- Phân tích các công trình nghiên cứu được liệt kê trên đây có thể thấy phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu các dấu hiệu CTTP của các tội phạm về môi trường, TNHS
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Phúc
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo chương trình và đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Dương Minh Tiến
Trang 4MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10
7 Kết cấu của Luận văn 11
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 12
1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại 12
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại 12
1.1.2 Khái niệm và quy trình quản lý chất thải nguy hại 16
1.1.3 Khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 19
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người 21
1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các tội phạm về môi trường và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam 25
1.3 Quy định về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Bộ luật Hình sự của một số quốc gia 27
1.3.1 Trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga 28
Trang 51.3.2 Trong Bộ luật Hình sự Liên bang Đức 31
1.3.3 Quy định trong Bộ luật Hình sự Trung Quốc 34
1.3.4 Quy định trong Bộ luật Hình sự Thái Lan 36
Kết luận Chương 1 38
Chương 2 TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 39
2.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đường lối xử lý hình sự đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam 39
2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam 39
2.1.2 Đường lối xử lý hình sự đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam 54
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam 57
2.2.1 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội có liên quan đến thực tiễn áp dụng các quy định của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam 57
2.2.2 Thực tiễn vi phạm quy định quản lý chất thải nguy hại và công tác phát hiện, xử lý hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam 60
2.3 Những hạn chế, bất cập trong xử lý tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam và nguyên nhân 70
2.3.1 Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật 70
2.3.2 Những hạn chế trong cơ cấu tổ chức và năng lực xử lý hành vi vi phạm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 74
2.3.3 Hạn chế, bất cập trong công tác phối hợp xử lý vi phạm về quy định quản lý chất thải nguy hại 75
Trang 62.3.4 Hạn chế trong công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý
chất thải nguy hại và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 77
2.3.5 Những hạn chế, bất cập trong hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và trong quản lý chất thải nguy hại 78
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 80
Kết luận Chương 2 85
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 86
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 86
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 92
3.2.1 Kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực áp dụng pháp luật của các cơ quan quản lý về môi trường và các cơ quan tư pháp 93
3.2.2 Đẩy mạnh công tác phối hợp xử lý hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại 95
3.2.3 Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật về tội phạm môi trường nói riêng 96
3.2.4 Tăng cường ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại 99
Kết luận Chương 3 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại 68 Bảng 2.2 Số liệu xét xử các tội phạm môi trường giai đoạn 2010 – 2014 69
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế - xã hội - môi trường được coi là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững Vì vậy, bảo vệ môi trường (BVMT) đang là vấn đề có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, có tính chất sống còn không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với các nước trên thế giới
Nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là một số nước đang phát triển, điển hình như Trung Quốc đã phải trả giá đắt khi hy sinh lợi ích lâu dài về môi trường để đổi lấy lợi ích trước mắt về kinh tế Rút kinh nghiệm từ một
số nước, trong chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước
đều thể hiện rõ tinh thần: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng
trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" (Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004) của Bộ
Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước) Tiếp đến Đại hội Đảng XI, trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 nêu rõ: "Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững… phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo
vệ và cải thiện môi trường"
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Kiên định với mục tiêu đó, cần ý thức rõ phải có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, phải quan tâm và hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về bảo
vệ môi trường Trong quá trình phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo ra những cơ hội lớn
để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc hơn, bên cạnh mục tiêu
vì sự phát triển kinh tế nhanh luôn kéo theo nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi
Trang 10phải xử lý tốt để phát triển bền vững, trong đó có vấn đề rất quan trọng là bảo
vệ môi trường Sự phát triển kinh tế - xã hội luôn đi kèm với nó là việc gia tăng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ quả là số lượng và tính chất độc hại của các loại chất thải nói chung và chất thải nguy hại nói riêng phát sinh ngày một nhiều hơn gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người và đời sống xã hội Điển hình một số vụ việc về vi phạm về bảo vệ môi trường trong đó có vi phạm về quản lý chất thải nguy hại của một số doanh nghiệp lớn mới bị phát hiện thời gian gần đây như: Công ty TNHH Vedan Việt Nam; Công ty cổ phần Công nghiệp Tungkuang, Công ty TNHH Miwon Việt Nam, Công ty cổ phần Thuộc da Hào Dương, Công ty cổ phần Giấy Việt Trì, Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành và Công ty TNHH Tân Phát Tài (Đồng Nai); Công ty TNHH Long Tech Precision (Bắc Ninh), Công
ty TNHH MTV Môi trường và Đô thị Hà Nội (URENCO), đặc biệt gần đây
là vụ vi phạm của Công ty Nicotex Thanh Thái ở tỉnh Thanh Hóa…đã gây hậu quả rất nghiêm trọng đến đời sống sức khỏe nhân dân và gây bức xúc rộng rãi trong dư luận cần được xem xét xử lý nghiêm theo pháp luật
Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam có nhiều biện pháp để ngăn chặn và xử lý các vụ việc vi phạm về bảo vệ môi trường như biện pháp xử phạt vi phạm hành chính nhưng có lẽ biện pháp hữu hiệu và có tính răn đe hơn cả là biện pháp dùng pháp luật hình sự (PLHS) Với những đặc điểm của PLHS, các biện pháp PLHS có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống các loại hành vi xâm hại môi trường
Kể từ khi Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 có hiệu lực, mặc dù một
số điều luật về tội phạm về môi trường được quy định rải rác trong một số chương như ở Chương VII: Các tội phạm về kinh tế hay Chương VIII: Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính nhưng hầu như không có việc thụ lý và xét xử các vụ án về môi trường Như vậy vi phạm
Trang 11pháp luật (VPPL) về bảo vệ môi trường trong đó có tội phạm về môi trường
là loại tội phạm vẫn còn mới mẻ so với các loại tội phạm khác trong PLHS Việt Nam Đến năm 1999, BLHS mới tổng hợp lại thành một chương riêng và khái quát một cách khá toàn diện Cùng với sự phát triển kinh tế, thu hút đầu
tư ồ ạt trong những năm cuối thế kỷ XX, một lần nữa, khi xây dựng BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, các tội phạm về môi trường được đưa
ra xem xét lại để sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm Trong Chương XVII của BLHS đã bổ sung Điều 182a về
“Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại”
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, các hành vi xâm hại môi trường là một trong những loại hành vi xảy ra phổ biến nhất ở nước ta hiện nay và các thiệt hại do các hành vi đó gây ra có chiều hướng ngày càng trở nên nghiêm trọng Đặc biệt là với tính chất nguy hiểm của chất thải nguy hại thì các hành
vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại sẽ vô cùng nguy hại đến sức khỏe và môi trường cần được ngăn chặn và xử lý nghiêm minh khi có vi phạm xảy ra
Tuy nhiên, thực tiễn đã xảy ra nhiều vụ việc vi phạm về quản lý chất thải nguy hại gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, hoa màu, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất…đã từng bị phát hiện qua các vụ việc điển hình nêu trên nhưng thực tiễn xét xử cho thấy đến nay chưa có vụ việc nào được đem ra xử
lý hình sự
Vậy vai trò và ý nghĩa của các biện pháp PLHS đối với đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm về môi trường nói chung và tội vi phạm về quản lý chất thải nguy hại nói riêng phải chăng chưa được nhận thức một cách sâu sắc cũng như chưa được đánh giá một cách đúng đắn? Hay việc quy định
cụ thể trong Điều 182a còn chưa phù hợp, khó áp dụng trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử trong thực tiễn? Cần sự đầu tư nghiên cứu khoa học và thực
Trang 12tiễn để có thể sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của Điều luật này và các văn bản hướng dẫn có liên quan nhằm áp dụng được Điều luật này trên thực tiễn để trừng trị và răn đe các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Có thể khẳng định trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn cần có nghiên cứu sâu về các quy định hiện hành đối với tội phạm này Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các tội phạm môi trường nói chung, về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm môi trường… nhưng chưa có nghiên cứu riêng nào cho tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại Vì vậy, tác giả
mạnh dạn chọn đề tài “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
trong Luật Hình sự Việt Nam” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ luật
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, do đất nước ta chuyển từ bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên vấn đề ưu tiên phát triển kinh tế được ưu tiên hàng đầu Vì lẽ đó mà các tội phạm về môi trường và TNHS đối với tội phạm về môi trường là vấn đề còn khá mới trong khoa học luật hình sự và còn ít được nghiên cứu do thực tiễn những năm trước đây mới phát sinh Qua những năm thu hút đầu tư nước ngoài ồ ạt dẫn đến các vấn đề về môi trường cũng phát sinh đặc biệt là trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, các địa điểm tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp Đến thời điểm Đảng và Nhà nước thấy rõ vấn đề cần phát triển bền vững và bảo vệ môi trường thì VPPL về môi trường nói chung và tội phạm về môi trường nói riêng mới bắt đầu được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học tập trung quan tâm nghiên cứu Hàng loạt các công trình, đề tài khoa học, các nội dung về bảo vệ môi trường và pháp luật về bảo vệ môi trường được nghiên cứu và công bố, điển hình trong số đó là:
Trang 13- Các tội phạm về môi trường được đề cập trong hầu hết các giáo trình
về Luật Hình sự Việt Nam của các trường đại học chuyên đào tạo về ngành luật, cụ thể: giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên; giáo trình Luật Hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội; giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Đại học Huế do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên Trong các giáo trình này, các tội phạm về môi trường mới chỉ được đề cập, nghiên cứu
ở mức độ khái quát các dấu hiệu của nhóm tội phạm về môi trường cũng như của từng tội cụ thể trong nhóm tội này
- Trong cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội
phạm", Tập VIII, của tác giả Đinh Văn Quế cũng có đề cập đến TNHS đối với
các tội phạm về môi trường Công trình này có phân tích sâu các dấu hiệu cấu thành tội phạm (CTTP) của các tội phạm về môi trường (mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể)
- Trong bài viết "Chính sách hình sự đối với các tội phạm về môi
trường" GS.TSKH Đào Trí Úc, GS.TS Võ Khánh Vinh - hai nhà khoa học về
Luật Hình sự hàng đầu của Việt Nam đã đi sâu phân tích khái niệm, nội dung
và các lĩnh vực thể hiện chính sách hình sự đối với các tội phạm về môi trường, cụ thể là chính sách về tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường
và kèm theo đó là chính sách về hình sự hoá các biện pháp tác động đối với các tội phạm về môi trường, chính sách tổ chức đấu tranh phòng chống tội phạm về môi trường qua nội dung bài viết người đọc một cái nhìn tổng quát nhưng sâu sắc đối với tội phạm về môi trường
- GS.TS Võ Khánh Vinh còn đề cập đến vấn đề TNHS đối với các tội phạm về môi trường như khái niệm, đặc điểm, các hình thức của TNHS trong
bài viết "Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về môi trường theo pháp luật
hình sự hiện hành; Ngoài ra, GS.TS Võ Khánh Vinh cũng có nghiên cứu về
Trang 14"Những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm môi trường", đề cập đến vấn đề TNHS khi phân
tích cơ sở của việc tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường và hoàn thiện các quy định của PLHS về tội phạm về môi trường
- Trong công trình nghiên cứu "Tội phạm về môi trường - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" do PGS.TS Phạm Văn Lợi chủ biên, ông và các đồng
nghiệp của ông đã đi sâu phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về môi trường, chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa tội phạm về môi trường với các tội phạm khác Công trình nghiên cứu này giúp nhận thức sâu hơn và có cách nhìn mới hơn về các tội phạm về môi trường, đặc biệt là về tính phức tạp của chúng, từ đó nhận diện để áp dụng trong thực tiễn và hoàn thiện PLHS Việt Nam
- Vấn đề tội phạm về môi trường cũng được các bộ, ngành phối hợp nghiên cứu trong một số đề tài khoa học và được đánh giá là có kết quả tốt
như: Đề tài khoa học cấp Bộ "Cơ sở khoa học định lượng hóa khung hình
phạt tội phạm về môi trường" do Cục Môi trường (thuộc Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường trước đây) phối hợp với Viện Nhà nước và Pháp luật thực hiện đã đi sâu phân tích cơ sở khoa học của việc xây dựng các khung hình phạt đối với các tội phạm về môi trường trên cơ sở định lượng hoá các hậu quả mà các tội phạm về môi trường gây ra
- Bên cạnh các đề tài nghiên cứu tội phạm về môi trường, các đề tài nghiên cứu về VPPL môi trường cũng được đặt ra thực hiện, thậm chí ở cấp
độ đề tài khoa học cấp Nhà nước Trong số đó có thể kể đến đề tài "Những vi
phạm pháp luật về môi trường và giải pháp phòng chống", mã số KX.07-06
do GS.TS Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân làm chủ nhiệm Đề tài này đã đi sâu phân tích, làm rõ các dấu hiệu của VPPL về môi trường, các hình thức biểu hiện, cơ sở phân biệt với các hành vi vi phạm
Trang 15môi trường bị coi là tội phạm; đánh giá thực trạng đấu tranh phòng chống bằng tổng thể các biện pháp, đặc biệt là biện pháp pháp luật Vấn đề TNHS cũng được đề cập trong công trình này khi nói đến những vấn đề liên quan đến biện pháp xử lý, biện pháp đấu tranh
- Tài liệu tham khảo “Công tác đấu tranh, phòng, chống vi phạm pháp
luật về BVMT” do Cục Bảo vệ môi trường phát hành năm 2007 cũng phân
tích khái quát đến các VPPL về môi trường và các tội phạm về môi trường
- Gần đây, Luận án Tiến sĩ về "Trách nhiệm hình sự đối với các tội
phạm về môi trường" của tác giả Dương Thanh An - Tổng cục Môi trường đã
đi sâu phân tích và làm rõ vấn đề TNHS đối với các tội phạm về môi trường rất cần được giải quyết một cách thấu đáo trên cả ba phương diện: lý luận (nhận thức), quy định trong luật và trong cách thức tổ chức thực hiện trên thực tế Các yếu tố nhận diện một cách chính xác TNHS đối với các tội phạm
về môi trường, tính đặc trưng và tính phức tạp của nó trong mối liên hệ với các dạng trách nhiệm pháp lý khác đối với VPPL môi trường
- Phân tích các công trình nghiên cứu được liệt kê trên đây có thể thấy phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu các dấu hiệu CTTP của các tội phạm về môi trường, TNHS đối với tội phạm về môi trường chứ chưa có đề tài, công trình nào nghiên cứu cụ thể về hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại Đặc biệt chưa có những nghiên cứu sâu, cụ
thể về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng “Tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam” Điều đó càng cho thấy
tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ở cấp độ luận văn thạc sĩ mà tác giả đang thực hiện
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội Vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại và thực trạng xử lý các VPPL về quản lý chất thải nguy hại
Trang 16Qua đó kiến nghị và đề xuất những nội dung cơ bản hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về tội này cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý đối với hành vi vi phạm về quản lý chất thải nguy hại
3.2 Về phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là về những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại được quy định trong
Điều 182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
- Về địa điểm: Luận văn nghiên cứu thực trạng việc điều tra, truy tố, xét xử
các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn toàn quốc
- Về thời gian: trong khoảng thời gian 5 năm (2010 – 2014) kể từ khi Bộ
luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội danh này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Với việc nghiên cứu đề tài “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam”, Luận văn hướng vào làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về TNHS đối với hành vi vi phạm về quản lý chất thải nguy hại; những hạn chế, tồn tại, bất cập và nguyên nhân trong áp dụng Điều luật này trong thực tiễn, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm áp dụng quy định của Điều luật phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu về đấu tranh, phòng
chống tội phạm vi phạm quy định về quản lý về chất thải nguy hại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích tổng quát nêu trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và khoa học để quy định tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Trang 17- Nghiên cứu những quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trên cơ sở đó xác định các đặc điểm pháp lý đối với tội phạm này
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn mức độ nguy hiểm của hành
vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Nghiên cứu những khó khăn, tồn tại và các nguyên nhân của khó khăn, tồn tại trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Đề các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phát hiện, điều tra và xử lý
tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013
về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 48- CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như:
Trang 18phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu chung về tội phạm về môi trường hoặc trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường nhưng chưa có đề tài nghiên cứu riêng về tội vi phạm quy định
về quản lý chất thải nguy hại
- Nghiên cứu “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
trong Luật Hình sự Việt Nam” góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cho các quy
định PLHS đối với nhóm các tội phạm về môi trường nói chung và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại nói riêng
- Những đề xuất trong luận văn sẽ giải quyết vấn đề thực tiễn áp dụng nhằm xử lý, răn đe, ngăn chặn kịp thời các tội phạm về quản lý chất thải nguy hại, tránh hậu quả đối với sức khỏe con người và cho xã hội
- Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo không những cho các nhà lập pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để góp phần nâng cao năng lực xét xử vụ án hình sự, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác trong các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan quản lý, chuyên môn về môn trường áp dụng trên thực tiễn để việc giải quyết tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Trang 19một cách khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ môi trường sống xanh sạch đẹp
7 Kết cấu của Luận văn
Phần Mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam
Chương 2: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong
Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Luật Hình sự đối với tội vi phạm quy định về quản
lý chất thải nguy hại
Phần Kết luận
Trang 20Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN
LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra các loại chất thải Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử dụng được nữa, do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình Theo định nghĩa tại Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014:
“Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc hoạt động khác” [48]; Khoản 13 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 quy
định: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”[48] Từ những quy định này, chúng ta có thể hiểu về chất thải như sau:
i) Chất thải trước hết là dạng vật chất chất cụ thể, tồn tại ở các dạng: rắn, lỏng, khí
ii) Loại vật chất này được sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác do con người thực hiện
iii) Loại vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ Như vậy, vật chất đó có phải
là chất thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu Tuy nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong hoạt động của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tính chất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác Một vật chất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp thải ra cho đến khi nó được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác [33, tr.45]
Trang 21Hiện nay, dựa trên tính chất vật lý và hóa học của chất thải, các quy định pháp lý chuyên ngành về bảo vệ môi trường chia chất thải thành: Chất thải nguy hại và chất thải thông thường Do tính chất nguy hại của chất thải nguy hại, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường quy định việc quản
lý chất thải nguy hại rất chặt chẽ
Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP): Chất thải
nguy hại là các chất thải (không bao gồm các chất phóng xạ) có khả năng phản ứng hóa học hoặc có khả năng gây độc, gây cháy, ăn mòn, có khả năng gây nguy hại cho sức khỏe con người hay môi trường khi tồn tại riêng lẻ, hoặc khi tiếp xúc với các chất khác
Theo luật Bảo tồn và Phục hồi tài nguyên Mỹ (RCRA): Chất thải nguy
hại là chất thải rắn hoặc tổ hợp các chất thải rắn do lượng hoặc nồng độ hay
do đặc tính vật lý, hoá học hoặc truyền nhiễm mà chúng có thể: (1)Tạo ra hoặc góp phần đáng kể vào việc tăng khả năng tử vong hay là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nguy kịch không thể cứu chữa; (2) Tạo ra sự nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường trong khi xử lý, bảo quản, vận chuyển
Theo quy định của pháp luật BVMT Philippin: Chất thải nguy hại là các
loại vật liệu có khả năng gây nguy hiểm cho con người, động vật, có khả năng gây độc, ngộ độc, ăn mòn, dị ứng, nhạy cảm cao, gây cháy nổ
Nhìn chung, định nghĩa chất thải nguy hại ở các nước tuy có khác nhau
về cách diễn đạt, nhưng bản chất đều nhấn mạnh đến tính chất độc hại của loại chất thải này đến môi trường và sức khỏe con người
Ở Việt Nam, khái niệm chất thải nguy hại lần đầu tiên được đề cập đến
chính thức tại Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16 tháng 7 năm
1999, tại Khoản 2 Điều 3 của Quy chế quy định: “Chất thải nguy hại là chất
thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại
Trang 22trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người” [51]
Định nghĩa này đã được sửa đổi và diễn đạt ngắn gọn và súc tích hơn
tại Khoản 11 Điều 3 Luật BVMT năm 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải
chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” Đến Luật BVMT năm 2014, khái niệm
chất thải nguy hại cơ bản kế thừa và nhấn mạnh đặc tính “lây nhiễm” lên trước một số đặc tính khác
Khi đối chiếu khái niệm chất thải nguy hại ở 03 văn bản pháp luật trên,
có thể dễ dàng nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm chất thải nguy hại trong Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT năm 2014 đã rút gọn đi rất nhiều
về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng rõ ràng hơn và súc tích hơn Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần nội dung mà khái niệm
muốn đề cập đến: “Chất thải nguy hại là một loại chất thải, có các đặc tính
lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác với các chất khác”
Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải nguy hại như: Phân loại theo nguồn thải đặc thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp; phân loại theo loại nguy hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu; theo tình trạng vật lý…[28, tr.6] Theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm 2006 về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại, chất thải nguy hại được phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô
cơ, hữu cơ; chất thải từ ngành luyện kim; chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thủy tinh; chất thải từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; chất
Trang 23thải từ ngành y tế và thú y; chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải, xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp…
Như vậy, qua các khái niệm về chất thải nguy hại ta có thể rút ra đặc điểm của chất thải nguy hại như sau:
Một là, chất thải nguy hại trước hết có đầy đủ đặc điểm của chất thải
được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia, tức là các loại hình vật chất
cụ thể được thải ra qua quá trình sinh hoạt, sản xuất Dưới một số khía cạnh khác nhau thì chất thải có thể chỉ là vật chất bỏ đi không có giá trị sử dụng hoặc tái sử dụng Tuy nhiên, hầu hết hiện nay các chất thải phát sinh từ các quá trình tiêu dùng hay sản xuất đều có thể tái sử dụng, tái chế được Do đó, chất thải của quy trình sản xuất này có thể là nguồn nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất khác Ví dụ, sản phẩm là xỉ than thải ra sau quá trình sử dụng của nhà máy nhiệt điện có thể trở thành nguồn nguyên liệu trong ngành xây dựng như sản xuất gạch xi măng, rải đường
Hai là, chất thải nguy hại ngoài đặc điểm chung như các loại chất thải
khác chúng có đặc điểm riêng là có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn,
dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người Như vậy bản thân tính nguy hại thể hiện ở chỗ chúng gây nguy hại trực tiếp cho môi trường hay sức khỏe của con người Ví dụ như sản phẩm bùn đỏ sau quá trình sản xuất aluminum từ quặng bô xít có khả năng gây nguy hại rất lớn cho môi trường Chính vì đặc điểm này mà quy chế về quản lý chất thải nguy hại tương đối khác biệt so với các loại chất thải thông thường khác Bất kì quốc gia nào cũng có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo đảm quản lý được nguồn chất thải này
Trang 24Ba là, chất thải nguy hại được quản lý theo một quy chế riêng được quy
định rất chặt chẽ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật BVMT
và BLHS Đây là đặc điểm tương đối khác biệt so với các loại chất thải thông thường khác Bởi lẽ chất thải nguy hại có tính nguy hại cho con người
và môi trường cao hơn so với các loại chất thải khác Quy chế quản lý chất thải nguy hại là cơ sở pháp lý, là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý đối với chất thải nguy hại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hạn chế một cách tối đa sự tác động xấu tới sức khỏe con người và môi trường của chất thải nguy hại
Bốn là, chất thải nguy hại cũng giống như các loại hình chất thải khác,
đòi hỏi chủ thể phát tán chất thải hoặc chủ thể quản lý phải có những nghĩa vụ nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn Tuy nhiên, khác với các loại chất thải thông thường khác, chất thải nguy hại có tính nguy hiểm cao hơn nên các văn bản quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý chất thải nguy hại, nếu để xảy ra những hậu quả nhất định thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước Trong đó có hình thức trách nhiệm cao nhất
là trách nhiệm hình sự Điều này là khác biệt so với các chất thải thông thường, bởi lẽ đối với chất thải thông thường không có một quy chế riêng quy định nghĩa vụ của chủ thể quản lý, mà thường nằm trong các quy định chung
về BVMT
1.1.2 Khái niệm và quy trình quản lý chất thải nguy hại
Tại Khoản 3 Điều 3 Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ
tướng Chính phủ quy định: “Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động
kiểm soát chất thải nguy hại trong suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu huỷ CTNH” [51]
Trang 25Theo Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi tắt là Thông tư
12/2011/TT-BTNMT) tại Khoản 1 Điều 3 quy định: “Quản lý chất thải nguy
hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại” [7]
Khái niệm quản lý chất thải nguy hại lần đầu tiên được quy định tại
Quy chế quản lý chất thải nguy hại, tiếp đó khái niệm này đã được chỉnh sửa tại Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT Theo đó, khái niệm quản lý chất thải nguy hại được diễn đạt một cách cụ thể, rõ ràng, có nội hàm rộng hơn và đầy
đủ hơn so với quy định tại Khoản 3 Điều 3 của Quy chế Các nhà làm luật đã liệt kê hàng loạt hoạt động của việc quản lý chất thải nguy hại theo một quy trình chặt chẽ hơn, bao gồm cả những hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại Như vậy, trách nhiệm quản lý chất thải của cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc quản
lý chất thải nguy hại không chỉ có từ khi chất thải đó phát sinh, mà các chủ thể trên còn có trách nhiệm trong việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp bằng việc áp dụng mọi biện pháp kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến… nhằm hạn chế lượng chất thải nguy hại phát sinh trên thực tế
Theo quy định trên, quản lý chất thải nguy hại có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, trách nhiệm quản lý chất thải thuộc về cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quản lý chất thải nguy hại và các tổ chức, cá nhân có liên quan Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý chất thải nguy hại trong phạm
vi chức năng luật định Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý chất thải
Trang 26nguy hại là những chủ thể có những hoạt động liên quan trực tiếp đến chất thải nguy hại như: chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ
Thứ hai, nội dung quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động mà các
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện Cụ thể là: các cơ quan nhà nước có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm… các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tiến hành những hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý… chất thải nguy hại
Quy trình quản lý chất thải nguy hại được thực hiện theo 5 giai đoạn
Đó là:
Giai đoạn 1: Quản lý nguồn phát sinh chất thải nguy hại Đây là việc
tiến hành các biện pháp để quản lý chất thải nguy hại ngay tại chính nguồn phát sinh ra chất thải đó Kiểm soát chất thải nguy hại tại nguồn là một công việc khá phức tạp Cách thông thường nhất được nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết những vấn đề trên là tiến hành thủ tục đăng ký cấp giấy phép đối với các chủ nguồn thải chất thải nguy hại, đặc biệt là trong ngành công nghiệp
Giai đoạn 2: Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải nguy hại Giai
đoạn này được thực hiện bằng việc phân loại, thu gom toàn bộ chất thải nguy hại tại tất cả các nguồn phát sinh ra chúng Sau khi tiến hành việc thu gom, chất thải sẽ được vận chuyển đến khu xử lý và thải bỏ hoặc đến trạm trung chuyển hay đến nơi lưu giữ tạm thời [50, tr.79]
Giai đoạn 3: Xử lý trung gian Giai đoạn này được tiến hành bởi những
phương pháp xử lý khác nhau như: xử lý cơ học, xử lý hóa học, sinh học và nhiệt… nhằm làm giảm khối lượng chất thải nguy hại, giảm thiểu hoặc loại bỏ độc tính để phù hợp hơn với khâu thải bỏ cuối cùng
Trang 27Giai đoạn 4: Chuyên chở chất thải nguy hại đi xử lý tiếp Chất thải
nguy hại sau khi xử lý trung gian sẽ được vận chuyển bằng những phương tiện chuyên dụng đến nơi xử lý cuối cùng của quy trình
Giai đoạn 5: Thải bỏ chất thải Những phần chất thải khi không còn
được tái chế và tái sử dụng sẽ được thải bỏ bằng những cách thức khác nhau như:chôn lấp hoặc thiêu đốt
Việc quản lý chất thải nguy hại có thể được thực hiện bằng nhiều công cụ như: kinh tế, pháp lý, kĩ thuật… trong đó công cụ pháp lý được coi là phương tiện hiệu quả hàng đầu trong công tác quản lý chất thải nguy hại, thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường
1.1.3 Khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Việc nghiên cứu về bất kỳ tội phạm nào khâu đầu tiên cũng cần đưa ra được khái niệm về tội phạm ấy Khi nghiên cứu để đưa ra được khái niệm về tội phạm cụ thể nào cũng cần xuất phát từ khái niệm tội phạm nói chung được quy định tại Điều 8 của BLHS năm 1999 Theo Điều 8 BLHS năm 1999 thì:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [39]
Như vậy có thể rút ra khái niệm ngắn gọn về tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt [58, tr.45] Đây là khái niệm tội phạm nói chung, tất cả các khái niệm tội phạm cụ
Trang 28thể được quy định trong phần các tội phạm của BLHS đều phải có những đặc điểm cơ bản của khái niệm này
Để nghiên cứu đưa ra được khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại chúng ta cần xuất phát từ khái niệm được quy định tại Điều 182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định cụ thể như sau:
“Người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 của Bộ luật này, thì ”[45] Như vậy, Điều
182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 không đưa ra khái niệm thế nào là tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại mà dẫn chiếu đến các quy định khác về quản lý chất thải nguy hại Theo đó, người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại có hậu quả là gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì phạm tội này
Điều này dẫn đến việc chúng ta phải nghiên cứu thế nào là vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại Như tại tiểu mục 1.1 đã phân tích, chất thải nguy hại là một loại chất thải, có các đặc tính lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác với các chất khác Còn quản lý CTNH gồm các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi), tiêu huỷ chất thải nguy hại Như vậy, vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là việc các chủ thể có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật đã không tuân thủ các quy định liên quan đến phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy đối với loại chất thải có đặc tính lý, hóa hoặc sinh học
có thể gây nguy hại trực tiếp cho sức khỏe của con người hoặc môi trường
Với tính chất nguy hiểm và độc hại của loại chất thải này, Nhà nước đã ban hành quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến quản lý chất thải nguy hại nhằm đảm bảo các chủ thể có nghĩa vụ trong quản lý loại chất thải
Trang 29này có trách nhiệm hơn trong việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi), tiêu huỷ chất thải nguy hại Trong đó có cả chế tài về hình sự được quy định tại Điều 182a BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
Như vậy, xuất phát từ khái niệm tội phạm nói chung được quy định trong BLHS năm 1999 và khái niệm vi phạm về quản lý chất thải nguy hại chúng ta có thể rút ra khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại như sau: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự được thực hiện bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự và có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thông qua việc chủ thể đó không tuân thủ các quy định liên quan đến quản lý chất thải nguy hại
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người
* Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với môi trường
Việc chôn lấp, xử lý chất thải nguy hại không đúng quy cách đã gây ra những tác động vô cùng nghiêm trọng đối với môi trường, cụ thể là ảnh hưởng đến nước ngầm, nước mặt, đất và không khí
Đặc điểm địa lý của Việt Nam với phần lớn diện tích đồi, núi, phần còn lại là đồng bằng với mạng lưới sông ngòi dày đặc Đây được xem như một ưu đãi của thiên nhiên đối với con người Việt Nam, bởi chúng ta có thể sử dụng mạng lưới sông ngòi này vào sinh hoạt và sản xuất Tuy nhiên, mạng lưới sông ngòi này đang bị đe dọa trầm trọng bởi chúng đang được sử dụng như nguồn chứa nước thải từ chính hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt ở những khu đô thị và khu công nghiệp Tại những thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh…chưa có hệ thống xử lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt Do đó, mạng lưới kênh rạch trong thành
Trang 30phố được coi là nơi chứa chất thải chính, giải quyết vấn đề nhức nhối do chất thải một cách tạm thời Tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì vấn đề ô nhiễm nguồn nước càng ở mức báo động Hầu hết các bệnh viện lớn đều không có hệ thống xử lý nước thải, hoặc có nhưng không hoạt động đã thải lượng nước này trực tiếp vào sông ngòi lân cận mà không qua xử lý, hoặc xử
lý không đảm bảo vệ sinh Hàng loạt những con sông ở các thành phố đang trở thành những con sông chết khi nguồn nước ở đây có màu đen sẫm và bốc mùi hôi nồng nặc vào không khí Ngoài ra, nhiều sự cố tràn dầu xảy ra trong thời gian gần đây cũng cảnh báo khả năng gây ô nhiễm đến nguồn nước mặt
và cần có những biện pháp phòng ngừa kịp thời
Ở nông thôn, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan và những vỏ bao thuốc này không được đưa vào đúng nơi quy định để xử lý cũng gây nên những ảnh hưởng không nhỏ đối với môi trường Đa số người dân sau khi sử dụng đã vứt vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật (trong đó vẫn còn một lượng nhỏ thuốc tồn lại) lên mặt ruộng, mặt sông, hồ, làm nguồn nước ở những nơi này bị ô nhiễm nặng nề
Chất thải nguy hại được chôn lấp vào lòng đất hoặc chôn lấp tại những bãi rác kém chất lượng đã dẫn đến hiện tượng nước rác ngấm trực tiếp vào nguồn nước xung quanh Nhiều trường hợp, chất thải nguy hại được lưu giữ lâu dài hoặc chôn lấp ngay tại chỗ mà không qua một khâu xử lý nào, hoặc xử
lý không đúng quy trình kỹ thuật Việc rò rỉ kim loại nặng từ các xỉ kim loại hay hiện tượng khuyếch tán sợi amiăng trong quá trình lưu giữ chất thải nguy hại đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nguồn nước ngầm
Ngoài những ảnh hưởng đến nguồn nước, chất thải nguy hại từ các cơ
sở sản xuất kinh doanh, cơ sở y tế, từ sinh hoạt thường ngày của người dân đã
là một sức ép thực sự nặng nề lên tài nguyên đất do dư lượng độc tố của chất thải nguy hại để lại trong đất quá cao Không chỉ phá vỡ lớp màu mỡ của đất,
Trang 31chất thải nguy hại còn có khả năng gây nhiễm độc cho đất, đem lại khó khăn cho quá trình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Đặc biệt, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở các vùng nông thôn (bao gồm cả trường hợp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà thế giới đã hạn chế hoặc cấm do tỷ lệ độc tố cao) cũng là nguyên nhân chính gây thoái hóa và ô nhiễm đất, mặn hóa hoặc chua phèn, phá hủy cấu trúc đất… Mặt khác, nguồn ô nhiễm đất còn có thể được tạo ra bởi các chất thải phóng xạ của các trung tâm khai thác phóng xạ, các nhà máy điện nguyên tử… Các chất thải phóng xạ này gây ra ảnh hưởng lớn đến hệ vi sinh vật trong đất, phân giải chất hữu cơ, làm mất dinh dưỡng đất [55, tr.226]
Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải, sinh hoạt, tiêu dùng và đặc biệt là hoạt động công nghiệp đã làm cho mức độ ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng Kết quả đo lường thực hiện trên thực tế cho thấy khoảng 70% lượng bụi trong không khí đô thị do giao thông vận tải và xây dựng [55, tr.168] Tình trạng thiếu thiết bị xử lý khí thải độc hại ở phần lớn cơ sở công nghiệp (gần 100% doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị
xử lý CTNH), tình trạng gia tăng số lượng phương tiện giao thông đường bộ, việc đun nấu bằng than, dầu hỏa trong sinh hoạt thường ngày của người dân là nguyên nhân đáng kể làm ảnh hưởng đến bầu khí quyển Nhiều loại CTNH được thải bỏ bằng cách cho bay hơi chính là nguyên nhân làm cho nhiều độc
tố lan tỏa vào không khí
* Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đến sức khỏe con người
Tồn tại dưới các dạng chủ yếu như: rắn, lỏng, khí… nên chất thải nguy hại dễ dàng xâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều cách thức khác nhau Đặc biệt khi ở dạng lỏng, sự xâm nhập và phá hủy của nó càng nhanh chóng và khó kiểm soát Tính chảy dòng của chất lỏng làm chúng dễ dàng di chuyển nên khó có thể khoanh vùng lại Hơn nữa, các chất lỏng dễ dàng hòa tan các chất khác và có thể chuyển thành dạng hơi và khí [28, tr.31] Khi con người tiếp xúc
Trang 32với chất thải nguy hại ở nồng độ nhỏ sẽ có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe như: viêm da, viêm đường hô hấp, viêm đường tiêu hóa… Nếu tiếp xúc ở nồng
độ lớn, con người sẽ có khả năng mắc các bệnh hiểm nghèo, có thể gây tử vong như: nhuyễn xương, đột biến gen, bệnh Itai do nhiễm độc Cadimi…
Hiện nay, cùng với sự gia tăng cả về quy mô và số lượng các bệnh viện, lượng chất thải y tế được thải ra ngày càng nhiều Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trong các loại chất thải y tế, có khoảng hơn 85% chất thải y tế không lây nhiễm, 10% lây nhiễm và 5% rất độc hại, bao gồm: kim tiêm, chai thuốc, hoá chất, bộ phận cơ thể người bị cắt bỏ…có khả năng truyền bệnh rất cao Đặc biệt các loại chất thải này khi kết hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa ở nước ta Nước thải bệnh viện chứa rất nhiều loại vi trùng, virus và các mầm bệnh sinh học khác trong máu mủ, dịch…của người bệnh Theo kết quả phân tích của cơ quan chức năng, loại nước này ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ
và vi sinh Hàm lượng vi sinh cao gấp 100 - 1.000 tiêu chuẩn cho phép, với những loại vi khuẩn Salmonella, tụ cầu, virus đường tiêu hóa, các loại ký sinh trùng, amip…hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp 2 - 3 lần tiêu chuẩn cho phép Dù chứa đựng nhiều độc tố như vậy, nhưng hầu hết tại các bệnh viện lớn ở Trung ương nước thải chỉ qua bể phốt rồi đổ thẳng ra cống Ở bệnh viện tuyến huyện thì ngay cả bể phốt cũng không có, mà được thải luôn ra ngoài Những mầm bệnh trong nước thải khi được thải ra ngoài đã xâm nhập vào cơ thể các loại thủy sản, vật nuôi, cây trồng và dễ dàng trở lại với con người Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm gia tăng các bệnh hiểm nghèo cho người dân
Thuốc bảo vệ thực vật là nguồn gây ô nhiễm nặng nề không chỉ đối với môi trường mà còn đối với sức khỏe con người Trên thực tế, đã có nhiều sự
cố không nhỏ do thuốc bảo vệ thực vật gây ra Một mặt, do ý thức bảo quản thuốc của người dân không cao nên một phần dư lượng thuốc đã phát tán vào
Trang 33môi trường Mặt khác, do người dân ở nhiều nơi lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với rau quả đã khiến dư lượng thuốc quá cao trong sản phẩm, ngay cả khi chúng đến tay người tiêu dùng Như vậy, bằng nhiều con đường khác nhau, một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật đã quay trở lại cơ thể con người, gây nên những tai nạn đáng tiếc
1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các tội phạm về môi trường và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam
Trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam, VPPL về bảo vệ môi trường trong đó có tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại cũng như nhóm tội phạm về môi trường là loại tội phạm vẫn còn mới mẻ so với các loại tội phạm khác như: các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, các tội xâm phạm quyền sở hữu…
- Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất - BLHS năm 1985
Trước khi BLHS năm 1985 ra đời, đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam khi đất nước ta vừa trải qua một thời gian dài của chiến tranh giành độc lập, điều kiện kinh tế xã hội còn rất khó khăn chính là những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến những quy định của pháp luật về BVMT chưa được quan tâm, chú trọng Thực tế, từ năm 1964, khi đất nước còn chiến tranh, vấn đề bảo vệ môi trường đã được Nhà nước ta quan tâm thông qua việc ban hành Chỉ thị số 07/TTg ngày 16/01/1964 về việc thu tiền bán khoáng lâm sản và chi tiền nuôi rừng; Pháp lệnh quy định bảo vệ rừng
ngày 11/9/1972 Đến Hiến pháp 1980 đã dành Điều 36 để quy định: “Các cơ
quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều
có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” Có thể thấy, Hiến
Trang 34pháp 1980 mới chỉ quy định “nghĩa vụ” đối với mọi công dân, các cơ quan, đơn
vị trong công tác BVMT Trong pháp luật hình sự giai đoạn 1945 đến trước năm
1985, do yếu tố lịch sử, kinh tế, xã hội, các tội phạm về môi trường và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại chưa được quy định cụ thể
- Giai đoạn từ khi pháp đến hóa lần thứ nhất – Bộ luật Hình sự 1985 đến BLHS 1999
Đây là giai đoạn nền kinh tế nước ta được phục hồi, đặc biệt sau Đại hội Đảng lần thứ VI, quá trình xây dựng các khu đô thị phát triển, sự phát triển kinh
tế dẫn đến các phát sinh gây ảnh hưởng đến môi trường Hiến pháp 1992 ra đời
đã khẳng định sự quyết liệt, nghiêm khắc đối với công tác bảo vệ tài nguyên
và môi trường: “Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ
hoại môi trường” - Điều 29 Hiến pháp 1992 Quy định này hoàn toàn phù hợp
và kịp thời trong bối cảnh vấn đề BVMT ngày càng được dư luận trong nước
và quốc tế quan tâm
BLHS năm 1999, lần đầu tiên các tội phạm về môi trường được ghi nhận tại một chương riêng - Chương XVII: Các tội phạm về môi trường, với
10 điều luật quy định khá cụ thể và chi tiết các hành vi xâm hại đến môi trường, cụ thể: Tội gây ô nhiễm không khí (Điều 182); Tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183); Tội gây ô nhiễm đất (Điều 184); Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không bảo đảm tiêu chuẩn BVMT (Điều 185); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187); Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 188); Tội hủy hoại rừng (Điều 189); Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190) Trong giai đoạn này, hành vi vi phạm quy định về QLCTNH chưa được quy định trong BLHS mà chỉ được quy định tại các Nghị định của Chính phủ
Trang 35- Giai đoạn từ sau khi sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999 cho đến nay
Sau gần mười năm áp dụng thực tiễn cho thấy một số quy định của BLHS năm 1999 về tội phạm môi trường nói chung, các loại tội phạm gây ô nhiễm môi trường nói riêng đã phát sinh một số hạn chế, vướng mắc và bất cập, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong bối cảnh nước ta tăng cường hội nhập quốc tế và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vấn đề ô nhiễm môi trường trong giai đoạn này trở nên một vấn đề rất nghiêm trọng Trước yêu cầu thực tiễn, BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 đã sửa đổi, bổ sung 11 tội danh ta ̣i Chương XVII: Các tội phạm về môi trường gồm các điều: Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182); Tội vi phạm các quy định về QLCTNH (Điều 182a); Tội vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b); Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 185); Tội lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho con người (Điều 186); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187); Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 188); Tội hủy hoại rừng (Điều 189); Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190); Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191); Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a)
Như vậy, BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã bổ sung một số tội
mới nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn trong đó có tội Vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại Đây là lần đầu tiên, hành vi vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại được quy định trong BLHS
1.3 Quy định về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Bộ luật Hình sự của một số quốc gia
Hiện nay, ô nhiễm, suy thoái môi trường đang là một vấn đề mang tính
Trang 36toàn cầu Đây không còn là vấn đề riêng của một hoặc một nhóm các quốc gia nữa, mà đã trở thành một vấn đề chung của tất cả các nước trên hành tinh Cùng với quá trình toàn cầu hoá với sự phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn, thì nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường ngày càng cao
Các quốc gia, trong đó có Việt Nam đã và đang có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực này Tuy nhiên, chất lượng môi trường vẫn đang tiếp tục xuống cấp,
đe dọa đến sự sống còn của nhân loại Do đó, các quốc gia cần phải áp dụng những biện pháp hữu hiệu hơn nữa trong công tác bảo vệ môi trường, kể cả các biện pháp pháp lý cứng rắn thông qua áp dụng các loại chế tài từ dân sự, hành chính cho đến hình sự
Nhằm có thêm những căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện Chương các Tội phạm về môi trường nói chung trong đó có Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc hình sự hoá các hành vi xâm phạm môi trường là hết sức cần thiết và hữu ích
Trong tiểu mục này, tác giả nghiên cứu về một số vấn đề chính liên quan đến quy định về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong pháp luật của một số quốc gia
1.3.1 Trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga
BLHS mới (ban hành năm 1996) của Nga cũng dành một chương riêng
để quy định các tội phạm về môi trường Đó là Chương 26 “Các tội phạm về
sinh thái” với 17 điều quy định về các tội phạm môi trường khác nhau từ
Trang 37- Điều 244 Tội vi phạm các quy định về an toàn khi tiếp xúc với các độc tố vi sinh hoặc độc tố sinh học khác;
- Điều 245 Tội vi phạm các quy định về thú y và các quy định về chống bệnh tật phá hại cây cối;
- Điều 246 Tội gây ô nhiễm nước
- Điều 247 Tội gây ô nhiễm không khí
- Điều 248 Tội gây ô nhiễm môi trường biển;
- Điều 249 Tội vi phạm pháp luật Liên bang Nga về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Liên bang Nga;
- Điều 250 Tội làm hư hại đất
- Điều 251 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng lòng đất
- Điều 252 Tội khai thác trái phép động, thực vật sống dưới nước;
- Điều 253 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn cá dự trữ;
- Điều 254 Tội săn bắn trái phép;
- Điều 255 Tội phá huỷ nơi trú ngụ của các sinh vật được ghi trong sách đỏ của Liên bang Nga đang ở trong tình trạng nguy hiểm;
- Điều 256 Tội chặt trái phép cây gỗ và cây bụi;
- Điều 257 Tội hủy hoại hay làm hư hại rừng;
- Điều 258 Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu thiên nhiên
và các công trình thiên nhiên
Nghiên cứu về các tội phạm về môi trường trong BLHS Liên bang Nga chúng ta thấy nổi lên một số điều luật có liên quan trực tiếp đến vấn đề
vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là Điều 247 Theo Điều 247
BLHS Liên bang Nga quy định:
“Người nào sản xuất các chế phẩm độc hại đã bị cấm, vận chuyển, tàng trữ, cất giấu, sử dụng hoặc lưu thông các chất phóng xạ, chất chứa
vi trùng, chất hóa học các chế phẩm độc hại khác vi phạm quy tắc đã
Trang 38được pháp luật quy định, nếu như hành vi đó đe dọa hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho sức khỏe con người hoặc môi trường xung quanh thì bị phạt tiền ” [57]
Như vậy có thể thấy quy định này cũng liên quan đến việc các chủ thể
có nghĩa vụ vi phạm quy định về vấn đề vận chuyển, tàng trữ, cất giấu, sử dụng hoặc lưu thông các chất phóng xạ, chất chứa vi trùng, chất hóa học hoặc chế phẩm độc hại khác Đây cũng gần tương tự như phạm vi các chất thải nguy hại được thể hiện trong pháp luật Việt Nam
Qua nghiên cứu Điều 247 BLHS Liên bang Nga cho thấy điều luật đã
mô tả trực tiếp hành vi phạm tội về vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, theo đó:
“Người nào sản xuất các chế phẩm độc hại đã bị cấm, vận chuyển, tàng trữ, cất giấu, sử dụng hoặc lưu thông các chất phóng xạ, chất chứa vi trùng, chất hóa học các chế phẩm độc hại khác vi phạm quy tắc đã được pháp luật quy định” [57]
Với việc mô tả như vậy, điều luật đã làm rõ ràng hơn khái niệm và hành vi khách quan của tội phạm Không giống như quy định trong BLHS Việt Nam về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại thì lại dẫn chiếu đến các quy định trong văn bản pháp luật về môi trường khác Đảm bảo
vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại và gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị xử lý
Thứ hai là Điều 247 BLHS Liên bang Nga không sử dụng dấu hiệu hậu quả là cơ sở để xử lý hình sự đối với người có hành vi vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại Theo Điều 247 thì “nếu như hành vi đó đe dọa hoặc
có nguy cơ gây thiệt hại cho sức khỏe con người hoặc môi trường xung quanh”
thì đã bị xử lý hình sự Điều này cũng tương đối khác với quy định trong BLHS
Trang 39Việt Nam về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại Điểm khác biệt là hành vi đó đe họa hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho môi trường thì đã bị
xử lý về hình sự Điều này đảm bảo xử lý sớm hơn hành vi vi phạm quy định
về quản lý chất thải nguy hại mà không cần chờ đến khi có thiệt hại nghiêm trọng xảy ra như quy định trong BLHS Việt Nam Điều này cũng tương tự như PLHS một số quốc gia khi quy định về các tội phạm môi trường, để nhằm xử lý hình sự về hành vi phạm tội môi trường được nhanh chóng thì chưa cần gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường đã có thể xử lý hình sự Nếu quy định như BLHS thì đợi hậu quả đã xảy ra rồi mới xử lý sẽ rất khó khăn, bởi nhiều hành
vi vi phạm như chôn lấp chất thải nguy hại thì hậu quả phải rất lâu sau mới có thể phát sinh và phát hiện
1.3.2 Trong Bộ luật Hình sự Liên bang Đức
Các quy định hiện hành về tội phạm môi trường chủ yếu được xây dựng thông qua việc sửa đổi lần thứ 18 BLHS ngày 28/03/1980 và có hiệu lực
từ ngày 01/07/1980, bao gồm các điều từ Điều 324 đến Điều 330d Cấu thành
cơ bản của các tội này là những hành vi gây nhiễm bẩn nguồn nước, không khí cũng như các hành vi nguy hiểm trong xử lý chất thải, vận hành một số thiết bị, các hoạt động có liên quan đến chất phóng xạ, bảo vệ động thực vật
và lĩnh vực an toàn thực phẩm
Quy định về tội tương tự như tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại tương tự như BLHS trong BLHS được thể hiện ở hai điều luật Theo Điều X326 của BLHS Cộng hòa Liên bang Đức thì tội Xử lý chất thải gây nguy hại tới môi trường được quy định như sau: Xử lý chất thải bất hợp pháp chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi xử lý chất thải đặc biệt nguy hiểm và vi phạm nghĩa vụ giao nộp chất thải phóng xạ Đối với chất thải thông thường, trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng trong trường hợp số lượng chất thải lớn
Trang 40Những hành vi vi phạm này có thể bị phạt tù tới 5 năm hoặc phạt tiền (Điều 326 BLHS) Điều 326 BLHS Liên bang Đức quy định:
“Điều 326 Việc làm không được phép với các chất thải nguy hiểm
(1) Người nào không được phép mà xử lý, cất giữ, tích trữ, làm thoát ra hoặc tiêu hủy khác các chất thải mà các chất này
1 Có thể chứa hoặc tạo ra chất độc hoặc vi trùng của những bệnh nguy hiểm chung có thể lây từ người sang động vật hoặc ngược lại,
2 Gây ung thư, phá hoại bào thai hoặc gây đột biến gen cho con người,
3 Là dễ nổ, dễ tự cháy hoặc có tính phóng xạ chỉ không phải là ít, hoặc
4 Theo loại, đặc tính hoặc số lượng là thích hợp
a) Gây ô nhiễm hoặc làm thay đổi lâu dài cho một nguồn nước, cho không khí hoặc đất đai, hoặc
b) Gây nguy hại cho sự ổn định lượng động vật hoặc thực vật
bên ngoài một nơi cho phép thực hiện điều đó hoặc làm sai khác về cơ bản một quy trình đã được quy định hoặc được phép thì bị xử phạt với hình phạt tự do đến năm năm hoặc với hình phạt tiền
(2) Cũng bị xử phạt như vậy người nào vi phạm một điều cấm hoặc không có sự cấp phép cần thiết mà chuyển các chất thải theo nghĩa của khoản
1 đến, từ hoặc qua vùng phạm vi có hiệu lực của Bộ luật này
(3) Người nào vi phạm nghĩa vụ theo pháp luật hành chính mà không chuyển giao các chất thải phóng xạ thì bị xử phạt với hình phạt tự do đến ba năm hoặc với hình phạt tiền
(4) Trong những trường hợp của khoản 1 và 2 thì phạm tội chưa đạt bị
xử phạt
(5) Nếu người thực hiện tội phạm vô ý thực hiện một trong những trường hợp các khoản 1 và 2 thì hình phạt là hình phạt tự do đến ba năm hoặc hình phạt tiền