phát triển kinh tế, do đặc điểm của vốn nhân lực là mang tính sáng tạo, tự phát huy tiềm năng
mà các nguồn vốn khác không có
Để phát triển nguồn nhân lực, Hoa Kỳ rất coi trọng môi trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực, cả trong và ngoài nước Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ - nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thu hút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, bác học giỏi
từ châu Âu và nhiều nước khác đã nhập cảnh vào Mỹ Thực tế này trả lời cho câu hỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực
Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc xác định rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển, chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản, Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục - đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu Theo đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất
cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí Kết quả
là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc giáo
Trang 12dục của thế giới Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm.Tại Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Đây là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia này Năm 1950, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương xóa mù chữ cho toàn dân Những năm sau đó, hệ thống giáo dục dần được đẩy mạnh như: phát triển giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học (năm 1960); các trường dạy nghề kỹ thuật (năm 1970); đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ, nâng cao chất lượng giáo dục và học suốt đời Năm 1992, Hàn Quốc thực hiện cải cách giáo dục với mục tiêu tái cấu trúc hệ thống giáo dục hiện có thành một hệ thống giáo dục mới, bảo đảm cho người dân được học suốt đời Tháng 12/2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ nhất về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 Tiếp đó, Chiến lược quốc gia lần thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng và thực hiện hiệu quả Nội dung chính của các chiến lược này đề cập sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng
và phát triển thị trường tri thức
Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức Năm
2003, Trung Quốc đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện
Trang 13xã hội khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc Nội dung của chiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học.
Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhân lực Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này chỉ với 5 triệu dân và 700 km2 đã rất thành công trong việc xây dựng một đảo quốc có trình độ dân trí cao và hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu châu Á và luôn luôn xếp trong danh sách đầu về phát triển nguồn nhân lực, về kinh tế tri thức Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng của mình Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học - công nghệ mới vào giảng dạy, chương trình đào tạo của Singapore luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thống văn hóa dân tộc Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Singapore miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng Nhà nước Singapore chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực, có chính sách tín dụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế đặt chi nhánh
Tại Cộng hòa Séc, tuy có quy mô nhỏ bé, nhưng để đón trước cơ hội và thúc đẩy hội nhập thành công vào Liên minh châu Âu (EU), Séc
đã xây dựng và hoàn thành Chiến lược phát triển nguồn nhân lực (tháng