Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương là bệnh viện hạng II tuyến tỉnh, với quy mô công suất hiện tại là 49 khoa phòng có 936 giường bệnh lưu lượng người đến khám từ 300-350 người ngày, vào đi
Trang 1BỆNH VIÊN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên Khoá học : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là thời gian quan trọng trong quá trình đào tạo kỹ
sư trong các trường đại học nhằm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp
với chuyên đề: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương”
Trong quá trình nghiên cứu và viết khóa luận em đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn của nhiều tập thể cá nhân trong và ngoài trường
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nhất là các thầy cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên là những người đã hướng dẫn truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong những năm tháng học tập tại trường Đồng thời em xin cảm ơn các bác, cô chú, anh chị cán bộ, công chức tại Chi cục Bảo vệ Môi trường – Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc cung cấp những thông tin cũng như đóng góp ý kiến có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu giúp em hoàn thành khóa luận Đặc biệt em xin chân thành cảm
ơn sâu sắc tới cô giáo Đỗ Thị Lan Phó Giáo sư, tiến sĩ khoa Môi Trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày ….tháng năm 2015
Vũ Quang Linh
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tổng lượng chất thải bệnh viện tại một số nước trên thế giới
(kg/giường/ngày) 14
Bảng 2.2: Các loại chất thải rắn đặc thù phát sinh từ hoạt động y tế 15
Bảng 2.3: Nguồn gốc phát sinh chất thải tại bệnh viện 16
Bảng 2.4: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 16
Bảng 2.5: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 17
Bảng 2.6: Thành phần trong CTR từ các bệnh viện đa khoa 18
Bảng 4.1 : Các yếu tố phát sinh chất thải rắn 29
Bảng 4.2 Thành phần rác thải y tế 30
Bảng 4.3: Lượng rác thải trung bình theo tháng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương 31
Bảng 4.4: Tổng lượng rác thải nguy hại phát sinh qua các tháng 32
Bảng 4.5: Lượng rác thải nguy hại phát sinh tại các khoa của bệnh viện 33
Bảng 4.6: Khối lượng từng loại rác thải nguy hại tại bệnh viện 34
Bảng 4.7: Dụng cụ lưu trữ, thu gom, vận chuyển chất thải bệnh viện 40
Bảng 4.8: Nguồn nhân lực thu gom, vận chuyển chất thải 41
Bảng 4.9: Thời gian hấp trong quy trình tiệt khuẩnbằng phương pháp hấp ướt 41
Bảng 4.10: Phân tích khí ở lò đốt thứ nhất 43
Bảng 4.11: Phân tích khí ở lò đốt thứ hai 44
Bảng 4.12: Phân tích khí ở lò đốt thứ ba 44
Bảng 4.13: Hiểu biết về quy chế quản lý chất thải y tế 45
Bảng 4.14: Hiểu biết về mã màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế 46
Bảng 4.15: Hiểu biết và nhận thức của nhân viên về quản lý rác thảicủa bệnh viện 48
Bảng 4.16: Hiểu biết về công tác quản lý chất thải của bệnh viện 49
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế trong bệnh viện 8
Hình 2.2: Sơ đồ phân luồng chất thải trong các bệnh viện trước khi xử lý 20
Hình 4.1: Khối lượng rác thải y tế phát sinh qua các tháng 33
Hình 4.2: Lượng rác thải y tế phát sinh tại các khoa của bệnh viện 34
Hình 4.3: Tỷ lệ các loại rác thải y tế của bệnh viện 35
Hình 4.4: Sơ đồ phân loại chất thải tại bệnh viện 36
Hình 4.5: Sơ đồ hệ thống xử lí rác 37
Hình 4.6: Hiểu biết của nhân viên về quy chế quản lý chất thải y tế 46
Hình 4.7: Tỷ lệ hiểu biết mã màu sắc dụng cụ đựng chất thải 47
Trang 5DANH MỤC CÁC ĐỘNG TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
QĐ : Quy định BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường NĐ-CP : Nghị định – Chính phủ CTR : Chất thải rắn
BV : Bệnh Viện
TW : Trung ương
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Các khái niệm liên quan 4
2.1.2 Xử lí chất thải 7
2.2 Nguồn phát sinh 7
2.3 Tác hại của chất thải rắn 9
2.3.1 Chất thải rắn làm giảm mỹ quan bệnh viện 10
2.3.2 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường không khí 10
2.3.3 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường đất 11
2.3.4 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường nước 11
2.4 Cơ sở pháp lí của đề tài 12
2.5 Thực trạng công tác thu gom xử lý chất thải y tế 13
2.5.1 Thực trạng công tác thu gom xử lý chất thải y tế trên thế giới 13
2.5.2 Thực trạng công tác thu gom xử lí chất thải tại Việt Nam 14
2.6 Hiện trạng công tác thu gom xử lí chất thải rắn của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hải Dương 21
2.6.1 Về thủ tục hành chính 21
2.6.2 Đánh giá công tác thu gom, xử lý chất thải rắn: 22
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
Trang 73.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Các phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp điều tra nội nghiệp (Thu thập, xử lý số liệu thứ cấp) 25
3.4.2 Phương pháp kế thừa 26
3.4.3 Phương pháp chuyên gia 26
3.4.4 Phương pháp so sánh 26
3.4.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 26
3.4.6 Phương pháp xác định lượng rác thải phát sinh 26
3.4.7 Phương pháp lấy mẫu khí Error! Bookmark not defined PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1 Một số đặc điểm chính, tổng quan về Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Hải Dương 28
4.2 Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải tại Bệnh viện 29
4.2.1 Nguồn rác thải phát sinh: 29
4.2.2 Khối lượng chất thải rắn của Bệnh viện: 31
4.2.3 Công tác phân loại chất thải nguy hại tại bệnh viện 36
4.3.4 Tình hình thu gom, lưu trữ, vận chuyển rác thải tại bệnh viện: 38
4.4 Đánh giá thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện 42
4.4.1 Thực trạng xử lí chất thải rắn tại Bệnh viện 42
4.4.2 Chất thải rắn thông thường 42
4.4.3 Chất thải nguy hại 42
4.5 Hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân về tình hình rác thải y tế của bệnh viện 45
4.5.1 Đối với cán bộ nhân viên bệnh viện 45
4.5.2 Đối với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 48
4.6 Những hạn chế trong công tác kiểm soát chất thải rắn của Bệnh viện 50
Trang 84.7 Đề xuất các biện pháp xử lí 50
4.7.1 Biện Pháp quản lí nội vi 51
4.7.2 Biện pháp về quản lí môi trường 52
4.7.3 Biện pháp nâng cao công tác phân loại, thu gom, vận chuyển 54
4.7.4 Biện pháp về công nghệ 55
4.7.5 Biện pháp nâng cao công nghệ xứ lý chất thải rắn y tế không đốt 56
PHẦN 5 KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là bệnh viện
đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải nguy hại Theo tổ chức y tế thế giới, trong thành phần của chất thải rắn bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị Đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh ra khu vực xung quanh
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương là bệnh viện hạng II tuyến tỉnh, với quy mô công suất hiện tại là 49 khoa phòng có 936 giường bệnh lưu lượng người đến khám từ 300-350 người ngày, vào điều trị trung bình khoảng 500 người ngày, số lượng cán bộ,
Do đó lượng chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động khám chữa bệnh cũng tương đối lớn, việc quản lý chất thải rắn nguy hại nếu không tuân thủ tốt theo các quy định thì sẽ gây ra những hậu quả khó lường
Trong những năm qua Bệnh viện đã triển khai nhiều hoạt động để quản
lý và xử lý chất thải để giảm thiểu những tác động đến môi trường, đảm bảo sự hài lòng của người dân sống xung quanh cũng như người bệnh đến điều trị Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế trong công tác thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương Vì vậy, em xin
chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử
lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương”
Trang 10- Số liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác và khách quan
- Đánh giá được thực trạng công tác thu gom, quản lý rác thải và nước thải tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
- Các giải pháp đưa ra phải có tính thực tiễn cao và phù hợp với điều kiện của Bệnh viện
1.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Trang 11- Đánh giá được hiện trạng quản lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm chất thải y tế
- Khái niệm:
+ Khái niệm về chất thải
Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài ra còn phát sinh ra trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ Chất thải là kim loại, hoá chất
và từ các loại vật liệu khác
Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa.[1]
+ Các khái niệm về chất thải y tế
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, cơ sở nghiên cứu, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh và văn phòng Ngoài ra nó còn có thể bao gồm chất thải phát sinh từ các nguồn thứ yếu như những thứ tạo ra trong khi chăm sóc sức khỏe tại gia đình
1 Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
2 Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
Trang 133 Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ
6 Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [2]
2.1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 10 năm 2007 của
Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế dựa vào các đặc điểm
lý, hóa, sinh học, tính chất nguy hại thì chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm:
a) Chất thải lây nhiễm, gồm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn (bơm kim tiêm, dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh vỡ thủy tinh và các dụng cụ sắc nhọn khác được sử dụng trong hoạt động y tế…);
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm;
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm;
Trang 14b) Chất thải hóa học nguy hại, gồm:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không có khả năng sử dụng;
- Chất độc tế bào: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào, và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu;
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ các hoạt động nha khoa), cacdimi (pin, ắc quy), chì (tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị);
c) Chất thải phóng xạ:
Là chất thải có hoạt động riêng giống như các chất phóng xạ Tại các
cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm: chất thải rắn, lỏng, khí
- Chất thải phóng xạ rắn, gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị, như : gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ
- Chất thải phóng xạ lỏng, gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ khí, gồm: các chất khí lâm sàng như: 113Xe Các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…
d) Bình chứa áp xuất:
Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng
O2, CO2, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần Các bình này dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng
e) Chất thải thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tố lây
nhiễm, hóa học, nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ gồm:
- Chất thải phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng cách ly);
Trang 15- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế (chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh)
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon…[2]
Trang 16Phòng bệnh nhân truyền nhiễm
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy hoàn toàn
Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:
+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (bông, băng,
Trang 17gạc); chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm ); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan,bộ phận cơ thể người, rau thai, bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế), chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế
bị vỡ)
+ Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại):
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng
2.3 Tác hại của chất thải rắn
*Tác hại của chất thải rắn của bệnh viện đối với sức khỏe cộng đồng
Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn Chúng ta đang đối mặt với nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm, dịch hại nguy hiểm do môi trường đang bị ô nhiễm đặc biệt là môi trường trong bệnh viện nơi luôn ẩn nấp những mối nguy hiểm bùng phát dịch bệnh
Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn…do chất thải rắn gây ra Đội ngũ lao động của các đơn vị
Trang 18làm vệ sinh trong bệnh viện phải làm việc trong điều kiện ô nhiễm, các loại vi trùng, siêu vi trùng, nhất là trứng giun, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ
Tại các buồng, kho chứa chứa rác thải nếu không áp dụng các kỹ thuật
xử lý thích hợp, cứ đổ dồn vào không có lớp lót, lớp phủ thì các buồng, kho chứa rác thải trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh
Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở lò đốt rác cũ là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người
2.3.1 Chất thải rắn làm giảm mỹ quan bệnh viện
Ngoài việc gây nguy hại đến sức khỏe con người thì rác thải rắn nói chung còn ảnh hưởng đến mỹ quan bệnh viện Nó mang lại những hình ảnh không đẹp trong con đường phát triển văn minh và hiện đại của bệnh viện
Chất thải rắn nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều là những nguy cơ gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan bệnh là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân xả rác bừa bãi ra lề đường không vứt rác đúng chỗ quy định vẫn còn rất phổ biến
2.3.2 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường không khí
Điều đáng lo ngại, CTR sinh hoạt có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu, cho nên dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu
cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí như CH 4, CO 2 Sự đốt rác tạo ra khí độc theo gió đi rất xa, tro có thể còn chứa chất độc làm ô nhiễm đất, nước và cây trồng
Trang 19Ngoài ra, ô nhiễm mùi sinh ra khi tồn trữ chất thải rắn trong thời gian dài giữa các khâu thu gom, trung chuyển và thải ra bãi rác nhất là ở những vùng khí hậu nóng do quá trình phân huỷ kỵ khí các chất hữu cơ dễ
bị phân huỷ có trong chất thải rắn sinh hoạt Ví dụ: trong điều kiện kỵ khí, sulfate có thể bị khử thành sulfide (S2-), sau đó sulfide kết hợp vói hydro tạo thành H2S
Vào mùa hè cũng như tất cả các mùa của những vùng có khí hậu ấm áp,
sự sản sinh ruồi nhặng ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm
Thông thường chu kỳ phát triển của ruồi ở khu dân cư từ trứng thành ruồi có thể biểu diễn như sau:
- Trứng phát triển: 8 - 12 giờ
- Giai đoạn đầu của ấu trùng: 20 giờ
- Giai đoạn thứ hai của ấu trùng: 24 giờ
- Giai đoạn thứ ba của ấu trùng: 3 ngày
- Giai đoạn nhộng: 4 - 5 ngày
- Tổng cộng: 9 - 11 ngày
2.3.3 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường đất
Hàng ngày, môi trường đất tiếp nhận một khối lượng lớn chất thải từ hoạt động sinh hoạt của con người tạo ra Lượng bệnh nhân đến càng nhiều thì lượng chất thải sinh hoạt phát sinh càng nhiều
2.3.4 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường nước
Lượng rác thải không được thu gom hoặc thu gom không đúng quy định là nguyên nhân góp phần gây ô nhiễm môi trường nước
Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi
sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao
hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận
Trang 20Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất vệ sinh và ô nhiễm ở các hồ trong bệnh viện Khi các hồ trong bệnh viện
bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các hồ trong bệnh viện
Ở các buồng chứa rác, chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận
2.4 Cơ sở pháp lí của đề tài
- Luật Bảo vệ môi trường 2014 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2015;
-Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 quy định về quản lí chất thải nguy hại
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ y tế về việc ban hành Quy chế quản lí chất thải y tế
- Quyết định số 2149/QĐ - TTg ngày 17/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng thể chất thải rắn đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2050
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định về Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường;
- Quyết định số 166/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện chiến lược bảo vệ môi
Trang 21trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn
2011 đến 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025;
- Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng 2020;
- Căn cứ Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Chỉ thị số 17/2008/CT- TTg ngày 05 tháng 06 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về “ Một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ”
2.5 Thực trạng công tác thu gom xử lý chất thải y tế
2.5.1 Thực trạng công tác thu gom xử lý chất thải y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế (CTYT) đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Pháp Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương
Trang 22nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên, cộng đồng và nhân viên y tế
Bảng 2.1: Tổng lượng chất thải bệnh viện tại một số nước trên thế giới
(kg/giường/ngày) Loại bệnh viện Na uy Tây Ban Nha Anh Pháp Mỹ Hà Lan
ở lượng rác thải trung bình từ 3.3 đến 6.5 kg/giường/ngày
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [4]
2.5.2 Thực trạng công tác thu gom xử lí chất thải tại Việt Nam
Theo thống kê năm 2011 của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế, cả nước có hơn 1.000 bệnh viện, mỗi ngày phát sinh từ 350 - 500 tấn chất thải y
tế, trong đó khoảng 45 tấn chất thải y tế nguy hại Thế nhưng, nhiều bệnh viện không có hệ thống lò đốt chuyên dụng Vì thế, vẫn có những vụ đốt chất thải y
Trang 23tế nguy hại trong khuôn viên bệnh viện với lượng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân cũng như người dân sống xung quanh Cục phòng chống tội phạm
về môi trường (PCTPVMT) cũng từng phát hiện một số bệnh viện ở Hà Nội vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, khi trong số tang vật thu được có cả rác thải của bệnh nhân cách ly như HIV, lao v.v… Một xét nghiệm khoa học đã cho thấy sự nguy hiểm của rác thải bệnh viện: mỗi một gram bệnh phẩm như
mủ, đờm… nếu không được xử lý, sẽ truyền 11 tỉ vi khuẩn gây bệnh ra ngoài Thực trạng trong quản lý chất thải y tế khiến dư luận bức xúc và lực lượng cảnh sát môi trường đang phải tăng cường phát hiện, xử lý vi phạm [6]
Hiện nay trên cả nước, lượng CTR trung bình thải ra mỗi ngày là 0,86kg/giường bệnh, trong đó CTR y tế là 0,14kg/giường bệnh Tổng lượng CTR ở các bệnh viện trên toàn quốc lên tới 100 tấn và 16 tấn CTR y tế cần được xử lý
Bảng 2.2: Các loại chất thải rắn đặc thù phát sinh từ hoạt động y tế
Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ nhà bếp, khu nhà hành chính,
các loại bao gói…
Chất thải chứa các vi trùng
gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu của bệnh nhân…
Trang 24Bảng 2.3: Nguồn gốc phát sinh chất thải tại bệnh viện
thải sinh hoạt
chất thải sinh hoạt
3 Phòng xét nghiệm Xquang Chất thải phóng xạ, chất thải hóa
học,bình áp suất, chất thải sinh hoạt
5 Phòng bệnh nhân không lây lan Chất thải sinh hoạt
6 Phòng bệnh nhân truyền nhiễm Chất thải phóng xạ,bình áp suất, chất
thải sinh hoạt
7 Khu bào chế dược Chất thải lâm sàng, chất thải phóng xạ,
chất thải sinh hoạt
(Nguồn: Nguyễn Đức Khiển, Quản lý chất thải nguy hại, 2003)
Bảng 2.4: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Khoa
Tổng lượng chất thải phát sinh (kg/giường.ngày)
Tổng lượng chất thải y tế nguy hại (kg/giường.ngày)
BV Trung
ương
(TW)
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình
BV Trung
ương
(TW)
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình
Trang 25Bảng 2.5: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn y tế là 95,6% và thu gom chất thải rắn y tế là 90,9% Tuy nhiên chỉ có khoảng 50% các bệnh viện trên thực hiện phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y
tế Phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn chưa đồng bộ, chưa đạt yêu cầu Tỷ lệ bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế bằng lò đốt là 35,9%, số bệnh viện hợp đồng với công ty môi trường thuê xử lý là 39,2% và 26,9% bệnh viện xử lý bằng cách thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện (chủ yếu là bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi) [5]
Trong tổng số 1.188 cơ sở khám chữa bệnh (KCB) trên toàn quốc, có tới 62% cơ sở không có hệ thống xử lý chất thải theo quy định, số đã có thì 68% không đạt yêu cầu, 73% cơ sở không đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại,
Trang 2679% số không có giấy phép xử lý nước thải vào nguồn tiếp nhận Đây là con số
do Đại tá Lương Minh Thảo, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường – Bộ Công an đưa ra, đã cho thấy tính cấp bách trong vấn
đề môi trường y tế hiện nay, khi nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.[6]
Bảng 2.6: Thành phần trong CTR từ các bệnh viện đa khoa
Thành phần phân loại
Chất thải sinh hoạt (vỏ bánh, lá cây, hoa quả thừa…) 26.8- 40
(Nguồn:Bộ y tế 2012 )
Nhiều chuyên gia bảo vệ môi trường đã khuyến cáo, nếu chất thải y tế không được quản lý, xử lý đúng quy trình sẽ gây ra nguy cơ đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng
Trang 27Tại Hà Nội, nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn, mạng lưới cơ sở y tế dày đặc, công tác môi trường y tế còn nhiều tồn tại Đa số các cơ sở chưa
có hệ thống xử lý chất thải Một số cơ sở có trạm xử lý nhưng công suất nhỏ chưa đạt yêu cầu Nhiều cơ sở y tế đi vào hoạt động không đăng ký kiểm tra môi trường lao động, không đăng ký thu gom rác thải với cơ quan quản lý nên rất khó kiểm soát
Theo Thượng tá Nguyễn Việt Tiến, Phó trưởng phòng PCTPVMT, Công an TP Hà Nội, thì thủ đô hiện có trên 1000 cơ sở KCB với 169 cơ sở sử dụng máy chụp X-quang, thế nhưng đến hết năm 2010, chỉ có 25 bệnh viện, viện, phòng khám đa khoa đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại Việc vi phạm trong thu gom, xử lý chất thải rắn y tế còn phổ biến Bệnh phẩm lẽ ra phải được chôn, hoặc tiêu hủy bằng hóa chất, rồi đưa vào lò đốt, nhưng nhiều
cơ sở, nhất là ở các cơ sở y tế tư nhân, đã không chấp hành, mà đưa vào rác thải sinh hoạt Chỉ một số đơn vị có hệ thống nước thải tập trung như Bệnh viện Thanh Nhàn, Xanh Pôn, Việt – Đức, Bạch Mai v.v… còn lại, đều xả trực tiếp ra môi trường, trong đó có những cơ sở y tế đầu ngành của thành phố trong việc khám chữa bệnh lây nhiễm như Bệnh viện Đống Đa [6]
Người dân tại thôn Vân Trì (xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội) phát hiện một cơ sở sản xuất khung nhôm kính tại xóm Trại chăn nuôi, rộng khoảng 300m2, tập kết hàng trăm bao tải chứa rác thải y tế đã được dùng cho người bệnh Đặc biệt, nhiều loại rác thải y tế có nguồn gốc từ khoa lây nhiễm của một bệnh viện, đã bốc mùi hôi thối và nồng nặc mùi thuốc kháng sinh
Một lo ngại nữa đã được Cục An toàn bức xạ hạt nhân, Bộ Y tế và Cục PCTPVMT kiểm tra cho thấy: Việc sử dụng các thiết bị bức xạ như máy X-quang được thực hiện ở hầu hết các bệnh viện lớn, nhưng lại chưa bảo đảm an toàn cho người bệnh khi 90% liều bức xạ mà con người nhận được từ các nguồn nhân tạo là do chiếu xạ y tế Cả nước hiện có hơn 2.000 cơ sở X- quang, nhưng
Trang 28tới 55% phòng chụp không đảm bảo che chắn, 70% không đủ tiêu chuẩn kích thước và nhiều phòng chụp có mức chiếu xạ vượt 2,5 lần giới hạn cho phép.[6]
Đó là chưa kể chất bài tiết của những người vừa chụp X-quang cũng gây hại lớn với những người xung quanh nếu không được kiểm soát chặt chẽ Chỉ một số ít bệnh viện có hệ thống kiểm soát nguồn phóng xạ hiện đại như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ (TP Hồ Chí Minh) v.v… còn hầu hết chưa có Mà theo các chuyên gia
y tế, tác hại của nhiễm phóng xạ là lâu dài với các hậu quả như có thể ngừng hoạt động tủy xương, tiêu chảy, sụt cân, nhiễm độc máu, vô sinh, ung thư… vv
Để cho việc quản lý chất thải được tốt thì việc phân luồng chất thải trong bệnh viện trước khi đem đi xử lý là rất cần thiết.[6]
(Nguồn: Bộ Y tế - Quy hoạch quản lý chất thải y tế, 2011)
Hình 2.2: Sơ đồ phân luồng chất thải trong các bệnh viện trước khi xử lý
Trang 292.6 Hiện trạng công tác thu gom xử lí chất thải rắn của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.6.1 Về thủ tục hành chính
- Trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 25 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa Trong đó có (23/25 Bệnh viện) đã lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Đề án bảo vệ môi trường và phê duyệt theo qui định bằng nguồn ngân sách Nhà nước, còn Bệnh viện Phụ sản Hải Dương mới tách ra từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện Mắt và Da Liễu mới được thành lập từ năm
2013 chưa lập báo cáo tác động môi trường theo qui định
- Công tác lập hồ sơ xin cấp Giấy xác nhận đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án hoặc Giấy xác nhận hoàn thành các nội dung Đề án bảo vệ môi trường:
Trong tổng số 23 Bệnh viện đã được phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Đề án bảo vệ môi trường có:
+ 17/23 Bệnh viện chưa lập hồ sơ để cấp Giấy xác nhận đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của
dự án hoặc Giấy xác nhận hoàn thành các nội dung Đề án bảo vệ môi trường
+ 4/23 Bệnh viện đã liên hệ với Đơn vị tư vấn để lập hồ sơ xin cấp Giấy xác nhận hoàn thành các nội dung Đề án bảo vệ môi trường (Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Hà; Bệnh viện đa khoa huyện Kinh Môn; Bệnh viện đa khoa huyện Tứ Kỳ; Bệnh viện Tâm Thần)
- Việc thực hiện kiểm soát môi trường định kỳ theo quy định: Có 9/25 Bệnh viện đã thực hiện kiểm soát môi trường đinh kỳ tuy nhiên, vẫn chưa thực hiện đúng theo tần suất và vị trí quan trắc theo đúng quy định, còn lại 14/25 Bệnh viện vẫn chưa thực hiện kiểm soát môi trường định kỳ theo quy định
- Các Bệnh viện (100%) đều chưa được cấp Giấy phép xả thải
Trang 302.6.2 Đánh giá công tác thu gom, xử lý chất thải rắn:
- Đối với chất thải rắn thông thường được các Bệnh viện đã thu gom và
xử lý theo qui định Tuy nhiên, có bệnh viện lượng chất thải sinh hoạt phát sinh nhiều vẫn chưa được thu gom, vẫn để ngoài trời như Bệnh viện Tâm Thần (do địa phương không có đơn vị thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt nên Bệnh viện phải ký với Công ty Đức Đoan để vận chuyển xử lý tuy nhiên khi khối lượng nhiều, Công ty này mới đến chuyên chở nên dẫn đến tình trạng rác thải để ngoài trời)
- Đối với chất thải rắn y tế đã được các Bệnh viện phân loại, thu gom và
xử lý, một số Bệnh viện vẫn xử lý bằng lò đốt chuyên dùng do ngành y tế trang
bị, lắp đặt trong khuôn viên của mỗi Bệnh viện, đến nay một số lò đốt đã xuống cấp, hiệu quả xử lý không cao, xử lý không triệt để, việc trang bị đồng loạt lò đốt rác Chuwastar cho các bệnh viện có thể chưa phù hợp, đặc biệt với những bệnh viện lượng phát sinh chất thải ít lại nằm gần dân cư, một số bệnh viện đã thuê đơn vị có chức năng xử lý…, cụ thể như sau:
+ Đã có 20/25 Bệnh viện được trang bị lò đốt chất thải rắn y tế đồng bộ -
lò Chuwastar của Nhật Bản còn 5/25 Bệnh viện chưa có lò dốt (Bệnh viện Nhi Hải Dương, Bệnh viện phụ sản Hải Dương, Bệnh viện Hòa Bình, Bệnh viên mắt
và da liễu Hải Dương và Bệnh viện trường đại học kỹ thuật y tế Hải Dương)
+ Trong 20 lò Chuwastar được trang bị đã có 2/20 Bệnh viện không sử dụng lò đốt mà thuê đơn vị có chức năng xử lý để xử lý toàn bộ chất thải y tế
phát sinh (Bênh viện đa khoa huyện Gia Lộc và Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải
Dương); 04/20 lò đã hư hỏng nhưng vẫn hoạt động đốt (Lò đốt Bệnh viện đa khoa huyện Bình Giang thủng vỏ lò đốt; Lò đốt Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện hỏng Bơm dầu; Lò đốt của Bệnh viện Tứ Kỳ hỏng ống khói;Lò dốt Bệnh viện đa khoa huyện Nam Sách hỏng ống khói và bục đường dẫn khí từ buồng sơ cấp sang thứ cấp; Lò đốt Bệnh viện đa khoa huyện Kinh Môn ống khói sập, hỏng buồng thứ cấp) Một số Bệnh viện chỉ thực hiện đốt một phần chất thải y tế phát
Trang 31sinh còn chuyển cho đơn vị có chức năng xử lý (Bệnh viện đa khoa Cẩm Giàng; Bệnh viện điều Dương và phục hồi chức năng; Bệnh viện y học cổ truyền; )
+ Kết quả phân tích khí thải sau ống khói của lò đốt tại một số Bệnh viện cho thấy:
Trong tổng số 16 lò đốt lấy mẫu thì có 11/16 lò đốt có khí thải có thông số vượt Quy chuẩn cho phép QCVN 02:2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về lò đốt chất thải y tế, cột B (Lò đốt Bệnh viện đa khoa thị xã Chí Linh; lò đốt
Bệnh viện đa khoa huyện Nam Sách; lò đốt Bệnh viện tâm thần Hải Dương; lò đốt Bệnh viện đa khoa huyện Cẩm Giàng; lò đốt Bệnh viện đa khoa khu vực Nhị Chiểu; lò đốt Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương; lò đốt Bệnh viện y học cổ truyền; lò đốt Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng; lò đốt Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Hà; lò đốt Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện; lò đốt Trung tâm phòng chống HIV/AISD tỉnh Hải Dương; lò đốt Bệnh viện phong Chí Linh)
+ Vị trí lưu giữ tạm thời chất thải rắn y tế nguy hại của hầu hết các Bệnh viện đều chưa đảm bảo quy định chưa có biển báo, dấu hiệu cảnh báo; thời gian lưu giữ qua 48 giờ hoặc 72 giờ nhưng không có nhà bảo quản lạnh theo qui định để lưu giữ rác thải y tế như (Bệnh viện điều Dương và phục hồi chức năng 1 tháng đốt 1 lần; bệnh viện đa khoa Nhị Chiểu 1 tuần đốt 1 lần, một số bệnh viện 2-3 ngày đốt 1 lần)
+ Các Bệnh viện chưa có sự thống nhất về cách thức xử lý chất thải rắn
y tế nguy hại như một số bệnh viện đối với chất thải là mô, cơ thể người, nhau thai, được xử lý bằng hầm sinh học, nước thải phân hủy được xử lý qua hệ thống xử lý nước thải tập trung như Bệnh viện đa khoa huyện Bình Giang, huyện Thanh Miện, huyện Gia Lộc còn lại hầu hết các Bệnh viện đều thu gom
để đốt bằng lò đốt Chuwastar nhưng hiệu quả không triệt để, phải đốt lại
nhiều lần hoặc sau khi đốt chôn trực tiếp trong khuôn viên bệnh viện (11
Bệnh viện: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương; Bệnh viện Đa khoa thành
Trang 32phố Hải Dương; Bệnh Viện đa khoa huyện Tứ Kỳ; Bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang; Bệnh Viện đa khoa huyện Cẩm Giàng; Bệnh đa khoa thị xã Chí Linh; Bệnh viện đa khoa huyện Kinh Môn; Bệnh viện Nhị Chiểu; Bệnh viện
Đa khoa huyện Nam Sách; Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Hà; Bệnh viện đa
khoa huyện Kim Thành)
+ Trong tổng số 25 Bệnh viện đã có:16/25 Bệnh viện đã lập sổ đăng
ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (bệnh viện đa khoa huyện Gia Lộc;
bệnh viện đa khoa huyện Kinh Môn; bệnh viện Lao và Bệnh Phôi Hải Dương; bệnh viện đa khoa huyện Bình Giang; bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng; bệnh viện tâm thần; bệnh viện đa khoa huyện Nam sách; bệnh viện đa khoa thị xã Chí Linh; bệnh viện đa khoa huyện Tứ Kỳ; bệnh viện đa khoa huyện Hòa Bình; bệnh viện phong Chí Linh; bệnh viện
đa khoa huyện Cẩm Giàng; bệnh viện Nhi Hải Dương; bệnh viện Y học cổ
truyền; bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện; bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương) Tuy nhiên, mới chỉ có Bệnh viện đa khoa huyện Gia Lộc, Bệnh
viện đa khoa huyện Bình Giang, Bệnh viện Tâm Thần, Bệnh viện đa khoa huyện Nam Sách thực hiện báo cáo định kỳ theo qui định về công tác quản
lý, xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
+ Một số Bệnh viện có thực hiện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại cho các cơ sơ y tế khác nhưng không làm thủ tục hành nghề quản lý chất thải nguy hại theo quy định như Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương, Bệnh viện
Y học cổ truyền Thực tế, các Bệnh viện này rất khó đáp ứng điều kiện cần thiết theo qui định như xe chuyên dùng và điều kiện khác mà chất thải cần được xử lý.[7]
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
- Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế trong bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 5 Năm 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
- Đánh giá thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
- Hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân về tình hình rác thải y tế của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
- Những hạn chế trong công tác kiểm soát chất thải rắn của Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Hải Dương
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế trong bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
3.4 Các phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra nội nghiệp (Thu thập, xử lý số liệu thứ cấp)
- Thu thập các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của Chi cục bảo vệ mổi trường
+ Điều tra, khảo sát lượng chất thải phát sinh của Bệnh viện;
Trang 34+ Tham khảo ý kiến cán bộ quản lý tình hình thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải rắn y tế;
+ Tìm hiểu về phương thức xử lý chất thải rắn y tế
3.4.3 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, tiến hành trao đổi thông tin với các chuyên gia (Giám đốc, phó giám đốc Chi cục bảo vệ môi trường) có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực môi trường trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá cũng như những gợi ý đề xuất và giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình này
3.4.4 Phương pháp so sánh
So sánh hiệu quả hoạt động của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương với các bệnh viện trên toàn tỉnh Từ đó đánh giá được vai trò, hoạt động của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương và tìm ra nguyên nhân hạn chế và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
3.4.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Tổng hợp số liệu viết báo cáo
3.4.6 Phương pháp xác định lượng rác thải phát sinh
`- Tiến hành cân đo và theo dõi diễn biến rác thải y tế phát sinh tại Bệnh viện:
+ Xác định lượng rác thải được tiến hành tại bộ phận thu gom rác thải của bệnh viện
+ Lượng rác thải được xác định theo ngày, diễn biến được ghi lại trong bảng thống kê
+ Thời điểm tiến hành : Cuối giờ làm việc buổi chiều của Bệnh viện
Trang 36PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Một số đặc điểm chính, tổng quan về Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Hải Dương
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương tiền thân là nhà thương Hải Dương bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1906 tại số 150 Quang Trung, Thành phố Hải Dương Đến năm 2003 Bệnh viện đi vào hoạt động tại phường Thanh Bình thành phố Hải Dương với diện tích 86.450 m2 Vị trí của Bệnh viện Đa khoa có điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông thuận lợi, gần với các khu dân cư xung quanh và cách trung tâm thành phố Hải Dương khoảng 2km
- Phía Bắc giáp với đường Nguyễn Lương Bằng
- Phía Nam giáp với đường Nguyễn Chí Thanh
- Phía Tây giáp với đường Vũ Hựu
- Phía Đông giáp với khu dân cư và đường quy hoạch [8]
Với quy mô công suất hiện tại là 49 khoa phòng, 936 giường bệnh nội trú, số lượt khám chữa bệnh cho người dân trong khoảng 350 lượt/ ngày, số lượng cán bộ, công nhân viên thời điểm hiện tại là 963 người
Bệnh viện có chức năng, nhiệm vụ khám chữa bệnh, chuẩn đoán, điều trị
và chăm sóc người bệnh Bệnh nhân là các cán bộ, người dân, số lượng