Quyền con người khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự TTHS nói chung, trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng là biểu hiện dạng cụ thể của quyền con người tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN QUỐC VIỆT
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luât hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 6038.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác
và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Quốc Việt
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 10
1.1 Những khái niệm có liên quan đến quyền con người và bảo vệ quyền con người trong TTHS 10
1.1.1 Khái niệm quyền con người 10
1.1.2 Chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền con người trong TTHS 15
1.1.3 Nhận thức chung về bảo vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam 22
1.2 Nhận thức chung về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 28
1.2.1 Nội dung bảo vệ quyền con người đối với người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 31
1.2.2 Chủ thể bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 38
1.3 Quá trình phát triển các quy định pháp luật TTHS Việt Nam liên quan bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 41
1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1975 41
1.3.2 Giai đoạn từ 1976 đến trước khi có Bộ luật TTHS 2003 42
1.4 Quy định của Bộ luật TTHS hiện hành về các biện pháp khởi tố, điều tra có liên quan đến bảo vệ quyền con người 46
1.4.1 Quy định của Bộ luật TTHS về quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra có liên quan đến việc bảo vệ quyền con người 46
1.4.2 Quy định của Bộ luật TTHS về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn liên quan đến quyền con người 50
1.4.3 Một số quy định của Bộ luật TTHS về áp dụng các biện pháp khởi tố, điều tra có liên quan đến bảo vệ quyền con người 53
Chương 2 : THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN
Trang 42.1.1 Tình hình chung về khởi tố, điều tra tội phạm trên phạm vi toàn quốc từ năm
2010 đến năm 2014 59
2.1.2 Những tồn tại, vướng mắc trong hoạt động của CQĐT, VKS liên quan vấn đề bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 62
2.1.3 Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quyền con người chưa được bảo vệ tốt nhất trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 71
2.2 Những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra 89
2.2.1 Những yêu cầu của cải cách tư pháp về bảo vệ quyền con người trong TTHS nói chung và trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng 89
2.2.2 Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS về khởi tố, điều tra vụ án hình sự 92
2.2.3 Đề xuất, kiến nghị về nâng cao trình độ, năng lực của ĐTV, KSV 103
2.2.4 Đề xuất, kiến nghị về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của CQĐT, VKS, ĐTV, KSV trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 106
2.2.5 Những đề xuất, kiến nghị khác 107
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 5Cơ quan tiến hành tố tụng
Cơ quan điều tra
Cơ quan Cảnh sát điều tra Điều tra viên
Hội đồng xét xử Kiểm sát viên Người tiến hành tố tụng Người tham gia tố tụng Tòa án
Toà án nhân dân Toà án nhân dân tối cao Thủ trưởng
Tố tụng hình sự Phó thủ trưởng Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng
Quân đội nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một giá trị thiêng liêng, bất khả xâm phạm, hiện hữu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Việc xác lập, bảo đảm, bảo vệ quyền con người là mục tiêu, động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, cũng
là cơ sở chính trị - xã hội đặc biệt quan trọng, quyết định việc lựa chọn thể chế chính trị, hoạch định đường lối, chính sách xã hội, xây dựng pháp luật Thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người là một trong những mục tiêu chính trị cao nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Điều 14 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [42 tr 8]
Quyền con người khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) nói chung, trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng
là biểu hiện (dạng) cụ thể của quyền con người trong quan hệ xã hội - pháp
lý TTHS, được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và đảm bảo thực hiện trên thực tế
Khởi tố, điều tra vụ án hình sự là một trong những giai đoạn cơ bản của quá trình TTHS, luôn thể hiện đậm nét quyền lực, sức mạnh cưỡng chế nhà nước, sự đối kháng mạnh mẽ về quyền, lợi ích giữa những người tham gia tố tụng (NTGTT), giữa những NTGTT với Nhà nước mà đại diện là Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện Kiểm sát (VKS); đối kháng và thiếu quân bình về thế
và lực giữa cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) là CQĐT và VKS, người tiến hành tố tụng (NTHTT) là Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV) với
Trang 7người bị buộc tội, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, người bị tạm giam trong quá trình tham gia quan hệ TTHS
Hoạt động TTHS trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự với bản chất là hoạt động thực thi pháp luật, đấu tranh chống tội phạm, trong nhiều trường hợp được phép hoặc buộc phải áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất - cưỡng chế hình sự, hạn chế, làm tiền đề cho việc hạn chế, tước đoạt những quyền cơ bản, quan trọng nhất của con người: quyền sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân, quyền bảo mật thông tin cá nhân, quyền sở hữu… Chính vì vậy, hoạt động TTHS trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, ở bất kỳ thể chế chính trị nào, trong mọi quốc gia đều liên quan chặt chẽ đến vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người So với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, quyền con người của người tham gia quan hệ TTHS nói chung, trong giai đoạn khởi tố, điều tra nói riêng dễ bị xâm hại hơn nhưng lại khó bị phát hiện, ngăn chặn hơn Hậu quả của việc xâm hại quyền con người trong quan hệ TTHS nói chung, giai đoạn khởi tố, điều tra nói riêng bao giờ cũng nghiêm trọng, nặng
nề hơn, khó khắc phục hơn trong các lĩnh vực khác
Tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc chung của các ngành luật Trong lĩnh vực TTHS, hoạt động khởi
tố, điều tra giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hành trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án Thực tiễn đã chỉ ra rằng “những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội… thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra Giai đoạn điều tra nhận đảm đương công việc thực chất về điều tra sự thật phạm tội Thành công hay thất bại của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở một mức độ nào đó là do việc điều tra quyết định Chỉ có qua điều tra mới có thể biết rõ tình hình vụ án, xác
Trang 8tố, điều tra là phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh dấu hiệu tội phạm, căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể, hậu quả thiệt hại, nội dung, diễn biến vụ án hình sự, các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, làm cơ sở cho hoạt động truy tố, xét xử Một trong những yêu cầu mang tính hiến định, có ý nghĩa như nguyên tắc cơ bản của hoạt động TTHS trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự là bảo vệ quyền con người trong quá trình thực hiện thủ tục, biện pháp, hoạt động khởi
tố, điều tra và kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra
Thực tiễn TTHS những năm qua ở Việt Nam cho thấy, trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự còn diễn ra những hoạt động, hành vi tố tụng của CQTHTT, NTHTT xâm phạm quyền con người, tạo tiền đề cho việc xâm phạm quyền tự do, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân trong giai đoạn tố tụng sau này (truy tố, xét xử, thi hành án) như vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang bị kết án oan, phải chịu 10 năm tù về tội phạm Giết người, Cướp tài sản, ông Huỳnh Văn Nén bị kết án oan, phải chịu 17 năm tù trong “Kỳ án vườn điều” về tội phạm Giết người, Cướp tài sản Đây là những bài học đắt giá trong lịch sử tư pháp của nước ta
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quyền con người chưa được bảo vệ tốt nhất trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự gồm: công tác xây dựng, ban hành, nhận thức, thực thi, áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi
tố, điều tra vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập, sai phạm chậm được phát hiện, đánh giá, phân tích, điều chỉnh, khắc phục một cách triệt để Các quy định về chế độ trách nhiệm của Nhà nước, CQTHTT, NTHTT đối với hậu quả pháp lý - xã hội do hành vi, hoạt động TTHS xâm phạm quyền con người chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực thực tế thấp, trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý, giải quyết, khắc phục hậu quả còn rườm rà, mang tính hình thức Nhận thức,
Trang 9thái độ của một bộ phận không nhỏ NTHTT về vấn đề bảo vệ quyền con người, tính chất, ý nghĩa, hậu quả của hành vi xâm phạm quyền con người, việc thực hiện trách nhiệm bồi thường, khắc phục hậu quả của cơ quan, cá nhân có hành vi xâm hại quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra chưa đúng đắn, đầy đủ, nghiêm túc, thiếu tích cực
Bảo vệ quyền con người là mục tiêu tối thượng của mọi hoạt động xây dựng, áp dụng, thực thi pháp luật Việc thực thi, áp dụng các quy định pháp luật TTHS về khởi tố, điều tra để bảo vệ quyền con người là yêu cầu bắt buộc đồng thời là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác áp dụng pháp luật TTHS, đảm bảo hiệu lực pháp luật, củng cố, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đội ngũ cán bộ tư pháp hình sự Nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự có vai trò rất quan trọng đối với việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, từng bước nâng cao tính nhân văn, nhân đạo của chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp nói chung, hạn chế, triệt tiêu tình trạng xâm phạm quyền con người, không để xảy
ra oan, sai trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng Vì vậy tác
giả lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra
vụ án hình sự” làm luận văn thạc sĩ luâ ̣t ho ̣c
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp nói riêng là vấn đề đã được Đảng, Nhà nước cùng các nhà khoa học xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu, nhất là trong thời
kỳ đổi mới Có thể chia các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này thành các nhóm chính sau đây:
Công trình nghiên cứu là sách giáo trình, sách chuyên khảo gồm có:
Trang 10GS.TS Nguyễn Đăng Dung, T.S Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001; "Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam" của tác giả Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013; “Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại” do TS Chu Hồng Thanh chủ biên, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 1996; “Cơ quan điều tra, Thủ trưởng cơ quan điều tra và điều tra viên trong Công an nhân dân” của tác giả Đỗ Ngọc Quang, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2000; “Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn và Mai Văn Thắng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; “Bình luận và khuyến nghị chung của các ủy ban công ước thuộc Liên hợp quốc về quyền con người”, Viện nghiên cứu quyền con người (2008), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội
Công trình nghiên cứu là đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án Tiêu biểu: "Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật
tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam" của GS.TSKH Lê Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí, GS.TS Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia, Hà Nội, năm 2005; Báo cáo tổng thuật Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.07-16 nghiên cứu về “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm; “Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật” do GS.TSKH Lê Văn Cảm (chủ trì), Hà Nội, 2013; Luận án tiến sĩ luật học “Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Huy Hoàn, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004; “Bảo vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam” của tác
Trang 11giả Nguyễn Quang Hiền, Luận án tiến sỹ luật học Viện nhà nước và pháp luật,
Hà Nội, năm 2008
Công trình nghiên cứu là bài viết đăng trên tạp chí: “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Khoa học, chuyên san Luật học, số 23(2)/2009; "Bảo vệ quyền con người bằng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn điều tra thông qua thẩm quyền điều tra" của ThS Trần Thu Hạnh, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012; “Những vấn đề pháp lý cơ bản về Luật hình sự quốc tế và việc bảo
vệ quyền con người” của tác giả Trịnh Tiến Việt, Tạp chí TAND kỳ II tháng 5/2009 (số10); “Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự”, Tường Duy Kiên, Tạp chí Nghề Luật số 5/2006
Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực quyền con người, nhưng nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu
đề cập đến một số vấn đề lý luận chung về quyền con người, từng lĩnh vực hoạt động cụ thể về quyền con người, về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về việc xây dựng pháp luật liên quan vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, đề cập một số khía cạnh cụ thể về quyền con người trong hoạt động tư pháp Một số công trình khác nghiên cứu về vấn đề quyền con người trong phạm vi một số chủ thể tham gia tố tụng cụ thể nhưng mở rộng trong toàn bộ quá trình tố tụng Vấn đề bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và trực tiếp về cả lý luận và thực tiễn Các công trình nêu trên là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người trong giai
Trang 12thực trạng quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền con người, làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế để đưa ra những kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự
- Phân tích các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 liên quan đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự; tìm ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi
tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận quyền con người và việc bảo vệ quyền con người của người bị tình nghi phạm tội – người bị buộc tội (người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can) và người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án… trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài, Luận văn này chỉ đề cập đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự từ 2010 đến 2014
Trang 135 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ quyền con người Việc nghiên cứu được thực hiện từ góc độ lý luận về quyền con người nói chung và từ góc
độ TTHS nói riêng
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát… Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu hồ sơ một số vụ án cụ thể để có cơ sở thực tiễn
6 Những điểm mới về mặt khoa học
Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lý luận và thực tiễn bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các
vụ án hình sự ở Việt Nam và có những điểm nổi bật như sau:
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đặc điểm và nội dung của quyền con người được bảo vệ trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
- Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của CQĐT, VKS trong việc bảo vệ quyền con người
- Nhận diện vi phạm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự, đánh giá thực trạng bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự
7 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục từ ngữ viết tắt, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 2 chương:
Trang 14- Chương 1 Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
- Chương 2 Thực tiễn bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự và những đề xuất, kiến nghị
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Những khái niệm có liên quan đến quyền con người và bảo vệ quyền con người trong TTHS
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Con người là sản phẩm của quá trình chọn lọc, phát triển tự nhiên, xã hội Con người và các quyền con người về tự nhiên, xã hội luôn được mỗi cá nhân, quốc gia, cộng đồng quốc tế quan tâm nghiên cứu, thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện
Những ý niệm về quyền con người xuất hiện từ thời tiền sử, được phát triển lên thành tư tưởng về quyền con người trong nền văn minh Lưỡng Hà rực rỡ ở Trung Đông (khoảng năm 3.000 - 1.500 trước Công nguyên - TCN) với Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 TCN) mà tinh thần chủ đạo là:
“… ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu…”, làm cho người cô quả có nơi nương tựa, đem lại hạnh phúc chân chính và đặt “nền thống trị nhân từ” cho mọi thần dân trên vương quốc Babylon Nhiều văn bản pháp luật cổ khác, tiêu biểu như Bộ luật của vua Cyrus Đại đế ban hành vào khoảng các năm 576
- 529 TCN; Bộ luật do nhà vua Ashoka (Ashoka’s Edicts) ban hành vào khoảng các năm 272 - 231; Hiến pháp Medina (The Constitution of Medina)
do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622; Đại Hiến chương Magna Carta (1215) và Bộ luật về quyền (1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của nước Mỹ, Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật (1470 - 1497) thời Hậu Lê của Việt Nam… chứa đựng những quy định có tính nhân văn sâu sắc về quyền con người Trong đó bao
Trang 16phát triển của xã hội, các tư tưởng, quan điểm về quyền con người ngày càng hoàn thiện về mặt lý luận và mang tính thực tiễn cao hơn
Có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa phản ánh một khía cạnh khác nhau, xuất phát từ các góc nhìn khác nhau về vấn đề quyền con người Tuy nhiên, tổng hợp lại có thể chia thành ba nhóm quan niệm chủ yếu về quyền con người
Quan niệm thứ nhất: bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, nên quyền con người phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa
là quyền con người, quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn liền với cá nhân con người, không thể tách rời Quan điểm này được các đại biểu
tư tưởng của giai cấp tư sản ở Thế kỷ XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên Trường phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nước Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon (Giáo sư Đại học khoa học xã hội Toulouse) đưa ra định nghĩa: "Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền" [10, tr.12] Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con người
ở khía cạnh tự nhiên của nó
Quan niệm thứ hai cho rằng: con người chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của con người chỉ được xác định trong mối tương quan với các thực thể
xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên quyền con người được chế độ nhà nước, pháp luật điều chỉnh bảo vệ Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con người là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội Vì con người là thực thể của xã hội, có mối quan
hệ phổ biến với xã hội nên quyền con người cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất
Trang 17công trong xã hội Cơ sở của quyền con người ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định
Quan niệm thứ ba: quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề quyền con người Xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng quyền con người: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [28, tr.12] Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là "động vật xã hội" [16, tr.155], có khả năng "tái sinh ra con người", con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa Do đó, về mặt này, quyền con người trước hết là một thuộc tính tự nhiên Quyền con người không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nước mà quyền con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, được thể hiện ở quyền được sống, quyền tự do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng đáng với con người Xét về mặt xã hội, con người mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con người đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội Trong Luận cương thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" [28, tr.21] Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì "quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [24, tr.13] Theo C.Mác: "Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên
xã hội loài người" [24, tr.14]
Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nước đã tạo ra những chuyển biến có tính "bước ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tương quan
Trang 18có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp Do đó, trong điều kiện
xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp Và ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con người cũng tất yếu chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội Mặt khác, quyền con người, kể
cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng buộc, chi phối vào khả năng và trình
độ khám phá, chinh phục tự nhiên của chính con người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con người, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội Con người càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con người ngày càng được mở rộng, ngày càng được đảm bảo bấy nhiêu
Quyền con người không phải chỉ là phép cộng đơn giản giữa quyền tự nhiên và quyền xã hội nêu trên Bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập Để đưa ra khái niệm đúng đắn về quyền con người phải giải quyết được các quan hệ giữa cá nhân với xã hội; giữa tính nhân loại với tính giai cấp; giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và quyền lực; giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia; giữa nhu cầu và năng lực cùng với những nỗ lực chủ quan của mỗi cá nhân, cộng đồng người Chủ nghĩa Mác về quyền con người
đã khẳng định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân tộc [28, tr.12-25] Theo đó, quyền con người có các thuộc tính sau:
Quyền con người là những giá trị nhân bản, gắn với mỗi con người, vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội Vì vậy, nó vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá trị sản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể
Trang 19Thông qua việc quy định quyền con người, pháp luật ghi nhận, phản ánh các nhu cầu về quyền con người và khả năng khách quan về nhận thức, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, lịch
sử, dân trí cụ thể… Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là giá trị của chủ thể tự nhiên và xã hội mới trở thành quyền được xác định, được hiện thực hoá
Ở Việt Nam, đã có nhiều học giả nghiên cứu về quyền con người và vấn đề bảo vệ quyền con người, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người và bảo vệ quyền con người Học giả Nguyễn Quang Hiền cho rằng: "Quyền con người là các khả năng của con người được đảm bảo bằng pháp luật về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật" [37, tr.34] Có một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [37, tr.10]
Có thể thấy, mặc dù cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau về quyền con người, nhưng rõ ràng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch
sử Trong thời đại ngày nay, quyền con người không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển
Như vậy, từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Quyền con người là các khả năng của con người được bảo đảm bằng pháp luật về các giá
Trang 20và quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác dựa trên cơ sở pháp luật
1.1.2 Chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền con người trong TTHS
Hoạt động TTHS là hoạt động của các quan chức thi hành pháp luật Theo quy định của "Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 17/12/1979, thuật ngữ "quan chức thi hành pháp luật" gồm tất cả những viên chức pháp luật được bổ nhiệm hay bầu ra, thực hiện các thẩm quyền của cảnh sát, đặc biệt các thẩm quyền bắt hay giam giữ Theo Bộ luật TTHS Việt Nam, hoạt động TTHS là hoạt động của CQTHTT bao gồm: CQĐT; VKS; TA; và NTHTT bao gồm: TT, PTT CQĐT, ĐTV, VT, PVT VKS, KSV, CA, HT, TKTA Mục đích hoạt động TTHS của CQTHTT và NTHTT là nhằm ngăn ngừa, phát hiện, và xử lý hành vi phạm tội, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện kịp thời, không để lọt tội phạm và không xử lý oan người vô tội Tính chất hoạt động của các chủ thể này là hoạt động nhân danh nhà nước và mang quyền lực nhà nước Trong khi đó, quyền con người trong TTHS là quyền pháp lý của cá nhân, công dân khi tham gia quan hệ TTHS, được cụ thể hóa thành các quyền của chủ thể tham gia tố tụng Nói cách khác, bằng việc quy định về quyền của các chủ thể tham gia quan hệ TTHS, Nhà nước trao cho các chủ thể này những quyền pháp lý nhất định, thường được quy định trong Hiến pháp và luật, là hình thức đặc biệt của quyền con người trong môi trường, hoàn cảnh pháp lý TTHS và các quyền là công cụ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, tránh nguy cơ xâm phạm trái pháp luật từ phía CQTHTT, NTHTT và các chủ thể tham gia tố tụng khác
Pháp luật quốc tế về quyền con người có những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong TTHS, được áp dụng trong phạm vi toàn cầu, không phân biệt hệ thống chính trị, trình độ phát
Trang 21triển kinh tế, xã hội Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con người trong TTHS được quy định trong nhiều văn kiện quốc tế, đáng chú ý nhất là Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm
1985 và một loạt các chuẩn mực tối thiểu khác về vai trò của luật sư, các quan chức thực thi pháp luật, cơ quan công tố; về tính độc lập của cơ quan tư pháp.vv Các quy định trong các văn kiện này tạo thành hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quy tắc ứng xử của CQTHTT và NTHTT trong hoạt động thực thi pháp luật cũng như đảm bảo cho các chủ thể tham gia tố tụng có các quyền pháp lý nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giảm thiểu nguy cơ xâm hại từ CQTHTT, NTHTT cũng như các chủ thể tham gia tố tụng khác Các chuẩn mực pháp lý tối thiểu đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng được quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế đều dựa trên các nguyên tắc có tính chất nền tảng, xuyên suốt quá trình tố tụng như: nguyên tắc suy đoán vô tội; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc bình đẳng; không bị tra tấn, nhục hình; nguyên tắc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm con người
Trong đó, các quyền con người của bị can, bị cáo, do đang ở vào tình thế bất lợi vì có hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc đang bị buộc tội là đối tượng được pháp luật hình sự đặc biệt quan tâm, bảo vệ Do tính chất hoạt động của CQTHTT, NTHTT trong TTHS nói chung, trong giai đoạn khởi tố, điều tra nói riêng là nhân danh nhà nước và mang quyền lực nhà nước Quan
hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với bị can, bị cáo là quan hệ bất bình đẳng Vì vậy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giảm thiểu nguy cơ xâm hại quyền con người của các chủ thể này là mối quan tâm
Trang 22TTHS Trong quá trình tố tụng, những người bị tình nghi phạm tội có thể bị
áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự như bắt, tạm giữ, tạm giam Tuy nhiên cho đến khi đã bị xét xử và bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, dù có đủ chứng cứ để chứng minh họ phạm tội hay chưa, thì người bị tình nghi phạm tội vẫn không thể bị coi là có tội Theo chuẩn mực quốc tế, người bị tình nghi phạm tội có các quyền pháp lý sau đây:
Trước hết đó là: quyền được coi là vô tội và phải được đối xử như là người vô tội Đây là quyền pháp lý rất quan trọng, xuyên suốt quá trình tố tụng từ khi phát hiện tội phạm, khởi tố đến khi đã xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật Nhận thức đầy đủ quyền này có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo
vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng Người bị tình nghi phải được đối
xử thích hợp theo Nguyên tắc 8, Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9/12/1988 theo Nghị quyết số 43/173: Những người đang bị giam phải được đối xử đúng với địa vị chưa bị kết án của họ
Do vậy bất cứ khi nào có thể, họ phải được tách riêng khỏi những người đang
bị tù Trong giai đoạn này, các quy định quốc tế đều khẳng định phải tránh áp dụng biện pháp giam, giữ Các biện pháp này chỉ được áp dụng khi không thể
áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn Và theo Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân quy định những tù nhân chưa xét xử phải được hưởng chế độ đặc biệt mà những yêu cầu căn bản của nó được thể hiện trong các nguyên tắc sau đây:
Chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền con người tại giai đoạn chưa xét xử
- Những tù nhân bị bắt giữ hay đang chờ xét xử phải được giam giữ riêng (không giữ, giam cùng tù nhân đã tuyên án)
Trang 23- Những tù nhân trẻ tuổi chưa xét xử phải được giam giữ riêng (không chung với những người lớn tuổi) và về nguyên tắc phải được giam giữ trong những nhà tù riêng (nhà tù giam giữ người chưa thành niên)
- Những tù nhân chưa xét xử phải được ngủ một mình trong những buồng riêng, có chú ý đến phong tục địa phương, phong tục, tập quán của họ
- Và trong chừng mực có thể, nếu muốn, người bị giữ, giam được mua thức ăn từ bên ngoài bằng tiền của họ, hoặc nhờ ban quản lý nhà tù hoặc qua gia đình hay bạn bè của họ Nếu không thì ban quản lý nhà tù phải cung cấp thức ăn cho họ
- Tù nhân chưa xét xử phải được phép mặc quần áo của mình nếu nó sạch và phù hợp; nếu tù nhân đó mặc quần áo tù, thì nó phải khác với quần áo cấp cho những tù nhân đã tuyên án
- Tù nhân chưa xét xử phải luôn được tạo cơ hội việc làm, nhưng không
bị yêu cầu làm việc Nếu tù nhân đó lựa chọn làm việc thì người đó phải được trả công
- Tù nhân chưa xét xử được phép tìm kiếm, mua những thứ như sách báo, tài liệu viết và những phương tiện nghề nghiệp khác phù hợp với lợi ích của việc quản lý tư pháp và an ninh, với trật tự của nhà tù, bằng tiền của tù nhân đó hay của một bên thứ ba
- Tù nhân chưa xét xử được phép cho bác sĩ hay nha sĩ riêng của tù nhân đó khám và điều trị nếu đề nghị của người đó là chính đáng và nếu người đó có khả năng chi trả những khoản chi phí phát sinh
- Tù nhân chưa xét xử được phép thông báo ngay cho gia đình tù nhân
đó về việc bắt giữ và phải có điều kiện hợp lý để giao tiếp với gia đình, bạn bè người đó, được tiếp những cuộc tới thăm của họ và chỉ chịu sự hạn chế, giám sát nếu cần thiết, vì lợi ích của sự quản lý tư pháp và an ninh, để bảo đảm tốt
Trang 24- Tù nhân chưa xét xử được quyền có luật sư bào chữa và được thường xuyên tiếp xúc với luật sư của mình; được phép tiếp đón các luật sư của mình Cảnh sát và các cán bộ nhân viên nhà tù có thể quan sát, chứ không được nghe những trao đổi giữa tù nhân đó với luật sư
Chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền con người tại giai đoạn xét xử:
Tại giai đoạn xét xử, các quy định quốc tế về quyền con người trong quản lý tư pháp đề cao tính độc lập của toà án Nguyên tắc độc lập xét xử của
TA cho phép và yêu cầu toà án bảo đảm các thủ tục xét xử phải được tiến hành một cách đúng đắn và tôn trọng quyền con người trong hoạt động xét xử
Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định: tất cả mọi người đều bình đẳng trước TA; có quyền được xét xử công bằng
và công khai do một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập
ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về bất kỳ lời buộc tội hình sự nào, hoặc quyền và nghĩa vụ của người đó trong một vụ kiện trước pháp luật [5]
Ở giai đoạn này, người bị đưa ra xét xử trước toà án vẫn có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của họ được chứng minh theo pháp luật Việc quyết định về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được có một cách hoàn toàn bình đẳng – những bảo đảm pháp lý tối thiểu sau đây:
- Được thông báo không chậm chễ và chi tiết, bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu, bản chất và lý do buộc tội mình; được thông báo về tội danh, tức được biết mình bị xét xử về tội gì
- Quyền được có mặt khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp
đỡ về pháp lý do mình lựa chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về mặt pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí người đó một sự giúp đỡ về mặt pháp lý mà không phải trả tiền nếu người đó không có đủ điều kiện trả
Trang 25- Được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình và được mời người làm chứng, người đại diện cho mình tới phiên toà và thẩm vấn tại toà với những điều kiện giống như đối với những người làm chứng buộc tội mình
- Được giúp đỡ về phiên dịch không phải trả tiền nếu người đó không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà
- Không bị ép buộc phải chứng minh chống lại chính mình hoặc buộc
- Không bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một hành vi phạm tội mà một bản án đã tuyên, đã có hiệu lực pháp luật, hoặc về một tội phạm mà người đó được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật tố tụng của mỗi nước
Chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền con người sau khi xét xử
Sau khi xét xử, bản án có hiệu lực pháp luật, người phạm tội phải chấp hành bản án do TA tuyên Ở giai đoạn này, các văn kiện pháp lý về bảo đảm quyền con người trong quản lý tư pháp đề cao vai trò, trách nhiệm của nhà tù, cán bộ trại giam Theo đó, việc giam tù và các biện pháp khác là tách một người phạm tội ra khỏi thế giới bên ngoài, là một nỗi khổ vì nó tước bỏ quyền
tự do của người đó Vì vậy, nguyên tắc áp dụng cho các loại tù nhân chịu án,
Trang 26- Hệ thống nhà tù, trừ trường hợp lấy đi chính đáng hay để duy trì kỷ luật, phải không được làm trầm trọng thêm nỗi đau vốn có và mục đích và lý
do kết án tù hay bất kỳ một biện pháp tương tự nào khác tước bỏ tự do chính
là để bảo vệ xã hội chống lại tội ác
- Mục đích và lý do kết án tù chỉ có thể đạt được nếu thời gian ngồi tù, trong khả năng lớn nhất, đảm bảo được rằng khi người phạm tội trở về với xã hội thì người đó không chỉ sẵn sàng mà còn có khả năng sống một cuộc sống tuân theo pháp luật và tự lực
- Để đạt được mục đích này, nhà tù phải sử dụng tất cả các sức mạnh cứu chữa, giáo dục đạo đức, tinh thần và những sức mạnh khác cùng các hình thức giúp đỡ thích hợp hiện có, đồng thời cố gắng áp dụng chúng đối với yêu cầu đối xử với từng cá nhân tù nhân
- Nhà tù phải tìm cách giảm đến mức thấp nhất những khác biệt giữa cuộc sống trong tù với cuộc sống tự do vốn có, tôn trọng nhân phẩm của họ với tư cách là con người
- Việc đối xử với tù nhân không phải là loại trừ họ ra khỏi cộng đồng,
mà tạo điều kiện cần thiết nhằm bảo đảm cho tù nhân có sự trở về dần dần với đời sống xã hội
- Quan tâm về mặt tín ngưỡng; đề cao giáo dục dạy nghề và hướng nghiệp, tham vấn công ăn việc làm, phát triển thể lực, đạo đức phù hợp với nhu cầu cá nhân của tù nhân, có tính đến lý lịch tư pháp của họ, nhằm không tạo ra khoảng cách quá lớn khi trở về với xã hội
- Lao động trong nhà tù không được tạo ra và mang tích chất khổ sai; giáo dục, nhất là cho những tù nhân mù chữ, tù nhân là người chưa thành niên
là công việc bắt buộc; đồng thời chú ý duy trì và cải thiện quan hệ xã hội hiện tại và sau này như quan hệ giữa tù nhân với gia đình vì lợi ích tốt nhất cho cả hai bên
Trang 27Như vậy, chuẩn mực pháp lý quốc tế bảo đảm quyền con người trong hoạt động TTHS chính là hệ thống các văn kiện pháp lý được cộng đồng quốc
tế xây dựng, dựa trên sự nhất trí và đồng thuận của các quốc gia, nhằm bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành
án Các chuẩn mực này đề cao quyền con người của cá nhân và trách nhiệm của các quan chức thực thi pháp luật là phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người, nhằm giảm thiểu nguy cơ xâm phạm quyền và các lợi ích hợp pháp của cá nhân, khi thực thi công vụ mà không làm ảnh hưởng đến mục đích tố tụng của cơ quan tố tụng và quan chức thực thi pháp luật trong hoạt động TTHS
1.1.3 Nhận thức chung về bảo vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam
Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân
và vì dân Một nhà nước mà ở đó, việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo đảm thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt, hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực TTHS Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày, hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…, nhưng có thể nói quyền con người trong TTHS lại là những quyền quan trọng nhất và dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất Xâm hại các quyền con người trong TTHS là xâm hại quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân Nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong TTHS phải giải quyết rất nhiều vấn đề Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
Trang 28Con người khi sinh ra ai cũng có quyền sống trong môi trường an toàn trong đó có sự an toàn về pháp lý Sẽ là một xã hội bất công và quyền con người sẽ bị xâm phạm, dân chúng sẽ luôn cảm thấy bất an nếu một người có thể bị đưa vào vòng quay TTHS với tư cách là người bị buộc tội mà không có căn cứ pháp lý, không tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định Trong khi thực hiện nhiệm vụ chứng minh tội phạm, xử lý người phạm tội, khôi phục công lý, Nhà nước, thông qua CQĐT, VKS tiến hành các hoạt động, biện pháp, trình tự, thủ tục tố tụng hạn chế, tước đoạt tạm thời một hoặc nhiều quyền con người, đặt một hoặc nhiều người vào tình trạng bất lợi về kinh tế, chính trị là chuyện khó tránh khỏi Nhà nước vừa phải điều tra, phát hiện, xử
lý tội phạm vừa phải đảm bảo không xâm phạm quyền con người Đây là hai mặt thống nhất của xây dựng và bảo vệ, mang đậm tính nhân văn, tiến bộ, hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền con người của đại đa số người trong xã hội Việc giải quyết hài hòa hai yêu cầu này chính là biểu hiện của một kiểu TTHS trong một nhà nước văn minh Công việc đầu tiên ở đâu cũng đòi hỏi và nhà nước nào cũng phải làm là: ghi nhận cụ thể những quyền con người nào trong
hệ thống pháp luật TTHS của mình Việc ghi nhận này không phải là sự ban phát từ phía nhà nước mà bắt nguồn từ bản chất của nhà nước tiến bộ Hình thức đầu tiên của nó là thừa nhận những giá trị cao quý của con người mà nhân loại đã thừa nhận Những giá trị đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, không ngừng nghỉ của loài người Từ chỗ bị chà đạp trong các phiên tòa man rợ, phi nhân tính thời trung cổ, phong kiến, phiên tòa “giàn thiêu” của giáo hội, các quyền con người, trong đó có tính mạng, sức khỏe, phẩm giá của con người đã được bảo vệ một cách toàn diện trong nền tố tụng văn minh, nhân đạo của nhà nước pháp quyền hiện nay Những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về bảo vệ quyền con người cũng như sự phát triển năng lực của cá nhân và xã hội đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ quyền con người trong
Trang 29các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự chứng minh mạnh mẽ cho tiến bộ về bảo vệ quyền con người trong TTHS hiện nay
Chúng ta có thể tìm thấy quan điểm, tư tưởng, yêu cầu về việc ghi nhận
và bảo vệ các quyền con người trong TTHS ở nhiều văn kiện quốc tế như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985… Nghiên cứu các văn bản này chúng ta có thể khẳng định ghi nhận, bảo vệ quyền con người trong TTHS chính là việc cụ thể hoá các quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền được
tự do của con người trong hoàn cảnh, quan hệ, môi trường pháp lý TTHS Đây được coi là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tiến bộ, hiệu quả công tác bảo vệ quyền con người nói chung
Quyền con người trong TTHS bao gồm những quyền sau: quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập và khách quan; quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự phải trên cơ sở luật định; quyền được suy đoán vô tội; quyền được bào chữa
và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt; quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan, quyền không bị kết tội hai lần
về cùng một hành vi; quyền được tôn trọng, bảo vệ trong thi hành án hình sự
và sau xét xử
Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội – đối tượng bảo vệ quan trọng nhất trong TTHS Tuy nhiên, tham gia vào quá trình TTHS không chỉ có những người bị buộc tội mà còn có nhiều người khác mà lâu nay
Trang 30nhân tội phạm (người bị hại), quyền của người làm chứng và những người liên quan khác Các chủ thể này cũng có quyền con người cần được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế
Bảo vệ có thể được hiểu là chống lại sự xâm hại để giữ gìn được và đầy
đủ những gì cần thiết Bảo vệ quyền con người là chống lại sự xâm hại đến những đặc lợi vốn có của con người, mà con người được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định Nhận thức chung cho rằng, chủ thể cơ bản của quyền con người là các cá nhân, ngoài ra, trong một
số trường hợp, chủ thể của quyền con người còn là các nhóm người Chủ thể
cơ bản có nghĩa vụ bảo vệ quyền con người là các nhà nước mà cụ thể là các chính phủ, các cơ quan nhà nước khác cùng các viên chức hay những người làm việc cho các cơ quan nhà nước Ngoài các chủ thể nhà nước, các chủ thể phi nhà nước như: các đảng phái chính trị, các tổ chức phi chính phủ, quốc gia
và quốc tế, các doanh nghiệp, tùy theo vị thế của mình, cũng có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Bảo vệ quyền con người là việc Nhà nước bằng sức mạnh và ý chí của mình để các quyền của con người không bị xâm phạm và được thực thi trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội Thông qua các bảo đảm chính trị, kinh tế, tư tưởng, tổ chức, pháp luật, Nhà nước tạo cho con người các điều kiện cần và đủ để thực hiện được các quyền cơ bản của mình, đồng thời loại
bỏ những rào cản làm hạn chế một phần hoặc toàn bộ các quyền đó
Quyền con người được quy định trong pháp luật TTHS bởi các lý do sau: 1) Pháp luật TTHS là công cụ hữu hiệu nhất của Nhà nước trong việc thực hiện, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực TTHS;
2) Pháp luật TTHS quy định, định hướng, điều chỉnh, chi phối trách nhiệm, hoạt động của CQTHTT, NTHTT trong việc bảo đảm các quyền con
Trang 31người, quyền công dân trong khi tiến hành tố tụng Hoạt động, hành vi tố tụng của các CQTHTT, NTHTT là những hoạt động dễ xâm phạm đến quyền con người nhất bởi các chủ thể này đại diện cho Nhà nước, được Nhà nước trao quyền, trao biện pháp và sức mạnh cưỡng chế Do đặc thù của hoạt động này, Nhà nước phải quy định cơ chế đảm bảo tính độc lập, tự chủ của CQTHTT, NTHTT Các chủ thể này cũng luôn phải duy trì, thể hiện tính độc lập, chủ động khi tiến hành các hoạt động, hành vi tố tụng, trong đó có việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế hình sự, trực tiếp tác động, hạn chế, tước đoạt một hoặc một số quyền con người Nói cách khác, CQTHTT, NTHTT độc lập, chủ động trong việc tiến hành các hoạt động, hành vi tố tụng tác động trực tiếp đến quyền con người Quyền độc lập, tự chủ rất dễ dẫn đến xu hướng tuỳ tiện, lạm quyền, sai phạm mà hậu quả là bỏ lọt tội phạm, khởi tố, truy tố, xét xử, tuyên án, áp dụng hình phạt đối với người không có tội, không phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, là quyền con người bị xâm hại hoặc không được phục hồi Chính vì vậy, để bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS, hạn chế sự tuỳ tiện, lạm quyền từ phía CQTHTT và NTHTT, Bộ Luật TTHS quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể này Trong TTHS, các biện pháp bảo đảm pháp lý đối với quyền con người cùa các chủ thể tham gia tố tụng bao gồm các nguyên tắc cơ bản của TTHS, các quy định
về thủ tục, trình tự tố tụng, trách nhiệm của CQTHTT, NTHTT Thực chất là quy định những căn cứ, điều kiện, hình thức, mục đích, nội dung thực hiện hành vi tố tụng cụ thể, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể tham gia tố tụng, bảo đảm tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế, chống lại sự tùy tiện, lạm quyền, ngăn ngừa oan sai
3) Pháp luật TTHS quy định rõ về tư cách, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể TTHS khi tham gia các quan hệ TTHS Trong đó quy định người bị
Trang 32quyền khiếu nại đối với các hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tố tụng, xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của mình, có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật, yêu cầu… Các quy định này là cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền con người, quyền công dân đồng thời là công cụ để công dân, thông qua việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong đó có các quyền con người của mình
4) Quy định về bảo vệ quyền con người của pháp luật TTHS là một hình thức, phương pháp cụ thể hoá, quốc gia hoá Công ước quốc tế về quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực TTHS và cũng là một trong những hình thức chủ yếu, quan trọng nhất để thực hiện các cam kết giữa các quốc gia
về quyền con người Quyền con người, bảo vệ quyền con người trong TTHS
có những đặc thù khác với những lĩnh vực hoạt động nhà nước khác Những đặc thù này chính là sự phản ánh các tính chất, đặc điểm riêng biệt của hoạt động TTHS - lĩnh vực hoạt động nhà nước đặc biệt ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Để có thể phát hiện ra tội phạm, ngăn chặn các hành vi tội phạm, tiến hành các hoạt động tố tụng thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế TTHS là yêu cầu khách quan, mang tính phổ biến và hậu quả của nó là hạn chế, tác động tiêu cực đến mức độ nhất định các quyền cơ bản do Hiến pháp quy định của một hoặc nhiều người cụ thể
Cho đến nay, Nhà nước Việt Nam đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả hai phương diện lập pháp và hành pháp các văn kiện, cam kết quốc tế về quyền con người Điều đó được thể hiện rất rõ nét trong việc xây dựng, thực thi pháp luật TTHS của Nước CHXHCN Việt Nam Bộ luật TTHS hiện hành có các nguyên tắc: thừa nhận TA là cơ quan duy nhất có quyền xét
xử các vụ án hình sự; bảo vệ quyền cơ bản của công dân; bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan…
Trang 33Như vậy, bảo vệ quyền con người trong TTHS là việc các CQTHTT thực hiện những biện pháp, hoạt động, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật TTHS nhằm bảo đảm quyền con người của các chủ thể tham gia quan hệ TTHS mà chủ yếu và quan trọng nhất là người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo
1.2 Nhận thức chung về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
Pháp luật TTHS có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các quy định pháp luật bảo vệ quyền con người, thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền con người thông qua việc “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”, hướng tới mục đích
“góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” [21, tr.9] Những định hướng trên được quán triệt và thể hiện
ở tất cả các quy định của Bộ luật TTHS, tạo thành hệ thống các quy phạm làm
cơ sở cho việc bảo vệ quyền con người, điều chỉnh hoạt động của các CQTHTT, NTHTT, trong tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án, tạo thành hệ thống các quy phạm làm cơ sở cho việc bảo vệ quyền con người
một vụ án hình sự bao gồm nhiều bước, tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc Căn cứ chức năng, chủ thể tiến hành, nội dung
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam, có thể chia quá
Trang 34trình TTHS thành các giai đoạn tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
Khởi tố, điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS, tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó và tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc kết luận điều tra và đề nghị VKS truy tố
bị can trước pháp luật
Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
là một bộ phận của bảo vệ quyền con người, cụ thể hoá, hiện thực hoá các quy định của Hiến pháp về bảo vệ quyền con người nói chung, là bảo vệ quyền con người trong TTHS ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng Nói cách khác, bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự là một bộ phận của bảo vệ quyền con người trong TTHS Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra
vụ án hình sự được quy định trong Bộ luật TTHS và các văn bản pháp luật TTHS, thống nhất với quan điểm, mục tiêu, yêu cầu về bảo vệ quyền con người trong TTHS cũng như trong các lĩnh vực pháp luật, phạm trù xã hội khác Hình thức, biện pháp bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự gắn liền với các hoạt động, hành vi, trình tự, thủ tục TTHS được thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan
Trang 35khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây gọi tắt
về căn cứ, cơ sở của việc khởi tố vụ án và không khởi tố vụ án hình sự cũng như thẩm quyền, trình tự, thủ tục ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định không khởi tố vụ án và việc kiểm sát khởi tố vụ án hình sự
Trong phân đoạn điều tra, CQĐT có trách nhiệm tiến hành đầy đủ các hoạt động, biện pháp, trình tự, thủ tục TTHS để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội, làm sáng tỏ tất cả sự thật khách quan của vụ
án và những vấn đề khác có liên quan, làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử của VKS, Toà án (TA) Đồng thời thông qua hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội trong từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan VKS có trách nhiệm kiểm tra, giám sát toàn diện hoạt động điều tra vụ án, đảm bảo yêu cầu về căn cứ, tính hợp pháp, tính cần thiết của mọi hoạt động, hành vi, trình tự, thủ tục điều tra Đặc biệt là các hoạt động, hành vi, trình tự, thủ tục tố tụng do CQĐT tiến hành có liên quan trực tiếp đến quyền con người như khởi tố bị can, bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét…
Trang 36Bảo vệ quyền con người của người tham gia quan hệ TTHS trong giai đoạn khởi tố, điều tra bao gồm hai nội dung Nội dung thứ nhất là bảo vệ các quyền con người đã, đang, có khả năng bị hành vi tội phạm xâm hại – chống lại sự xâm hại các quyền con người của nạn nhân tội phạm Nội dung thứ hai
là bảo đảm, không xâm hại các quyền con người của người tham gia quan hệ TTHS trong giai đoạn khởi tố, điều tra Tức là chống lại sự xâm hại, khôi phục quyền con người bị đe doạ xâm hại, đã, đang bị xâm hại làm phát sinh quan hệ TTHS của chủ thể và trong khi thực hiện chức năng ngăn chặn tội phạm, bảo vệ, chống lại sự xâm hại quyền con người, khôi phục công lý, chứng minh tội phạm, người phạm tội, hậu quả của tội phạm… không xâm hại các quyền con người của chủ thể tham gia quan hệ TTHS Hai nội hàm này của yêu cầu bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra là hai mặt thống nhất, phản ánh bản chất nhân đạo, văn minh của nền TTHS nước ta
Chủ thể quyền con người - đối tượng được bảo vệ quyền con người bằng các quy định pháp luật TTHS trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình
sự gồm những người bị tình nghi phạm tội – người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can) và người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án… Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn này là việc CQĐT, VKS thực hiện những việc làm bảo đảm cho các chủ thể này được thực hiện và có điều kiện cần và đủ để thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật TTHS
1.2.1 Nội dung bảo vệ quyền con người đối với người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
Bảo vệ quyền con người đối với người bị buộc tội trong giai đoạn khởi
tố, điều tra vụ án hình sự
Trang 37Người bị buộc tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong vụ án
Người bị bắt là chủ thể tham gia tố tụng có đặc điểm riêng biệt, khác với các chủ thể tham gia tố tụng khác Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, người bị bắt có thể là đương sự chưa bị khởi tố bị can, sẽ bị tạm giữ hoặc đã bị khởi tố bị can, sẽ bị tạm giam Trường hợp chưa bị khởi tố bị can, sau khi bị bắt - chính thức tham gia tố tụng với tư cách là người bị bắt – chủ thể này sẽ trở thành – có tư cách tham gia tố tụng – người bị tạm giữ Nếu đã
bị khởi tố bị can, sau khi bị bắt, chủ thể này sẽ trở thành – có tư cách tham gia
tố tụng – người bị tạm giam Tư cách tố tụng, các quyền tố tụng, trong đó có quyền con người của người bị bắt phát sinh từ thời điểm bị bắt Việc xác định thời điểm kết thúc tư cách tố tụng của người bị bắt là vấn đề pháp lý phức tạp, chưa có quy định cụ thể và đang còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau Xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu về quyền con người và bảo vệ quyền con người của người bị bắt, chúng tôi đồng ý rằng thời điểm một người bị bắt kết thúc tư cách tham gia tố tụng là người bị bắt và bắt đầu (chuyển sang) tư cách là người bị tạm giữ, tạm giam khi việc bắt người đó đã kết thúc và đã thực hiện trong thực tế việc tạm giữ, tạm giam đối với người đó bằng việc giao người
đó cho nhà tạm giữ, trại tạm giam Điều 83 Bộ luật TTHS quy định sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, CQĐT phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt Đối với người bị bắt theo quyết định truy
nã, CQĐT tiếp nhận người bị bắt phải lấy lời khai và thông báo ngay cho CQĐT đã ra quyết định truy nã Trường hợp xét thấy CQĐT đã ra quyết định truy nã không thể tiếp nhận ngay người bị bắt thì CQĐT tiếp nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo cho CQĐT đã ra quyết định
Trang 38có thẩm quyền bắt phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được VKS cùng cấp phê chuẩn cho CQĐT nhận người bị bắt CQĐT nhận người bị bắt phải giải ngay người bị bắt đến trại tạm giam gần nhất Theo quy định này, thời gian một người tham gia tố tụng với tư cách là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang không quá 24 giờ kể từ thời điểm bị bắt Thời gian một người tham gia tố tụng với tư cách là người bị bắt trong trường hợp bắt người theo quyết định truy nã chưa được xác định cụ thể mà là “ngay sau khi lấy lời khai” Thời gian một người tham gia tố tụng với tư cách là người bị bắt trong trường hợp bắt bị can để tạm giam cũng chưa được xác định cụ thể và bắt đầu từ thời điểm CQĐT thi hành lệnh bắt, kết thúc khi người đó được giao cho nhà tạm giữ, trại tạm giam
Thời gian tham gia tố tụng của người bị bắt có thể trong thời hạn 24 giờ, có thể rất ngắn nhưng cũng có thể kéo dài do chưa được quy định cụ thể Trong thời gian này, người bị bắt có các quyền gì? Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định quyền của người bị bắt Theo chúng tôi người bị bắt là người
bị tạm thời hạn chế quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm thân thể Các quyền tố tụng khác, trong đó có các quyền con người không bị hạn chế, tước đoạt Bảo vệ quyền con người của người bị bắt là bảo vệ quyền được sống, chăm sóc sức khoẻ, bảo đảm các điều kiện cần và đủ để người bị bắt thực hiện các quyền nhân thân, quyền dân sự, quyền chính trị không bị hạn chế, tước đoạt Cụ thể, người bị bắt có quyền được biết lý do mình bị bắt; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; được trình bày lời khai; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; khiếu nại về việc bị bắt, quyết định, hành vi tố tụng của CQTHTT, NTHTT, yêu cầu luật sư bảo vệ quyền lợi, quyền im lặng
Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ là đảm bảo những điều kiện cần và đủ để người bị tạm giữ thực hiện được các quyền của mình Điều
48 BLTTHS quy định: người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn
Trang 39cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Người bị tạm giữ
có quyền: được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Tương tự như đối với người bị tạm giữ, bảo vệ quyền con người của bị can là đảm bảo những điều kiện cần và đủ để bị can thực hiện các quyền của mình Điều 49 Bộ luật TTHS quy định bị can là người đã bị khởi tố về hình
sự Bị can có quyền: được biết mình bị khởi tố về tội gì; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật TTHS; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Trách nhiệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong giai đoạn khởi
tố, điều tra vụ án hình sự thuộc về CQĐT, VKS Việc ra quyết định khởi tố, phân công điều tra và các quyết định khác, việc tổ chức điều tra, tiến hành các hoạt động, trình tự, thủ tục điều tra trong giai đoạn này do CQĐT thực hiện VKS kiểm tra, giám sát toàn diện, liên tục mọi hoạt động, trình tự, thủ tục điều tra Trong đó một số quyết định liên quan trực tiếp quyền con người của người bị buộc tội do VKS phê chuẩn, yêu cầu thực hiện Điều 23 Bộ luật TTHS quy định: VKS thực hành quyền công tố trong TTHS, quyết định việc
Trang 40trong TTHS có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các CQTHTT, NTHTT và NTGTT, áp dụng những biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Bảo vệ quyền con người đối với người bị buộc tội bao gồm các nội dung, yêu cầu sau:
- CQĐT, VKS phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, người bị tạm giam thực hiện được những quyền của mình theo quy định của Bộ luật TTHS
- CQĐT, VKS khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, kiểm sát điều tra không được xâm phạm quyền con người và chỉ được thực hiện những biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế mà pháp luật TTHS quy định Pháp luật TTHS Việt Nam quy định khá chặt chẽ về căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú…; các biện pháp cưỡng chế hình sự khác như khám người, khám chỗ ở… Tất cả các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế hình sự trên chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định CQĐT, VKS không được phép lạm dụng, áp dụng tùy tiện các biện pháp này Xu hướng chung của TTHS là hạn chế đến mức thấp nhất việc
áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, đồng thời mở rộng căn cứ, điều kiện áp dụng các biện pháp khác “mềm hơn”, tác động nhỏ nhất đến các quyền con người như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm CQTHTT được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế TTHS khi cần thiết, để đảm bảo phát hiện, xử lý tội phạm song chỉ khi có đủ căn cứ và không thể áp dụng biện pháp khác ít nghiêm khắc hơn