1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo luật hình sự việt nam

94 464 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 687,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật hình sự hiện hành đã quy định tại các Điều 51, 52, 60, 75 tuy nhiên trong thực tế áp dụng, quy định đó còn chưa hoàn thiện và điều đó đã dẫn đến nhiều vướng mắc trong quá trình á

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN CÔNG

TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP

ĐẶC BIỆT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TSKH LÊ VĂN CẢM

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Công

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh sách các bảng

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT 8

TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT 8

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của tổng hợp hình phạt 8

1.1.1 Khái niệm tổng hợp hình phạt 8

1.1.2 Ý nghĩa của tổng hợp hình phạt 9

1.2 Các quy định chung về tổng hợp hình phạt theo luật hình sự Việt Nam (Những trường hợp không đặc biệt) 10

1.2.1 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội 10

1.2.2 Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án 13

1.3 Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo Luật hình sự Việt Nam 15

1.3.1 Khái niệm về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt. 15

1.3.2 Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt. 17

1.4 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 22

1.4.1 Giai đoạn áp dụng từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi có BLHS Việt Nam năm 1985 22

Trang 4

1.4.2 Giai đoạn áp dụng BLHS Việt Nam năm 1985 25 1.3.3 Giai đoạn áp dụng BLHS Việt Nam năm 1999 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH

SỰ NĂM 1999 VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG (Giai đoạn 2008 – 2014) 31 2.1 Thực trạng các quy định của BLHS năm 1999 về tổng hợp hình phạt 31

2.1.1 Thực trạng quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội trong BLHS năm 1999 31 2.1.2.Thực trạng quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong BLHS năm 1999 33

2.2 Thực trạng quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp có liên quan đến án treo 36

2.2.1 Quy định pháp luật hiện hành về tổng hợp hình phạt trong trường hợp có liên quan đến án treo 36 2.2.2 Thực tiễn áp dụng quy định về án treo và tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo trên địa bàn tỉnh Hải Dương (Giai đoạn 2008 – 2014) 48 2.2.3 Một số tồn tại, vướng mắc của việc áp dụng quy định về tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo trên địa bàn tỉnh Hải Dương 51

2.3 Các quy định về Tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 56

2.3.1 Quy định pháp luật hiện hành về tổng hợp hình phạt đối với người chua thành niên phạm tội 56

Trang 5

2.3.2 Thực tiễn áp dụng quy định về người chưa thành niên phạm tội và tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội trên địa

bàn tỉnh Hải Dương (Giai đoạn 2008 – 2014) 61

2.3.3 Một số tồn tại, vướng mắc của việc áp dụng quy định về tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội trên địa bàn tỉnh Hải Dương 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT 68

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tổng hợp hình phạt trong các trường hợp đặc biệt 68

3.1.1 Về phương diện thực tiễn: 68

3.1.2 Về phương diện lập pháp: 70

3.1.3 Về phương diện lý luận: 71

3.2 Vấn đề hoàn thiện quy định về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 72

3.2.1 Đưa ra định nghĩa pháp lý về tổng hợp hình phạt và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt 72

3.2.2 Định hướng hoàn thiện quy định về tổng hợp hình phạt liên quan đến án treo: 73

3.2.2 Định hướng hoàn quy định về tổng hợp hình phạt người chưa thành niên phạm tội 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 77

KẾT LUẬN CHUNG 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 7

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình áp dụng án treo của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương từ

năm 2008 đến năm 2014 49

Bảng 2.2: Tình hình áp dụng án treo của các Tòa án nhân dân cấp huyện của

tỉnh Hải Dương từ năm 2008 đến năm 2014……….….… 50

Bảng 2.3: Số liệu xét xử các bị cáo là người chưa thành niên của Tòa án nhân

dân tỉnh Hải Dương từ năm 2008 đến năm 2014 61

Bảng 2.4: Số liệu xét xử các bị cáo chưa thành niên của các Tòa án nhân dân

cấp huyện của tỉnh Hải Dương từ năm 2008 đến năm 2014 62

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu nhằm đấu tranh và phòng ngừa tội phạm Pháp luật hình sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội dưới các góc độ khác nhau Bằng việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội nào được coi là tội phạm và người thực hiện nó phải chịu hình phạt, pháp luật hình sự được coi là công cụ mạnh tay và có hiệu quả nhất Hình phạt là một chế tài nghiêm khắc nhất và người

bị tuyên hình phạt phải gánh chịu những hậu quả bất lợi Cũng chính vì điều này mà quyết định hình phạt là một hoạt động vô cùng quan trọng của cơ quan xét xử (Tòa án các cấp) vì nếu quyết định hình phạt không đúng với mức độ của nguy hiểm xã hội của tội phạm sẽ không đảm bảo được tính răn

đe của pháp luật (nếu quyết định hình phạt nhẹ) hoặc gây ra oan sai và bất lợi đối với người phạm tội (nếu quyết định hình phạt nặng) Mặt khác, mục đích của hình phạt chủ yếu là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội do vậy nếu quyết định hình phạt sai mục đích đó sẽ không đạt được trái lại nó còn mang tính trừng trị nhiều hơn Về nguyên tắc, mọi tội phạm được đưa ra xét xử đều phải chịu một hình phạt Tuy nhiên, trong thực

tế có nhiều trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi tội phạm trong cùng một thời điểm hoặc thực hiện nhiều hành vi tội phạm nhưng không bị phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lúc Đối với mỗi hành vi phạm tội, người phạm tội sẽ bị xét xử và bị Tòa án tuyên là có tội và quyết định các mức hình phạt khác nhau đối với các tội danh đó Có thể các hình thức hình phạt đối với các tội là giống nhau nhưng cũng có thể khác nhau Điều này gây khó khăn cho việc chấp hành những hình phạt đó của những người phạm tội Vì vậy,để đánh giá toàn diện và đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tất cả các tội mà người phạm tội đã thực hiện, Toà án phải tổng hợp các hình phạt thành hình phạt chung buộc bị cáo (người phạm tội trong giai đoạn xét xử) phải chấp

Trang 9

hành Do vậy, đây là một quy định đặc biệt quan trọng trong luật hình sự Bộ luật hình sự hiện hành đã quy định tại các Điều 51, 52, 60, 75 tuy nhiên trong thực tế áp dụng, quy định đó còn chưa hoàn thiện và điều đó đã dẫn đến nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng nhất là đối với các trường hợp đặc biệt (Tổng hợp hình phạt đối trong các trường hợp có liên quan đến án treo và tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội) Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tổng hợp hình phạt trong các trường hợp này và thực tiễn áp dụng để làm sáng

tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho

sự cần thiết để chúng tôi lựa chọn đề tài “Tổng hợp hình phạt trong các

trường hợp đặc biệt trong luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương” làm luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Do hình phạt có vị trí quan trọng trong luật hình sự Việt Nam nên đã

có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những cấp độ khác nhau, những khía cạnh những phương diện khác nhau của hình phạt trong đó có việc tổng hợp hình phạt

2.1 Ở cấp độ các giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo, sách bình luận … có các công trình như sau:

1) GS.TSKH Lê Văn Cảm, Chương thứ bảy - Hình phạt và biện pháp

tư pháp, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005;

2) GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Trách nhiệm hình sự và hình

phạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001;

3) Viện Nhà nước và Pháp luật, Tội phạm học, luật hình sự và luật tố

tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994;

Trang 10

4) GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Tội phạm học, luật hình sự và

luật tố tụng hình sự, chương “Quyết định hình phạt”, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1995

2.2 Ở cấp độ các bài viết trên các tạp chí khoa học:

1) Đinh Văn Quế (2004), “Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án”,

Tạp chí Tòa án (Số 11);

2) Đinh Văn Quế (2007), “Quyết định hình phạt đối với người chưa

thành niên phạm tội”, Tạp chí kiểm sát (Số 6);

3) Đỗ Văn Chỉnh (2004), “Về việc tổng hợp hình phạt”, Tạp chí Tòa

án (Số 01); Phạm Văn Thiệu (2008), “Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án”,

Tạp chí Tòa án (Số 03);

4) Trần Văn Độ (2003), “Quyết định hình phạt đối với trường hợp

phạm nhiều tội”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (Số 01);

5) Lê Đăng Doanh (2009), “Trách nhiệm hình sự của người chưa thành

niên phạm tội – một số vấn đề cần được nghiên cứu”, Tạp chí Toà án (Số 9);

6) Nguyễn Mạnh Tiến (2010), “Bàn về quyết định hình phạt cải tạo không

giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Toà án (Số 21);

7) Quách Thành Vinh (2011), “Một số vấn đề về áp dụng pháp luật

đối với người chưa thành niên phạm tội bị xử phạt tù”, Tạp chí Toà án (Số 6);

8) Nguyễn Khắc Quang (2011), “Quyết định hình phạt đối với người

chưa thành niên phạm nhiều tội”, Tạp chí Toà án (Số 24);

9) Phạm Minh Tuyên (2012), “Những vấn đề vướng mắc để tổng hợp

hình phạt tù với án treo trong thực tiễn xét xử hiện nay”, Tạp chí Toà án (Số 6);

10) Nguyễn Khắc Quang (2012), “Quyết định hình phạt tù có thời hạn

đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Toà án (Số 7);

11) Vũ Tuấn Đức – Hà Hồng Sơn (2013), “Một số vấn đề về tổng hợp

hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự”, Tạp

chí Toà án (Số 6);

Trang 11

12) Dương Tuyết Miên (2014), “Một số ý kiến về Điều 51 và Điều 75

của Bộ luật hình sự hiện hành”, Tạp chí Toà án (số 19);

13) Trịnh Tiến Việt (2014), “Cần hoàn thiện chương X Bộ luật hình

sự Việt Nam – Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp

chí kiểm sát (Số 07)

2.3 Ở cấp độ các luận án tiến sỹ, thạc sỹ có các công trình:

1) Luận văn Thạc sỹ luật học,Quyết định hình phạt trong luật hình sự

Việt Nam của tác giả Trần Văn Sơn, Hà Nội, năm 1996;

2) Luận văn Thạc sỹ luật học Quyết định hình phạt đối với người chưa

thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Minh

Khuê, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007;

3) Luận văn Thạc sỹ luật học Quyết định hình phạt đối với người

chưa thành niên phạm nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam của tác giả Trịnh

Thị Yến, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014;

4) Luận văn Thạc sỹ luật học Quyết định hình phạt trong trường hợp

phạm nhiều tội theo luật hình sự Việt Nam, của tác giả Phạm Thị Thanh

Hoan, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015

Các công trình nghiên cứu khoa học trên đưa ra bàn luận và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật đặt ra Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của các công trình cũng đã cho thấy, tổng hợp hình phạt nói chung và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp cụ thể mặc dù

là một chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam nhưng vẫn còn nhiều nội dung chưa hoàn thiện dẫn đến trong quá trình áp dụng pháp luật còn gặp nhiều vướng mắc

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Tổng hợp hình phạt trong những trường

hợp đặc biệt theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)" vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn

Trang 12

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đánh giá những quy định của luật hình sự Việt nam hiện hành về tổng hợp hình phạt nói chung và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt cũng như qua thực tiễn áp dụng những quy định này trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó luận văn đưa ra những ý kiến đề xuất để hoàn thiện những quy định chung về tổng hợp hình phạt và quy định riêng trong các trường hợp đặc biệt của tổng hợp hình phạt, góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong việc tổng hợp hình phạt, nâng cao hiệu quả của hình phạt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau: 1) Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về tổng hợp hình phạt và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt

2) Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của quy định tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt trong lịch sử pháp luật hình sự của nước ta từ năm 1945 đến nay

3) Nghiên cứu tổng hợp hình phạt trong các trường hợp đặc biệt, có xem xét đến thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 -

2014 và trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định về tổng hợp hình phạt

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng tổng hợp hình phạt trong thực tiễn xét xử của Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 – 2014 và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng tổng hợp hình phạt trong thực tiễn

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt trong 07 năm (2008-2014)

Trang 13

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp

cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về quy định tổng hợp hình phạt nói chung và tổng hợp hình phạt trong các trường hợp đặc biệt theo luật hình

sự Việt Nam Những điểm mới cơ bản của luận văn là:

1) Phân tích một cách có hệ thống và cố gắng làm rõ những vấn đề cơ bản của chế định tổng hợp hình phạt như: Khái niệm tổng hợp hình phạt, ý nghĩa; tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt như: tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo và tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam Với việc phân tích, lý giải và rút ra một số kết luận khoa học, luận văn góp phần xác định cơ

sở khoa học cho việc nhận thức quy định tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo luật hình sự Việt Nam được thống nhất, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta

Trang 14

2) Luận văn nghiên cứu khái quát việc áp dụng quy định tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt trong hoạt động thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hải Dương, phân tích một số điểm chưa phù hợp của Bộ luật hình sự và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến việc

áp dụng, qua đó góp phần đánh giá đúng thực trạng tình hình áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến việc tổng hợp hình phạt tại Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương, cũng là thực trạng chung trên cả nước trong thời gian qua Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần giải thích, hướng dẫn áp pháp luật hình sự được thống nhất, đồng thời nêu ra quan điểm hoàn thiện để sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự hiện hành liên quan đến quy định tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các bảng, Lời cam đoan và Danh mục chữ viết tắt, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về tổng hợp hình phạt trong những

trường hợp đặc biệt

Chương II: Thực trạng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về

tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 - 2014

Chương III: Quan điểm hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT

tội [9, tr 01] Trong thực tế, có trường hợp một người phạm những tội khác

nhau được quy định trong BLHS bị phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần

và bị Toà án tuyên nhiều hình phạt (trường hợp phạm nhiều tội) hoặc có trường hợp một người đang chấp hành một bản án lại bị đưa ra xét xử về một tội mà người đó đã phạm trước hoặc sau khi có bản án đang chấp hành (trường hợp có nhiều bản án), vì vậy, Tòa án phải tổng hợp các hình phạt đã tuyên thành hình phạt chung để người bị kết án chấp hành hình phạt và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành,

tác giả xin đưa ra khái niệm về tổng hợp hình phạt như sau: Tổng hợp hình

phạt là trường hợp mà Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội phải chấp hành từ hai hình phạt chính trở lên (có thể bao gồm cả hình phạt

bổ sung) thành hình phạt chung

Trong BLHS Việt Nam năm 1999 có quy định các trường hợp khi xét

xử Toà án phải tổng hợp hình phạt gồm các trường hợp quy định chung là:

Trang 16

Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội; Tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án và các trường hợp đặc biệt là:Tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và Tổng hợp hình phạt trong các trường hợp liên quan đến án treo

Để việc tổng hợp hình phạt có căn cứ, đúng pháp luật, công minh với người bị kết án, Tòa án phải tuân thủ các quy tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam như: Nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc công minh, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm, nguyên tắc lỗi và nguyên tắc trách nhiệm cá nhân [Xem: 7, tr 204-212] Các nguyên tắc trên là tư tưởng chỉ đạo được thể hiện qua các nội dung cơ bản của BLHS, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án trong việc tổng hợp hình phạt đối với người bị kết án Vì vậy phải nhận thức đúng đắn và vận dụng chính xác, thống nhất các nguyên tắc đó khi tổng hợp hình phạt

1.1.2 Ý nghĩa của tổng hợp hình phạt

Tổng hợp hình phạt là một chế định pháp lý bảo đảm tính công bằng và nghiêm minh đối với người phạm tội Do vậy, việc nhận thức đúng đắn và áp dụng chính xác những quy định về tổng hợp hình phạt sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần giữ gìn trật tự xã hội

Cụ thể tổng hợp hình phạt có những ý nghĩa sau:

Một là, hình phạt chung sau khi tổng hợp là sự đánh giá đầy đủ và toàn

diện của nhà nước về các tội phạm mà một người đã thực hiện Vì vậy, tổng hợp hình phạt đúng sẽ góp phần đạt được mục đích và nâng cao hiệu quả của hình phạt, nghĩa là mới có khả năng cải tạo, giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội đồng thời răn đe và phòng ngừa chung

Hai là, tổng hợp hình phạt đúng là góp phần củng cố pháp chế xã hội

chủ nghĩa Để tổng hợp hình phạt đúng,người áp dụng pháp luật (thẩm phán) phải nhận thức đúng và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật

Trang 17

Mặt khác, hình phạt chung sau khi tổng hợp có tương xứng với các hành vi phạm tội thì mới có tính thuyết phục đối với người bị kết án

Ba là, việc tổng hợp hình phạt đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các

cơ quan thi hành án thực thi nhiệm vụ, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Trong thực tế, việc tổng hợp hình phạt không chính xác sẽ dẫn đến các cơ quan thi hành án không thi hành được bản án có hiệu lực, từ đó làm mất đi tính uy nghiêm của bản án nhân danh nhà nước, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm

Và bốn là, tổng hợp hình phạt đúng sẽ bảo đảm tính công bằng của

pháp luật và thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những người thực hiện nhiều hành vi tội phạm

1.2 Các quy định chung về tổng hợp hình phạt theo luật hình sự Việt Nam (Những trường hợp không đặc biệt)

1.2.1 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Phạm nhiều tội là trường hợp người phạm tội đã phạm những tội khác nhau được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa bị đưa ra xét xử và kết án lần nào nay bị Tòa án đưa ra xét xử cùng một lúc [9, tr.15]

Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội chưa có khái niệm chính thức trong luật hình sự Việt Nam Theo quan điểm của tác giả trên

cơ sở nghiên cứu quy định hiện hành về tổng hợp hình phạt trong trường hợp

phạm nhiều tội, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Tổng hợp hình phạt trong

trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp Toà án xét xử cùng một lúc bị cáo phạm hai tội khác nhau trở lên được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa bị đưa

ra xét xử hoặc kết án lần nào, sau khi quyết định hình phạt đối với từng tội, Toà án quyết định hình phạt chung của các tội (bao gồm cả hình phạt chính

và hình phạt bổ sung)

Trang 18

Qua khái nhiệm trên, việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội chỉ được thực hiện khi có đầy đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, bị cáo bị xét xử trong cùng một lần về hai tội phạm trở lên

Các tội này có thể được thực hiện cùng một lúc nhưng cũng có thể được thực hiện ở từng thời điểm khác nhau

Thứ hai, các tội phạm phải được quy định tại những điều luật khác nhau

hoặc được quy định ở các khung khác nhau của cùng một điều luật của BLHS

Thứ ba, trong số các tội phạm được đưa ra xét xử không có tội phạm

nào đã được xét xử trước đó

Thứ tư, các tội phạm đang còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Về quy định và phương pháp tổng hợp cụ thể như sau:

Đối với trường hợp một người phạm nhiều tội, khi xét xử trong cùng một lần đối với các tội đó, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau

đó tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

1) Đối với hình phạt chính:

a Nếu các hình phạt chính đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung, hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn

b Nếu các hình phạt chính đã tuyên là cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù có thời hạn theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung, hình phạt chung nếu

là cải tạo không giam giữ cũng không được quá 03 năm và nếu là hình phạt tù cũng không được quá 30 năm

c Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt chính đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung phải chấp hành là tù chung thân

Trang 19

d Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt chính đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung phải chấp hành là tử hình

e Hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác, các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung

f Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác

2) Đối với hình phạt bổ sung:

a Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do BLHS quy định đối với loại hình phạt đó.Riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung

b Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên

Tuy nhiên, trong thực tế thường gặp những vụ án bị cáo phạm nhiều tội, nhưng tuỳ từng trường hợp, Toà án có thể xử người phạm tội về nhiều tội hoặc có thể chỉ xử về một tội chủ yếu và coi những hành vi phạm tội khác chỉ

là những tình tiết tăng nặng, cụ thể là:

“- Khi người phạm tội có nhiều hành vi, mỗi hành vi cấu thành một tội

và nhằm mục đích khác nhau không có quan hệ hữu cơ với nhau, thì cần phải

xử về nhiều tội, không kể hành vi đó xảy ra trong cùng thời gian hay trong những khoảng thời gian khác nhau và gây thiệt hại cho một người hay nhiều người Ví dụ: bị cáo có hành vi hiếp dâm, sau đó giết và cướp tài sản của nạn nhân hay bị cáo phạm tội cướp tài sản của công dân, một thời gian sau lại cố ý gây thương tích nặng cho người khác Trong những trường hợp trên, Toà án cần phải xử các bị cáo về nhiều tội

- Khi người phạm tội có nhiều hành vi, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm khác nhau nhưng có quan hệ với nhau và cùng nhằm một mục đích phạm tội thì cần xử về nhiều tội nếu các hành vi phạm tội đó đều nghiêm trọng ngang nhau Ví dụ: bị cáo tham ô tài sản của Nhà nước rồi đốt cửa hàng

Trang 20

để phi tang, hoặc bị cáo đưa hối lộ cho nhân viên hải quan để buôn lậu hàng hoá, tiền tệ qua biên giới

- Trường hợp khác nếu trong những hành vi phạm tội đó có hành vi ít nghiêm trọng thì có thể chỉ xử về một tội nghiêm trọng và coi những hành vi khác là tình tiết tăng nặng

- Trường hợp người phạm tội chỉ có một hành vi, nhưng hành vi lại cấu thành nhiều tội phạm khác nhau thì tuỳ từng vụ án cụ thể mà xét xử về nhiều tội hoặc chỉ xét xử về một tội Nếu trường hợp các tội đều nghiêm trọng nang nhau thì phải xét xử về nhiều tội, còn nếu có tội ít nghiêm trọng hơn hẳn so với tội khác thì xét xử về một tội và coi những hành vi kia là tình tiết tăng nặng” [9, tr.16]

Tóm lại, trong trường hợp xét xử bị cáo về nhiều tội, sau khi phân tích

và kết luận về từng tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp các hình phạt đó thành hình phạt chung Điều 50 BLHS đã quy định rất đầy đủ và cụ thể việc tổng hợp hình phạt chung đối với cả hình phạt chính

và hình phạt bổ sung

1.2.2 Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

Khi một người phạm nhiều tội, không phải trong tất cả các trường hợp đều được phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần Có trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị đưa ra xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này Trường hợp khác, một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử hoặc trường hợp có nhiều bản

án có hiệu lực pháp luật nhưng các bản án này chưa được tổng hợp Vì vậy, Toà án phải tổng hợp hình phạt của các bản án này Cũng giống như tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, khái niệm về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án cũng chưa được đưa ra trong luật hình sự Việt Nam, trên cơ

sở các quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, tác giả xin đưa ra

khái niệm như sau: Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án là việc Toà án quyết

Trang 21

định hình phạt chung cho người phạm tội bị tuyên nhiều hình phạt tạinhững bản án khác nhau

Theo quy định của luật hình sự, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án gồm ba trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, một người đang phải chấp hành một bản án mà

lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 BLHS.Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung

Trường hợp thứ hai, khi xét xử một người đang phải chấp hành một

bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau

đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 BLHS Nghĩa là thời gian đã chấp hành của bản án trước không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt

tù chung

Trong trường hợp thứ hai, hình phạt chung mà người phạm tội phải chấp hành thực tế có thể lớn hơn 30 năm tù Quy định này thể hiện tính nghiêm khác của Nhà nước đối với tính chất tội phạm Toà án có thể xử phạt nghiêm khắc hơn trường hợp thứ nhất bởi vì đối với những người bị kết án, trong thời gian chấp hành hình phạt đã không có ý thức cải tạo tốt mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội mới thì rõ ràng tính chất nguy hiểm hơn nên cần phải

xử phạt nặng hơn

Trường hợp thứ ba,nếu một người phải chấp hành nhiều bản án đã có

hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Toà án ra quyết định tổng hợp các bản án Trong trường hợp này, chánh án Toà án nơi bị cáo xét xử sau cùng sẽ tổng hợp hình phạt của tất cả các bản án trước thành hình phạt chung để bị cáo chấp hành

Trang 22

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại Điều 51 BLHS năm 1999 Mỗi trường hợp có cách thức tổng hợp khác nhau nhưng đều phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước đối với người phạm tội

1.3 Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo Luật hình sự Việt Nam

1.3.1 Khái niệm về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt

Theo từ điển Tiếng Việt (http://vdict.com), từ “đặc biệt” nghĩa là khác hẳn những trường hợp thông thường về tính chất, chức năng hoặc mức độ [21]

Trong luật hình sự Việt Nam, theo quan điểm của tác giả: tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án là những trường hợp chung của tổng hợp hình phạt, quy định chung về phương thức tổng hợp đối với tất cả các trường hợp tổng hợp hình phạt Tuy nhiên còn có những trường hợp đặc biệt gồm tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo và tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Những trường hợp này, ngoài áp dụng những quy định chung về tổng hợp hình phạt còn cần được áp dụng những quy định riêng do

tính chất của tội phạm (các trường hợp liên quan đến án treo) hay chủ thể đặc biệt của luật hình sự (người chưa thành niên)

Trên cơ sở nghiên cứu về tổng hợp hình phạt trong các trường hợp chung và tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên, tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo, tác giả xin đưa ra khái niệm về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt như sau:

Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt là trường hợp Toà án ngoài áp dụng những quy định chung về tổng hợp hình phạt mà còn phải áp dụng những quy định riêng để tổng hợp hình phạt trong một số trường hợp cụ thể gồm: các trường hợp liên quan đến án treo và người chưa thành niên phạm tội

Trang 23

Điểm đặc biệt của tổng hợp hình phạt trong các trường hợp này thể hiện ở những nội dung sau:

Một là, những trường hợp áp dụng những quy định này là những chủ

thể đặc biệt của luật hình sự

- Án treo là một chế định đặc biệt của bộ luật hình sự và là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Người được Toà án cho hưởng án treo phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về nhân thân và mức độ nghiêm trọng của tội phạm

- Người chưa thành niên là một đối tượng đặc biệt, vì vậy bộ luật hình

sự có quy định một chương riêng đối với chủ thể này (Chương X BLHS)

Hai là, Việc tổng hợp hình phạt trong những trường hợp này phải xem

xét đến tính chất của hành vi phạm tội qua đó thể hiện tính nghiêm khắc hay tính nhân đạo của pháp luật

- Người đang trong thời gian thử thách của án treo lại phạm tội mới thì tính chất của hành vi là nguy hiểm hơn vì sau khi xem xét đến nhân thân và hành vi phạm tội trước mới được cho hưởng án treo nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo tốt mà lại phạm tội mới trong thời gian thử thách nên hình phạt cần nghiêm khắc hơn

- Người chưa thành niên được xem là chưa phát triển hết mà mặt thể chất và tinh thần nên theo khoản 1 Điều 69 BLHS: “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” Việc tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phải mang tính giáo dục nhiều hơn nên thể hiện tính nhân đạo của pháp luật

Ba là, ngoài việc áp dụng những quy định chung về tổng hợp hình phạt,

trong các trường hợp này, Toà án cần áp dụng các quy định riêng đối với từng trường hợp Đối với các trường hợp có liên quan đến án treo thì áp dụng theo khoản 5 Điều 60 BLHS và nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 11

Trang 24

năm 2013 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, còn đối với trường hợp người chưa thành niên thì áp dụng theo Điều 75 BLHS

1.3.2 Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt

Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt phải tuân theo những nguyên tắc của tổng hợp hình phạt và những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng cần tuân thủ theo những nguyên tắc riêng Trên cơ sở nội dung các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tổng hợp hình phạt, tác giả nhận thấy các nguyên tắc gồm: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc nhân đạo; Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt; Nguyên tắc công bằng

1) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa:

Là một quy định của BLHS Việt Nam nên tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt phải tuân thủ theo nguyên tắc chung của luật hình

sự trong đó có nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Về nội dung cơ bản của nguyên tắc này: 1 Bất kỳ một hành vi nào chỉ

bị coi là tội phạm (tính chất tội phạm của hành vi) và bị trừng phạt bằng chế tài pháp lý hình sự (tính phải bị xử lý về hình sự của hành vi, trong đó bao gồm cả tính phải chịu hình phạt) và các hậu quả pháp lý hình sự khác của việc thực hiện hành vi đó chỉ và phải do BLHS quy định; 2 Địa vị pháp lý – các quyền và nghĩa vụ của người phạm tội đã được miễn TNHS hoặc không bị truy cứu TNHS do hết thời hiệu, của người bị kết án đã được miễn hình phạt hoặc không phải chấp hành bản án do hết thời hiệu, cũng như của người đã chấp hành xong hình phạt và đã được xoá án tích theo quy định của BLHS không thể bị hạn chế so với địa vị những công dân khác không có án tích (nếu trong BLHS không quy định khác); 3 Việc thực TNHS nhất thiết phải trên cơ

sở tuân thủ, chấp hành và áp dụng nghiêm chỉnh và nhất quán các quy phạm pháp luật hình sự; 4 Không áp dụng luật hình sự theo nguyên tắc tương tự [7, tr 204]

Trang 25

Xác định và thực hiện đầy đủ nguyên tắc này là tạo lập và khẳng định trật tự, kỷ cương phép nước, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá chính trị

và văn hoá pháp lý trong xã hội Đó đồng thời cũng là sự thể hiện yêu cầu bảo

vệ quyền con người trong xã hội ta [9, tr.05]

Đối với tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hiện quy định mức tối đa của hình phạt chungkhông được vượt qua 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ và30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn, tại Điều 50 BLHS

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn được thể hiện qua các quy định đối với những kẻ phạm tội không biết ăn năn hối cải coi thường pháp luật mà tiếp tục phạm tội thì phải chịu mức hình phạt cao hơn Trường hợp phạm tội trong thời gian thử thách án treo tại khoản 5, Điều 60:“Đối với những người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 bộ luật này.” Hay trong quy định về tổng hợp hình phạt tại khoản 2, Điều 51 đối với một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới thì hình phạt chung thực tế có thể vượt quá 30 năm là mức hình phạt tù tối đa quy định tại điều 33 BLHS

Ngoài ra, khi tổng hợp hình phạt Toà án phải áp dụng đúng các quy định về tổng hợp hình phạt trong BLHS và các văn bản có liên quan Các quy định về tổng hợp hình phạt phải được hiểu và áp dụng thống nhất trong cả nước.Toà án phải nêu rõ căn cứ pháp lý được ghi trong bản án, tức là Toà án phải ghi rõ điều, khoản, điểm đã vận dụng Đây là công việc hết sức quan trọng của Toà án khi tuyên án vì nó làm cho bản án mang tính hợp pháp, có sức thuyết phục Hơn nữa, nó còn là cơ sở để Toà án cấp trên giám sát, kiểm tra việc xét xử của Toà án cấp dưới, phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai sót của Toà án cấp dưới

2) Nguyên tắc nhân đạo

Nhân đạo là một truyền thống quý báu của dân tộc ta Đây là nguyên tắc như sợi chỉ đỏ xuyên suốt các chương, các điều khoản của BLHS

Trang 26

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: 1 Đối với người phạm tội việc

áp dụng hình phạt chỉ cần thiết đến mức cần và đủ cho việc đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung; 2 Hình phạt, các biện pháp tư pháp

và chế định pháp lý hình sự khác nhau được áp dụng đối với người phạm tội không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác, hạ thấp về nhân phẩm con người; 3 Nếu trong việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự mà thiếu một trong những điều kiện của TNHS, thì tương ứng như vậy, hành vi ấy không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi đó không phải chịu TNHS [9, tr 5-6]

Nội dung nguyên tắc nhân đạo được thể hiện qua các quy định đặc thù đối với người chưa thành niên phạm tội Người chưa thành niên là chủ thể đặc biệt của luật hình sự do năng lực TNHS hạn chế Tại khoản 5 Điều 69 BHLS

có quy định “không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.” Hay tại Điều 74 quy định rõ giới hạn mức phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên Hình phạt đối với người chưa thành niên chủ yếu phải mang tính giáo dục nhằm đưa các em trở về làm người có ích cho xã hội

Nguyên tắc nhân đạo các quy định chung về tổng hợp hình phạt Tại Điều 50 BLHS quy định giới hạn mức cao nhất của hình phạt chung đối với từng loại hình phạt: “nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn” Việc quy định giới hạn mức tối đa của hình phạt chung thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự, đối với hình phạt tù có thời hạn, thời hạn tối đa chỉ đến 30 năm chứ không được vượt quá, đây là quy định có lợi cho người phạm tội

Trang 27

3 Nguyên tắc công bằng

Trong tất cả các giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là mục tiêu và động lực phát triển của xã hội Nội dung công bằng xã hội được Đảng và Nhà nước ta quan niệm trên tất cả các lĩnh vực khác nhau trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng được thể hiện bằng sự tương xứng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và TNHS của người vi phạm phải chịu Sự tương xứng này thể hiện: 1 Ở mức độ lập pháp hình sự, tức là vấn đề tội phạm hoá, phi tội phạm hoá, hình sự hoá và phi hình sự hoá; 2 Ở mức độ chế tài hình sự trong các điều luật về tội phạm Một chế tài hình sự được coi là công bằng khi

nó tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời nó phải tương xứng trong mối liên hệ đối với chế tài của các tội phạm khác, chế tài đó cho phép Toà án có thể tính tới các điều kiện phạm tội cụ thể trong thực tiễn; 3 Mức và loại hình phạt áp dụng được coi là công bằng khi nó tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, động cơ và mục đích phạm tội, mức độ lỗi, cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS, nguyên nhân, điều kiện phạm tội [9, tr 6-7]

Nguyên tắc công bằng được thể hiện đối với quy định về tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo, buộc người được hưởng

án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo nếu người này phạm tội mới

Đối với tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, nếu tội nặng nhất được thực hiện khi đã đủ 18 tuổi thì việc tổng hợp hình phạt được thực hiện như đối với người thành niên cũng được coi là đã thể hiện được nguyên tắc công bằng

Ngoài ra, nguyên tắc công bằng thể hiện ở chỗ trong từng trường hợp

cụ thể, Toà án phải tuyên hình phạt tổng hợp phù hợp với tính chất, mức độ

Trang 28

nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội đã thực hiện, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo … Trong phạm vi cả nước, Toà án phải thống nhất trong việc hiểu và vận dụng cách thức tổng hợp hình phạt, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu theo một cách và khi quyết định hình phạt riêng cho từng tội, Toà án phải xem xét tất cả các tình tiết có trong vụ án có như vậy việc tổng hợp hình phạt mới phù hợp với toàn bộ các hành vi phạm tội của bị cáo

4) Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong tổng hợp hình phạt

Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ khi tổng hợp hình phạt chung, Toà án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi phạm tội đã thực hiện, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS để chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong BLHS sao cho đạt kết quả cao nhất, tạo điều kiện cho việc đạt được mục đích của hình phạt [9, tr.7]

Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt được thể hiện rõ thông qua các quy định về quyết định hình phạt tại chương VII của BLHS và các điều luật trong phần chung BLHS

Đối với tổng hợp hình phạt trong trường hợp có liên quan đến án treo,

đã có đường lối xử lý riêng giữa trường hợp người được hưởng án treo lại phạm tội mới trong thời gian thử thách (Điều 6) và trường hợp người được hưởng án treo đang chấp hành thời gian thử thách lại bị xét xử về tội đã thực hiện trước khi có bản án cho hưởng án treo (Điều 7) theo hướng dẫn tại nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Hội đồng thẩm phán TANDTC

Đối với tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội, luật đã có quy định riêng về cách thức tổng hợp hình phạt đối với người phạm nhiều tội, có tội thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, theo quy định tại Điều 75 BLHS

Trang 29

Để tổng hợp hình phạt, Toà án phải dựa trên cơ sở việc quyết định hình phạt đối với từng tội cụ thể, từng bản án nên nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong tổng hợp hình phạt thể hiện trước hết qua việc quyết định hình phạt đối với từng tội Hình phạt được quyết định phải tương xứng với tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Khi quyết định hình phạt, Toà

án phải cân nhắc, xem xét tất cả các tình tiết có trong vụ án để đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Mặt khác, Toà án cũng cần xem xét đến các yếu tố khác nữa như khách thể xâm phạm của tội phạm; vai trò của người phạm tội (nếu trong vụ án có đồng phạm), các giai đoạn phạm tội; công cụ, phương tiện phạm tội; hoàn cảnh, mục đích phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS… để từ đó quyết định hình phạt phù hợp đối với người phạm tội

Tóm lại, tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt và tổng hợp hình phạt nói chung là trường hợp Toà án quyết định hình phạt nên các nguyên tắc tổng hợp hình phạt có quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc quyết định hình phạt và có quan hệ biện chứng với các nguyên tắc chung của luật hình sự

1.4 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

1.4.1 Giai đoạn áp dụng từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi có BLHS Việt Nam năm 1985

Trước khi ban hành BLHS năm 1985, không có quy định cụ thể nào về tổng hợp hình phạt nói chung và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt Các quan điểm về tổng hợp hình phạt được đề cập đến chủ yếu trong các bản báo cáo tổng kết công tác của ngành Toà án và các công văn hướng dẫn của TANDTC

1) Đối với trường hợp chung của tổng hợp hình phạt

Trong báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1964, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã hướng dẫn các Toà án cách thức định tội danh trong

Trang 30

trường hợp phạm nhiều tội và hai trường hợp của về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án với cách thức tổng hợp có nhiều điểm tương đồng với các quy định hiện hành của BLHS [Xem 33, tr 139 – 142] Tuy nhiên, báo cáo tổng kết năm 1964 còn nhiều điểm hạn chế như một số nội dung hướng dẫn còn chung chung, chưa rõ ràng dẫn đến việc áp dụng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội vẫn còn chưa thống nhất, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án còn chưa bao quát hết được các trường hợp nên ngày 14/9/1973, Toà án nhân dân tối cao đã ra công văn số 612/NCPL hướng dẫn các Toà án tổng hợp hình phạt Quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp nhiều bản án và phạm nhiều tội được hướng dẫn đầy đủ hơn và cụ thể hơn Đối với trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội đã quy định rõ thế nào là trường hợp cộng một phần, cộng toàn bộ và thu hút hình phạt Còn đối với tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã được chia thành hai loại: Trường hợp người đang chấp hành một bản án lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản

án này và trường hợp một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới [xem 33, tr 145-148] Các quy định này đã đáp ứng được phần nào yêu cầu về áp dụng tổng hợp hình phạt trong giai đoạn này

2) Đối với các trường hợp đặc biệt

a Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thưr thách

Vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được cho hưởng án treo lại phạm tội mới trong thời gian thử thách đã được quy định tại điều IV,

Sắc lệnh số 33C, ký ngày 13-9-1945, về việc lập Toà án Quân sự ở Bắc Bộ,

Trung Bộ, Nam Bộ và quy định quyền hạn xét xử của các Toà án đó và Tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 về Tổ chức các Toà án quân sự:

“Nếu trong (hạn) 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một Toà án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành” Nghĩa là đối với người phạm tội được cho hưởng án treo, nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án không bị

Trang 31

tòa án quân sự xét xử và tuyên có tội về một tội mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có Nhưng nếu trong 5 năm ấy, người bị kết án phạm một tội mới, bị Toà án quân sự đưa ra xét xử và tuyên có tội thì phải chịu đồng thời hình phạt của cả hai bản án

Ngày 01/12/1961, TANDTC ban hành thông tư số 2308/NCPL về việc

áp dụng án treo Việc tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách đã có những sự thay đổi căn bản: “Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo lại phạm tội mới cùng tính chất hoặc nặng hơn tội cũ, Toà án sẽ cộng một phần hay toàn bộ hình phạt cũ vào hình phạt mới để chấp hành” [33, Tr.125] Văn bản hướng dẫn này có hiệu lực đến khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành Tuy đã có những đổi mới

so với quy định tại sắc lệnh 33 và sắc lệnh 21 nhưng quy định về việc Toà án cộng một phần hay toàn bộ hình phạt cũ vào hình phạt mới để chấp hành là chưa rõ ràng gây khó khăn cho việc áp dụng

b Đối với trường hợp Tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội

Trước khi có BLHS năm 1985, pháp luật hình sự Việt Nam không có văn bản chính thức nào quy định nguyên tắc xử lý, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội mà vấn đề này cũng mới chỉ được đề cập tới trong các báo cáo tổng kết công tác ngành toà án và hướng dẫn đường lối xét xử của TANDTC

Báo cáo tổng kết công tác 4 năm (1965-1968) của TANDTC đã xác định: Về nguyên tắc, từ đủ 14 tuổi tròn trở lên coi là có trách nhiệm về mặt hình sự, nói chung đối với lứa tuổi từ 14 đến 16 thì chỉ nên truy tố, xét xử trong những trường hợp phạm các tội nghiêm trọng như giết người, cướp của, hiếp dâm … Đối với lứa tuổi từ 16 đến 18 nếu hành vi phạm pháp có tính chất tương đối nghiêm trọng, nói chung cần xét xử nhưng so với người lớn, cần nhẹ hơn [33, tr 14]

Trang 32

Về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, tại Chuyên đề sơ kết kinh nghiệm xét xử các vụ án về người chưa thành niên phạm tội (kèm theo công văn số 37/NCPL ngày 16/1/1976) nhấn mạnh:

“Phải coi trọng việc phạm tội của người chưa đến tuổi trưởng thành là một trường hợp được giảm nhẹ tội, nghĩa là phải xử nhẹ người chưa thành niên hơn người lớn tuổi phạm tội trong những điều kiện tương tự Đó là nguyên tắc cần quán triệt Việc xử phạt nhiều, ít là tuỳ thuộc ở trình độ nhận thức và trạng thái sinh lý của người chưa thành niên đến mức độ nào được thể hiện nói chung qua lứa tuổi cao, thấp khác nhau, ở hoàn cảnh phạm pháp, ở tính chất nguy hiểm ít hay nhiều của hành vi phạm tội và của nhân thân người phạm tội cũng như yêu cầu của tình hình chung” [34, tr 36]

Nội dung của bản sơ kết này đầy đủ hơn, chi tiết hơn so với những báo cáo tổng kết trước đó nhưng vấn đề tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên trong trường hợp có tội thực hiện trước và có tội thực hiện sau khi

đủ 18 tuổi lại chỉ được đề cập đến khá sơ lược

1.4.2 Giai đoạn áp dụng BLHS Việt Nam năm 1985

1) Đối với các trường hợp chung của tổng hợp hình phạt

Trong BLHS năm 1985, tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đã được quy định tại Điều 41: “Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên” Tuy nhiên, quy định: “Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên” đã làm giảm đi sự nghiêm khắc của pháp luật đối với những kẻ phạm nhiều tội, nhất là đối với những trường hợp các tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội Để khắc phục nhược điểm này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã được Quốc hội nước

Trang 33

cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/12/1989 đã sửa đổi quy định trên như sau: “Hình phạt chung không đựơc vượt mức cao nhất của loại hình phạt đã tuyên” Tuy nhiên, BLHS năm 1985 không quy định cách thức tổng hợp hình phạt, do đó gây ra những vướng mắc khi áp dụng pháp luật, nhất là trong trường hợp phải tổng hợp các hình phạt khác loại

Đối với vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án Tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án được quy định tại Điều

42 của BLHS năm 1985 như sau:

“Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét

xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này thì toà án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên (khoản 1)

Trường hợp một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Toà án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó cộng với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước thành hình phạt chung Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất mà luật quy định cho loại hình phạt đã tuyên (khoản 2) Quy định này đã thể hiện rõ sự phân hoá trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”

Tại khoản 1 Điều 42 BLHS năm 1985 quy định “hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên.” Nghĩa là cũng tương tự như quy định tại Điều 41, hình phạt nặng nhất đối với người phạm nhiều tội cũng có thể chỉ chỉ bằngngười phạm một tội Điều này là sự vi phạm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi mà người phạm tội đã thực hiện Do sự không hợp lý này nên khoản 1 Điều 42 BLHS năm 1985 đã

Trang 34

được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS ngày 28/12/1989 sửa đổi như sau: “ Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của loại hình phạt đã tuyên ” Quy định này đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xét

xử, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với người phạm nhiều tội Quy định trên tuy đã khắc phục một phần sự bất hợp lý nhưng chưa triệt để vì hình phạt chung cao nhất của hình tù tối đa là 20 năm (Điều 26 BLHS năm 1985), trong khi đó, hình phạt tù cao nhất đối với một tội cũng là 20 năm Như vậy, vẫn chưa đảm bảo triệt để nguyên tắc công bằng của luật hình sự

Một hạn chế nữa là trong lần sửa đổi, bổ sung này, các nhà làm luật vẫn còn bỏ sót trường hợp trong quá trình xét xử, một bị cáo bị tuyên nhiều bản án nhưng chưa có bản án nào có hiệu lực pháp luật ngay nên tại thời điểm xét xử, Toà án không thể tổng hợp hình phạt của các bản án được Do đó, khi các bản

án này có hiệu lực pháp luật thì các bản án này không được tổng hợp vì Điều

42 không quy định Do đó, trong lần sửa đổi thứ hai BLHS năm 1985 (có hiệu lực ngày 16/8/1991) các nhà làm luật đã bổ sung khoản 3 Điều 42 để tổng hợp hình phạt trong trường hợp này

2) Đối với các trường hợp đặc biệt

a Trường hợp tổng hợp hình phạt trong trường hợp có liên quan đến

án treo:

Tại khoản 5 Điều 44 BLHS năm 1985 quy định:“Nếu trong thời gian thử thách người bị án treo lại phạm tội mới và bị phạt tù thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 điều 42” Quy định trên còn chung chung

và gây khó khăn cho việc áp dụng, vì có trường hợp người được cho hưởng

án treo đã bị tạm giam hoặc tạm giữ, sau khi tổng hợp hình phạt, ngày tạm giam và tạm giữ được trừ như thế nào chưa được quy định cụ thể, dẫn đến việc tổng hợp không đúng quy định Từ thực tế trên, TANDTC đã ra Thông

tư số 01/NCPL ngày 6/4/1988 hướng dẫn bổ sung về án treo Thông tư này đã

Trang 35

hướng dẫn cụ thể việc áp dụng nguyên tắc nào để quyết định hình phạt chung

và cách trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam

b Đối với vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội

Trong BLHS năm 1985, vấn đề tuổi của người chưa thành niên đã được quy định tại Điều 58 BLHS năm 1985, theo đó người chưua thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi BLHS năm 1985 cũng đã có một chương riêng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội Vấn đề tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội được quy định tại Điều 65 của BLHS năm 1985, trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội có tội thực hiện trước khi đủ 18 tuổi có tội thực hiện sau khi

đủ 18 tuổi thì việc tổng hợp hình phạt được áp dụng như sau:

“1 Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung không được vựơt mức hình phạt cao nhất quy định ở Điều 64

2 Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạt chung được áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội”

Quy định về tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong BLHS năm 1985 đã rõ ràng, chi tiết nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa thật hoàn thiện vì vậy, đòi hỏi sự bổ sung cần thiết trong BLHS mới – BLHS năm 1999

1.3.3 Giai đoạn áp dụng BLHS Việt Nam năm 1999

Sau một thời gian áp dụng, BLHS năm 1985 bộc lộ nhiều hạn chế cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp vì vậy BLHS năm 1999 ra đời để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới của nước ta là quá trình tất yếu BLHS năm 1999

đã có nhiều điểmmới thể hiện sự thay đổi về chính sách hình sự của Nhà nước

ta và cũng thể hiện được sự tiến bộ về mặt kỹ thuật lập pháp Quy định chung

về tổng hợp hình phạt cũng như quy định về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt đã có những thay đổi theo dần hoàn thiện

Trang 36

Các quy định chung về tổng hợp hình phạt gồm: Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội được quy định tại Điều 50 BLHS và Tổng

hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại Điều 51 Theo Điều 50 thì mức tối đa của hình phạt chung đối với hình phạt tù và cải tạo không giam giữ

đã được nâng lên Đối với tù có thời hạn, mức tối đa đối với một tội là 20 năm nhưng hình phạt chung tối đa là 30 năm, điều này thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước đối với những người phạm nhiều tội Đồng thời, Bộ luật này còn quy định rõ cách thức tổng hợp hình phạt đối với từng trường hợp cụ thể Điều 51 BLHS năm 1999 có nhiều sự thay đổi so với điều 42 BLHS 1985 Đó

là mức hình phạt tối đa của tù có thời hạn được nâng lên là 30 năm, mức tối

đa của cải tạo không giam giữ được nâng lên là 3 năm, trường hợp tổng hợp các bản án có hiệu lực pháp luật đã được quy định tại khoản 3 Điều 51

Đối với những trường hợp đặc biệt, tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên tội BLHS năm 1999 đã giảm mức hình phạt áp

dụng cho người chưa thành niên phạm tội nhiều hơn hẳn so với mức giảm hình phạt quy định tại BLHS năm 1985 Đối với tổng hợp hình phạt trong trường hợp có liên quan đến án treo, tại khoản 5 Điều 60 BLHS năm 1999 đã quy định tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo phạm tội trong thời gian thử thách đối với tất cả các trường hợp chứ không chỉ riêng đối với trường hợp hình phạt mới là hình phạt tù như khoản 5 Điều 44 BLHS năm 1985

Tóm lại, quy định chung về tổng hợp hình phạt và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo BLHS Việt Nam năm 1999 đã được quy định đầy đủ và cụ thể hơn các giai đoạn trước Tuy nhiên, trong thực tế

áp dụng đến nay đã hơn 16 năm dù đã được sửa đổi và có những nghị quyết hướng dẫn kèm theo nhưng vẫn còn nhiều điểm hạn chế vướng mắc trong áp dụng đòi hỏi có sự sửa đổi bổ sung cho phù hợp hơn

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổng hợp hình phạt nói chung và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt là quy định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam Qua việc đảm bảo những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự và những nguyên tắc đặc thù của tổng hợp hình phạt, Toà án quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc của nhiều bản án đối với những trường hợp đặc biệt gồm người được cho hưởng án treo phạm tội trong thời gian thử thách hoặc đối với người chưa thành niên Việc áp dụng đúng các quy định pháp luật trong việc tổng hợp hình phạt sẽ mang lại hiệu quả của hình phạt và sự phối hợp của các

cơ quan tiến hành tố tụng

Quy định chung về tổng hợp hình phạt và quy định trong những trường hợp đặc biệt làchế định pháp luật hình sự ra đời từ rất sớm Cùng với sự phát triển của đất nước, pháp luật hình sự của nước ta cũng có những thay đổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh những quan hệ xã hội mới Trong bối cảnh đó, là một quy định khá quan trọng trong luật hình sự nên tổng hợp hình phạt cũng

đã được dần hoàn thiện để đáp ứng đòi hỏi của xã hội Tuy nhiên, dù đã được đánh giá là tiến bộ hơn so với các quy định trước đó, nhưng các quy định về tổng hợp hình hình phạt nói chung và tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt trong BLHS hiện hành còn nhiều điểm hạn chế, cần được sửa đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG (Giai đoạn 2008 – 2014) 2.1 Thực trạng các quy định của BLHS năm 1999 về tổng hợp hình phạt

2.1.1 Thực trạng quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội trong BLHS năm 1999

Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội được quy định tại Điều 50 của BLHS năm 1999 như sau:

“Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

1 Đối với hình phạt chính :

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo

tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù

để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

Trang 39

đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác

2 Đối với hình phạt bổ sung:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên”

Theo quan điểm của tác giả, quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo BLHS năm 1999 đã đầy đủ và chi tiết Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng, quy định mức tối đa của hình phạt chung như vậy là mâu thuẫn với Điều 33 “Điều 33 quy định 20 năm là mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn trong khi đó mục a khoản 1 Điều 50 lại quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội thì Toà án có thể áp dụng hình phạt tù với thời hạn tối đa là 30 năm đối với người phạm tội Cần thấy rằng 20 năm một ngày tới 30 năm tù không phải là một loại hình phạt độc lập và càng không phải là một khung hình phạt của một loại hình phạt độc lập và vì vậy khi áp dụng hình phạt tù với khoảng thời gian nói trên là vi phạm nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự” [46, Tr 47]

Theo quan điểm của tác giả thì ý kiến trên là không chính xác Điều 33 BLHS quy định như sau: “Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 3 tháng, mức tối đa là 20

năm…”.Như vậy, Điều 33 chỉ quy định mức tối đa của hình phạt tù có thời

hạn là 20 năm đối với trường hợp người phạm một tội nên quy định tại Điều

50 về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội không chịu sự

Trang 40

ràng buộc của quy định tại Điều 33 về mức hình phạt tối đa của tù có thời hạn Hay nói cách khác, quy định tại Điều 50 không phủ định quy định Điều

33 do vậy không có sự vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự đối với trường hợp này Trái lại nếu xét trong mối liên hệ phổ biến về tính nguy hiểm cho xã hội của trường hợp người phạm một tội với trường hợp người phạm nhiều tội thì quy định trên còn là sự thể hiện nguyên tắc công bằng trong luật hình sự

Như vậy, quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội trong BLHS năm 1999 đã tương đối hoàn thiện và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự

2.1.2.Thực trạng quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong BLHS năm 1999

Theo Điều 51 BLHS, tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án bao gồm ba trường hợp sau:

“1 Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung

2 Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này

3 Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh

án Toà án ra quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”

Ngày đăng: 15/06/2016, 13:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự (2000), Tài liệu Tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999, Nhà in Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự
Năm: 2000
2. Ban soạn thảo Bộ luật hình sự sửa đổi (2015), Dự thảo Bộ luật hình sự sửa đổi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Bộ luật hình sự sửa đổi
Tác giả: Ban soạn thảo Bộ luật hình sự sửa đổi
Năm: 2015
3. Lê Văn Cảm (2000), "Hình phạt và biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (Số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt và biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2000
4. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự, tập III, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
5. Lê Cảm (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. (Tái bản lần thứ nhất - 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
7. Lê Văn Cảm (Chủ biên) (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
8. Lê Cảm (chủ biên) 2005, Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Nxb Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
9. Trịnh Quốc Toản 2006, Chuyên đề Quyết định hình phạt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Quyết định hình phạt
10. Dương Tuyết Miên (2006), Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb. Lao động và xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Nhà XB: Nxb. Lao động và xã hội
Năm: 2006
11. Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 phần chung, Nxb. TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 phần chung
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb. TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2000
12. Lê Văn Luật (2005) Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam, (sách tham khảo), Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
13. Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên) (2001) Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb. CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và hình phạt
Nhà XB: Nxb. CAND
14. Nguyễn Ngọc Hoà, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà, Lê Thị Sơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
15. Võ Khánh Vinh (chủ biên) (1995), Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự, chương “Quyết định hình phạt”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạ"t
Tác giả: Võ Khánh Vinh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
17. Trần Văn Sơn (1996), Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Sơn
Năm: 1996
18. Nguyễn Minh Khuê (2007), Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Khuê
Năm: 2007
19. Trịnh Thị Yến (2014), Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trịnh Thị Yến
Năm: 2014
20. Phạm Thị Thanh Hoan (2015), Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thanh Hoan
Năm: 2015
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 cho thấy: Trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh  Hải  Dương  các  năm  từ  2008 đến  2014  trung  bình  mỗi  năm  có  92  người bị  phạt tù, trong đó 22 người được hưởng án treo chiếm tỷ lệ 25% - Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo luật hình sự việt nam
Bảng 2.1 cho thấy: Trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương các năm từ 2008 đến 2014 trung bình mỗi năm có 92 người bị phạt tù, trong đó 22 người được hưởng án treo chiếm tỷ lệ 25% (Trang 56)
Bảng 2.4: Số liệu xét xử các bị cáo chƣa thành niên của các Tòa án  nhân dân cấp huyện của tỉnh Hải Dương từ năm 2008 đến năm 2014 - Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo luật hình sự việt nam
Bảng 2.4 Số liệu xét xử các bị cáo chƣa thành niên của các Tòa án nhân dân cấp huyện của tỉnh Hải Dương từ năm 2008 đến năm 2014 (Trang 69)
Hình phạt cao nhất quy định tại Điều - Tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt theo luật hình sự việt nam
Hình ph ạt cao nhất quy định tại Điều (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w