1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân

113 909 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình để đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân và đề xuất những giả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG THỊ NGỌC LOAN

bảo đảm quyền con ng-ời trong giai đoạn khởi tố, điều tra

vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Dương Thị Ngọc Loan

Trang 4

ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ

ÁN HÌNH SỰ 9 1.1 Khái niệm quyền con người, quyền con người và bảo đảm quyền

con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 9

1.1.1 Khái niệm quyền con người 9 1.1.2 Quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự 10 1.1.3 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ

án hình sự 23

1.2 Vị trí, vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát

nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự 26

1.2.1 Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 27 1.2.2 Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát trong giai

đoạn điều tra vụ án hình sự 29

1.3 Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đảm

quyền con người trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình

sự của Viện kiểm sát nhân dân qua các giai đoạn lịch sử trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 33

1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

1.3.2 Giai đoạn từ 1960 đến trước khi BLTTHS 1988 ra đời 35 1.3.3 Giai đoạn từ 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 39

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

NĂM 2003 VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 44 2.1 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về việc

bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố - điều tra các

vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 44

2.1.1 Hoạt động bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 45 2.1.2 Hoạt động bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 50 2.1.3 Về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra

trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 62

2.2 Thực tiễn hoạt động bảo đảm quyền con người của Viện Kiểm sát

nhân dân trong các giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 66

2.2.1 Những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền con người của

Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 66 2.2.2 Những hạn chế trong hoạt động bảo đảm quyền con người của Viện

kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 72

Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ

TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC

VỤ ÁN HÌNH SỰ 77 3.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 77

Trang 6

3.1.1 Hoàn thiện một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự 77 3.1.2 Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan

đến nhiệm vụ, quyền hạn, và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm quyền con người 83

3.2 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao vai trò của viện kiểm sát

nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự 89

3.2.1 Nâng cao nhận thức của dội ngũ cán bộ Kiểm sát viên về quyền

con người và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền con người 89 3.2.2 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về năng lực

trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp 91 3.2.3 Tổ chức thực hiện tốt chủ trương “Tăng cường trách nhiệm công tố

trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”, để bảo đảm các quyền con người trong tố tụng hình sự 92 3.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát 94 3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ lương,

phụ cấp ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó có cán

bộ ngành Kiểm sát 95

KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 05 năm (2010-2014) 678

Bảng 2.2: Kết quả thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các

Bảng 2.3: Số tố giác, tin báo về tội phạm quá hạn trong giai đoạn

Bảng 2.6: Số người bị tạm giữ, tạm giam quá hạn trong 05 năm

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 08/12/1956, tại lớp Nghiên cứu Chính trị khóa hai trường Đại học

nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” [29, tr 276] Nhân dân là những con người

cụ thể có những quyền thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm được Kế thừa

tư tưởng ấy, trong việc thực hiện và hoạch định các chính sách phát triển kinh

tế - xã hội, an ninh - quốc phòng những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta

đã đặt “Con người” là trung tâm - chủ thể của chiến lược, quá trình phát triển

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” [18] Gần đây, thể chế hóa đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Chương về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đã được đưa lên vị trí thứ 2, chỉ sau Chương I

về “Chế độ chính trị” Quy định này phản ánh quyết tâm của Đảng, Nhà nước

và nhân dân ta trong thực hiện quyền con người, quyền công dân Bên cạnh

đó, Hiến pháp năm 2013 còn quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân

Việc bảo đảm thực hiện các quyền con người bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện quyền con người, đặc biệt

là trong lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự Hoạt động tố tụng hình sự chính là công cụ sắc bén của Nhà nước và xã hội trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên, bảo đảm những giá trị vật chất, tinh thần chân chính của con người và xã hội Việc bảo đảm các quyền con người,

Trang 9

quyền công dân bằng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực thi pháp luật có hiệu quả là hết sức quan trọng Bởi quyền con người trong tố tụng hình sự là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương, nhất là

quyền an toàn về thân thể (quyền được sống, được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe…), danh dự và nhân phẩm của cá nhân

Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát nhân dân có vai trò chủ động trong việc bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người trong các

hoạt động tố tụng khi các Cơ quan tiến hành tố tụng (các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng) thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự Với việc

ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền con người, phát hiện vi phạm, để từ đó khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm, áp dụng và kiến nghị các biện pháp loại

trừ nguyên nhân và điều kiện vi phạm, Viện kiểm sát nhân dân thực sự là “một lá chắn đáng tin cậy bảo vệ quyền con người” [11, tr 48]

Thực tiễn cho thấy, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định Các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân về cơ bản đã được bảo đảm, đã hạn chế được tình trạng oan, sai Tuy nhiên, thực

tế vẫn còn có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ quan điều tra chưa bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, thậm chí là vi phạm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình

sự (có thể là các cơ quan tố tụng và những người tiến hành tố tụng lạm dụng việc bắt giữ, khởi tố, bắt tạm giam sau đó phải đình chỉ điều tra do không phạm tội…) Để xảy ra những vi phạm, thiếu sót đó, có trách nhiệm của

Viện kiểm sát nhân dân chưa thực hiện được đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố - điều tra các vụ án hình sự

Trang 10

Việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình để đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân và đề xuất những giải pháp hoàn thiện bộ luật tố tụng hình sự, là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, kiểm sát viên về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của mình trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công, nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội pha ̣m, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Với lý do đó, học viên đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người

trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân”, làm đề tài Luận văn thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người và

bảo đảm quyền con người như: “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” (Sách tham khảo), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, của TS Trần Quang Tiệp; “Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam” (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, Hà Nội, 2005 của PGS TS Nguyễn Văn Động; “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Sách chuyên khảo), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 của PGS

TS Trần Ngọc Đường; …

Đối với lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, tại Việt Nam đã có những

công trình nghiên cứu như: “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự

và pháp luật tố tụng hình sự”, Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội,

do GS TSKH Lê Văn Cảm; PGS TS Nguyễn Ngọc Chí và PGS TS Trịnh

Quốc Toản đồng chủ trì, năm 2006; Luận án tiến sĩ “Đảm bảo quyền con

Trang 11

người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam” của Nguyễn Huy Hoàng, Hà Nội, bảo vệ năm 2005; Luận án tiến sĩ “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của Lại Văn Trình,

TP Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2011; Luận văn thạc sĩ “Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát” của Trần Công Hòa, Hà Nội, bảo vệ năm 2004; Luận văn thạc sĩ “Gắn công tố vơ ́ i hoạt động điều tra trong tố tu ̣ng h ình sự theo tinh thần Nghị quyết Đ ại hội Đảng lần thứ X – Một số vấn đề lý lu ận và thực tiễn”, của Bùi Mạnh Cường,

Hà Nội, bảo vệ năm 2012; Luận văn thạc sĩ “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Bắc Giang trong việc bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Xuân Hùng, Hà Nội, bảo vệ năm 2013; Luận văn thạc sĩ “Vai trò của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự”, của Nguyễn Khắc Quang, Hà Nội, bảo vệ năm 2014; Luận văn thạc sĩ “Viện kiểm sát với vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam”, của Nguyễn Thị Phương Nga, Hà Nội, năm 2014; Luận văn thạc sĩ “Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam”, của Nguyễn Thị Hạnh Quyên,

Hà Nội, năm 2014…

Các bài viết khoa học đăng tải trên các báo pháp luật, tạp chí nghiên

cứu khoa học như: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận cơ bản, của GS TS Lê Văn Cảm, Báo Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, Số 7/2010; Những vấn đề chung về bảo

vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, của

GS TSKH Lê Văn Cảm, Báo Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh, Số 6/2010; “Bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự”, của Thạc sĩ Đinh Thế Hưng, Viện Nhà nước và pháp luật –

Trang 12

Viện khoa học xã hội Việt Nam, năm 2010; “Hiến pháp 2013 và việc hoàn thiện biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự”, của

PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 30, số 3/2014…

Các công trình khoa học, bài viết nêu trên, các tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề bảo đảm quyền con người

nói chung hoặc quyền con người của một nhóm đối tượng nhất định (như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói chung hoặc người chưa thành niên là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo), trong toàn bộ quá trình tố tụng từ giai đoạn

điều tra đến giai đoạn xét xử, hoặc chỉ tập trung vào giai đoạn xét xử vụ án hình sự Trong Luận văn, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền con người nhằm đưa ra những đánh giá về thực trạng bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân, từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện nhằm phát huy vai trò Viện kiểm sát nhân dân, như là một cơ quan có trách nhiệm đảm bảo tối ưu quyền con người trong giai đoạn khởi tố,điều tra các vụ

án hình sự được thực hiện trên thực tế và hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm phạm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra, tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm Để thực hiện luận văn, tác giả đã lựa chọn, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận, trên cơ sở khảo sát thực tiễn, làm rõ những vướng mắc, khó khăn và những hạn chế để đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ

án hình sự

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

+ Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như khái niệm quyền con người, quyền con người và bảo đảm quyền con người trong

tố tụng hình sự; những quy định của pháp luật tố tụng hình sự bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự; cơ sở xác định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân và các điều kiện bảo đảm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc đảm bảo quyền con người trong giai đoạn khởi

tố - điều tra các vụ án hình sự

+ Phân tích thực trạng, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Từ đó rút ra những hạn chế, bất cập của một số quy định pháp luật và hạn chế, bất cập trong thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thực hiện vai trò bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự những năm qua

+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Luận văn phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Về thời gian Luận văn nghiên cứu: Những vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài gắn với quá trình thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trong

05 năm (2010-2014)

Trang 14

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về quyền con người, các quan điểm của Đảng

về cải cách tư pháp, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể

và đặc thù của khoa học Luật tố tụng hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Ngoài ra, Luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như: phương pháp logic, các phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những điểm mới và đóng góp khoa học của Luận văn

Luận văn đề cập một số vấn đề lý luận về quyền con người, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, đặc biệt là luận giải vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người Làm rõ cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự Thông qua đó, Luận văn đưa ra được số giải pháp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLTTHS và một số các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

Trang 15

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vị trí, vai trò bảo đảm quyền con

người của Viện kiểm sát nhân dân trong trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

Chương 2: Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và thực trạng

hoạt động bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 3 Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

Trang 16

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm quyền con người, quyền con người và bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy tư tưởng về quyền con người

đã xuất hiện từ rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người

Có thể chia thành ba nhóm quan điểm về quyền con người như sau:

- Quan điểm thứ nhất: Quyền con người là đặc quyền tự nhiên Đặc

quyền tự nhiên này do pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định Các quyền này không một xã hội hay một chính phủ nào có thể ban

phát, xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” và nó không phụ thuộc vào phong tục,

tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào

- Quan điểm thứ hai: Trái với quan điểm thứ nhất, quan điểm này cho

rằng các quyền con người không phải những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên, không thể bị tước bỏ, quyền con người là quyền pháp lý và nó phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị cũng như các yếu tố phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa… của các xã hội

- Quan điểm thứ ba: Là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề

quyền con người Xuất phát từ việc coi con người là một thực thể tự nhiên, mang đặc tính xã hội, do đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người:

"Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội” [2] Quyền con người là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản

Trang 17

phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển" Quyền con người "không thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc

vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội… [31]

Ở Việt Nam, đã có nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa, các tiếp cận khác nhau về vấn đề quyền con người Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm:

Quyền con người là một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị xã hội cáo quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại

và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [5, tr 11] Còn theo TS Trần Quang Tiệp:

Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định [51, tr 14]

Như vậy, dù tiếp cận hay nghiên cứu quyền con người ở góc độ nào, thì khái niệm về quyền con người vẫn cần đảm bảo thể hiện được những thuộc tính thuộc về quyền tự nhiên và quyền pháp lý của con người Theo đó:

Quyền con người là những giá trị tự nhiên mà con người được hưởng, phù hợp với những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bao gồm các quyền về dân sự, chính trị như quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền

tự do, quyền bình đẳng trước pháp luật…

1.1.2 Quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

1.1.2.1 Quyền con người trong tố tụng hình sự

Như trên đã phân tích, quyền con người là phạm trù phức tạp, nó liên

Trang 18

quan đến nhiều ngành khoa học như luật học, triết học, xã hội học, chính trị học, đạo đức học… Nhưng gần gũi hơn cả là luật học, bởi về nguyên tắc, các nhà nước trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiện những quyền pháp lý – những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã được pháp luật thừa nhận

và bảo vệ Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn

có của cá nhân Nói cách khác pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hóa quyền tự nhiên thành những quyền con người Pháp luật đóng vai trò là công cụ giúp nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con người của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc vận dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế [13, tr 46 - 48]

Vì vậy, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc ghi nhận, đảm bảo việc thực hiện quyền con người và thúc đẩy các quyền con người

Hiện nay, quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự, được các nhà nghiên cứu rất quan tâm, nhất là trong quá trình triển khai, thi hành Hiến pháp 2013, khi mà quyền con người được nhắc đến và ghi nhận một cách chi tiết, cụ thể hơn

Có thể nói, trong tố tụng hình sự, quyền con người được thể hiện trên

hai khía cạnh: Thứ nhất, việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý, khắc phục những

thiệt hại và trừng trị những người phạm tội gây ra những thiệt hại cho quyền

và lợi ích hợp pháp của con người, cũng như đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, là góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân [11, tr 13]

Thứ hai, những hoạt động tố tụng hình sự rất dễ xâm phạm đến quyền con người của những người bị tình nghi thực hiện tội phạm - “những người bị đưa vào vòng quay tố tụng” Bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

Trang 19

tụng là những chủ thể được Nhà nước trao quyền, đại diện cho nhà nước, thể hiện tính chủ động, độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi mà khả năng truy nguyên dấu vết, đánh giá chứng cứ còn hạn chế thì khả năng các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân có thể bị xâm phạm và khả năng xảy ra việc làm oan sai, bỏ lọt tội phạm là điều khó tránh khỏi Vì vậy, khi giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải

có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người, không được lợi dụng việc tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền con người

Theo các Công ước quốc tế về quyền con người thì quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm:

* Quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm… của cá nhân hoặc quyền không bị giam giữ một cách tùy tiện, được quy định tại Điều 9 (1) Công

ước quốc tề về các quyền dân sự và chính trị, 1996 (viết tắt là ICCPR) Cụ

thể: “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định” [28]

Trên cơ sở của Điều 9 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm

1948, thì Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc; Công ước Châu Mỹ về quyền con người hay Công ước châu Âu về bảo vệ quyền

con người và tự do cơ bản nhấn mạnh yếu tố “không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị

tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ

và trả lại tự do cho họ, nếu giam giữ là bất hợp pháp Trong trường hợp sử dụng tạm giữ, tạm giam như là một biện pháp ngăn chặn, việc này không được tiến hành một cách tùy tiện mà phải tiến hành dựa theo các trình tự thủ

Trang 20

tục theo quy định của pháp luật, đồng thời phải đảm bảo được quyền được Tòa án quyết định tính hợp pháp của việc giam giữ, quyền được yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp

Bên cạnh đó, về nguyên tắc, không được phép đối xử với bị can theo cách thức trái với Điều 7 của Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, để buộc bị can

phải thú tội “Pháp luật quốc gia phải đảm bảo những lời khai, những lời nhận tội có được bằng phương thức trái với nguyên tắc không được coi là chứng cứ, trừ khi chúng được sử dụng làm bằng chứng của việc tra tấn hoặc những đối xử khác trái quy định” Công ước trên cũng xác định trách nhiệm

thuộc về nhà nước trong việc phải chứng minh rằng những lời khai của bị cáo

Theo đó, Điều 14 (1) Công ước quốc tề về các quyền dân sự và chính

trị cũng quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thầm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự ”

Điều 2 – Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật nêu rõ: Trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các cán bộ thi hành pháp luật phải tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm và duy trì, nêu cao quyền con người của tất cả mọi người

- Quyền được suy đoán vô tội: được quy định cụ thể tại Điều 11 (1)

Trang 21

Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người, Điều 14 (2) Công ước quốc tề về quyền dân sự và chính trị Theo đó, nếu một người bị cáo buộc về hình sự, thì

họ có quyền được coi là vô tội cho tới khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai mà người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình

Theo Nguyên tắc 8 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những

người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào quy định: “Những người đang

bị giam phải được đối xử đúng với địa vị chưa bị kết án của họ Do vậy bất cứ khi nào có thể, họ phải được tách riêng khỏi những người đang bị tù”

- Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ Quyền trên được thể hiện tại các quyền như:

+ Quyền được bảo vệ bởi luật sư: Được quy định tại Điều 14 (3) (b)

của ICCPR, Điều 8 (2) (c) và 8 (2) (d) của Công ước Châu Mỹ về quyền con người, Nguyên tắc 1, 6 Các Nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, Nguyên tắc 17 (2), 18 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào

Theo đó những người bị bắt hoặc bị giam giữ có hoặc không có tội hình

sự có quyền có luật sư hỗ trợ trong mọi trường hợp không muộn hơn 48 giờ

kể từ thời điểm bị bắt tạm giam và được thường xuyên tiếp xúc với luật sư của mình; được phép tiếp đón các luật sư của mình Bất cứ ai trong hoàn cảnh

bị bắt, bị giam giữ mà không có luật sư riêng đều có quyền có một luật sư có kinh nghiệm và năng lực phù hợp với tính chất của tội phạm đã quy kết cho

họ về mặt pháp lý một cách hiệu quả và miễn phí nếu họ không có đầy đủ khả năng chi trả cho những dịch vụ như vậy

+ Quyền được thông tin: Quy định tại Điều 9 (2) ICCPR, Nguyên tắc

10, 11 (2), 13, 14 của Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù bất kỳ hình thức nào, Điều 7 (4), Điều 8 (2) (B) Công ước Châu

Trang 22

Mỹ về quyền con người, Điều 5 (2) Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản), tức là, bất cứ ai bị bắt đều có quyền được biết chính xác lý do khiến mình bị bắt và được thông báo kịp thời về bất cứ cáo buộc nào chống lại mình Nguyên tắc 14, Nguyên tắc 16 (2) Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào, Điều 36 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự thì một người bị bắt, giam giữ hay

bị tù có quyền được hiểu đầy đủ các thông tin qua ngôn ngữ mình hiểu thông qua sự trợ giúp miễn phí của phiên dịch Quyền này đặc biệt có ý nghĩa với người nước ngoài hoặc người thuộc dân tộc thiểu số, nhằm bảo đảm quyền bào chữa cho những người này

+ Quyền được tiếp cận với thế giới bên ngoài: là biện pháp bảo vệ cơ

bản chống lại vi phạm nhân quyền như tra tấn, ngược đãi và mất tích Nguyên tắc 15, 16 (1) (4), 19, 24 Tập hợp các nguyên tắc bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào Một người bị giam tù

có quyền được các thành viên trong gia đình người đó đến thăm, trao đổi thư

từ và phải được tạo cơ hội đầy đủ để liên lạc với thế giới bên ngoài, nhưng vẫn phải tuân thủ những điều kiện và hạn chế hợp lý do luật pháp hay các quy chế hợp pháp quy định

Một người bị giam hay cầm tù là người nước ngoài thì người đó cũng phải được thông báo ngay về quyền được liên lạc, bằng các phương tiện thích hợp, với lãnh sự quán hoặc ngoại giao đoàn của quốc gia mà người đó là công dân, hoặc nếu không, của quốc gia được quyền nhận những thông tin như vậy theo pháp luật quốc tế, hoặc được liên lạc với đại diện của tổ chức quốc tế có thẩm quyền, nếu người đó là người tị nạn hoặc là người được một tổ chức liên chính phủ bảo vệ

- Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt Điều 14 (4) ICCPR quy định: “Tố tụng áp dụng đối với những người

Trang 23

chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thức đẩy sự phục hồi nhân cách của họ” Theo Quy tắc 20 (a), (b), 21 (a), (b), 22 (a), (b), 27,

31 của Các tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc đối xử với tù nhân,

1995, quy tắc 13 Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên, Quy tắc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do: Những tù nhân bị bắt giữ hay đang chờ xét xử phải được giam giữ riêng với tù nhân đã tuyên án Những tù nhân trẻ tuổi chưa xét xử phải được giam giữ riêng với những người lớn tuổi và về nguyên tắc phải được giam giữ trong những nhà tù riêng… Việc nơi ăn, chốn ở đặc biệt là nơi ngủ phải đáp ứng các yêu cầu về y tế, có chú ý đến các điều kiện không khí, diện tích sàn tối thiểu, ánh sáng, sưởi ấm và thông hơi Ngay cả nơi vệ sinh cũng phải được thỏa đáng để có thể đáp ứng nhu cầu tự nhiên khi cần thiết

- Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm Quyền không bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi Quyền được nhanh chóng minh oan và yêu cầu được bồi thường nếu bị kết án oan… được quy định tại Điều 14 (5), (6), (7) ICCPR

- Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử

Ở Việt Nam, về đối tượng của quyền con người trong tố tụng hình sự

có hai quan điểm khác nhau, dẫn đến định nghĩa khác nhau về quyền con người trong tố tụng hình sự

Cụ thể, trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, do PGS TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên đưa ra định nghĩa:

Quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị, nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập khách quan đối với những người

Trang 24

yếu thế (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiền và sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động tố tụng hình

sự [11, tr 43]

Theo định nghĩa trên, đối tượng của quyền con người trong tố tụng hình

sự là quyền của những nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội, bao gồm 03 nhóm sau:

- Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (gọi chung là nhóm người bị tình nghi phạm tội);

- Người người phạm tội đã bị kết án và phải chấp hành hình phạt do Tòa án tuyên;

- Những người tham gia tố tụng hình sự do có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng…

Còn trong bài viết “Bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự” của Th.S Đinh Thế Hưng - Viện Nhà nước và Pháp luật - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2010 thì: “Quyền con người trong Tố tụng hình sự

là những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện và bảo vệ khi bị xâm hại [25] Theo

quan điểm này, ngoài 03 nhóm người như định nghĩa đã nêu trên, đối tượng của quyền con người trong tố tụng hình sự còn có quyền con người của những người tiến hành tố tụng như điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán

Theo chúng tôi, về bản chất, quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng và quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng chỉ nên đề cập của những người bị yếu thế - là những người bị động trong việc bảo đảm quyền con người của mình Đối với những người tiến hành tố tụng như điều

Trang 25

tra viên, kiểm sát viên là những người đại diện Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước, họ có sự chủ động nhất định trong việc bảo đảm quyền con người

Do vậy, việc mở rộng phạm vi đối tượng như trên là không đúng với bản chất của quyền con người trong tố tụng hình sự

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra: Quyền con người trong tố tụng hình sự là những quyền về dân sự, chính trị dành cho những người tham gia

tố tụng hình sự, và được Nhà nước ghi nhận, và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật tố tụng hình sự

1.1.2.2 Quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

Quá trình giải quyết vụ án hình sự là quá trình chứng minh, xử lý tội phạm được thực hiện thông qua những trình tự, thủ tục nhất định Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự đều thực hiện những nhiệm vụ nhất định nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể do luật định, được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành

tố tụng khác nhau có những chức năng tương ứng với từng giai đoạn đó Mục đích cuối cùng của mỗi giai đoạn tố tụng hình sự là nhằm xác định bản chất

vụ án, để có căn cứ áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, giải quyết vụ án một cách chính xác, khách quan, đúng pháp luật, góp phần củng

cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Ở Việt Nam, tố tụng hình sự được chia thành bốn giai đoạn, gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; Giai đoạn điều tra và truy tố; Giai đoạn xét xử;

Và giai đoạn thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Các giai đoạn tố tụng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Giai đoạn đầu làm cơ sở pháp lý, tạo tiền đề cho hoạt động của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra tính có căn cứ, đúng pháp luật trong hoạt động của giai đoạn trước

Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong quá trình

giải quyết vụ án hình sự Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền

Trang 26

bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao tiến hành một số hoạt động điều tra… được áp dụng một số biện pháp điều tra ban đầu do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để kiểm tra, xác minh làm rõ tính xác thực của các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận Việc kiểm tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau tùy thuộc vào tính chất của sự việc, các biện pháp đó có thể là: Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết và thông tin liên quan đến tin báo, tố giác về tội phạm; yêu cầu cung cấp các kết luận thanh tra, kiểm tra liên quan đến thông tin về tội phạm

để làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường thu thập dấu vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm v.v

Nhiệm vụ chính của giai đoạn này chỉ là xác định sự việc đã được thông tin có hay không có dấu hiệu tội phạm, nhằm khẳng định về mặt pháp

lý có hay không có tội phạm xảy ra, để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến thông tin đó Do vậy, ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thể kết luận chính xác ngay được về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, mà chỉ tạo các tiền đề pháp luật về nội dung và pháp luật về hình thức của việc điều tra vụ án hình sự

Với những phân tích trên có thể khẳng định: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, được bắt đầu từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng có thầm quyền nhận được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cá nhân, cơ quan, tổ chức và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra một trong hai quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, nhằm làm cơ sở cho các hoạt

Trang 27

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố

tụng hình sự, được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra, chuyển hồ sơ, tài liệu sang Viện kiểm sát đề nghị truy tố; hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra

Giai đoạn điều tra được Bộ luật tố tụng hình sự quy định trong 6 chương, từ chương VIII đến chương XIII Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và phục vụ hoạt động xét xử của Tòa án Quyết định truy tố của Viện kiểm sát cũng như mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm đều phải dựa trên

cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra

Trong giai đoạn này, tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án,

Cơ quan điều tra, các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, để chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm, đảm bảo việc điều tra là chính xác, khách quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân Các biện pháp đó là: Hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; lấy lời khai người bị hại; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; khám xét khẩn cấp; bắt tạm giam v.v Việc áp dụng các biện pháp trên phải đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự

Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là giai đoạn tố tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao một

Trang 28

số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do Luật định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến việc xác định sự thật của vụ án

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm trực tiếp chứng minh hành vi phạm tội và người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm thông qua các chứng cứ đã thu thập được

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn mà quyền con người dễ dàng bị xâm phạm hơn cả so với các giai đoạn tố tụng hình sự khác, bởi các lý do sau:

- Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn đi tìm sự thật

khách quan của vụ án thông qua công tác truy nguyên hình sự Lý luận về truy nguyên hình sự chỉ ra rằng: đối tượng của truy nguyên hình sự là đối

tượng vật chất (người, động vật, đồ vật, các đơn chất, hợp chất vô cơ, hữu cơ, hay tổng thể một đối tượng vật chất có tính không gian), tồn tại khách quan,

độc lập với ý thức của con người Hoạt động truy nguyên hình sự được thực hiện chủ yếu bởi cơ quan và người tiến hành tố tụng Quá trình này chính là quá trình nhận thức nhằm đi tìm một thực tế khách quan đã xảy ra Có thể nói, hoạt động nhận thức của con người là một quá trình rất phức tạp, phụ thuộc vào việc vận dụng đúng các nguyên tắc truy nguyên hình sự, áp dụng đúng các phương pháp theo một trình tự logic; năng lực, trình độ của những người tiến hành tố tụng quyết định Do vậy, rất dễ mắc phải những sai lầm dẫn đến nhận thức về thực tế khách quan đã xảy ra không đúng Từ đó, có thể ra những quyết định khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ điều tra, làm ảnh hưởng, thậm chí xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

- Thứ hai, trong giai đoạn điều tra, những người tiến hành tố tụng có vị

trí độc lập về nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện các hoạt động tố tụng được

Trang 29

giao, việc họ có thể lợi dụng quyền hạn để thực hiện các hành vi vi phạm quyền con người, rất khó để phát hiện kịp thời Đặc biệt, cơ quan điều tra là

cơ quan có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất và con người trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, được trực tiếp sử dụng những biện pháp mang tính cưỡng chế đối với những người tham gia tố tụng, để làm sáng tỏ và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, ở mức độ nhất định có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân

- Thứ ba, Bộ luật tố tụng hình sự quy định những biện pháp điều tra và

những biện pháp ngăn chặn có liên quan trực tiếp đến quyền con người, hạn chế quyền con người của công dân nói chung và quyền con người của những người tham gia tố tụng nói riêng, để đảm bảo việc phát hiện, điều tra và xử lý chính xác tội phạm, tránh bỏ lọt tội phạm cũng như ngăn chặn tội phạm bỏ trốn, tiếp tục phạm tội Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau như: sự tác động của những yếu tố bên ngoài bao gồm cả những mối quan hệ quen biết, áp lực

từ phía chính quyền địa phương, từ thời hạn điều tra…; sự chống đối, không hợp tác của những người tham gia tố tụng, thậm chí là từ sự tha hóa về đạo đức lối sống và đạo đức nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng… mà trong quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng có thể thực hiện những hành vi trái pháp luật, đưa ra những quyết định thiếu khách quan, toàn diện, không đúng quy định, không đạt được mục đích tố tụng trong giai đoạn điều tra, vi phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

- Thứ tư, một số quy định của pháp luật về các biện pháp điều tra cũng

như biện pháp ngăn chặn chưa phù hợp có thể dẫn đến việc áp dụng một cách không thống nhất, dẫn đến quyền con người của những người tham gia tố tụng không được bảo vệ một cách đầy đủ

Như trên đã phân tích, đối tượng của quyền con người trong tố tụng

Trang 30

hình sự gồm 03 nhóm chính là: Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

(gọi chung là nhóm người bị tình nghi phạm tội); Người người phạm tội đã bị

kết án và phải chấp hành hình phạt do Tòa án tuyên; Những người tham gia tố tụng hình sự do có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng…

Tuy nhiên, giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra các vụ án hình sự chỉ

là 02 giai đoạn trong quá trình tố tụng hình sự, do đó, đối tượng của quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự, có sự khác biệt nhất định so với đối tượng của quyền con người trong tố tụng hình sự nói chung Theo đó, đối tượng của quyền con người trong hai giai đoạn này chỉ bao gồm:

- Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

- Những người tham gia tố tụng hình sự do có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng…

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra: Quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự là những quyền về dân sự, chính trị dành cho những người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, những người tham gia tố tụng khác có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án, khi họ tham gia vào các quan hệ

tố tụng hình sự trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, được Nhà nước ghi nhận, và bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tố tụng hình sự

1.1.3 Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các

vụ án hình sự

Khác với bảo vệ quyền con người, quyền công dân là việc xác định các biện pháp pháp lý, các biện pháp tổ chức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâm phạm từ phía cơ quan công quyền, hay từ các chủ thể khác nhằm khôi phục các quyền đã bị xâm phạm; thì bảo đảm các

Trang 31

quyền con người, quyền công dân lại là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận [52]

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các bảo đảm pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là sự thể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, xã hội, tổ chức thành các chuẩn mực có tính bắt buộc mà nhà nước, các cơ quan nhà nước và xã hội phải thực hiện để bảo đảm các quyền con người, quyền công dân Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú, trước hết là sự ghi nhận các quyền con người, quyền công dân, đến việc tạo các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức, việc thiết lập

cơ chế, bộ máy chuyên trách bảo đảm các quyền con người, quyền công dân

Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu tư tưởng chỉ đạo mang tính định hướng chiến lược trong việc bảo đảm quyền con người:

Hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân

và vì dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo đảm quyền con người [17]

Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự là một trong các bảo đảm pháp lý có tính chất đặc thù của bảo đảm quyền con người nói chung, xuất phát từ việc các hoạt động tố tụng hình sự thực hiện quyền lực nhà nước làm hạn chế hoặc có thể xâm phạm một cách nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình

sự là chức năng của nhà nước với cơ chế phù hợp trong điều kiện kinh tế -

Trang 32

xã hội, pháp lý của mình, hướng tới sự kết hợp giữa địa vị pháp lý và địa vị thực tế của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người tham gia

tố tụng khác [11, tr 43 - 44]

Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng ngoài việc thực hiện trách nhiệm chứng minh tội phạm của mình, còn phải có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người của người bị bắt, bị tạm giữ bị can, bị cáo và những người tham gia

tố tụng khác Nếu có những hành vi vi phạm những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hay vi phạm trong việc phát hiện, thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cứ

để xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng trên, đặc biệt là những người bị buộc tội, thì phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan sai; trường hợp vi phạm nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự phải được vận hành bởi một cơ chế có hiệu quả, trong đó: cần quy định rõ các quyền con người của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng có liên quan khác, trên cơ sở các tiêu chí quốc tế về quyền con người, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người ở mỗi quốc gia; Đồng thời, quy định trình tự, thủ tục cũng như trách nhiệm của các chủ thể có liên quan bảo đảm cho việc thực hiện quyền con người của những đối tượng này trên thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Như vậy, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự là sự ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong tố tụng hình sự, xác định cách thức, biện pháp pháp lý nhằm bảo vệ các quyền con người và thực thi các quyền đó trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự

Còn, bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ

Trang 33

án hình sự là sự ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự, xác định các cách thức, biện pháp pháp lý nhằm bảo vệ các quyền con người và thực thi các quyền đó trong thực tiễn

quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự

1.2 Vị trí, vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013, Viện kiểm sát nhân dân là

cơ quan quan trọng có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Với chức năng trên, Viện kiểm sát nhân dân có phạm vi hoạt động

và quyền năng pháp lý rộng lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự

Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát 2014 và Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng tham gia vào tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự Xuất phát từ vị trí, vai trò và chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới nhấn mạnh: Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội,

xử lý kịp thời sai phạm của người tiến hành tố tụng trong thi hành nhiệm vụ… Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi trách nhiệm của mình

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố -

Trang 34

thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, được áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này Với vai trò, trách nhiệm chứng minh, buộc tội của mình, Viện kiểm sát vừa phải đảm bảo quyền con người được thực hiện trên thực tế, vừa có trách nhiệm phòng, chống oan sai, vừa có trách nhiệm không để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, đồng thời còn có trách nhiệm phải phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý các hành vi vi phạm các quyền con người trong các giai đoạn

tố tụng hình sự Các quy định của pháp luật nêu trên, cho phép Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, được áp dụng các biện pháp pháp lý cụ thể nhằm đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật, góp phần đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Do đó, có thể rút ra “Bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự là việc Viện kiểm sát thông qua việc thực hiện các quyền năng pháp lý được ghi nhận trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, xác định các biện pháp pháp lý cụ thể nhằm bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra được thực hiện trên thực tế

và không bị xâm phạm bởi cơ quan, tổ chức hay cá nhân nhân nào”

1.2.1 Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Như trên đã phân tích, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là sự phản ứng

từ phía Nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra, và xử lý một cách kịp thời, có căn cứ, đúng pháp luật hành vi phạm

Trang 35

tội và người phạm tội Bởi lẽ, trong giai đoạn khởi tố, việc xác định “có dấu hiệu tội phạm” dựa trên rất nhiều nguồn tin khác nhau Nguồn tin này có thể

chính xác hoặc không chính xác và cần có thời gian để xác minh, kiểm chứng, đánh giá, để có căn cứ khởi tố vụ án hình sự Nên, hoạt động khởi tố vụ án hình sự kịp thời, chính xác sẽ góp phần tăng cường pháp chế, bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm

Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình

sự, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện phải bị khởi tố, việc khởi tố vụ án

có căn cứ, đúng pháp luật Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003, để đảm bảo tính kịp thời, có căn cứ trong việc phát hiện và xử lý tội phạm, Viện kiểm sát phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật ngay từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Qua đó, để bảo đảm các quyền

và lợi ích hợp pháp của người bị bắt, bị tạm giữ, và những người tham gia tố tụng khác được thực hiện và không bị xâm phạm, Viện kiểm sát có thể sử dụng các quyền năng pháp lý như:

- Yêu cầu Cơ quan điều tra thông báo đầy đủ số lượng, nội dung tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố do Cơ quan điều tra tiếp nhận;

- Yêu cầu cơ quan điều tra thông báo về kết quả giải quyết cũng như yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ của việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự;

- Kiến nghị cơ quan điều tra trong việc phân loại, xử lý tố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong các trường hợp như vi phạm về thời hạn giải quyết, trình tự, thủ tục giải quyết;

- Nếu thấy quyết định của Cơ quan điều tra rõ ràng là không có căn cứ, thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra;

Trang 36

- Yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự;

- Trực tiếp khởi tố vụ án hình sự, ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu cơ quan điều tra không thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát

- Nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã khởi tố bị can trả tự

do ngay cho người bị tạm giữ

- Nếu qua nghiên cứu hồ sơ thấy có dấu hiệu của việc lạm dụng việc bắt khẩn cấp, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa thể hiện rõ căn cứ để bắt khẩn cấp hoặc người bị bắt không nhận tội, các chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, … hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Viện kiểm sát trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước quyết định việc phê chuẩn hay không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

- Nếu xét thấy việc gia hạn tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì ra quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và yêu cầu người đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ [24]

1.2.2 Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trong giai đoạn điều tra, Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố Viện kiểm sát được sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp

lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra truy tố để xét xử Đồng thời, kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ, bảo đảm những vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra được phát hiện, khắc phục kịp thời Hoạt động điều tra là nội dung quan trọng của quyền

Trang 37

công tố, về nguyên tắc, nếu hoạt động điều tra có thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội góp phần bảo đảm pháp chế, bảo đảm quyền con người quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, nếu hoạt động điều tra vi phạm các quy định của pháp luật, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự dựa trên kết quả điều tra, sẽ dễ xâm hại đến quyền lợi cơ bản của những người liên quan, đặc biệt là người bị bắt, bị tạm giữ,

bị can Do đó, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm đảm bảo hoạt động điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng

và người tiến hành tố tụng phải khách quan, thận trọng, vô tư, không bỏ lọt tội phạm, đồng thời không làm oan người vô tội, hay bỏ lọt người phạm tội, không

để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; việc điều tra được khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh; việc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát

có nhiệm vụ, quyền hạn: Khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật Trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không

Trang 38

phê chuẩn phải nêu rõ lý do; huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập

hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; kiến nghị với

cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, để bảo đảm quyền con người trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có thể thực hiện các biện pháp như:

Nếu thấy quyết định khởi tố bị can, hồ sơ xin phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra chưa rõ căn cứ, Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố, căn cứ xem xét, quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm giam Bên cạnh

đó, Viện kiểm sát có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước quyết định việc phê chuẩn hay huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can

Nếu còn thời hạn tạm giam nhưng thấy biện pháp tạm giam đối với bị can không còn cần thiết thì Viện kiểm sát trực tiếp huỷ bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can

Trong quá trình điều tra vụ án, Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp, hỏi

Trang 39

thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng Sau khi kết thúc điều tra, nhận

hồ sơ vụ án từ Cơ quan điều tra chuyển sang, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hỏi cung bị can để kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai giữa bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc khi cần thiết phải nhận dạng người hay đồ vật, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành việc đối chất hoặc nhận dạng

Trong quá trình kiểm sát điều tra, khi xác định bắt buộc phải có người bào chữa theo mà bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc

đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận

cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình

Ngoài ra, nếu phát hiện cơ quan điều tra không đảm bảo thực hiện đầy

đủ các quyền của những người tham gia tố tụng khác, thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra thực hiện nghiêm túc Nếu Cơ quan điều tra không thực hiện, Viện kiểm sát phải có văn bản kiến nghị

Sau khi nhận được kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển sang, nếu có một trong những căn cứ xác định bị can không phạm tội; bị can phạm tội nhưng thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người

bị hại và người bị hại không yêu cầu hoặc rút yêu cầu hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án [24]

Như vậy, với nhiệm vụ, quyền hạn và các biện pháp thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát vừa là người quyết định việc

Trang 40

truy tố người phạm tội trước Tòa án để xét xử, bảo đảm nguyên tắc, bất cứ hành vi phạm tội nào xâm phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lý trước pháp luật, vừa bảo đảm các hoạt động điều tra, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo được tuân thủ đúng quy định của pháp luật Như vậy, sự tham gia của Viện kiểm sát trong giai đọan điều tra vụ án hình sự để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội đều được phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật; đồng thời, bảo đảm việc điều tra tuân thủ đúng pháp luật, mọi hoạt động xâm phạm đến các quyền của con người không bị pháp luật tước bỏ đều phải được phát hiện và xử lý

1.3 Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân qua các giai đoạn lịch sử trước khi ban hành Bộ luật

Ngày 13/9/1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 33c về việc thành lập Tòa án quân sự - đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân, đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án, đồng thời cũng là văn bản đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố trong bộ máy nhà

Ngày đăng: 15/06/2016, 13:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. C.Mác - Ph.Ăngghen (1986), Toàn tập, tập III, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
3. Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Tạp chí kiểm sát, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
4. Lê Cảm (2010), “Luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền – vấn đề pháp điển hóa lần thứ ba”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, (26) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền – vấn đề pháp điển hóa lần thứ ba”, "Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2010
5. Lê Cảm (2010), Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Sách chuyên khảo, Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
6. Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X – Một số vẫn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X – Một số vẫn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Mạnh Cường
Năm: 2012
7. Nguyễn Ngọc Chí (2006), “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạp chí Khoa học ĐHQGHN” (Chuyên san Kinh tế - Luật), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ quyền con người trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạp chí Khoa học ĐHQGHN” "(Chuyên san Kinh tế - Luật)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2006
8. Nguyễn Ngọc Chí (chủ trì) (2006), Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ trì)
Năm: 2006
9. Nguyễn Ngọc Chí (2007), “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự”, "Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2007
10. Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật tố tụng hình sự - Những đề xuất sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, (chuyên san Kinh tế – Luật), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản trong Luật tố tụng hình sự - Những đề xuất sửa đổi, bổ sung”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2008
11. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2013), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
12. Chính phủ (1998), Nghị định 89/CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế tạm giữ, tạm giam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 89/CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
13. Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/20105 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/20105 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
19. Nguyễn Tiến Đạt (2006), “Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam”, Tạp chí khoa học pháp lý, 3(34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2006
20. Trần Văn Độ (2004), “Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2004
21. Trần Ngọc Đường (2004), Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Kết  quả  kiểm  sát  giải  quyết  tố  giác,  tin  báo  về  tội  phạm - Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân
Bảng 2.1 Kết quả kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm (Trang 7)
Bảng 2.1: Kết quả kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong - Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân
Bảng 2.1 Kết quả kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong (Trang 74)
Bảng 2.3: Số tố giác, tin báo về tội phạm quá hạn trong giai đoạn khởi tố - Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân
Bảng 2.3 Số tố giác, tin báo về tội phạm quá hạn trong giai đoạn khởi tố (Trang 80)
Bảng 2.4: Số vụ án Tòa án trả điều tra bổ sung 05 năm 2010-2014 - Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân
Bảng 2.4 Số vụ án Tòa án trả điều tra bổ sung 05 năm 2010-2014 (Trang 81)
Bảng 2.5: Số vụ án, bị can đình chỉ điều tra trong 05 năm 2010-2014 - Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân
Bảng 2.5 Số vụ án, bị can đình chỉ điều tra trong 05 năm 2010-2014 (Trang 81)
Bảng 2.6: Số người bị tạm giữ, tạm giam quá hạn trong 05 năm 2010-2014 - Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân
Bảng 2.6 Số người bị tạm giữ, tạm giam quá hạn trong 05 năm 2010-2014 (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w