1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn của Công ty CP tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam (VCC) trong quá trình hội nhập

124 443 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 901,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện làm việc và cơ sở vật chất:...84 CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ VẤN ĐỐI VỚI CÔNG TY CP TƯ VẤN XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP VÀ ĐÔ THỊ VIỆT NAM VCC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài: 6

2 Mục đích nghiên cứu: 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 8

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu: 8

5 Đóng góp của luận văn: 9

6 Bố cục của luận văn: 10

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TƯ VẤN XÂY DỰNG 1.1 Khái niệm về tư vấn, tư vấn xây dựng: 11

1.2 Năng lực tư vấn xây dựng: 12

1.3 Các loại hình tư vấn xây dựng trong nước: 13

1.3.1 Các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa: 13

1.3.2 Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 13

1.3.3 Các tổ chức tư vấn sự nghiệp có thu: 13

1.4 Các loại hình tư vấn xây dựng quốc tế: 14

1.5 Quy trình hoạt động của tư vấn xây dựng trong nước: 14

1.5.1 Đặc điểm cơ bản của các tổ chức tư vấn xây dựng: 14

1.5.1.1 Khối doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa: 14

1.5.1.2 Khối doanh nghiệp tư vấn ngoài quốc doanh: 15

1.5.1.3 Các tổ chức tư vấn sự nghiệp có thu: 15

1.5.2 Cơ cấu tổ chức của đơn vị tư vấn xây dựng: 15

1.5.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý chức năng: 16

1.5.2.2 Cơ cấu trực tuyến: 16

Trang 2

1.5.2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý hỗn hợp: 16

1.5.3 Mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm tư vấn: 16

1.5.3.1 Mô hình sản xuất theo chuyên môn hóa: 17

1.5.3.2 Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn: 18

1.5.3.3 Mô hình sản xuất kết hợp chuyên môn hóa và tổng hợp: 20

1.5.3.4 Mô hình sản xuất theo sơ đồ đầu mối: 20

1.5.3.5 Mô hình sản xuất theo sơ đồ một chuyên ngành: 21

1.6 Quy trình hoạt động của tư vấn xây dựng quốc tế: 22

1.6.1 Tập đoàn tư vấn đa quốc gia: 22

1.6.2 Tập đoàn tư vấn: 24

1.6.3 Công ty tư vấn chuyên ngành: 24

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH VÀ HIỆN TRẠNG TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT NAM 2.1 Khái quát chung: 28

2.2 Cơ cấu tổ chức: 32

2.3 Mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm tư vấn: 33

2.4 Đánh giá năng lực chuyên môn (Công nghiệp - Dân dụng): 34

2.4.1 Khái quát: 34

2.4.2 Các loại hình Dịch vụ tư vấn: 34

2.4.2.1 Khái quát về sự phát triển các dịch vụ tư vấn thời gian gần đây: 34

2.4.2.2 Các dịch vụ tư vấn chuẩn bị dự án: 35

2.4.2.3 Các dịch vụ tư vấn quản lý và thực hiện dự án: 36

a Thiết kế, thẩm tra, lập dự toán: 36

b Quản lý điều hành dự án: 37

c Giám sát thi công: 37

d Khảo sát địa kỹ thuật, kiểm định: 38

e Các dịch vụ cho tư vấn nước ngoài: 39

Trang 3

2.4.2.4 Các dịch vụ tư vấn chuyên ngành khác: 39

2.4.2.5 Nhận định chung về các dịch vụ tư vấn Xây dựng tại Việt Nam: 40

2.4.3 Khả năng nắm vững dây chuyển công nghệ và vật liệu mới: 40

2.4.3.1 Công trình công nghiệp: 43

2.4.3.2 Công trình dân dụng: 45

2.4.3.3 Kết cấu công trình: 52.

2.4.3.4 Hệ thống kỹ thuật: 55

2.4.3.5 Công trình vệ sinh môi trường: 59

2.4.3.6 Khảo sát địa chất công trình, địa chất thủy văn: 60

2.4.4 Trình độ, kinh nghiệm của nhà tư vấn: 61

2.4.5 Nắm bắt thông lệ quốc tế: 63

2.4.6 Trình độ ngoại ngữ: 63

2.4.7 Nhận xét và đánh giá: 64

2.5 Đánh giá năng lực quản lý của các tổ chức tư vấn xây dựng Việt Nam: 65

2.5.1 Năng lực điều hành sản xuất kinh doanh: 65

2.5.1.1 Xây dựng chiến lược kinh doanh và kế hoạch kinh doanh: 65

2.5.1.2 Thực hiện điều hành kế hoạch sản xuất kinh doanh: 67

2.5.2 Năng lực tổ chức quản lý đơn vị: 68

2.5.2.1 Xây dựng hệ thống văn bản quản lý nội bộ: 68

2.5.2.2 Quản lý chất lượng: 68

2.5.2.3 Quản lý nguồn nhân lực: 70

a Quản lý nhân sự: 70

b Chế độ trả lương - đãi ngộ: 72

c Đào tạo tại chỗ: 74

d Tuyển dụng: 76

2.5.2.4 Quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin: 77

Trang 4

2.5.2.5 Quản lý nguồn lực và cơ sở vật chất: 78

2.6 Những cơ chế chính sách liên quan: 79

2.6.1 Phí tư vấn xây dựng: 79

2.6.2 Chính sách thuế: 81

2.6.3 Quy chế đấu thầu: 82

2.6.4 Cơ chế chính sách: 82

2.6.4.1 Về công tác quản lý: 83

2.6.4.2 Sự phân cấp quản lý: 84

2.6.4.3 Điều kiện làm việc và cơ sở vật chất: 84

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ VẤN ĐỐI VỚI CÔNG TY CP TƯ VẤN XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP VÀ ĐÔ THỊ VIỆT NAM (VCC) TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 3.1 Giới thiệu về VCC, nhìn nhận và đánh giá: 85

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển: 85

3.1.2 Các công trình điển hình đã và đang triển khai trong thời gian qua: 87

3.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh: 90

3.1.4 Tổ chức, quản lý và điều hành: 92

3.1.4.1 Nguyên tắc chung: 93

3.1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban: 93

3.1.5 Nguồn nhân lực: 96

3.1.6 Nắm bắt thông lệ quốc tế: 99

3.1.7 Trình độ ngoại ngữ: 99

3.1.8 Chất lượng dịch vụ tư vấn và hồ sơ tư vấn: 100

3.1.9 Tiến độ: 101

3.1.10 Quản lý nguồn nhân lực: 101

Trang 5

3.1.11 Về đào tạo: 103

3.1.12 Các chế độ đãi ngộ khác: 104

3.1.13 Trang thiết bị và trình độ công nghệ: 104

3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực tư vấn VCC: 108

3.2.1 Xu hướng hội nhập quốc tế của thị trường xây dựng nói chung và tư vấn xây dựng Việt Nam nói riêng trong thời gian tới: 109

3.2.2 Giải pháp về tổ chức: 111

3.2.3 Giải pháp về Nâng cao năng lực chuyên môn: 112

3.2.3.1 Nâng cao năng lực chuyên gia: 112

3.2.3.2 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng tin học: 114

3.2.3.3 Tăng cường hợp tác với tư vấn nước ngoài và các tư vấn khác nhằm trao đổi kinh nghiệm, kiến thức: 115

3.2.4 Nâng cao năng lực quản lý: 116

3.2.4.1 Quản lý điều hành tổ chức sản xuất: 116

3.2.4.2 Văn hóa Công ty: 116

3.2.4.3 Quản lý chất lượng: 117

3.2.4.4 Kế hoạch kinh doanh, tiếp thị, tìm kiếm thị trường: 119

3.2.4.5 Quản lý nguồn nhân lực và cơ sở vật chất: 119

3.2.5 Tham gia và xây dựng các tổ chức hiệp hội: 120

KIẾN NGHỊ 122

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài:

Hoạt động tư vấn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốcdân, nó không chỉ là hoạt động mang tính nghề nghiệp mà còn là đòn bẩymang lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao cho xã hội

Ở Việt Nam, hoạt động tư vấn mới được ghi nhận và phổ biến rộng rãikhoảng bảy, tám năm trở lại đây, do vậy mà vẫn còn rất mới đối với cả cácnhà tư vấn lẫn các đối tác sử dụng, khai thác tư vấn Cùng với sự chuyểnmình của hoạt động này, các tổ chức tư vấn xây dựng đã và đang từng bướcthay đổi để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường Bên cạnh đó, Nhà nước

và các Bộ, Ngành đã ban hành hàng loạt chính sách qui chế quản lý loại hìnhhoạt động kinh doanh chất xám này và những chính sách đó đã và đang pháthuy hiệu lực trong việc quản lý và khai thác hoạt động tư vấn trong toàn quốc

Với lực lượng đông đảo các nhà tư vấn (khoảng trên 1000 doanhnghiệp cùng hàng vạn kiến trúc sư, kỹ sư, các nhà khoa học, các cán bộ quản

lý trên cả nước) đang hoạt động hết sức năng động trên toàn quốc, lĩnh vực tưvấn xây dựng đang vươn lên phát huy nội lực, từ chỗ chỉ thực hiện khảo sátthiết kế đến nay đã đảm nhiệm 14 loại hình hoạt động tư vấn theo thông lệquốc tế Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển quá nhanh về số lượng còn nhiềuvấn đề nổi cộm về chất lượng công tác tư vấn như: năng lực của các tổ chức

tư vấn còn hạn chế, ưu thế cạnh tranh của tư vấn trong nước đối với các công

ty nước ngoài còn kém, cạnh tranh gay gắt và thiếu lành mạnh giữa các tổchức tư vấn, việc quản lý và các cơ chế chính sách đối với các tổ chức tư vấncòn nhiều vấn đề bất cập Điều này đòi hỏi các tổ chức tư vấn cần phải nhìn

Trang 7

nhận, đánh giá, nắm bắt mọi diễn biến của hoạt động kinh doanh để tự đổimới từ các khâu tổ chức, quản lý đến củng cố lại đội ngũ cán bộ, dần đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của thị trường tư vấn

Vài năm trở lại đây, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra cho

tư vấn xây dựng việt nam những cơ hội và thách thức mới Với chính sáchcủa nhà nước về việc mở cửa thị trường xây dựng cho nhà thầu nước ngoài, tưvấn việt nam sẽ tận dụng được uy tín thương mại và kỹ thuật của họ để vươnlên, học tập được kỹ năng quản lý toàn diện một dự án, nâng cao được kiếnthức công nghệ, nắm bắt được thị trường quốc tế Tuy nhiên, mở cửa cho cácnhà thầu nước ngoài đồng nghĩa với việc các công ty việt nam sẽ bị cạnhtranh quyết liệt hơn cả trong đấu thầu trong nước và quốc tế, do khả năng,trình độ, vốn liếng còn hạn chế

Trong mối quan hệ giữa tư vấn trong nước và tư vấn nước ngoài, tư vấnxây dựng việt nam thường đóng vai trò thầu phụ Các nhà thầu chính nướcngoài chỉ dành cơ hội cho nhà thầu phụ trong nước những phần việc nhỏ nhoi,với chi phí thấp hơn nhiều so với họ Thách thức, cơ hội và áp lực đan xen đòihỏi bản lĩnh và sự phấn đấu của chính lực lượng tư vấn xây dựng việt nam cóbước đi thích hợp, khai thác thế lợi, hạn chế tiêu cực, từng bước, bắt kịp vớitrình độ quốc tế, tiến tới vươn ra bên ngoài ngày càng lớn

Trong điều kiện như vậy, việc đưa ra những tiêu chí, biện pháp và lịchtrình cho các doanh nghiệp tư vấn việt nam trên con đường hội nhập là mộtnhu cầu bức thiết cả trước mắt và lâu dài, nhất là xét đến bối cảnh hiện naykhi việt nam đang gia nhập tổ chức thương mại thế giới Đó là lý do đòi hỏiphải tăng cường năng lực tư vấn xây dựng việt nam

2 Mục đích nghiên cứu:

- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tư vấn xâydựng, năng lực tư vấn xây dựng và sự cần thiết khách quan phải nâng cao

Trang 8

năng lực tư vấn xây dựng việt nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường vàhội nhập quốc tế.

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực tư vấn một số doanhnghiệp tư vấn xây dựng trong thời gian vừa qua, qua đó đi sâu phân tích vàđánh giá, những mặt mạnh, mặt yếu, những thành quả đạt được về năng lực tưvấn của công ty cổ phần tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam

- Đề xuất các tiêu chí, giải pháp, mục tiêu cơ bản nhằm nâng cao nănglực tư vấn của công ty cổ phần tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị ViệtNam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

a, Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu là các Doanh nghiệp tưvấn xây dựng nói chung và công ty cổ phần tư vấn xây dựng công nghiệp và

đô thị Việt Nam (VCC) nói riêng trong hoạt động tư vấn xây dựng công trình

b, Phạm vi nghiên cứu là lĩnh vực tư vấn thiết kế các công trình côngnghiệp và dân dụng

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu:

a, Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận, phương pháp đối chiếu,phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp với phương pháp nghiên cứu địnhtính và định lượng, mô hình hóa các số liệu điều tra thực tế, thống kê, phântích so sánh, tiếp cận hệ thống, lựa chọn tối ưu, phương pháp chuyên gia

b, Nguồn tư liệu:

- Các văn bản về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về pháttriển kinh tế

- Các văn bản pháp quy về quản lý đầu tư xây dựng và đấu thầu

- Các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề tư vấn

- Các số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tư vấn xâydựng công nghiệp và đô thị Việt Nam (VCC) trong thời gian qua

Trang 9

Để đạt được những mục tiờu đề ra, phương phỏp thực hiện được tiếnhành như sau:

5 Đúng gúp của luận văn:

Nghiên cứu tài liệu

Các qui định chính sách hiện hành.

Các tài liệu về quản lý xây dựng.

Các nghiên cứu tr ớc có liên quan

đến vấn đề t vấn.

Các số liệu về hoạt động SXKD của công

ty VCC trong thời gian qua.

Phân tích đánh giá hoạt động t vấn n ớc ta hiện nay.

Phân tích đánh giá hoạt động t vấn của công ty VCC.

Xác định tiêu chí và mục tiêu đối với VCC

Xác định các tiêu chí cần đạt đ ợc về chuyên môn và nghiệp vụ.

Xác định mục tiêu, ch ơng trình, kế hoạch tổ chức đào tạo.

Đề xuất và khuyến nghị đối với VCC

Các chính sách đối với t vấn xây dựng.

Các cách thức quản lý tiên tiến.

Nõng cao năng lực cụng tỏc tư vấn của VCC

Trang 10

Thứ nhất: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về tư vấn, năng lực tư

vấn của các nhà doanh nghiệp tư vấn xây dựng trong nền kinh tế thị trường vàhội nhập quốc tế

Thứ hai: Khảo sát và phân tích đánh giá có hệ thống thực trạng năng

lực tư vấn xây dựng của một số doanh nghiệp và Công ty cổ phần tư vấn xâydựng công nghiệp và đô thị Việt Nam trong thời gian qua đến nay

Thứ ba, Định hướng và đề xuất các tiêu chí giải pháp chủ yếu để nâng

cao năng lực tư vấn của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng công nghiệp và đôthị Việt Nam

6 Bố cục của luận văn:

Tên đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn của Công ty CP tư vấn

xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam (VCC) trong quá trình hội nhập

Đề tài bao gồm các nội dung sau:

Chương I: Một số vấn đề chung về tư vấn xây dựng

Chương II: Tình hình và hiện trạng tư vấn xây dựng Việt Nam Chương III: Một số giải pháp nâng cao năng lực tư vấn đối với Công ty CP tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam

(VCC) trong quá trình hội nhập Kiến nghị

Kết luận

Trang 11

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TƯ VẤN XÂY DỰNG

1.1 Khái niệm về tư vấn, tư vấn xây dựng:

Dịch vụ Tư vấn đã xuất hiện và được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam từnhiều năm trước đây, tuy vậy, Tư vấn vẫn còn là một khái niệm rất mới ở ViệtNam Trước đây, trong các giới hữu quan ở Việt Nam, Tư vấn thường đượchiểu một cách phổ biến như là "việc bán những lời khuyên nghề nghiệp" và

"thường có sự hiểu lẫn lộn giữa Tư vấn và Môi giới, giữa hoạt động tư vấn vàviệc đưa ra những lời khuyên đơn giản" Việc định nghĩa "tư vấn là gì" vẫn

đang còn là vấn đề tranh cãi.

- Tư vấn (consulting), thuật ngữ "consulting" có thể có rất nhiều nghĩa,tựu chung lại một ý tưởng chính là đưa ra các lời khuyên về nghiệp vụ Công

ty tư vấn sẽ "tư vấn" một doanh nghiệp theo đúng cách mà một người đưa ralời khuyên cho bạn bè hay người thân lúc cấp thiết

- Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng chokhách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháphành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó,

kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thựcthi dự án đạt hiệu quả yêu cầu

- Tư vấn xây dựng là một loại hình tư vấn đa dạng trong công nghiệpxây dựng, kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông thôn có quan hệ chặt chẽ với

tư vấn đầu tư, thực hiện phần việc tư vấn tiếp nối sau việc của tư vấn đầu tư

Tư vấn xây dựng giúp cho khách hàng - chủ đầu tư xây dựng, các cơquan và cá nhân có nhu cầu - quản lý dự án XD: tổ chức việc khảo sát xâydựng, thiết kế xây dựng và tổ chức đấu thầu để mua sắm thiết bị đầu tư, đấu

Trang 12

thầu xây lắp công trình, giám sát thi công xây dựng, nghiệm thu công việc đãhoàn thành

- Tư vấn xây dựng còn có thể được hiểu là các kiến trúc sư, kỹ sư, v.v ,những chuyên gia xây dựng có kỹ năng đa dạng, cung cấp các dịch vụ thiết

kế, quản lý cho một dự án xây dựng thông qua các hợp đồng kinh tế Cáchhiểu này phản ánh bản chất đa dạng của hoạt động tư vấn xây dựng, nó liênquan đến nhiều lĩnh vực, trong mọi giai đoạn của dự án và đòi hỏi khôngnhững khả năng về kỹ thuật, quản lý, mà còn phụ thuộc một cách quyết địnhvào sự hiểu biết và những kỹ năng khác, bao gồm "cập nhật", "phát hiện",

"sáng tác", lựa chọn", "chuyển giao"

1.2 Năng lực tư vấn xây dựng:

Năng lực tư vấn xây dựng phản ánh khả năng, quy mô, phạm vi củađơn vị trong lĩnh vực tư vấn xây dựng, được thể hiện trên một số tiêu chí sau:

• Cơ hội phát triển

Một công ty tư vấn xây dựng muốn tồn tại và phát triển phải hội tụđược những tiêu chí sau:

• Giỏi về nghiệp vụ chuyên môn;

• Có năng lực làm việc tốt với chủ đầu tư;

• Có tín nhiệm;

Trang 13

• Hoạt động có hiệu quả.

Các tiêu chí trên thể hiện rõ ràng những đòi hỏi về trình độ nghềnghiệp, kinh nghiệm và những kỹ năng, hiểu biết khác cần thiết đối với một tổchức tư vấn xây dựng Toàn bộ những điểm trên gắn kết chặt chẽ như chuỗimắt xích phản ánh một cách đồng bộ năng lực của đơn vị tư vấn

1.3 Các loại hình tư vấn xây dựng trong nước:

Công cuộc đổi mới kinh tế đã đưa nước ta bước vào một giai đoạn pháttriển mới, với Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 củaChính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần Có thể tómtắt các loại hình tổ chức tư vấn hiện tại như sau:

1.3.1 Các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa:

a) Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ

b) Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc các Tổng công ty

c) Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc các Sở địa phương

1.3.2 Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:

a) Công ty trách nhiệm hữu hạn

b) Công ty tư nhân

c) Công ty liên doanh với nước ngoài

d) Công ty liên danh

e) Văn phòng tư vấn nước ngoài tại Việt nam

1.3.3 Các tổ chức tư vấn sự nghiệp có thu:

a) Viện nghiên cứu và Trung tâm tư vấn trực thuộc Viện nghiên cứu

Trang 14

b) Trung tâm tư vấn trực thuộc Trường đại học

1.4 Các loại hình tư vấn xây dựng quốc tế:

Hình thành dưới các dạng sau:

* Tập đoàn tư vấn đa quốc gia

* Tập đoàn tư vấn

* Công ty tư vấn chuyên ngành

1.5 Quy trình hoạt động của tư vấn xây dựng trong nước:

1.5.1 Đặc điểm cơ bản của các tổ chức tư vấn xây dựng:

1.5.1.1 Khối doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa:

• Tổ chức có bề dày truyền thống từ những năm còn là Viện thiết kế

Trang 15

nghiệp, từng địa phương, từng vùng mà trước hết là giải quyết công

ăn việc làm cho người lao động

1.5.1.2 Khối doanh nghiệp tư vấn ngoài quốc doanh:

Những điểm mạnh:

• Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, điều hành năng động, tính

tự chủ cao

• Tác phong làm việc công nghiệp, được trả lương thỏa đáng

• Cơ chế huy động các chuyên gia giỏi luôn thích ứng với thị trường

1.5.1.3 Các tổ chức tư vấn sự nghiệp có thu:

Là các đơn vị trong Viện nghiên cứu có chức năng tư vấn xây dựng vàcác bộ phận tư vấn xây dựng thuộc trường đại học Những tổ chức tư vấndạng này có các điểm mạnh, điểm yếu sau đây:

Những điểm mạnh:

• Phần lớn nhân viên được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, đượcđảm bảo về tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoảnphúc lợi khác

• Có nhiều chuyên gia giỏi, chuyên sâu (của Viện - Trường đại học)

• Có nhiều lợi thế về chính sách thuế và lao động

Những điểm yếu:

• Phần nào hạn chế tính chuyên nghiệp do còn phải thực hiện nhiệm

vụ chính là công tác nghiên cứu, đào tạo…

1.5.2 Cơ cấu tổ chức của đơn vị tư vấn xây dựng:

Trang 16

1.5.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý chức năng:

Là kiểu cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng với những nhiệm vụquản lý được phân chia cho các đơn vị riêng biệt thực hiện dưới dạngcác phòng chức năng, hình thành nên các phân hệ chuyên môn hóa vànhững người lãnh đạo chức năng Đặc điểm cơ bản này là chức năngquản lý phân chia thành từng đơn vị chuyên môn đảm nhận Lãnh đạocao nhất của tổ chức làm nhiệm vụ phối hợp điều hòa các chức năng

1.5.2.2 Cơ cấu trực tuyến:

Là dạng cơ cấu tổ chức quản lý chỉ có một cấp trên chỉ huy và một sốcấp dưới thực hiện Toàn bộ vấn đề quản lý được giải quyết theo mộtkênh liên hệ đường thẳng Đặc điểm của cơ cấu này là người lãnh đạocủa hệ thống một mình phải thực hiện tất cả các chức năng quản lý vàchịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi kết quả của đơn vị mình

1.5.2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý hỗn hợp:

Trong đó các nhiệm vụ quản lý giao cho những đơn vị chức năng riêngbiệt (các phòng chức năng) làm tham mưu tư vấn cho lãnh đạo cao nhấtcủa tổ chức Đặc điểm của cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu kết hợp làlãnh đạo các phòng chức năng tư vấn, chuẩn bị các quyết định quản lý

và đưa tới cấp thực hiện (các văn phòng, xưởng, xí nghiệp trực thuộccông ty) theo chỉ đạo của lãnh đạo Công ty Việc điều hành quản lý vẫntheo trực tuyến

1.5.3 Mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm tư vấn:

Một trong những khâu quan trọng nhất của đơn vị tư vấn là việc tổchức dây chuyền sản xuất các sản phẩm tư vấn Qua việc xem xét đã cho thấymỗi một tổ chức tư vấn có một cách thức tổ chức sản xuất riêng, tuy cơ cấu tổchức có khác nhau về số lượng các đơn vị chuyên môn và các phòng nghiệp

vụ nhưng tựu trung lại được quy về năm mô hình cơ bản sau đây:

Trang 17

1.5.3.1 Mô hình sản xuất theo chuyên môn hóa:

Phạm vi áp dụng loại mô hình này được áp dụng ở một số Công ty tưvấn lớn trực thuộc Bộ Cơ cấu tổ chức sản xuất này cho thấy những ưu điểm

và nhược điểm sau:

• Đây là mô hình có tính hiện đại, được áp dụng ở nhiều nước tiêntiến, mang tính chuyên môn hóa theo các bộ môn

• Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, hội nhập với tư vấn nướcngoài

• Tập trung nguồn lực, chuyên gia giỏi để thực thi dự án cùng một lúcvới nhiều dự án và những dự án lớn để đáp ứng yêu cầu tiến độ củakhách hàng

• Tạo ra môi trường thuận lợi cho việc học hỏi, trao đổi chuyên môn,đào tạo cán bộ trẻ cho các bộ môn kỹ thuật

• Thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị có cùng chuyênngành Tích lũy lớn, lợi nhuận cao, tạo điều kiện cho phát triểndoanh nghiệp

• Đơn vị Chủ trì đồ án và Chủ nhiệm đồ án khó điều hành trực tiếpcông việc mà phải qua các đơn vị bộ môn chuyên ngành, do vậytăng thêm đầu mối xử lý công việc, kéo dài thời gian thực hiện

• Việc trao đổi thông tin để phối hợp giữa các Chủ trì thiết kế với Chủnhiệm đồ án và giữa các Chủ trì thiết kế với nhau chưa được kịpthời

• Việc hình thành các đơn vị chuyên ngành, làm tăng đầu mối quản lý

và tăng chi phí hành chính

Có hai kiểu sơ đồ thể hiện loại mô hình này như sau:

Trang 18

Hình 1: Mô hình sản xuất theo chuyên môn hóa

1.5.3.2 Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn:

Trang 19

Hình 2: Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ mônPhạm vi áp dụng: mô hình sản xuất này cũng được áp dụng ở đa số các

tổ chức tư vấn (các công ty, tổng công ty và doanh nghiệp tư nhân) Đặcđiểm:

• Chu trình sản xuất được khép kín, đơn vị Chủ trì đồ án và Chủ nhiệm

đồ án hoàn toàn có thể chủ động, trực tiếp tổ chức triển khai công việc Việctrao đổi thông tin giữa các bộ môn diễn ra nhanh chóng, kịp thời Tiến độthực hiện dự án được rút ngắn đáng kể

• Chất lượng sản phẩm được Chủ nhiệm dự án kiểm soát chặt chẽ trongquá trình thiết kế Hồ sơ thiết kế kiểm soát tốt và dễ dàng được điều chỉnh khi

Trang 20

1.5.3.3 Mụ hỡnh sản xuất kết hợp chuyờn mụn húa và tổng hợp:

Phạm vi ỏp dụng thớch hợp với cỏc cụng ty lớn

• Áp dụng mụ hỡnh này giỳp khắc phục những hạn chế đó nờu ở hai mụhỡnh núi trờn Cỏc đơn vị thiết kế tổng hợp cú nhiệm vụ thực hiện cỏc dự ỏnvừa và nhỏ (mà tỷ trọng loại này chiếm từ 50 - 70% khối lượng cụng việc) đểđỏp ứng yờu cầu của đại đa số cỏc Chủ đầu tư Với những dự ỏn lớn cú yờucầu kỹ, mỹ thuật cao thỡ sử dụng cỏc đơn vị chuyờn ngành để thực hiện Tựyđiều kiện cụ thể của từng nơi mà quy mụ nhõn lực của cỏc đơn vị chuyờnngành nhiều ớt khỏc nhau

1.5.3.4 Mụ hỡnh sản xuất theo sơ đồ đầu mối:

Giám đốc

Kiểm soát chất l ợng Kế hoạch hợp đồng

trực thuộc Văn phòng t vấn trực thuộc

Trang 21

Phạm vi áp dụng dạng mô hình này thường áp dụng ở các Công ty tư vấntrực thuộc các Hội nghề nghiệp Đặc điểm:

• Bộ máy quản lý hết sức gọn nhẹ, khoảng từ 4-6 người, chi phí hànhchính nhỏ Sản lượng thực hiện có thể lớn do cơ chế kinh tế "thoáng", thủ tụcthanh toán đơn giản, nhanh chóng

• Việc tư vấn do các cộng tác viên khai thác được mang danh nghĩaCông ty để triển khai thực hiện Lực lượng kỹ thuật kiểm hồ sơ phần lớn docác chuyên gia có uy tín bên ngoài Công ty đảm nhận

• Công ty không quản lý được lực lượng cộng tác viên nên dễ lúng túngkhi phải sửa đổi hồ sơ hoặc xử lý các sự cố xảy ra

• Khó nhận được các dự án lớn, quan trọng, gặp khó khăn trong quátrình triển khai xây dựng

• Lợi nhuận và tích luỹ không cao, ít có điều kiện đào tạo nâng cao trình

độ cho nhân viên

1.5.3.5 Mô hình sản xuất theo sơ đồ một chuyên ngành:

Phạm vi áp dụng mô hình này thích hợp với dạng Văn phòng Kiến trúc,công ty tư nhân, Đặc điểm:

Trang 22

hiện dự án Nhân viên có trình độ chuyên môn tốt, được trả lương cao.

• Chỉ có một tổ chức nhỏ làm đầu mối công việc giao dịch và chịu tráchnhiệm pháp nhân, từ đó thuê lại các cá nhân bên ngoài để thực hiện công việc

• Không chủ động về nhân lực trong việc triển khai công việc và xử lýnhững phát sinh

• Khó có điều kiện thực hiện các dự án lớn, phức tạp về kỹ thuật

• Không có tích lũy hoặc tích luỹ rất nhỏ để tăng trưởng và dành chođào tạo

1.6 Quy trình hoạt động của tư vấn xây dựng quốc tế:

1.6.1 Tập đoàn tư vấn đa quốc gia:

Đại bộ phận các tập đoàn đa quốc gia thuộc sở hữu tư nhân Đặc trưng cơbản của mô hình đa quốc gia là tính đa ngành nghề trong tập đoàn, thườngcung cấp các dịch vụ trong các ngành nghề khác nhau như: xây dựng dândụng, xây dựng công nghiệp, giao thông; thủy lợi, cảng biển, năng lượng, mỏ,môi trường… Tập đoàn tư vấn có các chi nhánh trải rộng tại nhiều nước trênthế giới Các tập đoàn đa quốc gia thường có từ 1200 người đến 3000 nhânviên Công ty Mẹ đặt tại nước sở tại, Công ty con (hoặc Chi nhánh) có trụ sởchính ở các nước và các văn phòng đại diện tại các địa phương của nước đó.Đặc điểm của các tổ chức đa quốc gia:

a Hình thành hệ thống các công ty trong nước và các công ty ở nướcngoài Các công ty ở nước ngoài được phân chia theo khu vực - tạm gọi làcông ty khu vực Bên cạnh đó có các văn phòng đại diện cho Công ty ở cácnước trong khu vực, các văn phòng này thực hiện công tác tiếp thị, tìm kiếm

dự án và chịu sự điều hành trực tiếp của các công ty khu vực Khi dự án triểnkhai, nhân lực có thể được điều động chủ yếu giữa các công ty trong khu vực

và tập đoàn (khi cần thiết)

b Các công ty đa quốc gia cung cấp các dịch vụ đa chuyên môn thuộc các

Trang 23

lĩnh vực khác nhau như: nhà ở và công trình công cộng, công trình công nghiệp,giao thông, thủy lợi, năng lượng và công trình biển… Ứng dụng công nghệthông tin hiện đại, công ty Mẹ có thể giao việc, điều hành và phối hợp các công

ty con chuyên ngành triển khai có hiệu quả các dự án theo yêu cầu của kháchhàng

Sơ đồ tổ chức của tập đoàn tư vấn Scott Willson - Vương quốc Anh

Công ty tư nhân Scott Wilson Zimbabwe

Công ty góp vốn Scott Wilson Bosnhia

Công ty góp vốn Scott Wilson Malawi

Công ty Scott Wilson ở Mozambic

Công ty Scott Wilson Châu Á - Thái bình dương

Công ty Scott Wilson Malaixia

Công ty Scott Wilson &

Kirkpatrik Thái Lan

Công ty quốc tế Scott Wilson

Công ty tư nhân Scott Wilson Wilson Irwin Johnston

Công ty Scott Wilson Hồng Kông

Công ty tư vấn

kỹ thuật Scott Wilson Jiangsu

Trang 24

1.6.2 Tập đoàn tư vấn:

Tại một số nước đã hình thành những tập đoàn tư vấn theo kiểu mô hìnhcông ty Mẹ - công ty Con Ở đó, công ty Mẹ chi phối công ty con bằng chế độkinh tế giao vốn và điều phối công việc của các công ty Con trong việc thựcthi các dự án Mỗi công ty con là một công ty tư vấn chuyên ngành, hoạt độngđộc lập trong sự phối hợp với các công ty tư vấn khác cùng nằm trong một tậpđoàn để thực thi dự án

Ví dụ: Singapore, có tập đoàn tư vấn JTC trực thuộc Bộ thương mại vàcông nghiệp Tập đoàn JTC có các công ty thành viên là: Công ty tư vấnJurong; Công ty tư vấn cầu cảng jurong; Công ty tư nhân sân vườn Jurong;Công ty giải trí Singapore Ở Trung Quốc có tổng công ty tư vấn ThượngHải…

1.6.3 Công ty tư vấn chuyên ngành:

Là dạng mô hình khá phổ biến ở nhiều nước, có ba loại mô hình cơ bảnlà: chuyên ngành kiến trúc, ngành dự toán và chuyên ngành kỹ thuật Cáccông ty chuyên ngành kỹ thuật thường đảm nhận các dịch vụ kỹ thuật chonhiều lĩnh vực xây dựng: dân dụng, công nghiệp, giao thông; thủy lợi, điệnlực; công trình biển… Các công ty Kiến trúc cung cấp các dịch vụ tư vấn kiếntrúc cho các ngành nêu trên Việc áp dụng mô hình tư vấn chuyên ngành đãtập hợp được những đội ngũ chuyên gia giỏi để thực thi một lĩnh vực chuyênmôn của dự án Một số công ty tư vấn chuyên ngành kỹ thuật như:

• Beca Carter Holding & Ferner (S.E.Asia) Pte Ltd Lĩnh vựcchuyên ngành: cơ điện, kết cấu và công trình kỹ thuật

• Squire Mech Pte Ltd Lĩnh vực chuyên ngành: cơ điện

• Mốt số tư vấn chuyên ngành kiến trúc như: Daryl Jakson (Úc),Allies and Morrison Architects (Anh)

Công ty tư vấn chuyên ngành dự toán như David Langdon & Everest

Trang 25

Ngoài ra một số công ty cung cấp các dịch vụ hỗn hợp (kiến trúc -kỹthuật)

• Heerim - Arch.& Eng (Hàn Quốc) - lĩnh vực hoạt động: kiến trúc

• ST Architects & Engineers (Singapore) - lĩnh vực hoạt động: quyhoạch, kiến trúc, kết cấu, cơ điện, khảo sát…

Như vậy có thể thấy hầu hết các công ty tư vấn chuyên ngành kỹ thuật

đều hoạt động trên các lĩnh vực xây dựng… Điều đó đã tạo cho các công ty tưvấn những thị trường đa dạng, nhiều tiềm năng với mục tiêu cuối cùng là thuđược nhiều lợi nhuận

Các công ty thường đặt văn phòng ở các trung tâm hay thành phố lớn.Mỗi văn phòng thường có quy mô từ vài chục đến 100 nhân viên Việc chiacác văn phòng đại diện theo vùng lãnh thổ với quy mô tương đối gọn nhẹ cóthể hoạt động độc lập một mặt tạo cho công ty vừa có thể thực thi các dự ánvừa và nhỏ, mặt khác có thể dễ dàng huy động nhân lực thực thi các dự ánlớn Một số công ty tư vấn chuyên ngành như: Davis langdon & Everest(Anh) - Chuyên về kinh tế dự toán; Mae (Anh) chuyên về kiến trúc;DarylJackson (úc) - chuyên về kiến trúc; T.Y Lin South East Asion Pte.Ltd(Singapore)- chuyên về kết cấu và hạ tầng, Squie mech (Singapore)- chuyên

về cơ điện; Beca Singapore - chuyên về cơ điện và kết cấu Giữa các công ty

Trang 26

kiến trúc và kỹ thuật thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để thực thi dự

án Việc thực thi một dự án với sự tham gia của nhiều công ty không có sựkhó khăn

Về cơ cấu điều hành, mỗi một lĩnh vực đều có một chuyên gia có kinhnghiệm phụ trách chung các dự án, mỗi một dự án chỉ định một Chủ nhiệm dự

án Có thể tham khảo sơ đồ tổ chức một đội dự án như sau:

Nhận xét chung:

• Hầu hết các công ty tư vấn nước ngoài là công ty trách nhiệm hữuhạn hoặc công ty cổ phần

• Lĩnh vực hoạt động rộng khắp trên tất cả các ngành nghề xây dựng

cơ bản, do đó việc điều hành hết sức linh hoạt và hiệu quả cao

• Quy mô tập đoàn từ 1200 đến 3000 nhân viên Quy mô công tytrung bình từ 100 đến 300 nhân viên Dưới 100 nhân viên là công ty nhỏ

• Việc hình thành các công ty chuyên ngành cung cấp các dịch vụcho các ngành nghề khác nhau giúp cho việc mở rộng thị trường và tăng tínhcạnh tranh để có được sản phẩm tốt

• Mỗi một công ty chuyên ngành đều có một bộ phận chịu tráchnhiệm về các dự án ở nước ngoài giúp cho việc điều phối nhân lực và xử lý

Chủ nhiệm Dự án

Kỹ sư trưởng Điện

Đội hỗ trợ kỹ thuật và thiết kế

Trang 27

công việc được tập trung về một đầu mối.

• Tại mỗi một bộ phận (khu vực, phòng chức năng) do một người cótrình độ cao đứng đầu và toàn quyền quyết định những vấn đề do mình phụtrách

• Thực thi công việc theo cơ chế Đội dự án với Chủ nhiệm dự án cóquyền hạn và trách nhiệm rất cao đối với sản phẩm tư vấn của mình Chỉ cầnchữ ký của CNDA là đủ điều kiện để xuất hồ sơ

• Có lực lượng chuyên gia giỏi của từng chuyên ngành và khả năngphối hợp cộng tác giữa các chuyên gia giỏi của từng chuyên ngành trong một

dự án

Trang 28

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH VÀ HIỆN TRẠNG TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT NAM 2.1 Khái quát chung:

Theo thống kê, hiện nay nước ta có khoảng trên 1.000 công ty tư vấnlớn nhỏ Trong số này doanh nghiệp hạng I và hạng II (hoặc tương đương)chiếm gần 50%, số còn lại là doanh nghiệp hạng III và IV của các địaphương, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bao gồm: Đầu tư, công nghiệp,giao thông, xây dựng (chỉ tính tư vấn liên quan đến lĩnh vực kinh tế) Sốlượng các doanh nghiệp tư vấn xây dựng đã tăng lên gấp 2 lần so với số đã cótính năm 1995 và chất lượng được nâng cao rõ rệt, số lượng các công ty tưvấn ngoài quốc doanh đã tăng lên đáng kể Theo số liệu sơ bộ điều tra: Lập

dự án chiếm 10-15% doanh thu; Khảo sát 10-15% doanh thu; Thiết kế 60%; Thẩm định 5% Theo thời gian, số lượng và cơ cấu giữa các loại doanhnghiệp có nhiều biến đổi Có thể tóm tắt như sau:

50-Sau khi có quyết định 158/BXD – QLXD ngày 22/6/1993: Có khoảng

20 công ty tư vấn xây dựng ra đời từ Viện (hoặc bộ phận thiết kế) chuyển đổi

Năm 1995 có 250 doanh nghiệp tư vấn xây dựng đại bộ phận là doanhnghiệp Nhà nước

1996-1997: có 419 doanh nghiệp Trong đó:

Quốc doanh chiếm 89% (101) Trong đó Trung ương chiếm 48%

Thuộc các Thuộc các Tổng công ty, Công ty: 27% (38)

Thuộc các cơ quan sự nghiệp 14% (29)

Ở địa phương 30% (doanh nghiệp hạng III,IV) là ngoài quốc doanh1998: Có khoảng 600 doanh nghiệp

2006 có hơn 1000 doanh nghiệp (chưa kể cá doanh nghiệp thuộc Quânđội, công an)

Qua số liệu thống kê có thể thấy:

Trang 29

+ Trong quãng thời gian trên 10 năm, các doanh nghiệp tư vấn đã pháttriển nhanh chóng từ con số 20 ban đầu lên hơn 1000 doanh nghiệp bao gồm

đủ các loại hình

+ Thành phần các doanh nghiệp Nhà nước chiếm đại bộ phận trong thờigian ban đầu, nay chỉ còn khoảng 24%, loại hình doanh nghiệp ngoài quốcdoanh đã chiếm trên 50% và có xu hướng ngày càng phát triển do chủ trươngđẩy mạnh cổ phần hoá

+ Các Tổng công ty 90, 91, Công ty loại 1 đều thành lập các doanhnghiệp tư vấn trực thuộc, các trường Đại học, Cao đẳng (có nơi cả Trung họcchuyên nghiệp), các Viện nghiên cứu, các Hội đều thành lập các doanhnghiệp tư vấn sự nghiệp có thu, có nơi ở dạng công ty ngoài quốc doanh, cónơi thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn

+ Trừ khoảng 20 công ty thuộc loại lớn ra ( trong đó có 2-3 công ty vớitổng số cán bộ công nhân viên từ 1000-2000) làm trụ cột trong các Bộ như BộXây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,

Bộ Công nghiệp, Bộ Bưu chính Viễn thông, đại bộ phận các doanh nghiệpthuộc loại vừa và nhỏ

+ Một loại hình doanh nghiệp mới: Công ty cổ phần được chuyển đổi

từ công ty nhà nước, số doanh nghiệp này ngày càng tăng theo chủ trương đẩymạnh việc chuyển đổi tổ chức các doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ

Đánh giá về chất luợng thì ngoài một số công ty hoạt động tương đốichất lượng và uy tín như các công ty: Tư vấn thiết kế Điện trong lĩnh vựcnăng lượng, thuỷ lợi, hoá chất, xây dựng, môi trường đô thị… còn lại, vẫntrong tình trạng yếu kém về nhiều mặt

Nếu đánh giá chung, dựa trên sự so sánh với các công ty tư vấn nướcngoài cũng như sự phát triển của nền kinh tế, thì bản thân tư vấn Việt Namvẫn còn thua kém và chưa tương xứng với vai trò là “nghề cung cấp tri thức

Trang 30

để đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của xã hội” như định nghĩa của Hiệp hội

Tư vấn quốc tế Bằng chứng là, rất nhiều công trình mang tầm cỡ quốc giathuộc những ngành, lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế (công nghiệp khaithác dầu khí, điện, hoá chất, xi măng)…đều phải thuê tư vấn nước ngoài Cho

dù, thời gian gần đây đã có một vài công ty (trực thuộc chủ đầu tư) đã “dám”đứng ra nhận tổng thầu (từ ý tưởng đến dự án tiền khả thi, khả thi và sau đó làlập dự án, thiết kế và giám sát thi công…), nhưng thực ra, sau đó lại đi thuê tưvấn nước ngoài vào làm việc

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do trình độ chuyên môn của cáccông ty tư vấn nói chung và đội ngũ các nhà tư vấn Việt Nam nói riêng cònyếu, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn Bên cạnh đó, không ítchủ đầu tư còn e ngại và hay có thói quen “sính” ngoại, mà đáng ra, có nhữngcông trình nằm trong tầm tay (xét về trình độ chuyên môn) của tư vấn ViệtNam, thì lại đi thuê tư vấn nước ngoài

Bên cạnh các công ty tư vấn góp phần đem lại những công trình mangtầm vóc quốc gia, đem lại niềm tự hào của Việt Nam trước con mắt của bạn

bè thế giới, vẫn còn có những công ty tư vấn thiếu năng lực, chưa hoàn thànhđầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, để lại những hậu quả nặng nềkhông thể tính bằng tiền Nguyên nhân của thực trạng trên, trước hết phải kểđến việc các tổ chức tư vấn thiếu nguồn tài chính để đầu tư chiều sâu về trangthiết bị, về tài liệu, về đào tạo, làm ảnh hưởng đến chất lượng đồ án thiết kế;Tài liệu khảo sát điều tra cơ bản có trường hợp không đảm bảo chất lượng, đãgây nhiều sai sót trong thiết kế xây dựng; Trình độ và năng lực chuyên môncủa một số cán bộ tư vấn chưa cao, thiếu kinh nghiệm thực tế Cũng như tráchnhiệm tư vấn chưa cao

Đặc biệt, trong thời gian qua, khi một số công trình xây dựng có vấn đề

về chất lượng hay một số dự án thuộc các lĩnh vực như mía đường, xi măng…

Trang 31

không mang lại hiệu quả kinh tế cao, ngoài trách nhiệm chính thuộc về chủđầu tư, các cơ quan chuyên môn và giới báo chí cũng thường đề cập đến tráchnhiệm của cơ quan tư vấn

Chắc chắn một điều không thể phủ nhận được, trong công cuộc đổi mới

và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự đi lên của đất nước, lĩnh vực tư vấnđóng góp một phần quan trọng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhaunhư trình độ chuyên môn thấp, thì thực tế đã xuất hiện “tiêu cực” xung quanhcông tác này Lĩnh vực giao thông- xây dựng là một ví dụ điển hình Đáng lẽ

có nhiều công trình, ngay từ khi thi công, nếu khâu “Tư vấn giám sát” khôngmóc ngoặc với chủ đầu tư, làm đúng bổn phận, thì chắc chắn sẽ không để xảy

ra những đường Liên Cảng A5 hay Thuỷ điện Trị An… Và, để biện minh chonhững thiếu sót trên, các công ty tư vấn thường đổ lỗi cho việc “họ” khôngđược độc lập về mặt hành chính, mà phải phụ thuộc vào chủ đầu tư, nên đã đểxảy ra tình trạng này Nói như vậy cũng có phần đúng, nhưng cần trả lời câuhỏi tại sao có những công trình cho dù chủ đầu tư bị lỗ hoặc hòa vốn, songnhờ giám sát chặt chẽ của tư vấn, nên chất lượng vẫn tốt và thời gian thi côngvẫn đảm bảo? Chẳng hạn, như Dự án xây dựng cầu Bãi Cháy ở Quảng Ninh

là minh chứng điển hình Rõ ràng, trong những trường hợp trên, khâu tư vấnđóng vai trò hết sức quan trọng và nếu những người làm công tác tư vấnkhông có cái “tâm “ trong sáng, thì chắc chắc sẽ dẫn đến những hậu quả khônlường

“Không riêng gì chương trình mía đường, hiện nay ở một số địaphương đang xảy ra tình trạng chạy đua để đầu tư xây dựng các dự án, bấtchấp dự án đó có mang lại hiệu quả kinh tế hay không? điển hình là các dự án

về bia, nước giải khát, lắp ráp và sản xuất ô tô -xe máy… Tất nhiên, dưới góc

độ tư vấn, nhiều khi người ta thừa hiểu rằng, có những dự án chắc chắn khi đivào hoạt động sẽ không mang hiệu quả kinh tế cao hoặc thậm chí là phá sản

Trang 32

(không thể hoạt động), song vẫn phải “nhắm mắt” lập dự án và thiết kế “bừa”,cốt sao vừa lòng lãnh đạo tỉnh nhà Vì nếu không làm theo cái gọi là luật bấtthành văn của lãnh đạo, thì sau này đừng có hy vọng trở lại địa phương thamgia tư vấn Rõ ràng, để xảy ra hiện tượng hiệu quả dự án thấp, chưa hẳn tráchnhiệm đã thuộc về công tác tư vấn, mà phần chính thuộc về chủ đầu tư

Thực tế hiện nay, trong những dự án có sử dụng vốn vay hoặc viện trợcủa các tổ chức tài chính quốc tế, người ta thường đưa ra yêu cầu chỉ đượcphép dùng các công ty tư vấn độc lập (không phải của Nhà nước) Trong khi

đó, cũng giống như Trung Quốc, ở Việt Nam hiện có đến 85% công ty tư vấnthuộc các doanh nghiệp nhà nước (nghĩa là bị ràng buộc hành chính bởi các

cơ quan chủ quản cả về mặt nhân sự lẫn tài chính), làm ảnh hưởng đến côngtác chuyên môn của những công ty này

2.2 Cơ cấu tổ chức:

Qua khảo sát thực tế, hiện nay đơn vị tư vấn của Việt Nam đều áp dụng

cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu Cơ cấu tổ chức quản lý hỗn hợp tức là kết

hợp 2 kiểu cơ cấu: Cơ cấu tổ chức quản lý chức năng và Cơ cấu trực tuyếntheo mô hình nguyên lý

Ban lãnh đạo Công ty

Các đơn vị chức năng

Văn phòng, Đơn vị tư vấn

Trang 33

Hình1: Sơ đồ nguyên lý cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu kết hợp trực tuyến

-chức năng

Tuy cùng theo một sơ đồ nguyên lý nhưng sơ đồ tổ chức chi tiết của mỗi đơn

vị tư vấn lại khác nhau bởi những lý do sau:

• Tùy điều kiện và tính chất cụ thể của mỗi đơn vị mà xác định sốlượng các phòng chức năng nhiều hay ít

• Tùy theo số lượng cán bộ, nhu cầu đòi hỏi của thị trường và đặcđiểm riêng của từng nơi mà số lượng các đơn vị sản xuất nhiều hayít

2.3 Mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm tư vấn:

Một số Công ty tư vấn lớn trực thuộc Bộ như VNCC và Tổng công ty(chiếm khoảng 50% số lượng khảo sát) áp dụng theo kiểu mô hình sản xuấttheo chuyên môn hóa do tính chất hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho việchợp tác, hội nhập với tư vấn nước ngoài

Các công ty, tổng công ty và doanh nghiệp tư nhân qua khảo sát đại đa

số áp dụng Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn do Chutrình sản xuất được khép kín, đơn vị hoàn toàn có thể chủ động trong côngviệc, trao đổi thông tin nhanh chóng, kịp thời, tiến độ thực hiện dự án đượcrút ngắn, tiết kiệm được chi phí, hồ sơ được kiểm soát tốt

Các công ty lớn ( số ít khảo sát ) có áp dụng mô hình sản xuất kết hợpchuyên môn hóa và tổng hợp do tính chất quản lý phức tạp, đòi hỏi quy môlớn, tính tổng hợp về chuyên ngành cao

Các Công ty tư vấn trực thuộc các Hội nghề nghiệp thường áp dụng môhình sản xuất theo sơ đồ đầu mối do bộ máy gọn nhẹ, sản lượng thực hiện cóthể lớn do cơ chế kinh tế "thoáng", thủ tục thanh toán đơn giản, nhanh chóng,thường do các nhân đứng ra làm chủ

Các Văn phòng Kiến trúc, công ty tư nhân thường áp dụng mô Mô hình

Trang 34

sản xuất theo sơ đồ một chuyên ngành do tính chất của chuyên ngành mà đơn

vị tự thực hiện kết hợp với việc thuê chuyên gia các bộ môn kỹ thuật chuyênngành bên ngoài để thực hiện dự án

Việc hình thành mô hình tổ chức sản xuất của mỗi đơn vị đều căn cứtheo tính chất đặc thù và khả năng của đơn vị đó

2.4 Đánh giá năng lực chuyên môn (Công nghiệp - Dân dụng):

2.4.1 Khái quát:

Trình độ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm là những yếu tố hết sứcquan trọng để đánh giá năng lực nhà tư vấn Chất lượng sản phẩm dịch vụ tưvấn phụ thuộc vào chính những yếu tố này Những nội dung chủ yếu được đềcập trong đánh giá năng lực chuyên môn bao gồm: khả năng thực hiện cácloại hình dịch vụ tư vấn; khả năng nắm vững dây chuyền công nghệ và ứngdụng công nghệ và vật liệu mới; trình độ và kinh nghiệm của nhà tư vấn; nắmbắt thông lệ quốc tế và trình độ ngoại ngữ

2.4.2 Các loại hình Dịch vụ tư vấn:

2.4.2.1 Khái quát về sự phát triển các dịch vụ tư vấn thời gian gần đây:

Trong những năm của nền kinh tế bao cấp, khái niệm về dịch vụ tư vấnhầu như chỉ gói gọn trong công tác thiết kế và khảo sát Điều này cũng phùhợp với cơ chế quản lý và chỉ đạo tập trung của nền kinh tế lúc bấy giờ.Những năm gần đây, cùng với việc chuyển đổi sang cơ chế thị trường, nhucầu về hội nhập và mở cửa cùng với sự thâm nhập của các công ty tư vấn, nhàthầu quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu và phương thức mới trong việc thựchiện các dự án đầu tư và xây dựng Trong bối cảnh như vậy, các loại hình vềdịch vụ tư vấn đã dần được phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tư vấn kỹ thuật,kinh tế, pháp lý của chủ đầu tư và của các cơ quan quản lý xây dựng thể hiệntrong các số liệu điều tra dưới đây:

Dịch vụ thiết kế, tư vấn xây dựng

Trang 35

Tên dịch vụ Tỷ lệ (%) các tổ chức

tư vấn cung cấp

Tư vấn chuẩn bị dự án:

- Lập quy hoạch tổng thể, sơ đồ phát triển 82.61%

Tư vấn thực hiện dự án:

- Thẩm tra thiết kế và tổng dự toán, dự toán 78.26%

- Lập hồ sơ mời thầu, phân tích đánh giá hồ sơ dự

Hoạt động của các tổ chức tư vấn chủ yếu là các dịch vụ "truyền thống"như công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán… Những công việc này hiện vẫn

là thế mạnh và thường được thực hiện tốt Tuy nhiên, trong số những hạngmục nói trên có những nội dung đòi hỏi nhà tư vấn phải mở rộng hiểu biết,cập nhận kiến thức mới đạt yêu cầu

2.4.2.2 Các dịch vụ tư vấn chuẩn bị dự án:

Bao gồm các dịch vụ như: quy hoạch, lập dự án đầu tư, v.v… Đây lànhững dịch vụ đòi hỏi các chuyên gia tư vấn phải có nhiều kinh nghiệm, kiếnthức chuyên môn và phải có tầm nhìn rất bao quát, có kiến thức tổng hợp,thông thạo các văn bản pháp quy, các quy trình lập dự án và phải có hiểu biết

về kinh tế, tài chính Bên cạnh đó, rất cần phải có các cơ sở dữ liệu về tìnhhình phát triển kinh tế vĩ mô cũng như của đối tượng xây dựng cụ thể nóiriêng Trong vài năm trở lại đây, công tác chuẩn bị đầu tư đã có những bướctiến bộ đáng kể

Trang 36

Mặc dù những dịch vụ này thường đòi hỏi phải có các chuyên gia tư vấntầm cỡ, nhưng qua điều tra hầu hết các tổ chức tư vấn đều thực hiện nhữngdịch vụ này, kể cả các tổ chức tương đối nhỏ Điều này cho thấy ý thức trongcách suy nghĩ của chủ đầu tư, của các nhà tư vấn và cả trong xã hội về tầmquan trọng của giai đoạn này trong dự án chưa được coi trọng đúng mức Mặtkhác, tính độc lập của tư vấn cũng thường không được đề cao Việc lợi íchcủa chủ đầu tư và của chuyên gia tư vấn đều gắn chặt với việc dự án được phêduyệt cũng làm nhiều dự án mất đi cách nhìn nhận khách quan do bị ảnhhưởng từ phía chủ đầu tư Những điều này có thể lý giải phần nào cho nguyênnhân tại sao có một số công trình đầu tư và xây dựng trong thời gian vừa quachưa đạt hiệu quả đầu tư kinh tế - xã hội.

2.4.2.3 Các dịch vụ tư vấn quản lý và thực hiện dự án:

a Thiết kế, thẩm tra, lập dự toán:

Đây là những dịch vụ có tính truyền thống của tư vấn Việt Nam Hầu hếtcác tổ chức tư vấn đều nhận và thực hiện công việc này mặc dù không có đầy

đủ chuyên gia về các bộ môn kỹ thuật chuyên sâu Có thể nói rằng thiết kế làcông tác đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện tại Những tiến bộ khoa học

kỹ thuật như tin học, phần mềm, công nghệ mới,… khi du nhập vào Việt Namcũng thường được cập nhật và ứng dụng rất nhanh

Mặc dù vậy với những dạng công trình đặc biệt có quy mô lớn hoặc kếtcấu phức tạp… tư vấn Việt Nam còn nhiều lúng túng (như nhà ga, sân bay,tháp, thể thao…) về dây truyền công nghệ cũng như vật liệu sử dụng và hệthống kỹ thuật kèm theo

b Quản lý điều hành dự án:

Thuê Chủ nhiệm điều hành dự án là một dịch vụ mới, hiện nay đã có một

số tư vấn Việt Nam tham gia quản lý và điều hành dự án, đặc biệt trong lĩnhvực xây dựng hạ tầng như các dự án điện nông thôn, dự án giao thông, v.v…

Trang 37

Từ các dự án hợp tác quốc tế hoặc tài trợ, kinh nghiệm quản lý điều hành dự

án của cán bộ chuyên gia Việt Nam được nâng lên rất nhiều

Tuy nhiên, chỉ khoảng 33% Ban Quản lý dự án là những người có kinh

nghiệm trong quản lý xây dựng và hầu hết Chủ đầu tư đều lựa chọn hình thức

trực tiếp quản lý thực hiện dự án Đối với chủ đầu tư là tư nhân hay các ban

quản lý là chủ đầu tư của 1 dự án duy nhất, thường không có kinh nghiệm về

kỹ thuật và quản lý xây dựng Do vậy đây là đối tượng khách hàng cần sự trợgiúp của tư vấn Song mức độ thuê tư vấn còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

như: quan niệm, khả năng tài chính của khách hàng v.v Khách hàng tư nhân

và khách hàng Nước ngoài cho rằng "Tư vấn Việt Nam quá chú trọng nhiều

đến thiết kế và thường không có kinh nghiệm trong quản lý dự án và giámsát" và hầu hết các tổ chức tư vấn Việt Nam chỉ tham gia vào các dự án quốc

tế với vai trò là thầu phụ

c Giám sát thi công:

Tư vấn giám sát là dịch vụ kỹ thuật có tính tổng hợp trong ngành xâydựng, dịch vụ này phải được bắt đầu tư lúc chuẩn bị mặt bằng thi công đếnlúc đưa công trình vào khai thác sử dụng và đầy đủ hơn là cả thời gian bảohành công trình Lĩnh vực tư vấn giám sát ở nước ta trong những năm gần đây

đã được phát triển (từ trên 200 đơn vị sau hơn 10 năm đã có hơn 600 đơn vị

tư vấn giám sát), nhưng về năng lực chuyên môn vẫn còn nhiều vấn đề phảiquan tâm:

• Đội ngũ cán bộ tư vấn giám sát trong cả nước còn yếu về hiểu biếttoàn diện tổng hợp, chất lượng giám sát công trình chưa cao và thanh quyếttoán công trình kéo dài Xử lý các công việc chưa thật chủ động và cươngquyết, làm việc thiếu tính độc lập, còn né tránh trách nhiệm, thường lệ thuộcquá nhiều vào sự chỉ đạo của Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án; đa số là sinhviên mới ra trường được vài năm hoặc cán bộ đã nghỉ hưu và nhiều khi kiêm

Trang 38

luôn giám sát các hạng mục kỹ thuật như điện, nước, âm thanh, thông tin…

• Thiếu các cơ sở dữ liệu để tra cứu, nhất là đối với các trang thiết bị đểkiểm tra: máy đo độ phẳng mặt, độ thẳng đứng, độ chiếu sáng, v.v… Hạn chế

về tiếp cận những công nghệ thi công, chống thấm và xử lý nền móng tiêntiến, các loại công trình ngầm khe co dãn v.v… cũng như những vật liệu mới

về điện, nước, nội thất, trang âm, chống cháy, chống nóng v.v…

• Thiếu trang thiết bị văn phòng và phòng làm việc tại hiện trường

• Vị trí quan trọng của kỹ sư tư vấn giám sát trong thực tế hiện nay mớiđạt tới 50% yêu cầu

• Tóm lại, công tác tư vấn giám sát thi công có những thuận lợi và khókhăn sau: ngày càng được pháp luật và cộng đồng công nhận, đang phát triển

và trưởng thành mạnh mẽ, được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của cáccấp lãnh đạo (biên soạn tài liệu hướng dẫn, mở lớp đào tạo kỹ sư tư vấn giámsát) Tuy nhiên số lượng tổ chức tư vấn tham gia giám sát rất đông, song chấtlượng công tác còn quá chênh lệch

d Khảo sát địa kỹ thuật, kiểm định:

Trong lĩnh vực này, ngoài trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của cácchuyên gia, các điều kiện về thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất là tối cần thiết.Theo điều tra, nhiều tổ chức tư vấn nhận làm dịch vụ này nhưng trên thực tế

họ phải thuê lại dịch vụ từ các tổ chức tư vấn chuyên sâu hoặc có quy mô lớnhơn

Nhìn chung tuy còn có những sai sót ở một vài công trình, nhưng khảnăng của tư vấn trong những dịch vụ này đáp ứng được yêu cầu của công tácthiết kế, xây dựng hiện tại Những khó khăn lớn nhất trong lĩnh vực nàythường do hai nguyên nhân chính, thiếu các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại vàcác chuyên gia trong lĩnh vực này cũng thường thiếu kiến thức tổng hợp củacác chuyên ngành kỹ thuật liên quan như kết cấu, nền móng, v.v

Trang 39

e Các dịch vụ cho tư vấn nước ngoài:

Phổ biến là vẽ kỹ thuật, thiết kế, tư vấn giám sát và khảo sát đo đạc Sốlượng các công tác tham gia thực hiện dịch vụ này theo tỷ lệ như sau:

2.4.2.4 Các dịch vụ tư vấn chuyên ngành khác:

Đối với công tác nghiên cứu khoa học công nghệ của các tổ chức tư vấn

được xếp vào hàng thứ yếu Kết quả điều tra cho thấy mặc dù có 35% công tyđăng ký thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và 43% công ty đăng ký thựchiện công việc đào tạo chuyển giao công nghệ, nhưng chỉ có 22% công tythực hiện công tác NCKH và 13% thực hiện các công tác đào tạo chuyển giaocông nghệ Đề tài nghiên cứu khoa học trung bình: 1 đề tài/ 1 năm

Ngoài ra, các cơ quan tư vấn cũng tham gia vào những dịch vụ chuyênsâu về môi trường, đánh giá điều tra xã hội, dân cư, v.v… Nhìn chung các tổchức tư vấn cử chuyên gia thực hiện theo hợp đồng như một công việc có tínhchất thời vụ Do vậy, rất khó có điều kiện để hình thành được các tổ chức, đội

Trang 40

ngũ tư vấn lành nghề, chuyên sâu.

2.4.2.5 Nhận định chung về các dịch vụ tư vấn Xây dựng tại Việt Nam:

Nhìn tổng thể các dịch vụ tư vấn ngày càng đa dạng và có xu hướng tiệmcận đối với bối cảnh quốc tế Tuy nhiên, đó là chỉ xét trên khía cạnh hìnhthức, danh mục công việc, về nội dung và chất lượng của các dịch vụ này còn

có nhiều điều đáng quan tâm

Các dịch vụ tư vấn khác nhau sẽ có những yêu cầu chuyên môn tươngđối khác Trong khi công tác tư vấn thiết kế, thẩm tra rất cần đến kiến thứcchuyên môn sâu thì các công việc khác như giám sát, quản lý dự án, v.v… lạiđòi hỏi rất nhiều đến kiến thức về quản lý, khả năng nhanh nhạy và nắm bắtcác văn bản pháp quy

Hiện tại ở Việt Nam, các chuyên gia tư vấn ít được đào tạo về kỹ năngquản lý nhưng thường không được chú trọng và chưa thực hiện tốt

2.4.3 Khả năng nắm vững dây chuyển công nghệ và vật liệu mới:

Dây chuyền công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt trong kỹ năng của nhà

tư vấn thiết kế, là yếu tố đầu tiên để nhà thiết kế bắt tay vào công việc, từkhâu lập quy hoạch tổng mặt bằng, sơ phác công trình đến các bước sau này.Với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, dây chuyền công nghệ ngàycàng hiện đại, việc bắt kịp tiến độ khoa học công nghệ là công việc không dễdàng

Theo chức năng có thể được phân chia ra làm 2 nhóm chính:

• Dây chuyền công nghệ công trình công nghiệp

• Dây chuyền công nghệ công trình dân dụng

Theo tính chất có thể xếp ra 2 loại:

• Dây chuyền thông thường

• Dây chuyền hiện đại

Đa số các công trình xây dựng có dây chuyền công nghệ thông thường,

Ngày đăng: 15/06/2016, 11:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình sản xuất theo chuyên môn hóa 1.5.3.2. Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn: - Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn của Công ty CP tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam (VCC) trong quá trình hội nhập
Hình 1 Mô hình sản xuất theo chuyên môn hóa 1.5.3.2. Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn: (Trang 18)
Hình 2: Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn Phạm vi áp dụng: mô hình sản xuất này cũng được áp dụng ở đa số các tổ chức tư vấn (các công ty, tổng công ty và doanh nghiệp tư nhân) - Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn của Công ty CP tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam (VCC) trong quá trình hội nhập
Hình 2 Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn Phạm vi áp dụng: mô hình sản xuất này cũng được áp dụng ở đa số các tổ chức tư vấn (các công ty, tổng công ty và doanh nghiệp tư nhân) (Trang 19)
Sơ đồ tổ chức của tập đoàn tư vấn Scott Willson - Vương quốc Anh - Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn của Công ty CP tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam (VCC) trong quá trình hội nhập
Sơ đồ t ổ chức của tập đoàn tư vấn Scott Willson - Vương quốc Anh (Trang 23)
Sơ đồ tổ chức: - Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn của Công ty CP tư vấn xây dựng công nghiệp và đô thị Việt Nam (VCC) trong quá trình hội nhập
Sơ đồ t ổ chức: (Trang 91)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w