Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng hình sự TTHS cho thấy hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn để xảy ra vi phạm nhất là còn để xảy ra oan sai, hoặc bỏ lọt tội phạm…
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TUẤN ANH
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TUẤN ANH
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Tuấn Anh
Trang 41.2.1 Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân và chức năng kiểm sát
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
1.4 Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự
một số nước
35
Trang 51.4.1 Tại Hoa Kỳ 35
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KIỂM
2.1.1 Pháp luật Việt Nam về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự từ năm 1945 đến trước năm 2003
38
2.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm sát hoạt
động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
41
2.2 Thực tiễn công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình
48
2.2.2 Về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hòa Bình
49
2.2.3 Một số kết quả về kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình
50
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG
61
3.1 Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
61
3.2 Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự của Viện kiểm sát
66
3.3 Các giải pháp khác nâng cao chất lượng công tác kiểm sát
hoạt động xét xử
70
3.3.1 Nâng cao trình độ của các Kiểm sát viên nói riêng và lực
lượng cán bộ ngành kiểm sát nói chung
70
Trang 63.3.2 Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành Kiểm sát 72 3.3.3 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo trong ngành Kiểm sát 73 3.3.4 Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn 76 3.3.5 Nâng cao hiê ̣u quả phiên tòa rút kinh nghiệm Kiểm sát viên
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
77
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự TTHS : Tố tụng hình sự
VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Thống kê đánh giá công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự tại tỉnh Hòa Bình (từ ngày 01/12/2010 đến
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành kiểm sát nhân dân được thành lập ngày 26/7/1960, đánh dấu sự
ra đời của một hệ thống cơ quan nhà nước với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Theo quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 1960 VKSND không chỉ có chức năng thực hành quyền công tố mà thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và lĩnh vực hoạt động tư pháp, trong
đó có hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm, điều này cho thấy ngay từ những ngày mới thành lập, việc kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm đã được đánh giá
là một trong những khâu công tác quan trọng của ngành kiểm sát Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của VKSND tới nay, với những quy định của pháp luật hiện hành và đặc biệt là của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã là cơ sở cho VKSND thực hiện chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm Trải qua một thời gian áp dụng, những quy định của BLTTHS 2003 đã cơ bản giúp cho ngành Kiểm sát nhân dân thực hiện được vai trò và nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng hình sự (TTHS) cho thấy hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn để xảy ra vi phạm nhất là còn để xảy ra oan sai, hoặc bỏ lọt tội phạm… Hạn chế này do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự bất cập của các quy định pháp luật về chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát (VKS), năng lực, kinh nghiệm và những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm của VKS Vì vậy, đã làm giảm sút vai trò VKS trong hoạt động tố tụng, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nhà nước pháp
Trang 10quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), yêu cầu của cải cách tư pháp, nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn đang đặt ra đối với việc cải cách, nâng cao vị trí, vai trò của VKS, trong đó có chức năng kiểm sát xét xử trong TTHS Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ ra, nhiệm vụ trọng tâm vào công tác cải cách tư pháp là "đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng
và bảo vệ quyền con người" Khẳng định:
Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra [11]
Từ những khẳng định trên cũng như việc giao nhiệm vụ cho ngành Kiểm sát của Đảng đã cho thấy trách nhiệm kiểm sát hoạt động tư pháp là một trách nhiệm lớn lao của ngành kiểm sát và một trong những nhiệm vụ đó sẽ được thể hiện rõ nét qua công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm hình sự bởi vì đây luôn được coi là một trong những hoạt động trọng tâm của ngành kiểm sát Vậy làm thế nào để ngành kiểm sát có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình? Những khó khăn và hạn chế gì đang tồn tại trong công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm hình sự và giải pháp để ngành Kiểm sát thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát hoạt động xét xử hình sự với nền tảng là BLTTHS 2003…? Đây là những câu hỏi mang tính thực tiễn cao đang được ngành Kiểm sát nhân dân hết sức quan tâm trong công cuộc cải cách tư pháp của nước ta hiện nay
Trong phạm vi luận văn thạc sĩ của mình, với những kinh nghiệm từ thực
tiễn công tác tôi quyết định chọn đề tài: "Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình)" như một
lời bàn góp phần giải quyết khó khăn, hạn chế và các giải pháp để tăng cường hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự của ngành Kiểm sát nhân dân
Trang 11vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp" của Lê Hữu Thể đăng
trên Tạp chí Kiểm sát, số 04, 2008 v.v Chuyên đề về tổ chức và hoạt động của VKS theo yêu cầu cải cách tư pháp của tập thể tác giả đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 14-16, 2008
Các luận văn thạc sĩ, như: "Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự - Một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam" của Trần Mạnh Đông, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh", của Trần Văn Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004; "Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân", của Phan Thị Thúy Lan, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007
Các sách chuyên khảo, như: "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" do TS Lê Hữu Thể chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2008; "Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư
Trang 12pháp" do các tác giả TS Lê Hữu Thể - TS Đỗ Văn Đương - ThS Nguyễn
Thị Thủy đồng chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013
Các bài viết: "Vấn đề tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự" của Huỳnh Thế Anh, Báo điện tử VKSND tỉnh Kiên Giang, ngày 25/9/2013;
"Bàn về chức năng kiểm sát hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân" của TS Nguyễn Văn Quảng, Báo điện tử VKSND thành
phố Hải Phòng…Ngoài ra, còn có các bài viết của nhiều tác giả khác đã được đăng trên các báo và tạp chí chuyên ngành, các báo cáo tổng kết công tác, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề của VKSNDTC qua các năm, các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ… Các công trình nghiên cứu, bài viết trước đây hầu như ít đi sâu vào tìm hiểu về việc kiểm sát hoạt động xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
3 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự của VKS trong điều kiện cải cách tư pháp, đồng thời đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự những năm qua, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của VKSND
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định và thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát đối với xét xử vụ án hình sự của VKSND
Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm với hoạt động của VKSND tỉnh Hòa Bình, từ năm 2009 đến 2014 (30/9/2009 đến 01/10/2014)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp cùng chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận của chủ
Trang 13nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước nói chung, về cải cách tư pháp nói riêng, chính sách pháp luật Đảng và Nhà nước ta trong TTHS
Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, thống kê
và so sánh, kết hợp lý luận và khảo sát thực tiễn,…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đóng góp của luận văn về mặt khoa học pháp lý là góp phần làm sáng
tỏ cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ, vai trò, công tác của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Đóng góp của luận văn về mặt thực tiễn là đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự của VKSND nói chung và VKSND tỉnh Hòa Bình nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn kiểm sát hoạt động xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 KHÁI QUÁT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.1 Vị trí, vai trò của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm nhiều giai đoạn, được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến khi có bản án kết tội hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực được thi hành Quá trình này có sự tham gia của nhiều chủ thể, trong đó mỗi loại chủ thể góp phần vào việc giải quyết một chức năng của TTHS Đó
là các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội; các chủ thể thực hiện chức năng
giai đoạn đó gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: Là giai đoạn đầu của quá
trình giải quyết vụ án hình sự, bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc bằng việc ra quyết định khởi tố hoặc
không khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn điều tra và truy tố: Là giai đoạn được
bắt đầu sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi có quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc
quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Giai đoạn xét xử vụ án hình sự: Là
giai đoạn được bắt đầu khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và quyết định truy
tố bị can cùng bản cáo trạng của VKS và kết thúc khi bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật Giai đoạn thi hành bản án, quyết định có hiệu
Trang 15lực pháp luật của Tòa án: Là giai đoạn mà các cơ quan có trách nhiệm đưa
bản án và quyết định của Tòa án ra thi hành nhằm đảm bảo hiệu lực trên thực tế
Mỗi giai đoạn của hoạt động TTHS có nhiệm vụ và định hướng khác nhau nhưng đều hướng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, toàn diện đúng quy định của pháp luật và do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện Trong đó, xét xử vụ án hình sự là giai đoạn trung tâm của TTHS, thể hiện đầy
đủ nhất bản chất chế độ tư pháp hình sự của mỗi quốc gia, quyết định việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Tòa án phải xét xử chính xác, công minh vì thông qua phán quyết về những hành vi phạm tội, tòa án duy trì công lý trong xã hội, kiểm soát xã hội trong vòng trật tự
Trong lý luận khoa học TTHS, thừa nhận xét xử sơ thẩm có vị trí, vai trò quan trọng nhất, không chỉ trong giai đoạt xét xử mà còn trong cả quá trình giải quyết vụ án, được bắt đầu từ khi tòa án nhận hồ sơ và Cáo trạng của VKS đến khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm Nhiệm vụ thực chất giải quyết vụ án hình sự đã quy định xét xử sơ thẩm là giai đoạn trọng tâm của TTHS Các giai đoạn trước đó chỉ là quá trình chuẩn bị điều kiện cho xét xử
sơ thẩm Các giai đoạn sau xét xử sơ thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính
có căn cứ của nó, khắc phục những thiếu sót, sai lầm nếu có và đưa các quyết định, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành
Hiện nay, khái niệm "xét xử sơ thẩm" có nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo Từ điển Luật học lý giải: "Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ
án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền" [2, tr 780] Khái niệm này mang tính khái quát chung của cả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự; v.v…
và đã phản ánh được nét đặc trưng của xét xử sơ thẩm là "lần đầu tiên" một vụ
án được đưa ra xét xử và do "một Tòa án có thẩm quyền" tiến hành
Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa: "Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử ở cấp thứ nhất do tòa án có
Trang 16thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự" [36, tr 451] Định nghĩa này nhận định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử vụ án ở cấp đầu tiên, bản án, quyết định của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay và bản
án, quyết định đó có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật định
Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa:
"Xét xử sơ thẩm là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật" [35, tr 345] Định nghĩa này đã xác định được xét xử
sơ thẩm là một giai đoạn của TTHS Xét xử sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực hiện chức năng xét xử của tòa án dưới hình thức phiên tòa xem xét và giải quyết vụ án hình sự, có nghĩa là tòa án trên cơ sở bản cáo trạng và các chứng
cứ được kiểm tra tại phiên tòa đưa ra phán quyết về toàn bộ những vấn đề của
vụ án Đây là điểm mấu chốt phân biệt xét xử sơ thẩm với xét xử phúc thẩm Phiên tòa sơ thẩm chỉ có thể tiến hành khi có quyết định truy tố của VKS và
có đủ điều kiện để tiến hành phiên tòa
Giáo trình Luật TTHS của Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa:
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình sự trên
cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Tòa án sẽ xem xét đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để
ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản
án và quyết định của mình [5, tr 359]
Như vậy có thể nói, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, các thủ tục khác có thể có, có thể không, nhưng xét xử sơ thẩm là lần đầu, do đó, là thủ tục bắt buộc Là lần đầu xét xử, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không chỉ xem xét, đánh giá toàn diện, đầy đủ
Trang 17và khách quan về vụ án mà còn hướng đến việc xử lý triệt để, toàn diện và dứt điểm vụ án hình sự ở giai đoạn này Đó là có hay không có hành vi phạm tội,
ai là người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi, tính chất lỗi, mức độ thiệt hại, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp Vì vậy, nếu xét xử sơ thẩm được thực hiện tốt sẽ góp phần giảm thiểu đến mức tối đa tình trạng giải quyết kéo dài vụ án, để án tồn đọng Do đó sẽ hạn chế được lượng án mà tòa án cấp phúc thẩm phải giải quyết, tiết kiệm đáng kể cho Nhà nước và xã hội các chi phí về thời gian, tiền bạc, công sức… cho việc giải quyết vụ án hình sự, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của tòa án nói riêng, cũng như của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung Toàn bộ những yếu tố đó giúp cho giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có một có một giá trị không thể thay thế được Xét xử sơ thẩm vừa là công cụ bảo vệ pháp chế XHCN, vừa là công
cụ bảo vệ quyền con người, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và giảm thiếu tối đa các vụ án oan sai
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và các đặc trƣng cơ bản của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi tòa án nhận được cáo trạng quyết định truy tố bị can (quyết định truy tố bị can trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn) và hồ sơ vụ án do VKS chuyển đến Do vậy, mọi chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án chỉ là tài liệu để tòa án xem xét, kiểm tra nhằm đưa ra những phán quyết khách quan phù hợp với quy định của pháp luật Tất cả những thông tin, tài liệu, đồ vật thu thập được trong giai đoạn điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa thông qua việc xét hỏi và tranh luận Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu nên trong giai đoạn này tòa án phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án trên cơ sở cáo trạng mà VKS truy tố Do vậy chức năng, nhiệm vụ của giai đoạn này được thể hiện như sau:
Trang 18Một là, xem xét và giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp
luật nhằm bảo vệ chế độ, pháp chế XHCN; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Hai là, trường hợp không đủ căn cứ để đưa vụ án ra xét xử theo trình
tự sơ thẩm, tòa án tiến hành giải quyết vụ án bằng việc quyết định đình chỉ vụ
án, quyết định tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật
Ba là, trên cơ sở truy tố của VKS, tòa án tiến hành giải quyết vụ án
bằng việc ra bản án, quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của kiểm sát viên và ý kiến của những người tham gia tố tụng
Bốn là, qua việc xét hỏi và tranh luận dân chủ, công khai tại phiên tòa,
hội đồng xét xử kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ những chứng cứ, tình tiết của
vụ án đã có trong hồ sơ và tại phiên tòa để đưa ra phán quyết cuối cùng
Năm là, thông qua việc xét xử và đặc biệt là qua các phiên tòa công
khai, giai đoạn xét xử sơ thẩm góp phần giáo dục công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác
1.1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nghiên cứu các nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2003 hiện hành, có thể nhận thấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn TTHS có tính
bắt buộcvới các vụ án hình sự và được tiến hành theo một trình tự nhất định
Như phần trên đã đề cập, TTHS trải qua nhiều giai đoạn khác nhau do các cơ quan, chủ thể khác nhau thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn
Trang 19tiếp sau giai đoạn truy tố, được bắt đầu khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và quyết định truy tố bị can hoặc bản Cáo trạng của VKS Các tài liệu, chứng cứ được thu thập ở các giai đoạn trước được đưa ra xem xét một cách công khai, toàn diện tại phiên tòa Các tài liệu, chứng cứ này chính là kết quả của các giai đoạn TTHS trước đó được Tòa án thẩm tra công khai tại phiên tòa và dùng làm căn cứ để đưa ra phán quyết về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm
Mặt khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là Tòa án có thẩm quyền tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện vụ án hình sự trên cơ sở bản Cáo trạng của VKS Để đảm bảo việc xét xử sơ thẩm được chính xác, khách quan, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, cũng như bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, BLTTHS năm 2003 quy định trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, vụ án có thể được đưa ra xét xử phúc thẩm và khi có một số điều kiện nhất định, vụ án
có thể được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Như vậy, việc một vụ án hình sự đã được xét xử sơ thẩm có được xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố khác mà không phải là bắt buộc
Trong bất cứ vụ án hình sự nào dù có một bị cáo hay nhiều bị cáo, dù
bị cáo bị truy tố về tội ít nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, về một hay nhiều tội danh cũng đều phải diễn ra theo một trình tự, thủ tục nhất định theo quy định của BLTTHS Do là một giai đoạn trong TTHS nên việc xét xử sơ thẩm đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp và pháp luật Các thủ tục khác có thể có, có thể không, nhưng xét xử sơ thẩm là lần đầu, do đó, là thủ tục bắt buộc
Thứ hai, tất cả các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, VKS thu
thập trong giai đoạn điều tra, truy tố và các chứng cứ khác có được thông qua hoạt động xét xử đều được xem xét một cách công khai, toàn diện tại phiên tòa sơ thẩm hình sự với sự có mặt đầy đủ của những người tham gia tố tụng
Trang 20Tại phiên tòa sơ thẩm, những người THTT và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận, chất vấn những điều
mà tại CQĐT, VKS họ không có điều kiện để thực hiện Nói cách khác, xét
xử sơ thẩm chỉ được tiến hành khi CQĐT đã điều tra vụ án, VKS đã truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng Do đó, xét xử sơ thẩm là một công đoạn trong giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự
Thứ ba, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có kết quả là một bản án, quyết
định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật
Các phán quyết của Tòa án được xem xét, đánh giá trên cơ sở những chứng cứ đã thu thập trong giai đoạn điều tra, truy tố và những chứng cứ thu thập tại phiên tòa Đồng thời phán quyết của Tòa án còn dựa trên kết quả tranh tụng dân chủ, công khai và bình đẳng giữa các bên để nhằm đưa ra một phán quyết có căn cứ, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Phán quyết của tòa án là phán quyết về bản chất của vụ án (bao gồm: bị cáo có phạm tội hay không, hậu quả pháp lý về hình phạt, biện pháp tư pháp khác hay quyết định khác mà bị cáo phải chịu…) trên cơ sở tuân thủ đúng các quy định của pháp luật hình sự (về tội phạm và hình phạt) pháp luật TTHS (về tư cách tố tụng, chứng cứ, thẩm quyền xét xử…)
Thứ tư, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần duy trì, bảo vệ công lý,
khôi phục công bằng xã hội, bảo vệ quyền lợi của công dân Phán quyết của Tòa án có căn cứ, công minh, đúng pháp luật còn góp phần vào việc xử lý triệt
để, toàn diện và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó hạn chế được lượng án phải giải quyết ở cấp phúc thẩm Việc đưa ra xét xử công khai, nghiêm minh và dân chủ
vụ án hình sự còn góp phần bảo đảm sự thượng tôn của pháp luật, duy trì công lý, đem lại công bằng trong xã hội, đảm bảo tính pháp chế của pháp luật
Việc xem xét và giải quyết vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã góp phần bảo vệ chế độ, pháp chế XHCN; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ quyền và
Trang 21lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Thông qua việc xét xử và đặc biệt là qua các phiên tòa công khai, giai đoạn xét xử sơ thẩm còn thực hiện chức năng tuyên truyền phổ biến pháp luật, giáo dục công dân chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác
1.2 KHÁI NIỆM KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM
1.2.1 Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân và chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Ở Việt Nam, thiết chế Viện công tố, sau này là VKS ra đời và phát triển cùng với quá trình thành lập và phát triển của Nhà nước cách mạng Trải qua hơn 60 năm, ở nước ta đã tồn tại cả hai mô hình: Viện công tố và VKS
Mô hình Viện công tố đã từng tồn tại ở Việt Nam do người Pháp du nhập vào sau khi xâm lược Việt Nam Mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng 8/1945 Từ năm 1945 đến năm 1950, hệ thống cơ quan công tố nằm trong hệ thống Tòa án, thực hiện nhiệm vụ nhân danh Nhà nước buộc tội
bị cáo trước phiên tòa (trên cơ sở đó hình thành hệ thống Thẩm phán đứng hay Thẩm phán buộc tội trong hệ thống Tòa án) Kết quả cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất diễn ra vào năm 1950 cũng đưa lại một số thay đổi đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố Theo đó, cơ quan công tố tỉnh chịu sự lãnh đạo của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, vai trò của Viện công tố trong quá trình giải quyết việc hộ (việc dân sự) của Tòa án được tăng cường Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, năm 1958, hệ thống cơ quan công tố được tách khỏi Tòa án, hình thành hệ thống cơ quan công tố độc lập trực thuộc Chính phủ (gồm: Viện công tố Trung ương, Viện công tố phúc thẩm khu vực, Viện công tố tỉnh, Viện công tố huyện), bên cạnh chức năng công tố, còn được giao thực hiện chức năng giám sát hoạt động tư pháp (giám sát điều tra, giám sát xét xử, giám sát
Trang 22giam, giữ, cải tạo) Tuy nhiên, chưa đầy 2 năm sau, mô hình Viện công tố chấm dứt tồn tại Vào thời điểm năm 1959 - 1960, cách mạng nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới - giai đoạn vừa tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, vừa tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc
Nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân
và Nhà nước, cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất [33] Trên cơ sở đó, VKSND được hình thành khởi đầu bằng việc ban hành Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960 Việc thành lập VKSND thay cho Viện Công tố là xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc chuyển giai đoạn cách mạng ở nước ta Cách mạng đã chuyển giai đoạn thì tất yếu bộ máy nhà nước cũng phải có những thay đổi phù hợp để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới
Việc thành lập VKSND ở Việt Nam cũng như ở các nước XHCN trước đây là sự áp dụng tư tưởng của V.I Lênin về tổ chức và hoạt động của VKS được trình bày trong tác phẩm "Bàn về chế độ song trùng và pháp chế" vào điều kiện cụ thể của nước ta Có thể nói rằng, những tư tưởng của Lênin về cơ quan VKS trình bày trong tác phẩm này đã trở thành cơ sở lý luận cơ bản cho việc xây
dựng hệ thống VKS ở các nước XHCN trước đây và ở Việt Nam từ năm 1960
Theo Lênin, pháp chế thì phải thống nhất, pháp chế không thống nhất thì không thể nào tiến hành công cuộc cách mạng XHCN, không thể bảo vệ
và củng cố được chính quyền cách mạng Yếu tố cản trở mạnh mẽ nhất, trực
Trang 23tiếp nhất đến sự thống nhất của pháp chế XHCN chính là bệnh cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa Muốn đấu tranh chống lại một cách có hiệu quả chủ
nghĩa cục bộ địa phương, nhất thiết phải thành lập VKS
Về mặt tổ chức và hoạt động của VKS, theo quan điểm của Lênin, để
cơ quan này có đủ điều kiện thực hiện quyền và làm tròn bổn phận nêu trên,
phải bác bỏ chế độ trực thuộc "song trùng" Phải quy định cho VKS địa phương
chỉ phụ thuộc vào Trung ương và để cho VKS có quyền và bổn phận kháng nghị đối với bất kỳ quyết định nào của các cơ quan chính quyền địa phương
về phương diện pháp chế của các nghị quyết và quyết định đó, nhưng không
có quyền đình chỉ việc thi hành các nghị quyết và quyết định đó, mà chỉ có
quyền đưa các vụ án ra trước Tòa án Xuất phát từ những yêu cầu khách quan
của giai đoạn cách mạng mới, quán triệt tư tưởng của Lênin về VKS, Hiến pháp năm 1959 của Nhà nước ta đã dành bốn điều quy định các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của VKSND
Theo Hiến pháp 1959, ngoài chức năng Công tố, VKSND còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân Về tổ chức và hoạt động, VKSND các cấp chịu sự lãnh đạo của VKSND cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của VKSNDTC Và "Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ quốc hội" [46]
Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của VKSND được quy định trong Hiến pháp, ngày 26/7/1960, Nhà nước ta công bố Luật tổ chức VKSND, thành lập hệ thống cơ quan VKSND trong bộ máy nhà nước
ta, từ trung ương đến đơn vị hành chính cấp huyện và các VKS quân sự
Theo Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1960, VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng các công tác cụ thể sau: a) Kiểm sát việc tuân
Trang 24theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân; b) Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; c) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan công an và các cơ quan điều tra khác; d) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ của trại giam; e) Khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân
Cải cách tư pháp lần thứ tư đã mang lại những kết quả làm thay đổi căn bản vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố ở nước ta Đây thực sự là sự thay đổi về chất chứ không chỉ đơn thuần ở sự thay đổi tên
gọi của cơ quan công tố, thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, về mặt tổ chức, cơ quan
công tố không còn trực thuộc vào hệ thống các cơ quan hành pháp như trước đây nữa, mà trở thành một hệ thống cơ quan độc lập - hệ thống cơ quan VKSND - chịu sự giám sát của Quốc hội (cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất ở nước ta); thứ hai, trong tổ chức và hoạt động của mình, VKSND phải
tuân theo nguyên tắc tập trung thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSNDTC và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà
nước nào ở địa phương; thứ ba, VKSND không chỉ có chức năng thực hành
quyền công tố mà thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và lĩnh vực hoạt động tư pháp
Sau khi thống nhất đất nước, năm 1975, trên cơ sở đường lối và nhiệm
vụ cách mạng được đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976), Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980, trong đó, tiếp tục ghi nhận chức năng của VKSND là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước từ cấp Bộ trở xuống, các tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, mà còn đặc biệt nhấn mạnh chức
Trang 25năng thực hành quyền công tố của VKSND và khẳng định rõ hơn vai trò và trách nhiệm của Viện trưởng VKSND các cấp, đặc biệt là của Viện trưởng VKSNDTC Từ năm 1987, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện Tiếp thu tinh thần chỉ đạo xây dựng Hiến pháp tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 04/12/1991, ngày 15/4/1992, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp năm 1992 Tuy có một số quy định mới, nhưng về cơ bản, Hiến pháp năm
1992 vẫn giữ nguyên quy định về chức năng cũng như tổ chức bộ máy của hệ thống cơ quan VKSND
Tháng 4/2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được tiến hành, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình cải cách bộ máy nhà nước Đại hội khẳng định việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cùng với vấn đề cải cách thể chế và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nếu rõ phải cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, xét xử, thi hành án, không để xảy ra trường hợp oan, sai VKSND thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp Ngày 19 tháng 11 năm 2001, Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra kết luận về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, nêu rõ việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải quán triệt quan điểm là tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh năm
1991 của Đảng và Hiến pháp năm 1992, đồng thời xác định trọng tâm là sửa đổi, bổ sung một số điều về tổ chức bộ máy nhà nước để làm cơ sở cho việc tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước Hội nghị đã kết luận: Cần sửa đổi, bổ sung
Trang 26chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, không kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trên tinh thần đó, ngày 25 tháng 12 năm 2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 và ngày 02 tháng 4 năm 2002, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật tổ chức VKSND năm 2002, thể chế hóa các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp nói chung và về đổi mới tổ chức, hoạt động của VKSND nói riêng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi) về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của VKSND, theo đó VKSND chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (Điều 1)
Cho đến trước năm 2013, trong quá trình soạn thảo, xây dựng Hiến pháp xuất hiện một số quan điểm cho rằng nên bỏ chức năng kiểm sát việc hoạt động tư pháp của VKS, với lý do cho rằng khi pháp luật mở rộng cho công dân, tổ chức quyền khởi kiện tại tòa án khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị đe dọa thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS là không cần thiết Quan điểm này là không thuyết phục vì trong một xã hội dân chủ cần có nhiều kênh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quan hệ pháp luật Mặt khác, kể cả người dân có quyền tự bảo vệ mình trước pháp luật thì họ cũng không có đủ điều kiện để sử dụng triệt để quyền năng này Vấn đề là cần một lá chắn từ phía bộ máy nhà nước để bảo vệ quyền tự
do và lợi ích chính đáng của người dân, đây là đòi hỏi cấp thiết Hoàn thiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS chính là tạo một kênh quan trọng, một lá chắn hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân và các tổ chức Xét về khía cạnh thực tiễn, hai chức năng hiện nay
của VKS có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chức năng kiểm sát các hoạt động
tư pháp luôn là tiền đề cho chức năng thực hành quyền công tố, đó là mối liên
Trang 27hệ hữu cơ giữa hai chức năng, đơn cử hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giam, tạm giữ, kiểm sát điều tra, xét xử làm cơ sở cho các quyết định về thực hành quyền công tố của VKS chuẩn xác hơn Đặc biệt, quá trình thực hiện hoạt động tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng còn được pháp luật trao thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng (bắt, tạm giữ, tạm giam…) Những sai sót, vi phạm trong hoạt động tư pháp luôn có khả năng dẫn đến những thiệt hại không thể bù đắp được Do vậy, hoạt động
tư pháp phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau bao gồm
cả cơ chế tự kiểm tra bên trong hệ thống và cơ chế giám sát bên ngoài hệ thống, cơ chế giám sát trực tiếp và gián tiếp Những cơ chế này phải thường xuyên, có tính chuyên nghiệp cao Thực tiễn kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS thời gian qua đạt được những kết quả rất quan trọng, hàng năm, VKS các cấp đã phát hiện, ban hành hàng nghìn kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu các
cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm Thực tiễn đó đã kiểm nghiệm và chứng minh trong điều kiện cụ thể của Nhà nước ta, VKS với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ chế giám sát tư pháp hữu hiệu và bổ trợ hiệu quả nhất cho chức năng thực hành quyền công tố Vì vậy, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Cụ thể Hiến pháp năm 2013 có ba Điều từ Điều 107 đến 109 quy định về VKSND
Tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: "1 Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp" [30]
Điều 108 quy định:
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Viện trưởng các VKS khác và của Kiểm sát viên do luật định
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc
Trang 28hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định [30]
Điều 109 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu
sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao" [30]
Căn cứ các quy định của Hiến pháp năm 2013, VKSND tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Tuy nhiên, so với các quy định của Hiến pháp năm 1992, có một số quy định được sửa đổi, bổ sung như sau:
Về chức năng của VKSND, Hiến pháp năm 2013 không quy định cụ thể chức năng của VKSNDTC, của VKSND địa phương, của các VKS quân
sự như Hiến pháp năm 1992 mà quy định gọn hơn, khái quát hơn, đồng thời quy định rõ về hệ thống của VKSND: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định" [30]
Về nhiệm vụ của VKSND, nếu như Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định: "Viện kiểm sát nhân dân, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm
vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân" [23], thì Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ hơn về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và cải cách tư pháp
" Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" [30]
Trang 29Đặc biệt, về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trước đây chỉ được quy định trong Pháp lệnh Kiểm sát viên thì nay đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013: "Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân" [30]
1.2.2 Phạm vi, nội dung của kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, trong đó VKS sử dụng mọi quyền năng pháp lý để kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân có liên quan và tổ chức khác nhằm phát hiện những vi phạm pháp luật của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Tố tụng hình sự là toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự: từ khởi
tố, điều tra, truy tố đến xét xử và thi hành án Đó là toàn bộ hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật Các hoạt động TTHS bao gồm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự như Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án Đây là các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện thông qua hoạt động của người tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
là những công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự Hoạt động của những người tham gia tố tụng bao gồm hoạt động của người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
Trang 30đơn dân sự, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của người tham gia
tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (luật sư, người bào chữa ); hoạt động của người tham gia tố tụng nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch ) Ngoài các hoạt động trên, BLTTHS còn quy định cả nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, các cơ quan, tổ chức và công dân trong việc thực hiện một số biện pháp ngăn chặn, thi hành bản án, quyết định của cơ quan tiến hành
tố tụng Trong một chừng mực nhất định, đây cũng là các hoạt động TTHS, tất cả các hoạt động này đều có thể coi là các hoạt động TTHS Do đó, chức năng kiểm sát trong hoạt động TTHS chính là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các hoạt động nêu trên, của các chủ thể nêu trên, cụ thể:
a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố và điều tra
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ
án hình sự nhằm đảm bảo mọi tội phạm đều được phát hiện, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật đảm bảo mọi tội phạm đều phải phát hiện kịp thời và khởi tố điều tra Việc khởi tố phải có căn cứ và hợp pháp tức là phải có dấu hiệu tội phạm xảy ra Đây cũng chính là việc VKS được trao những quyền năng pháp lý theo luật định dùng để phát hiện vi phạm mà yêu cầu xử lý vi phạm của các cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra vụ án
b) Kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự
Một trong những yêu cầu mang tính nguyên tắc đối với các hoạt động xét xử là bản án, quyết định của Tòa án luôn luôn phải đảm bảo có tính căn cứ và tính hợp pháp Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau, trong hoạt động xét
xử vẫn còn có những sai lầm, vi phạm đáng tiếc Do vậy, việc kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các bản án, quyết định của tòa án phải được thực hiện
Trang 31thường xuyên, không những trước mà cả sau khi bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật Nếu phát hiện vi phạm trong hoạt động xét xử, VKS sẽ kịp thời ban hành kiến nghị, kháng nghị để khắc phục những vi phạm này
c) Kiểm sát việc thi hành án
Thi hành án là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm thực thi quyết định của Tòa án Nếu việc thi hành án không được thực hiện đúng theo các quy định pháp luật thì việc điều tra, truy tố, xét xử không còn ý nghĩa Thông qua công tác kiểm sát thi hành án, VKS có trách nhiệm đảm bảo mọi bản án, quyết định được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo các bản án, quyết định
đó được thực hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời
d) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành hình phạt tù
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý
và giáo dục người chấp hành án phạt tù, nhằm đảm bảo cho việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tam giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù được chấp hành nghiêm chỉnh; đảm bảo tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng
1.2.3 Đặc điểm của kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm trong TTHS có những đặc thù riêng khác với kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, thi hành án và đồng thời cũng khác với hoạt động kiểm sát trong các vụ án dân sự, hành chính Đặc trưng này, một mặt phản ánh bản chất của hoạt động xét xử sơ
Trang 32thẩm vụ án hình sự, đồng thời nó là những căn cứ để phân biệt với hoạt động kiểm sát ở những lĩnh vực khác của VKS Đặc trưng này được thể hiện ở những đặc điểm sau:
a) Phạm vi kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu tiến hành khi các cơ quan tư pháp thực hiện chức năng theo pháp luật TTHS với mục đích bảo đảm các hành vi
tố tụng của các chủ thể hoạt động TTHS tuân theo pháp luật Và chấm dứt khi kết thúc hoạt động TTHS Đặc biệt trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn rất quan trọng, nơi mà kết quả điều tra, truy tố sẽ được làm rõ nhất Tại giai đoạn này Tòa án không chỉ tiến hành xét xử để đưa ra bản án mà còn có thể đưa ra các quyền định quan trọng khác như triệu tập những người cần thiết
để làm rõ bản chất vụ án, hủy bỏ, thay đổi các biện pháp ngăn chặn mà các cơ quan khác đã áp dụng trước đó v.v Tất cả những quyết định đó của Tòa án đều sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nội dung, kết quả giải quyết vụ án, do đó, để đảm bảo các quyết định của Tòa án được đưa ra và thực hiện đúng pháp luật thì VKS sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa
án và bên cạnh đó là sự tuân thủ và thực hiện pháp luật của những người tham gia tố tụng xét xử khác Phạm vi của công tác này bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý
hồ sơ vụ án, kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm
b) Đối tượng của kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có sự tham gia của nhiều đối tượng tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án nhân dân và VKSND, người tiến hành tố tụng bao gồm: Kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký tòa án những người tham gia tố tụng gồm: bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… Khác với các giai đoạn khác của TTHS, đối tượng là chủ thể của xét xử sơ thẩm khá đầy đủ với những quyền
Trang 33và nghĩa vụ pháp lý tương ứng Tất cả những chủ thể này, khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự đều phải tuân theo và thực hiện những quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật TTHS, do đó sự tuân thủ pháp luật của họ chính là đối tượng của hoạt động kiểm sát xét xử hình sự
sơ thẩm Cụ thể: Đối với những người tiến hành tố tụng VKS phải kiểm sát đảm bảo những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, điều đặc biệt cần phải chú ý đến việc áp dụng pháp luật của những người tiến hành tố tụng bởi vì những quyết định của những người tiến hành tố tụng đều ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định sự thật của vụ án Đối với những người tham gia tố tụng như bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ, việc kiểm sát không chỉ đảm bảo họ được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn phải chú
ý đến những nội dung yêu cầu của của họ, nếu những nội dung yêu cầu đó là đúng pháp luật thì cần kiểm sát để những yêu cầu của họ được thực hiện đúng theo quy định pháp luật Đối với người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… việc kiểm sát cần phải đảm bảo họ thực hiện hiện nhiệm vụ một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật
Như vậy có thể thấy tất cả những quyết định, yêu cầu, hành vi tố tụng trong quá trình xét xử sơ thẩm của tất cả các đối tượng tố tụng ở giai đoạn xét
xử sơ thẩm đều thuộc phạm vi kiểm sát của VKSND và vai trò của VKS chính
là để đảm bảo mọi quyết định, yêu cầu, quyền và nghĩa vụ của tất cả các đối tượng tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật
c) Nội dung của kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Thứ nhất, kiểm sát căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các thủ tục tố tụng trong các bước giải quyết vụ án ở giai đoạn xét xử sơ thẩm
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, với nhiệm vụ phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án một cách toàn diện và triệt để, pháp luật quy định
Trang 34cụ thể về thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án của tòa án và trong từng trường hợp
cụ thể, tòa án có thể ra các quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định trả điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án cùng với đó là việc giao các quyết định đó cho những người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ
có thể bị tác động rất lớn từ những quyết định này Nhiệm vụ của VKS là phải kiểm sát tính có căn cứ của những quyết định của Tòa án, Hội đồng xét xử trong giai đoạn này, kiểm sát về thẩm quyền, trình tự ban hành những quyết định của Tòa án và Hội đồng xét xử trong giai đoạn này cũng như kiểm sát xem thủ tục áp dụng các thủ tục tố tụng của Tòa án và Hội đồng xét xử có đảm bảo đúng theo quy định pháp luật hay không
Thứ hai, kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
Sau khi hồ sơ được chuyển sang tòa án, thì tòa án là cơ quan có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can,
bị cáo Việc áp dụng, thay đổi hay hủy bỏ biện pháp ngăn chặn phụ thuộc vào tính chất của vụ án, nhân thân của người phạm tội Trong số các biện pháp ngăn chặn thì trong giai đoạn xét xử Tòa án chỉ có thể áp dụng các biện pháp như tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị
để bảo đảm VKS cần phải kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp cũng như thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp, thẩm quyền của việc ra quyết định áp dụng, hủy bỏ, thay đổi biện pháp ngăn chặn của Tòa án, Hội đồng xét xử
Thứ ba, kiểm sát việc ra các quyết định, bản án của Tòa án
Đích đến cuối cùng của giai đoạn xét xử sơ thẩm là việc tòa án ra bản
án, quyết định xác định có hay không có hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi, tính chất lỗi, mức độ thiệt hại, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp VKS tiến hành kiểm sát để kịp thời phát hiện những vi phạm, thiếu sót của tòa án việc ra các quyết định, bản án và trong từng trường hợp cụ thể sẽ ban hành kiến nghị, kháng nghị đối với những quyết định, bản án của tòa án nhằm khắc phục những sai phạm này
Trang 35d) Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự do VKS tiến hành trên cơ sở và phạm vi quy định của pháp luật
Sau khi nghiên cứu phạm vi, đối tượng và nội dung của hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, so sánh với hoạt động kiểm sát trong các giai đoạn khác của TTHS thì thấy:
Thứ nhất, VKS là cơ quan duy nhất có quyền kiểm sát các quyết định
tố tụng của trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng của VKS, được quy định trong Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp trước đó và được khẳng định lại trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 107) Căn cứ quy định của Hiến pháp và các đạo luật khác như Luật tổ chức VKSND, BLTTHS, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính và căn
cứ vào các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, có thể hiểu VKS không chỉ tham gia kiểm sát các quyết định tố tụng của Tòa án, mà còn là cơ quan duy nhất trong hệ thống các cơ quan tư pháp được Hiến pháp và pháp luật quy định có thẩm quyền tham gia vào tất cả các lĩnh vực tố tụng tư pháp (tư pháp hình sự, tư pháp dân sự, tư pháp hành chính…) và tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng (từ giai đoạn xác minh tin báo, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án) Đây là điều kiện quan trọng bảo đảm cho VKS có khả năng giám sát toàn bộ quá trình tố tụng, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện quyền
tư pháp, là cơ sở quan trọng để phát hiện vi phạm trong hoạt động tư pháp nói chung và trong hoạt động xét xử sơ thẩm nói riêng
Thứ hai, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn này phải tuân thủ theo đúng các trình tự và thủ tục do pháp luật quy định
Theo quy định của pháp luật, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS thực hiện hai chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự Đây là một quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của VKSND Trong hoạt động của mình, Kiểm sát
Trang 36viên đại diện cho VKSND phải tuân theo các quy định của BLTTHS, Bộ luật Hình sự, Luật tổ chức VKSND, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND và các văn bản khác do VKSNDTC ban hành Đồng thời Kiểm sát viên phải nhạy bén, linh hoạt, có khả năng tư duy tổng hợp, khả năng lập luận cũng như tranh luận tốt với những người tham gia phiên tòa Tuy nhiên vai trò của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không chỉ giới hạn tại phiên tòa,
là từ khi bắt đầu phiên tòa đến khi tuyên án mà vai trò của Kiểm sát viên tại giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phải được hiểu theo nghĩa rộng, từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi có bản án sơ thẩm Điều này đảm bảo quy trình hoạt động liên tục và toàn diện của Kiểm sát viên trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS theo luật định Chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên có thành công hay không chính là nằm ở việc Kiểm sát viên có nhạy bén, áp dụng quy định linh hoạt, có khả năng tư duy tổng hợp những văn bản quy định về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật hay không
Thứ ba, Kiểm sát xét xử của VKS là hoạt động đặc trưng giúp Tòa án
ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng các quy định của pháp luật
Hoạt động tư pháp hình sự nói chung và hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự nói riêng là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước (ở đây là quyền tư pháp), do vậy, hoạt động tư pháp hình sự phải được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền tiến hành các hoạt động
tố tụng tư pháp Bên cạnh đó có thể thấy quyền lực nhà nước dù được tổ chức theo nguyên tắc nào, phân công hay phân quyền, đều luôn phải chịu sự giám sát chặt chẽ và toàn diện, nhằm bảo đảm không xảy ra sự lạm quyền Quyền lực là hiện tượng khách quan trong quan hệ xã hội và nó có xu hướng dễ bị lạm dụng Vì vậy, cùng với sự thừa nhận quyền lực nhà nước thì phải thiết lập
sự giám sát đối với quyền lực nhà nước Giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước là vấn đề có tính tất yếu khách quan Ở đâu có quyền lực nhà nước thì ở đó cần có giám sát Trong điều kiện cụ thể của Nhà nước ta hiện nay, cơ
Trang 37chế đó là hoạt động kiểm sát tư pháp của VKS Điều này có mục tiêu bảo đảm cho các cơ quan tư pháp nói chung và tòa án nói riêng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; bảo đảm việc xét xử, vụ án được chính xác, giúp Tòa án ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng các quy định của pháp luật, bảo đảm các quyền con người trong các thủ tục tố tụng tư pháp do pháp luật quy định phải được triệt để tôn trọng
Thứ tư, hoạt động kiểm sát của VKS không cản trở hoạt động bình thường của Tòa án và không ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật của thẩm phán và hội thẩm về tính chất hoạt động
Do kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS là hoạt động giám sát nhà nước, nên trong hoạt động của mình, VKS chỉ xem xét đối tượng kiểm sát ở góc độ có hợp pháp hay không Theo qui định của pháp luật, hoạt động kiểm sát xét xử được tiến hành song song với quá trình xét xử của Tòa án, từ khi hồ
sơ vụ án cùng bản cáo trạng của VKS được chuyển đến cho đến khi Tòa án ra bản án, quyết định Khi bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật, VKS có nhiệm vụ kiểm sát bản án quyết định để phát hiện vi phạm (nếu có) để kiến nghị hoặc kháng nghị theo qui định của pháp luật Trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự, VKS có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án và của những người tham gia tố tụng Để thực hiện nhiệm
vụ nêu trên, VKS có các quyền hạn như: kiểm sát về thẩm quyền xét xử, thành phần Hội đồng xét xử; các thủ tục tiến hành phiên tòa, các quyết định của Tòa án Các quyền hạn của VKS nêu trên là cơ sở để xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của các hành vi tố tụng và các phán quyết của Tòa
án Các quyền hạn của VKS chủ yếu mang tính "khuyến nghị", "yêu cầu" mà không có ý nghĩa trực tiếp làm thay đổi các hành vi tố tụng cũng như các phán quyết của Tòa án Các quyền hạn của VKS mang tính "khuyến nghị" nói trên
là cơ sở để Thẩm phán và Hội thẩm xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn
cứ của các hành vi tố tụng và các phán quyết của mình chứ không trực tiếp làm thay đổi các hành vi và phán quyết của Thẩm phán và Hội thẩm Qua đó
Trang 38cho thấy, hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của VKS không những không thể làm thay đổi tới nguyên tắc độc lập xét xử, mà còn có ý nghĩa bảo đảm tính độc lập của hoạt động xét xử, loại trừ các yếu tố ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án
Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một dạng giám sát nhà nước
về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khi tham gia hoạt xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Mục đích của kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là nhằm đảm bảo cho pháp luật được
áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá xét xử vụ án VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do BLTTHS quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, cá nhân nào trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự Theo quy định của pháp luật hiện hành ở nước ta, hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp chỉ do một chủ thể duy nhất tiến hành, đó là VKS
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về kiểm sát xử sơ
thẩm vụ án hình sự như sau: Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động tư pháp, do VKS tiến nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động tuân theo pháp luật của tất cả các chủ thể tham gia hoạt động TTHS theo thủ tục xét xử sơ thẩm, nhằm bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời
1.3 Ý NGHĨA CỦA KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT
XỬ SƠ THẨM
1.3.1 Đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án
Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, các tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, do đó yêu cầu tối cao và cũng là cái
Trang 39mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không
xử oan người vô tội Tuy nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này cũng được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện triệt để Chính vì thế vai trò của VKS trong quá trình kiểm sát sự tuân thủ pháp luật trong quá trình xét xử
sơ thẩm đảm bảo pháp luật được áp dụng khách quan, độc lập có một ý nghĩa rất quan trọng Thông qua việc kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, những sai lầm, vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án được phát hiện, kiến nghị, kháng nghị, từ đó những vi phạm, sai phạm được khắc phục kịp thời, sự khách quan, minh bạch trong quá trình giải quyết vụ án được bảo đảm
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng là một trong những nhiệm vụ của VKS khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nhằm đảm bảo cho việc xét xử tuân theo những quy định của pháp luật Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần hạn chế những sai phạm, vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử, làm cho quá trình giải quyết vụ án được khách quan, minh bạch, đúng pháp luật
1.3.2 Đảm bảo áp dụng pháp luật thông nhất
Một trong những yêu cầu mang tính nguyên tắc đối với việc áp dụng pháp luật là phải đảm bảo tính thống nhất, các hoạt động điều tra, xét xử, quyết định trong suốt quá trình tố tụng phải luôn luôn đảm bảo có tính căn cứ
và tính hợp pháp Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau, trong hoạt động tố tụng vẫn còn có những sai lầm, vi phạm đáng tiếc, việc áp dụng pháp luật còn chưa đồng bộ và thống nhất giữa các cơ quan tố tụng, Do vậy, việc kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp, cũng như sự thống nhất về pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan tố tụng phải được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử không những trước mà cả sau khi bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật Vì vậy, khi tham gia tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, cùng với công tác thực hành quyền công
Trang 40tố, VKSND thực hiện việc kiểm sát tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo pháp luật được áp dụng đúng người, đúng tội, bản án, quyết định của tòa án phải được thực hiện kịp thời đúng theo quy định, tránh tình trạng không thể thực hiện do sự mẫu thuẫn trong việc hiểu, áp dụng những quy định của pháp luật giữa các cơ quan có nhiệm vụ thực hiện bản án, quyết định của tòa án
1.3.3 Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Bảo đảm pháp chế XHCN là nguyên tắc quan trọng không chỉ trong quá trình tố tụng của một vụ án mà còn ở cả những quy định luật chuyên ngành khác Trong quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan tố tụng tại Việt Nam, đây là nguyên tắc bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của TTHS, từ những quy định chung cho đến những quy định cụ thể Nó cũng là nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN đảm bảo mọi hoạt động TTHS của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của pháp luật Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm việc bảo đảm pháp chế XHCN chủ yếu tập trung vào việc tuân thủ pháp luật của Tòa án và cơ quan kiểm sát đảm bảo pháp chế XHCN trong giai đoạn này chính là VKS Mọi quyết định của Tòa án cần phải đảm bảo đúng theo quy định pháp luật để có thể được mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành Hay nói cách khác, việc kiểm sát xét xử đảm bảo Tòa án thực hiện đẩy đủ và đúng các quyền tố tụng theo quy định của pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, từ các quy định của pháp luật tố tụng đến các quy định của pháp luật về nội dung
1.3.4 Bảo đảm xét xử công bằng
Một trong những vấn đề cấp bách hiện nay của các cơ quan tư pháp nói chung và việc xét xử nói riêng đó là phải đảm bảo tính công bằng của pháp luật, việc xét xử của Tòa án là nơi mà sự công bằng luôn được quan tâm đặc biệt
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền được xét xử công bằng đầu tiên được đề cập trong các Điều 10 và 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con