Tuy nhiên, việc ứng dụng Công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả tương tác trong dạy học là một vấn đề cần bàn trong thực tế hiện nay, khi mà các nhà trường ngày càng dễ dàng hơn trong
Trang 1ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC
ThS Hoàng Thị Mai
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Sự phát triển của Công nghệ thông tin đã tạo môi trường học tập thuận
lợi để tăng cường tính tương tác trong dạy học Tuy nhiên, việc ứng dụng Công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả tương tác trong dạy học là một vấn đề cần bàn trong thực tế hiện nay, khi mà các nhà trường ngày càng dễ dàng hơn trong việc trang bị cơ
sở vật chất CNTT&TT hỗ trợ dạy học Bài báo giới thiệu những vấn đề cơ bản của tương tác trong dạy học và gợi ý cách thức khai thác CNTT&TT nhằm nâng cao hiệu quả tương tác trong giảng dạy
Abstract: Interactive teaching is central for learners to study actively
Information and Communication Technology (ICT) is a feature of the classroom which can support interaction Nowadays, there are many Interactive White Boards (IWB) which are being equypped in the schools However, the degree of interactivity which tools actually afford within the classroom is clearly dependant on the teachers’ using This paper discuses different interpretations of interactive teaching and the ways
in which ICT needs to be integrated into teachers’ pedagogical content knowledge if it
is to support a move from ‘surface’ to ‘deep’ interactive teaching
Từ khóa: Dạy học dựa vào tương tác, interactive teaching, interactive
technology, interactive teaching and learning
Mở đầu
Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) đã làm thay đổi môi trường đến mức mà chính chúng ta phải thay đổi để thích nghi với môi trường đó Trong dạy học, CNTT&TT đã làm thay đổi mạnh mẽ cách thức mà các thành tố của quá trình dạy học tương tác với nhau Sự phát triển của CNTT&TT trong lĩnh vực công nghệ trình bày tương tác với chức năng cho phép đáp ứng và phản hồi ngay lập tức một cách linh hoạt đã tạo nên sự thay đổi về chất trong các mối quan hệ tương tác của quá trình dạy học Xác định được đúng chức năng của CNTT&TT trong dạy học tương tác là một trong những yêu cầu quan trọng đối với các tổ chức giáo dục khi đầu tư nguồn lực cho CNTT&TT và bồi dưỡng giáo viên
Trang 21 Tương tác trong dạy học
Bàn về các thành tố của quá trình dạy học có những quan điểm khác nhau Theo quan điểm của các nhà sư phạm người Nga như Babanxki (1966), Savin (1983) thì ba thành tố cơ bản của dạy học gồm: người dạy, người học và nội dung dạy học Theo quan điểm này, các nghiên cứu của Babanxki (1966), T.A.Ilina (1978), Đanhilop (1980), Savin (1983) [11] .đều cho rằng các tương tác trong dạy học được quy về ba loại tương tác chính là: tương tác người dạy - người học, tương tác người học – nội dung và tương tác người học – người học Bên cạnh đó còn có tương tác giữa người dạy - người dạy khi họ trao đổi chuyên môn với nhau, người học với chính họ trong quá trình tự học,
Theo một quan điểm khác, hai tác giả người Canada là Jean MacDnome và Madeleine Roy cho rằng ba thành tố cơ bản trong cấu trúc của hoạt động dạy học là người học, người dạy và môi trường Các tương tác giữa ba yếu tố này trong dạy học gồm: tương tác người dạy – người học, người học – người học và người dạy, người học với môi trường dạy học Cũng theo hướng tiếp cận này, Thurmond định nghĩa
“Tương tác là những cam kết của người học trước nội dung, bạn học, người dạy và các phương tiện công nghệ sử dụng trong chương trình dạy học Những tương tác theo đúng nghĩa của nó giữa người học - người học, người học - người dạy và với công nghệ dạy học sẽ tạo ra sự trao đổi lẫn nhau về thông tin Sự trao đổi này nhằm mở rộng
sự phát triển tri thức trong môi trường học tập” [8]
Tại Việt Nam có nhiều nghiên cứu của các nhà sư phạm về dạy học dựa vào tương tác trong các trường Đại học, cao đẳng Phạm Quang Tiệp cho rằng: “Tương tác trong dạy học là những mối tác động qua lại chủ yếu giữa người dạy, người học
và môi trường nhằm thực hiện chức năng dạy học; được hoạch định, tổ chức và điều khiển theo đường hướng sư phạm bởi nhà giáo dục, hướng vào việc phát triển nhận thức và năng lực cho người học” [6]
Việc xác định các thành tố của quá trình dạy học khác nhau dẫn đến phân loại các quan hệ tương tác cũng khác nhau Nhưng dù tiếp cận theo quan điểm nào, thì chất lượng của các quan hệ tương tác là vấn đề mà chúng ta quan tâm Muijs & Reynolds [5] cho rằng chất lượng tương tác trong dạy học phụ thuộc quan trọng vào vào câu hỏi
mà giáo viên đặt ra cho người học, trong đó tính hiệu quả của sự tương tác thông qua các câu hỏi của giáo viên được đánh giá dựa trên những tiêu chí sau:
Khi bắt đầu bài học, sử dụng các câu hỏi để xem xét việc học tập trước đó của học sinh và kích thích sự phản ánh về những gì đã được học vào cuối của bài học
Trang 3Tạo không khí cho lớp học, học sinh cảm thấy được khuyến khích để tiếp nhận
và phản hồi lại với những câu hỏi của giáo viên
Các câu hỏi phải gồm câu hỏi mức độ tư duy cao, câu hỏi mở, câu hỏi xuyên suốt quá trình học tập
Ghi nhận các phản hồi của học sinh và đưa ra lời giải đáp rõ ràng, đặc biệt là nếu học sinh có vẻ do dự
Khiến học sinh hiểu đúng các câu hỏi nếu thấy họ phản ứng không chính xác hoặc không có phản ứng
Dành thời gian hợp lí cho học sinh phản ứng với câu hỏi trước khi yêu cầu phản hồi
Ưu tiên hỏi những học sinh khác trước khi giáo viên trả lời
Thực tế việc giáo viên sử dụng câu hỏi để tăng cường hiệu quả tương tác không phải là việc làm dễ dàng Khảo sát thực tế tại các trường tiểu học của Anh, các tác giả Smith, Hardman, Wall và Mroz [7] thấy rằng giáo viên tiểu học dành trung bình 60% thời gian giảng dạy cho dạy toàn lớp, trong đó 74% thời gian là giáo viên nói Phần lớn những bước trong bài giảng là những câu hỏi đóng và sự trao đổi chưa có chiều sâu, nó đại diện cho một chuỗi hỏi đáp chứ chưa nhằm mục đích tương tác hay tư duy ở mức
độ cao hơn Các giáo viên được coi là giảng dạy hiệu quả sử dụng khá nhiều câu hỏi nhưng loại câu hỏi và sự phân bố thường khá giống nhau Hơn nữa, Burns và Myhill [10] cảnh báo rằng giáo viên hỏi càng nhiều, học sinh sẽ nói càng ít, điều này có thể cho thấy sự suy giảm trong tư duy bởi vì việc tiếp tục đặt câu hỏi ở mức độ thấp vẫn liên tục được đưa ra Ngay cả khi các câu hỏi ở mức độ tư duy cao hơn được đưa ra, thì việc đặt câu hỏi của giáo viên vẫn chiếm tỉ lệ lớn thời gian so với việc để học sinh phát triển các kĩ năng và tư duy bậc cao
Xem xét hiệu quả tương tác trong dạy học trên cơ sở đánh giá câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh cho thấy vai trò chủ đạo của giáo viên trong dạy học Tuy nhiên, điều đó cũng thể hiện sự thụ động của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức
Lý luận dạy học hiện đại đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, nhấn mạnh sự chủ động, sáng tạo của người học Do đó, người học cũng là trung tâm khi xem xét hiệu quả tương tác trong dạy học Rõ ràng là đặt câu hỏi không phải
là phương pháp duy nhất tạo ra sự tương tác, nhất là khi nó dễ dàng tạo ra sự thụ động của học sinh Muijs & Reynolds [5] thừa nhận rằng cuộc thảo luận mà học sinh được tham gia vào quá trình thảo luận, nhằm phát triển sự hiểu biết và các kĩ năng giao tiếp
Trang 4của người học, là một hình thức tương tác hiệu quả Và để đạt được sự hiệu quả đó thì cuộc thảo luận cần được giáo viên và học sinh chuẩn bị cẩn thận, quá trình thảo luận cần sự tập trung, rõ ràng và ghi lại kết quả tóm tắt sau đó Burns và Myhill [10] chỉ ra một số yếu tố quan trọng của bài giảng tương tác, bao gồm:
Các cơ hội để thảo luận nhóm cho phép người học phát triển tiếng nói của cá nhân trong cuộc thảo luận;
Hướng dẫn và định hướng thích hợp của giáo viên trong việc yêu cầu học sinh suy nghĩ tập thể, trong đó giáo viên cần phối hợp giữa ngôn ngữ và kĩ năng khi thực hiện công việc này;
Môi trường có lợi cho việc tham gia của người học;
Gia tăng mức độ tự chủ của học sinh
Việc tăng cường các cơ hội cho học sinh thảo luận, cộng tác, tăng cường sự tương tác của người học với giáo viên, với bạn học và với môi trường học tập tạo ra sự dịch chuyển từ việc thụ động tiếp nhận kiến thức của người học sang việc người học chủ động chiếm lĩnh kiến thức Tuy nhiên, để dạy học tương tác thực sự hiệu quả và thành công thì cần một sự cân bằng giữa hoạt động toàn lớp và làm việc nhóm/cá nhân Sự phát triển vượt bậc của CNTT&TT trong giáo dục đã tạo ra môi trường học tập mới, tạo điều kiện thuận lợi giúp giáo viên tạo ra sự cân bằng này, tạo nên sự thành công của dạy học tương tác
2 Sử dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả tương tác trong dạy học
Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học tương tác là một vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới từ những thập niên 90 của thế kỉ trước Thông qua các trường hợp nghiên cứu và khảo sát về hoạt động của người học với công nghệ thông tin, Hoyles, Healy & Pozzi [2] chỉ ra rằng đối với người học hoạt động cá nhân thì CNTT&TT có vai trò thực sự như một người hướng dẫn mà người học có thể giao tiếp và nhận được phản hồi, và giao tiếp hai chiều này có xu hướng được duy trì Cũng giống như hỗ trợ tương tác cho người học cá nhân, đối với hoạt động cặp/nhóm và hoạt động toàn lớp thì CNTT&TT đem lại hiệu quả tương tác thực sự với
sự hỗ trợ của công nghệ trình bày tương tác (interactive presentation technologies - IPTs) Năm 1998, chương trình giáo dục quốc gia của Anh đã định nghĩa rõ ràng về tính tương tác của CNTT&TT trong dạy học là chức năng CNTT&TT cho phép phản hồi và đáp ứng ngay lập tức một cách linh hoạt Trong các nghiên cứu được thực hiện với các
Trang 5giáo viên để phân tích tiềm năng của CNTT&TT cho hoạt động học tập, Kennewell [3]
đã chỉ ra ba đặc tính riêng biệt của CNTT&TT là:
Có thể sửa đổi (Editability): khả năng dễ dàng thay đổi sản phẩm CNTT&TT đã được tạo ra
Có thể chuyển đổi (Transformability): khả năng thay đổi dạng mẫu của bài trình bày
Phản hồi (Feedback): khả năng cung cấp tự động đáp ứng phản hồi lại một hành động của người dùng
Tại Việt Nam, từ những năm 2000, nhờ có các chính sách phát triển CNTT và truyền thông trong giáo dục của chính phủ, cơ sở vật chất về CNTT và truyền thông của các cơ sở giáo dục đã dần được đầu tư Có nhiều dự án lớn đưa CNTT&TT vào giáo dục của các tập đoàn như IBM, Intel, Microsoft cùng với các dự án của Bộ GD&ĐT đã được triển khai Ngoài việc được huấn luyện sử dụng các thiết bị và công
cụ hỗ trợ dạy học, các giáo viên còn được huấn luyện về các mô hình dạy học tích cực tích hợp CNTT&TT như mô hình Dạy và học với máy tính (TLC-Teaching and Learning with Computer), mô hình trường học sáng tạo (Innovative Shool), mô hình Dạy học cho tương lai (Teach to the Future), dạy học dựa trên dự án (PBL – Project Based Learning),
Sử dụng CNTT&TT nâng cao hiệu quả tương tác trong dạy học Tuy nhiên mức
độ tương tác mà các công cụ CNTT&TT có khả năng tạo ra trong lớp học lại phụ thuộc vào việc sử dụng mà giáo viên đặt ra Mỗi giáo viên có khả năng sử dụng công nghệ thông tin khác nhau mặc dù cùng được đào tạo, huấn luyện Thực tế cho thấy, sự khác nhau này không chỉ phụ thuộc ở khả năng sử dụng CNTT&TT mà còn ở nhận thức của giáo viên về tương tác trong dạy học Điều này dẫn đến hệ quả nhiều giáo viên có năng lực CNTT&TT nhưng chưa sử dụng CNTT&TT đúng cách, chưa khai thác hết thế mạnh của CNTT&TT cho việc dạy học tương tác Nhiều cơ sở giáo dục trang bị hệ thống công nghệ trình bày tương tác như bảng tương tác (Ineractive board), hệ thống trả lời tương tác (Interactive Respond System-IRS), nhưng sử dụng chưa đúng chức năng của thiết bị Điều này gây ra sự lãng phí lớn cho nguồn kinh phí đầu tư
Hệ thống công nghệ trình bày trương tác bản thân nó đã hỗ trợ mạnh mẽ cho sự tương tác trong dạy học Hệ thống IRS cho phép giáo viên có thể đồng thời kiểm tra nhiều học sinh một lúc, kết quả kiểm tra nhận được ngay lập tức và được thống kê, phân tích, Việc sử dụng hệ thống này sao cho đúng cách, khai thác đúng tiềm năng,
Trang 6thế mạnh của hệ thông không còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố công nghệ mà là công tác quản lý, chính sách và bồi dưỡng giáo viên
Việc sử dụng slide trình chiếu là công việc khá phổ biến của giáo viên hiện nay Trong quan niệm của nhiều giáo viên thì slide trình chiếu hỗ trợ đắc lực cho việc thuyết trình của giáo viên, nhưng yếu tố kỹ thuật hỗ trợ tương tác với người học thì còn yếu Ví dụ sau đây sẽ tập trung phân tích cách khai thác các slide trình chiếu nhằm tăng tính hiệu quả tương tác trong dạy học Để ví dụ được dễ hiểu, nội dung của slide chỉ có tính minh họa mà không trình bày vào một bài học cụ thể của chương trình phổ thông
Với nội dung ôn tập bốn phép toán +, -, x,: trong số học Trong giai đoạn thứ nhất, tương tác ở mức độ đơn giản, với các câu hỏi dễ, giáo viên có thể viết các phép tính lên bảng, chẳng hạn 8x9 và 23 – 17 và gọi lần lượt từng học sinh lên trả lời bằng cách điền kết quả cho các phép tính trên Trong tình huống này, giáo viên có thể dùng các slide trình chiếu thay cho việc viết phép tính và câu trả lời lên bảng Sau khi học sinh đưa ra câu trả lời, giáo viên cho chiếu kết quả trên slide để đối sánh và kiểm tra câu trả lời của học sinh có đúng hay không Có thể dễ thấy ở tình huống này hiệu quả của sử dụng CNTT&TT còn mờ nhạt
Trong giai đoạn tiếp theo của bài học, giáo viên phát triển tư duy ở mức cao hơn với yêu cầu học sinh giải quyết vấn đề Giáo viên tạo ra slide cho nhập 3 số, phần phép toán để trống Học sinh sẽ được chia nhóm thảo luận để đưa ra phép toán phù hợp sao cho kết quả đúng Các câu hỏi định hướng thảo luận có thể là: kết quả phép tính lớn hơn hay nhỏ hơn hai số? Phép toán nào kết quả trả lại lớn hơn? Phép toán nào kết quả trả lại nhỏ hơn? Slide này được giáo viên sử dụng như một công cụ hữu hiệu
để phản hồi lại các câu trả lời của các nhóm học sinh sau khi thảo luận
Trên đây chỉ là một minh họa đơn giản cho thấy khi giáo viên nhận thức được cần nâng cao hiệu quả tương tác trong dạy học thì họ sẽ sử dụng CNTT&TT theo đúng cách để đạt được mục đích đặt ra Bản thân hoạt động dạy học là sáng tạo và giáo viên
là người sáng tạo Khi người giáo viên nhận thức đầy đủ về tính tương tác trong dạy học, họ có thể dạy học tương tác một cách sáng tạo nhờ vào CNTT&TT
3 Kết luận
Năm 2012, Tổ chức phát triển và hỗ trợ kỹ thuật vùng Fla-măng, Vương Quốc
Bỉ đã tiến hành khảo sát “Nhìn vào tương lai của CNTT trong giáo dục Việt Nam” [9] đối với nhóm các cán bộ chủ chốt trong lĩnh vực CNTT trong giáo dục để xác định
Trang 7các ưu tiên cho CNTT trong giáo dục ở Việt Nam đến năm 2020 Theo kết quả của cuộc khảo sát thì có 5 mục tiêu và ưu tiên vô cùng quan trọng là:
Khuyến khích kĩ năng tự học, tự hoàn thiện bản thân
Khuyến khích tư duy đa chiều, kĩ năng nghiên cứu, giải quyết vấn đề và kĩ năng
ra quyết định
Khuyến khích học hợp tác và kĩ năng làm việc theo nhóm
Khuyến khích học hợp tác
Truy cập internet wifi tại tất cả các trường cao đẳng, đại học
Có thể thấy, trong 5 mục tiêu và ưu tiên vô cùng quan trọng, có tới 4 mục tiêu thuộc phương pháp dạy học CNTT&TT là một nhân tố tạo môi trường dạy học thuận lợi để tăng cường sự tương tác và tính chủ động tích cực của người học Để CNTT&TT được khai thác đúng với thế mạnh và tiềm năng cho dạy học thì rất cần những định hướng đúng đắn trong quản lý nguồn lực CNTT&TT, đặc biệt là công tác bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng CNTT&TT và phương pháp sư phạm tương tác với sự trợ giúp của CNTT&TT
TÀI LIỆU THAM KHẢO Hargreaves, L., Moyles, J., Merry, R., Paterson, F., Pell, Anthony, A and Esarte-Sarries, V (2003) How do primary school teachers define and implement
‘interactive teaching’ in the National Literacy Strategy in England Research Papers in Education, 18, 217-236
Hoyles, C., Healy, L and Pozzi, S (1994) Groupwork with computers, Journal
of Computer Assisted Learning, 10, 202-215
Kennewell, S., Tanner, H and Parkinson, J (2000) Developing the ICT capable school London: RoutledgeFalmer
Moyles, J., Hargreaves, L and Merry, R (2003) Interactive teaching In Moyles, J., Hargreaves, L., Merry, R., Paterson, F and Esartes-Sarries, V Interactive teaching in the primary school: digging deeper into meanings Maidenhead, Open University Press, 171-192
Muijs, D and Reynolds, D (2001) Effective teaching: evidence and practice London: Paul Chapman
Trang 8Phạm Quang Tiệp (2012) “Quan điểm Sư phạm tương tác trong dạy học”, Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, số 18, trang 74-88
Smith, F., Hardman, F., Wall, K and Mroz, M (2004) Interactive whole class teaching in the National Literacy and Numeracy strategies British Educational Research Journal 30, 395-411
Thurmond Veronica, Wambach Karen (2004), Understanding Interaction in Distance Education: A Review of Literature International Journal of Instructional Technology & Distance Learning, Number 02, January, 2004
Jef Peeraer (2012) Looking in the future of ICT in education in Vietnam Report on a Panel Survey of 2012 Flemish Association for Development Cooperation and Technical Assistance – Vietnam, Springer, Educ Res Policy Prac (2012) p89– p103
Burns, C and Myhill, D (2004) Interactive or inactive? A consideration of the nature of interaction in whole class teaching Cambridge Journal of Education, 34, p35-48
Savin, N.V (1983), Giáo dục học, tập 1 (Nguyễn Đình Chỉnh dịch), NXBGD