Trong dạy học Hóa học, chúng ta có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp và nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đều
Trang 11 - PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 – Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước nhằm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hội nhập với thế giới thì việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường nói chung và của mỗi giáo viên nói riêng, nó xuyên suốt quá trình dạy học và là việc làm thường xuyên không thể một sớm một chiều
Trong những năm lại đây, Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng như các đơn vị giáo dục địa phương và gần gủi nhất là các đơn vị trường học đã ráo riết tìm các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà cho học sinh Trong dạy học Hóa học, chúng ta có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp và nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng, nên đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọn, phối hợp các phương pháp một cách thích hợp để chúng bổ sung cho nhau, nhằm giúp học sinh phát huy tối đa khả năng tư duy độc lập, tư duy logic và tư duy sáng tạo của mình
Trong quá trình dạy học, việc sử dụng các bài tập sẽ mang lại hiệu quả cao, học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng, hứng thú học tập,…Tuy nhiên, trong thực tế, việc sử dụng bài tập Hóa học để bồi dưỡng năng lực tự học và phát triển tư duy cho học sinh còn hạn chế nên hiệu quả chưa cao
Chính vì lý do trên tôi chọn đề tài “Xây dựng nhiều cách giải cho một số bài toán hóa học THCS” làm SKKN của mình để góp phần nhỏ nhằm khắc phục tình
trạng trên của học sinh, giúp học sinh phát huy tính sáng tạo của bản thân, đồng thời qua đó giúp giáo viên đánh giá cũng như học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình
1.2 – Điểm mới của đề tài
Đề tài này đối với giáo viên THCS hiện nay chưa có ai nghiên cứu Đề tài này đưa ra nhiều cách giải cho một bài toán hóa học trong dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao được năng lực tư duy của học sinh, khả năng làm việc độc lập và tự lực, năng lực vận dụng linh hoạt và sáng tạo kiến thức
Trang 21.3 – Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Giáo viên giảng dạy bộ môn hóa học và học sinh khối 8, 9
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu là chủ yếu nghiên cứu các dạng bài tập ở sách giáo khoa
và các bài tập cơ bản để giải quyết vấn đề
Trang 32 – PHẦN NỘI DUNG 2.1 – Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu
2.1.1 – Về phía giáo viên
Nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học Hóa học nói riêng là nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay của giáo viên Hóa học ở các trường phổ thông
Trong thực tế, việc sử dụng bài tập Hóa học để bồi dưỡng năng lực tự học và phát triển tư duy cho học sinh còn hạn chế nên hiệu quả chưa cao Ngoài ra, quá trình
tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các loại bài tập Hóa học, nhất là bài tập có nhiều cách giải trong tổ chuyên môn không được thường xuyên và không mang tính cập nhật
Hiện nay giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học đã được tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học Đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực người học nhằm giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức, tuy nhiên phòng học còn bố trí theo phương pháp dạy học cũ nên giáo viên khó khăn trong hướng dẫn học sinh Trong phạm vi 45 phút của một tiết học, giáo viên cũng không thể hướng dẫn học sinh nhiều cách giải cho một bài toán
2.1.2 – Về phía học sinh
Nhiều học sinh chưa năng động, tích cực trong các hoạt động giáo viên tổ chức Việc nắm bắt kiến thức hoạt động học tập của các em còn phụ thuộc nhiều vào sách giáo khoa và chưa khai thác hiệu quả các nguồn tài liệu khác
Tư tưởng học tập của học sinh vẫn còn chưa tiến bộ, chưa có ý thức tự giác, tích cực trong các hoạt động học tập để có thể tìm tòi ra các cách giải khác nhau của một bài toán
Khảo sát thực tế tại một trường THCS về các bài toán hóa học có nhiều cách giải (chưa áp dụng sáng kiến) có kết quả như sau:
Trang 42.2 – Các giải pháp
2.2.1 – Giải pháp 1: Xây dựng các cách giải khác nhau cho một bài toán
Xây dựng các cách giải khác nhau của một bài toán hóa học Và đây là một số phương pháp cụ thể:
- Phương pháp bảo toàn khối lượng
- Phương pháp tăng giảm khối lượng
- Phương pháp nhóm nghiệm
- Phương pháp sơ đồ đường chéo
- Phương pháp biện luận
- Phương pháp trung bình
- Phương pháp đại số
Sau đây, tôi đưa ra ví dụ cụ thể về một số bài toán vô cơ và hữu cơ Trong mỗi bài toán tôi xây dựng 2 cách giải trở lên
2.2.1.1 - Bài toán vô cơ
Bài 1 : Hòa tan hoàn toàn 2,17 gam hỗn hợp X gồm 2 kim loại Fe, Al trong dung dịch HCl dư thu được 1,68 lít khí H 2 (đktc) và dung dịch Y Cô cạn dung dịch Y thu được m gam hỗn hợp 2 muối khan Tính m.
Hướng dẫn:
Cách 1: Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng.
Ta có:
2 1,68 0,075 22,4
H
=> m H2 0,075.2 0,15 gam
Phương trình hóa học:
Fe + 2HCl -> FeCl2 + H2 (1)
mol 1 2 1 1
2Al + 6HCl -> 2AlCl3 + 3H2 (2)
mol 1 6 1 1,5
Theo phương trình 1,2: n HCl 2n H2 0,075.2 0,15 mol
Do đó: m HCl 0,15.36,5 5,475 gam
Theo định luật bảo toàn khối lượng :
Trang 5=> m m X mHCl mH2 = 2,17 + 5,475-0,15=7,495gam
Cách 2: Phương pháp tăng giảm khối lượng.
Ta có: Ta có:
2 1,68 0,075 22,4
H
Phương trình hóa học:
Fe + 2HCl -> FeCl2 + H2 (1)
mol 1 2 1 1
2Al + 6HCl -> 2AlCl3 + 3H2 (2)
mol 1 6 1 1,5
Theo phương trình 1,2: n HCl 2n H2 0,075.2 0,15 mol
0,15
Cl HCl
Nên: mCl = 0,15 35,5 = 5,325 mol
Ta thấy: m muoái m X m Cl 2,17 5,325 7,495 g
Cách 3: phương pháp lập hệ phương trình.
Ta có: Ta có:
2 1,68 0,075 22,4
H
Gọi a, b lần lượt là số mol Fe và Al tham gia phản ứng Phương trình hóa học:
Fe + 2HCl -> FeCl2 + H2 (1)
mol a a a
2Al + 6HCl -> 2AlCl3 + 3 H2 (3)
mol b b 1,5b
Theo bài ra ta có:
2 1,5 0,075
H
Ta lại có: mX = a.56 + b.27 = 2,17 (2)
Giải hệ phương trình 1 và 2 ta được : a = 0,022 ; b = 0,036 Khối lượng muối khan tạo thành:
.127 13,5 7, 495(g)
Trang 6Bài 2: Trộn 60 gam dung dịch NaOH 20% với 40gam dung dịch NaOH 15%, thu được dung dịch có nồng độ % là bao nhiêu?
Hướng dẫn:
Cách 1: Phương pháp đại số:
Ta có: mct1 = 60.20 12
100 g ; mct2 = 40.15 6
100 g Khối lượng chất tan trong dung dịch sau khi trộn là:
mct3 = mct2 + mct1 = 12 + 6 = 18 g
3
18
100
Cách 2: Áp dụng sơ đồ đường chéo:
Gọi C là nồng độ % của dung dịch sau khi trộn
60g dung dịch NaOH 20% C-15
C 40g dung dịch NaOH 15% 20 - C
=> 60 15
40 20
C
C
=> C= 18%
Bài 3: Hòa tan hoàn toàn 12,1 gam hỗn hợp bột CuO và ZnO cần 100ml dung dịch HCl 3M
a Viết phương trình hóa học.
b Hãy tính thành phần phần trăm theo khối lượng mỗi oxít sắt trong hỗn hợp ban đầu
(Bài 7 - trang 19 SGK Hóa học 9)
Hướng dẫn:
Cách 1:
Ta có: nHCl = 3.0,1 = 0,3 mol
Gọi a là số mol Fe2O3 và b là số mol Fe3O4
Phản ứng: CuO + 2HCl CuCl2 + H2O (1)
mol a 2 a
ZnO + 2HCl ZnCl2 + H2O (1)
Trang 7mol b 2b
Theo bài ra ta có hệ phương trình:
HCl
hh CuO ZnO
Giải hệ ta được a = 0,05; b = 0,1
n CuO 0,05(mol) mCuO 0,05.80 4 g
Vậy % 4 .100% 33,06%
12,1
CuO
m
ZnO
%m 100% %m CuO 100% 33,06% 66,94%
Cách 2:
Ta có: nHCl = 3.0,1 = 0,3 mol
Phản ứng: CuO + 2HCl CuCl2 + H2O (1)
mol
2
a
a
ZnO + 2HCl ZnCl2 + H2O (1)
mol
2
0,3 a
0,3 - a
Gọi số mol HCl dùng ở phản ứng 1 là a => (0,3 – a ) là số mol HCl dùng ở phản ứn 2
80
2
a
+ 81.(0,3
2
a
) = 12,1 => a = 0,1
Từ 1 => n CuO 0,05(mol)
0,05.80
12,1
CuO
m
ZnO
%m 100% %m CuO 100% 33,06% 66,94%
Cách 3:
Gọi khối lượng của CuO trong hỗn hợp đầu là: a gam
80
CuO
a
n mol
Trang 8Do đó (12,1 – a)g là khối lượng của ZnO 12,1
81
ZnO
a
n mol
Ta có: nHCl 0,1.3 0,3 mol
Phản ứng: CuO + 2HCl CuCl2 + H2O (1)
mol
80
a
40
a
ZnO + 2HCl ZnCl2 + H2O (1)
mol 1
81
2,1 a
2.1
81 2,1 a
Từ (1) và (2) nHCl nHCl/ 1 nHCl/ 2
12,1
a
4
a
Vậy %m CuO 12,14 .100% 33,16%
%m ZnO 100% 33,16% 66,94%
2.2.1.2 Bài toán hữu cơ
Bài 1: Đốt cháy 4,5 gam một hợp chất hữu cơ A thu được 6,6 gam CO2 và 2,7 gam H2O Biết khối lượng phân tử của A là 60 đvC.
Xác định công thức phân tử của chất hữu cơ.
(Bài 6 – trang 168, SGK Hóa học 9)
Hướng dẫn:
2
CO
m và
2
H O
m tìm được mC và mH ; dựa vào định luật bảo toàn khối lượng sẽ suy ra
trong A có nguyên tố Oxi hay không (vì đốt A CO2 + H2O nên trong A có thể
có oxi)
Cách 1:
nC = n CO2 = 6,6 : 44 = 0,15 (mol).
mC = 0,15 12 = 1,8 (g)
nH = 2n H O2 = 2 2,7 : 18 = 0,3 (mol) mH = 0,3(g)
Theo định luật bảo toàn khối lượng ta có:
mA = mC + mH + mO mO = 4,5 – 1,8 – 0,3 = 2,4 (g)
Công thức phân tử của A : CxHyOz
Trang 912 16 60
4,5
H
m m m
1,8 0,3 2,4 4,5
Giải phương trình trên ta được x = 2 ; y = 4 ; z = 2
Công thức phân tử của A là : C2H4O2
Cách 2:
Lập tỉ lệ : x : y : z = : : 1,8 0,3 2,4: : 0,15 : 0,3: 0,15 1: 2 :1
12C 1 16H O 12 1 16
Công thức đơn giản nhất của A là : (CH2O)n
Mặt khác ta có : Phân tử khối của A là 60 đvC nên n = 2 thỏa mãn
Vậy công thức phân tử của A là C2H4O2
Cách 3:
Đốt 4,5 gam A tạo ra 6,6 g CO2 và 2,7 gam nước
Nếu đốt cháy 1mol (60g) A tạo ra x g CO2 và y gam H2O
2
2
2
H H O
Vậy trong 1 mol A có 2 mol C, 4 mol H
Công thức phân tử của A là : C2H4Oz
2.12 + 4 + 16.z = 60 => z = 2
Vậy công thức phân tử của A là C2H4O2
Bài 2: Đốt cháy hoàn toàn 3 gam hợp chất Y chứa các nguyên tố C, H, O thu được 2,24 lít CO2 (đktc) và 1,8 gam nước Biết 1 gam chất Y chiếm thể tích 0,3733 lít (đktc) Xác định công thức phân tử hợp chất Y.
Hướng dẫn:
Ta có My = 1 22,4 60 /
0,3733 0,3733 22,4
g mol
Cách 1:
Khối lượng cacbon trong (Y): mc = n CO2 12 = 2,24.12 1,2
Khối lượng H trong (Y): 2 1,8.2 0,2
18
H H O
Trang 10Khối lượng O trong (Y): mO = 3 – (mc + mH) = 3 – (1,2 + 0,2) = 1,6 (gam).
Gọi công thức tổng quát của Y là: CxHyOz
Lập tỉ lệ: : : : : 1,2 0,2 1,6: : 1: 2:1
12C 1H 16O 12 1 16
Công thức nguyên của (Y): (CH2O)n
Mà My = 60 30n = 60 n = 2
Vậy công thức phân tử của (Y) là: C2H4O2
Cách 2:
mC = 2,24.12 1,2
22,4 gam Số nguyên tử C = 1,2.60 2
3.12 .
mH = 1,8.2 0,2
18 gam Số nguyên tử H = 0,2.60 4
3.1 .
mO = 1,6 gam Số nguyên tử O = 1,6.60 2
3.16 . Vậy công thức phân tử của (Y) là: C2H4O2
Cách 3:
Viết phản ứng:
Vì Y cháy sinh ra CO2 và H2O Y chứa C, H và có thể có O
Gọi công thức tổng quát của (Y): CxHyOz (z có thể bằng 0)
Phản ứng:
0
C H O x O xCO H O
mol 0,05 0,05x 0,025y
Ta có: nY = 3 0,05
60 mol .
Từ (1)
2
2,24
22,4
CO
n x x và
2
1,8
18
H O
Mà My = 12x + y + 16z = 60 60 24 2 2
16
z
Vậy công thức phân tử của (Y) là: C2H4O2
Bài 3: Cho 22,4 lít khí etilen(ở điều kiện tiêu chuẩn)tác dụng với nước có axit suphuric làm xúc tác, thu được 13,8 g rượu etylic Hãy tính hiệu suất phản ứng cộng nước của etylen.
(Bài 5 - trang 144, SGK Hóa học 9)
Hướng dẫn:
Cách 1 :
Trang 11Ta có 2 2 22, 4 1(mol)
22, 4
C H
Phương trình : C2H4 + H2O t0 C2H5OH
Mol 1 1
Vậy nC H OH2 5 1(mol)
=> m C H OH2 5 1.46 46( ) g
Hiệu suất của phản ứng là : 13,8.100% 30%
46
Cách 2 :
2 5
13,8
0,3(mol) 46
C H OH
Phương trình : C2H4 + H2O -> C2H5OH
Mol 0,3 0,3
2 4 0,3.22, 4 6,72(lit)
C H
Hiệu suất của phản ứng là : 6,72.100% 30%
22, 4
* Nhận xét
Việc xây dựng các cách giải khác nhau của một bài toán Hóa học đều phải dựa trên nền tảng chung là học sinh phải nắm vững kiến thức Hóa học, các kỹ năng biến đổi toán học Đặc biệt là phải nắm vững các phương pháp giải toán Hóa học, nhất là các phương pháp giải nhanh như áp dụng các định luật bảo toàn: bảo toàn nguyên tố hóa học, bảo toàn khối lượng,…
Tác dụng quan trọng nhất của việc giải bài toán bằng nhiều cách là giúp học sinh phát triển tư duy, tăng cường tính tự học, tìm tòi nghiên cứu và sáng tao; giúp học sinh yêu thích môn học hơn, tạo cơ sở vững chắc cho sự thành công về sau
2.2.2 – Giải pháp 2: Sử dụng bài tập Hóa học có nhiều cách giải trong các tiết luyện tập, ôn tập cuối chương
Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của Học sinh
- Cho đề bài tập, từ 2 đến 5 bài có nội
dung kiến thức liên quan đến tiết luyện
tập, ôn tập
- Chia nhóm học sinh: một lớp học chia
thành 4 nhóm, trong đó có sự cân đối đều
giữa các nhóm về số lượng học sinh giỏi,
- Tiến hành thảo luận nhóm, đưa ra các
cách giải khác nhau; nhóm trưởng tập hợp và thống nhất chọn các cách hay để trình bày
- Các nhóm cử đại diện trình bày các cách giải theo bài toán đã giao, trả lời
Trang 12khá, trung bình và yếu; chọn một học sinh
giỏi có khả năng tổ chức hoạt động nhóm
tốt làm nhóm trưởng
- Phân công công việc về nhà cho từng
nhóm: giao mỗi nhóm 1 bài tập, yêu cầu
nhóm thảo luận và đưa ra các cách giải
khác nhau, ít nhất là 3 cách giải
-Tổ chức cho học sinh trình bày trên lớp,
nhận xét và đánh giá điểm
các câu hỏi thắc mắc của các bạn nhóm khác và của giáo viên
- Ghi lại cách giải hay và ngắn gọn nhất
* Ví dụ minh họa: Dạy tiết 34 - chương trình lớp 8: Bài luyện tập 4
Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của Học sinh
Gv: Hệ thống hóa kiến thức và một số
lưu ý khi giải bài toán tính theo công thức
hóa học
Gv cho bài tập: Hãy tìm công thức hóa
học của một hợp chất có thành phần theo
khối lượng là: 36,8% Fe; 21,0% S và
42,4% O Biết khối lượng mol của hợp
chất bằng 152g/mol.
Gv: Chia lớp học thành 4 nhóm, yêu cầu
các nhóm thảo luận và đưa ra các phương
pháp giải bài toán này
Hs: Nhắc lại các kiến thức về giải bài toán tính theo công thức hóa học
theo hướng dẫn của giáo viên Hs: thảo luận nhóm đưa ra các cách giải
Cách 1: Áp dụng công thức tính thành
phần % nguyên tố rồi suy ra x, y, z
Vì X chứa Fe, S và O nên ta gọi công thức tổng quát của X là FexSyOz
56
152
x
32.y
152
16.z
152
Vậy công thức phân tử của X là FeSO4
Cách 2: Lập tỉ lệ
Vì X chứa Fe, S và O nên ta gọi công thức tổng quát của X là FexSyOz
Ta có hệ thức:
Fe S O
56 32 16 36,8 21 42,4 100%
Trang 13Gv: yêu cầu học sinh trình bày cách giải
tối ưu nhất
Giải hệ phương trình trên ta được:
x = 1, y = 1, z = 4 Vậy công thức phân tử của X là FeSO4
Cách 3: Xét 100g chất
Xét 100 g X =>
36,8 21 42,4
Fe S O
Lập tỉ lệ : : : z : :
56 32 16Fe S O
x y 36,8 21 42,4: : 1:1: 4
56 32 16
Vậy công thức nguyên của X là FeSO4
Vì MX=152=> n =1 thõa mãn Hs: Hoạt động nhóm
Hs: Trình bày bài giải tối ưu nhât
Đáp số: Công thức phân tử của hợp chất là: FeSO 4
* Nhận xét: Sử dụng bài tập Hóa học nhiều cách giải trong các tiết học trên không
những giúp học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng giải toán Hóa học mà còn góp phần rèn luyện một số kỹ năng mềm cho học sinh như kỹ năng tư duy độc lập, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng trình bày, thuyết trình một vấn đề,… Qua thực tế giảng dạy cho thấy, các tiết học sử dụng bài tập nhiều cách giúp có không khí học tập sôi nổi, tập trung hơn và chất lượng đạt cao hơn
Sử dụng Bài tập Hóa học có nhiều cách giải trong các tiết luyện tập, ôn tập cuối chương Giáo viên cho đề bài tập, từ 2 đến 5 bài có nội dung kiến thức liên quan đến tiết luyện tập, ôn tập Chia nhóm học sinh: một lớp học chia thành 4 nhóm, trong
đó có sự cân đối đều giữa các nhóm về số lượng học sinh giỏi, khá, trung bình và yếu, chọn một học sinh giỏi có khả năng tổ chức hoạt động nhóm tốt làm nhóm trưởng; phân công công việc về nhà cho từng nhóm: giao mỗi nhóm 1 bài tập, yêu cầu nhóm thảo luận và đưa ra các cách giải khác nhau, ít nhất là 3 cách giải; tổ chức cho học sinh trình bày trên lớp, nhận xét và đánh giá điểm
2.2.3 Giải pháp 3: Sử dụng Bài tập Hóa học có nhiều cách giải trong việc kiểm tra và đánh giá