1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân quận hà đông, thành phố hà nội

122 594 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào đó Tòa án hay chủ thể đặc biệt là Thẩm phán có thể ra những bản án, quyết định đúng với quy định của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và bảo đảm Bản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ VIỆT CƯỜNG

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG THU THẬP CHỨNG CỨ XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ VIỆT CƯỜNG

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG THU THẬP CHỨNG CỨ XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Luật dấn sự và tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Huy Cương

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Việt Cường

Trang 4

Lời cảm ơn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn luận văn của tôi, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Ngô Huy Cương đã tạo mọi điều kiện, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành được luận văn Trong suốt quá trình nghiên cứu, bằng sự nhiệt huyết sâu sắc về khoa học, cũng như kinh nghiệm của thầy chính là tiền đề giúp tôi đạt được những thành tựu và kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học

Xin cảm ơn Khoa luật – Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã nhiệt tình hướng dẫn và góp ý để tôi có thể hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM

PHÁM TRONG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG

HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

7

1.1 Khái niệm vai trò của Thẩm phán trong hoạt động TTCC,

xây dựng hồ sơ giải quyết VADS

7

1.1.2 Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây

dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

1.3 Mối quan hệ của Thẩm phán với những người tiến hành tố

tụng và người tham gia tố tụng

20

1.3.1 Mối quan hệ của Thẩm phán với người tiến hành tố tụng 20 1.3.2 Mối quan hệ của Thẩm phán với người tham gia tố tụng 23

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật

Việt Nam về vai trò của Thẩm phán

25

Trang 6

1.4.2 Giai đoạn từ 1959 đến năm 1980 28 1.4.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 29 1.4.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2004 31

1.5 Quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về vai trò

của Thẩm phán trong TTDS

36

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ

CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

chứng cứ

71

2.2.1 Thẩm phán TTCC và làm rõ chứng cứ qua phần thủ tục hỏi 76 2.2.2 Thẩm phán TTCC và củng cố chứng cứ qua phần tranh luận 78

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG

CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG

THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

82

3.1 Thực tiễn áp dụng tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 82

Trang 7

3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán

trong hoạt động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS

97

3.3.1 Hoàn thiện pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt

động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS

97

3.3.2 Đổi mới tổ chức hoạt động của Tòa án trên cơ sở hoàn thiện

vai trò độc lập của Thẩm phán

100

3.3.3 Nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn cũng như phẩm

chất, đạo đức của đội ngũ Thẩm phán nhằm khẳng định vai trò

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo chủ trương cải cách tư pháp của Đảng xác định xây dựng Tòa án có

vị trí trung tâm và xét xử là trọng tâm của hoạt động tư pháp [11] Trên cơ sở đó

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, Tòa án có nhiệm

vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Người đại diện cho Tòa án thực hiện quyền tư pháp bảo vệ công lý là

Thẩm phán – người có trách nhiệm chính trong công tác xét xử các loại vụ án nói chung và trong GQVA dân sự nói riêng Trong quá trình tố tụng dân sự Thẩm phán là người được phân công GQVA từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc hồ sơ vụ án bằng quyết định hoặc bản án xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp dân sự Để có căn cứ giải quyết VADS, ngoài nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đương sự, hay chính là chứng cứ

do đương sự xuất trình có trong hồ sơ vụ án, thì còn những chứng cứ đương sự không cung cấp được mà Thẩm phán phụ trách hồ sơ vụ án phải thu thập để có căn cứ GQVA Do vậy, Hoạt động thu thập chứng cứ để hỗ trợ cho đương sự đồng thời để Thẩm phán xây dựng hồ sơ GQVA dân sự là hoạt động đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ đầy đủ sẽ là cơ sở đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác Căn cứ vào đó Tòa án (hay chủ thể đặc biệt là Thẩm phán) có thể ra những bản án, quyết định đúng với quy định của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và bảo đảm Bản án, quyết định dân sự của Tòa án khi có hiệu lực pháp phải được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành; không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để hủy bản án vì thiếu chứng cứ hoặc Tòa án không áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ do lỗi chủ quan của Thẩm phán

Trang 10

Từ khi được hình thành và phát triển đến nay, đội ngũ Thẩm phán nước

ta cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình Trong đó, đội ngũ Thẩm phán TAND cấp huyện có ảnh hưởng rất lớn đến nhiệm vụ chính trị của

hệ thống Tòa án nói riêng và của Bộ máy nhà nước nói chung Hiện nay, số lượng Thẩm phán cấp huyện là lực lượng chiếm số lượng lớn nhất so với số lượng Thẩm phán của cả nước và hàng năm số lượng VADS do họ tham gia giải quyết chiếm số lượng nhiều nhất Do vậy, việc nghiên cứu vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS cũng là một nội dung rất quan trọng không thể thiếu trong công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

Mặt khác, theo Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính

trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, thì “Công tác tư pháp nước ta

còn bộc lộ nhiều hạn chế” Đội ngũ Thẩm phán xét xử còn thiếu, nhất là ở các

tòa án cấp huyện; còn tồn tại số lượng không ít các Thẩm phán chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, thiếu thận trọng thậm chí là cẩu thả nên dẫn đến tình trạng còn nhiều sai sót trong thực tiễn xét xử Thêm nữa, về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cũng như kinh nghiệm trong công tác của đội ngũ Thẩm phán hiện còn chưa đồng đều Một số Thẩm phán chưa tích cực tích lũy, học tập, nghiên cứu pháp luật để củng cố kiến thức, trình độ nghiệp vụ Nhiều cán bộ bằng lòng với kiến thức đã có, không thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới nên đã phạm sai sót khi giải quyết các VADS

Hơn nữa trong thực tiễn báo cáo tổng kết công tác của ngành Tòa án nhân dân tỷ lệ các bản án bị hủy do nguyên nhân chủ quan của Thẩm phán liên quan đến thu thập chứng cứ vẫn chiếm tỷ lệ cao

Trước tình hình trên và trong bối cảnh Việt Nam từng bước đi vào quỹ đạo toàn cầu hóa, hội nhập thế giới, nhất là đang thực hiện cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08 ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới; Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng Nhà nước

Trang 11

pháp quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam, cũng như hàng loạt vấn đề lý luận thực tiễn liên quan đến Tòa án và Thẩm phán ở nước ta vẫn tiếp tục đặt ra và cần giải đáp Bởi vậy, việc tiếp tục nghiên cứu lý luận, thực tiễn để làm sáng tỏ mặt khoa học và đưa ra những giải pháp nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS là đòi hỏi khách quan, cấp

thiết, vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Vai

trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố

Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, hoàn

toàn cần thiết và mang tính khách quan

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng dân sự là một trong những vấn đề được những người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn quan tâm Trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan vấn đề này ở nhiều cấp

độ, phạm vi khác nhau như: Nguyễn Thị Hằng “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự” Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia

Hà Nội, 2013; Vũ Thu Hiền “Xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, 2008…; bài viết “Cần hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn

và trách nhiệm của Thẩm phán trong giải quyết VADS sơ thẩm” , của Vũ Thanh Tuấn (2014), Tạp chí Tòa án nhân dân số 7 (tháng 4/2014); bài viết “Vai trò của Thẩm phán đối với việc mở rộng tranh tụng trong các VADS” của Tưởng Duy

Lượng - Nguyễn Văn Cường Tạp chí NCPL số 2/2004; bài viết Vai trò của

Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS của

Nguyễn Văn Lin và Nguyễn Thị Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; bài viết

Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” lý luận và thực tiễn của Nguyễn Quang Hiền, Tạp chí Tòa án nhân

dân số 19 (tháng 10/2012) Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết của nhiều tác giả liên quan đến đội ngũ Thẩm phán được công bố như: Tạp chí TAND, Tạp chí

Trang 12

dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp… Các nghiên cứu đã đánh giá năng lực của đội ngũ Thẩm phán và đề ra những khuyến nghị để nâng cao vai trò của đội ngũ này

Có thể nói, qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các sách chuyên khảo, luận văn, các bài báo khoa học đã công bố ở Việt Nam trong thời gian qua, cho thấy hầu hết các công trình này là những công trình nghiên cứu cơ bản và trực diện về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án, còn về vai trò của Thẩm phán chưa được khoa học pháp lý nước ta quan tâm đúng mức Những nghiên cứu chỉ dừng lại ở các công trình đơn lẻ hoặc chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của Thẩm phán và chủ yếu là trong tố tụng hình sự, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống, sâu sắc về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS Vì vậy, những bất cập, hạn chế của đội ngũ Thẩm phán Tòa án các cấp hiện nay và nhất là ở Hà Nội chưa được phân tích có hệ thống để đưa ra được những giải pháp đồng bộ tăng cường vai trò của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho

việc nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để có thể đạt được mục đích đó, trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung vào những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng

hồ sơ giải quyết VADS theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành Làm rõ những đặc trưng riêng của hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS của Thẩm phán

Trang 13

- Phân tích vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS ở TAND quận Hà Đông, Hà Nội trong thời gian từ năm 2011 đến 2014, phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế dẫn đến những thiếu sót của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ

sơ giải quyết VADS theo quy định của BLTTDS

- Đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS, góp phần thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao uy tín của nền tư pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp luật

Đồng thời được tiến hành bằng những phương pháp nghiên cứu khoa học

cơ bản như: phân tích, đối chiếu so sánh, hệ thống, logic, tổng hợp, thống kê thu thập thông tin, quy nạp và diễn dịch, v.v Nhờ vậy, những vấn đề có liên quan đến vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ VADS được xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện, có

hệ thống và xác thực

5 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả của BLTTDS về vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập Những giải pháp của luận văn sẽ cung cấp một số luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự liên quan đến vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết VADS hiện nay và sắp tới

Trang 14

6 Những điểm mới của luận văn

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu hệ thống, toàn diện, đầy đủ về vài trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS theo quy định của BLTTDS Những điểm mới của luận văn là:

- Phân tích một cách sâu sắc và đánh giá toàn diện về vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ VADS theo BLTTDS

- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ tại Tòa án nhân dân quận Hà Đông; qua đó nên ra những tồn tại, hạn chế, bất cập chung của pháp luật và những tồn tại thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong TTCC, xây dựng hồ sơ trong TTDS Trên cơ sở đó luận văn đề xuất các giải pháp khả thi để hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS trong TTDS

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

Chương 2: Quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ vụ án dân sự

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁM TRONG

THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm vai trò của Thẩm phán

1.1.1 Khái niệm Thẩm phán

TAND có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp thực hiện chức năng xét xử Trong TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi chức năng của Tòa án Xét về lịch sử ra đời thì khái niệm Thẩm phán ra đời khá muộn mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ rất lâu và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức Nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện là nhà vua Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quy định tổ chức thực hiện và là người có quyền lực cao nhất Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xoá bỏ Nhà nước phong kiến Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu

biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đưa ra luận

điểm: Phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật

và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực Nhà nước Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Toà án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ xưa đến nay chưa từng có đó là Thẩm phán

Trang 16

Theo khái niệm Thẩm phán trong từ điển Tiếng Việt thì: Thẩm phán là

người chuyên làm công tác xét xử các loại vụ án

Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND năm 2002 đã định

nghĩa: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm

nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”

Từ định nghĩa về Thẩm phán cho thấy Thẩm phán là một chức danh tư pháp được bổ nhiệm theo trình tự thủ tục và tiêu chuẩn do pháp luật quy định chặt chẽ để làm nhiệm vụ xét xử của Tòa án hay chính là thực hiện chức năng của Tòa án (chức năng xét xử nhân danh Nhà nước) thực hiện quyền tư pháp

Theo quan điểm của TS Nguyễn Quang Hiền: “Tòa án là một thiết chế không

thể tự thực hiện được quyền tư pháp (xét xử) mà phải thông qua con người cụ thể để thay mặt Tòa án thực hiện quyền tư pháp, đó chính là Thẩm phán”[17]

- Thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm

- Về nhiệm kỳ của Thẩm phán: “Nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05

năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm.” [41]

Ngoài ra, qua định nghĩa về Thẩm phán, ta thấy Thẩm phán cũng được coi

là công chức nhà nước Thẩm phán là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Nhà nước ở đây là TAND, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo pháp luật về cán bộ, công chức hiện hành, Thẩm phán được xếp vào ngạch công chức nhà nước được hưởng mọi quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ của công chức nói chung Theo quan

Trang 17

điểm của tác giả Nguyễn Minh Sử thì cần phải coi“Thẩm phán là một dạng công chức đặc biệt” [65]

Từ các lý do trên tác giả đưa ra khái niệm về Thẩm phán: “Thẩm phán là

công chức danh tư pháp đặc biệt được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, nhân danh Nhà nước có vai trò bảo vệ công lý, công bằng và bình ổn các mối quan hệ xã hội”

Với quy định trên thì không có một công chức nào có thể thay thế hoặc thực hiện thay nhiệm vụ của Thẩm phán được

1.1.2 Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS

TTCC là việc phát hiện, lựa chọn và tập hợp chứng cứ đưa vào hồ sơ vụ án

để Tòa án nghiên cứu, đánh giá, sử dụng phục vụ cho việc giải quyết VADS một cách đúng đắn Đây là công việc rất quan trọng, tạo cơ sở cho quá trình chứng minh, có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết VADS Trong TTDS Việt Nam hiện hành, hoạt động TTCC có thể được tiến hành bởi nhiều loại chủ thể tùy thuộc vào vị trí, vai trò, chức năng của từng chủ thể và từng giai đoạn tố tụng khác nhau Tác giả đề cập đến vai trò TTCC của Thẩm phán khi tiến hành GQVA ở giai đoạn sơ thẩm

Đồng thời với việc quy định nghĩa vụ CCCC của đương sự, BLTTDS năm

2004, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 quy định trách nhiệm TTCC của Tòa án và chỉ được tiến hành trong những trường hợp do Bộ luật này quy định (Điều 6, Khoản 2 Điều 85BLTTDS)

Quy định về trách nhiệm TTCC của Tòa án (Thẩm phán) hay sự cần thiết của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ là xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội

cụ thể của Việt Nam; do vậy tác giả đồng ý với quan điểm của Ths Nguyễn Văn Lin và Ths Nguyễn Thị Hạnh, xuất phát từ các điều kiện sau đây [22]:

Thứ nhất: Hệ thống tư pháp Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo truyền

thống pháp luật lục địa Trong đó, TTDS thể hiện tính chất pha trộn giữa tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi nhưng yếu tố xét hỏi nổi trội hơn Thẩm phán được

Trang 18

phân công GQVA là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án và trên cơ sở hồ sơ này để GQVA Quá trình xác minh, TTCC cũng chính là quá trình xây dựng hồ

sơ VADS Chính vì vậy, hồ sơ VADS là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng trong GQVA Ngoài việc phải đảm bảo việc giải quyết VADS khách quan, công bằng, đúng pháp luật, Thẩm phán còn có trách nhiệm GQVA đúng thời hạn Mặt khác, lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, TTCC có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không Và ở đây, trách nhiệm của Thẩm phán là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn

cứ cho việc GQVA Do đó, mặc dù BLTTDS quy định các đương sự có nghĩa vụ CCCC để Tòa án xem xét GQVA, nhưng nếu “phó thác” toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho các đương sự để giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh của Tòa

án, thì sẽ không thực tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta Vì như vậy có thể làm cho vụ án bị giải quyết thiếu khách quan, làm lợi cho đương sự này nhưng lại xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của đương sự khác

Thứ hai: Trong điều kiện hiện nay, khả năng tự bảo vệ của các đương sự trong

VADS còn rất yếu, sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn chế Nhất là đương sự

ở những vùng nông thôn và miền núi, họ không có điều kiện mời luật sư để bảo

vệ quyền lợi cho mình Do đó, khi có tranh chấp dân sự xảy ra, họ không biết phải có các chứng cứ, tài liệu gì để bảo vệ quyền lợi của mình, tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu, để cung cấp cho Tòa án Trong khi đó, chúng ta chưa đủ điều kiện quy định việc tham gia tố tụng của luật sư là bắt buộc, nên nếu quy định nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về đương sự có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chính vì vậy, quy định Nhà nước (Tòa án) phải hỗ trợ đương sự trong việc TTCC là hợp lý

Thứ ba: Ở nước ta, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phổ cập các tài liệu,

giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, nhà ở còn hạn chế; các

Trang 19

chứng cứ hiện đang do một số cơ quan Nhà nước có trách nhiệm bảo quản, quản

lý Nhiều tài liệu, giấy tờ, văn bản chưa có điều kiện để công khai cho công dân Thêm nữa, việc quản lý hành chính còn cồng kềnh, quan liêu; máy móc, trang thiết bị chưa cho phép phổ cập tất cả mọi thông tin này đến với mọi người dân Nhiều trường hợp, việc TTCC đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý là rất khó khăn Trong rất nhiều vụ án, mặc dù đương sự đã mất nhiều công sức, thời gian đi lại yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việc giải quyết VADS để họ giao nộp cho Tòa án, nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý do; hoặc các cơ quan, tổ chức cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không đúng thời hạn Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, cụ thể là Tòa

án, với tính chất là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp, hỗ trợ đương sự TTCC đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập được

Với vị trí là người tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ xây dựng hồ sơ vụ án, giải quyết VADS đúng pháp luật, đúng thời hạn, nên Thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc TTCC Thẩm phán là người phải xác định đối tượng chứng minh, các chứng cứ cần thu thập của vụ án, trên cơ sở đó, Thẩm phán thúc đẩy các bên đương sự chủ động tiến hành TTCC để cung cấp cho Tòa án, đồng thời Thẩm phán tiến hành các hoạt động tố tụng để TTCC hỗ trợ đương sự và củng

cố chứng cứ VADS theo quy định của pháp luật; có trách nhiệm hòa giải để cho các đương sự thương lượng thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Như

quan điểm Ths Vũ Thu Hiền: “Thẩm phán như là một trọng tài không thiên vị,

một người phán xử trung lập, Thẩm phán nghe và tạo điều kiện cho các bên cơ hội thích hợp để trình bày chứng cứ, luận điểm để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết tại phiên tòa, trên cơ sở đó Thẩm phán đưa ra các phán quyết cuối cùng một cách công tâm” [18]

Theo quan điểm tác giả, Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự Thẩm phán là người thúc đẩy các đương sự cung cấp chứng cứ và hỗ trợ đương sự thu

Trang 20

thập chứng cứ, đồng thời là trọng tài công tâm đưa ra phán quyết đánh giá chứng

cứ một cách khách quan mang tính chất bắt buộc thực hiện đối với các bên đương sự

1.2 Những nguyên tắc TTDS liên quan đến vai trò của Thẩm phán

Để thể hiện được sức mạnh của một nền pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức thì nhà làm luật

đã xây dựng một số nguyên tắc tố tụng tạo ra hành lang pháp lý cho việc áp dụng pháp luật tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự Trong quá trình GQVA những người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS, mọi biểu hiện không tuân thủ đều

có thể dẫn đến sai lầm trong quá trình giải quyết các VADS

Các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS Việt Nam được thể chế hoá tại Chương II “Những nguyên tắc cơ bản” của BLTTDS (từ Điều 3 đến Điều 24), trong các nguyên tắc cơ bản này, có những nguyên tắc không chỉ được ghi nhận trong pháp luật TTDS mà còn được thể hiện trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp Trong phạm vi đề tài tác giả chỉ tập trung giới thiệu nội dung chủ yếu của các nguyên tắc TTDS thể hiện hoặc liên quan đến vai trò của Thẩm phán trong hoạt động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS bao gồm các nguyên tắc cụ thể sau:

Pháp chế luôn là yêu cầu đặt ra đối với mọi nhà nước hiện đại, Điều 8

Hiến pháp năm 2013 quy định [36]: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo

Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật” Nội dung

chủ yếu của pháp chế là các hoạt động của nhà nước và xã hội đều dựa trên cơ sở pháp luật nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Mọi hoạt động trong TTDS cũng không nằm ngoài ngoại lệ này

Nguyên tắc pháp chế XHCN trong TTDS được quy định trong BLTTDS

[45]: Mọi hoạt động TTDS của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng,

Trang 21

của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này Nội dung nguyên tắc được biểu hiện cụ thể trong TTDS như sau:

Người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của BLTTDS, chỉ được áp dụng những biện pháp

mà pháp luật yêu cầu và cho phép để tiến hành các hoạt động của mình nhằm giải quyết các VADS Hay nói cách khác, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thực hiện đầy đủ và đúng các quyền tố tụng của mình, đồng thời nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ tố tụng khi tiến hành hoạt động TTDS

để giải quyết VADS theo đúng trình tự, thủ tục luật định

Có thể nói rằng quá trình TTDS là một xâu chuỗi bao gồm nhiều hành vi

tố tụng có tính chất khác nhau do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện Nguyên tắc pháp chế XHCN làm cho quá trình đó diễn ra theo đúng thứ tự trước sau theo quy định của BLTTDS, mà không hề bị đảo lộn Do vậy, hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không bị chồng chéo về chức năng, thẩm quyền Với vai trò như vậy, ý nghĩa trước hết của nguyên tắc này trong TTDS là giúp cho quá trình TTDS trong thực tế được vận hành một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả cao Nguyên tắc pháp chế còn là cơ sở quan trọng cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia TTDS Nguyên tắc này đảm bảo việc giải quyết các VADS nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật

1.2.2 Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

Nguyên tắc này được quy định tại điều 103 Hiến pháp năm 2013 và bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Xét xử là hoạt động đặc thù do TAND thực hiện nhằm bảo vệ pháp chế XHCN, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân Bằng bản án, quyết định của tòa án mà các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được hưởng các quyền hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định BLTTDS năm 2004 đã cũng cụ thể hóa nguyên tắc trên

tại Điều 14: Tòa án xét xử tập thể VADS và quyết định theo đa số Vì vậy, việc

Trang 22

xét xử của tòa án phải khách quan, đúng pháp luật Muốn có bản án, quyết định khách quan, đúng pháp luật đòi hỏi phải phát huy trí tuệ tập thể Do đó khi xét

xử tất cả các vụ án, ở tất cả các trình tự tố tụng đều phải thành lập hội đồng xét

xử Các văn bản pháp luật về tố tụng đã quy định cụ thể thành phần của Hội đồng xét xử ở từng cấp xét xử:

- Theo luật định thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, trường hơp đặc biệt Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán và

ba hội thẩm Tòa chuyên trách Tòa án tối cao xét xử thì thành phần Hội đồng xét xử là ba Thẩm phán và hai hội thẩm

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán, trường hợp đặc biệt có thêm hai hội thẩm nhân dân

- Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự Trung ương gồm có ba Thẩm phán Nếu Uỷ ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì số thành viên tham gia xét xử phải chiếm hai phần ba tổng số các thành viên của Uỷ ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán

Nguyên tắc này phát huy được trí tuệ tập thể và đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án thận trọng, khách quan, toàn diện, chống độc đoán Hội đồng xét xử làm việc tập thể và chịu trách nhiệm phán quyết của mình Mọi thành viên Hội đồng xét xử ngang quyền nhau khi giải quyết những vấn đề phát sinh tại phiên tòa Khi quyết định bản án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Trong Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thẩm phán biểu quyết sau cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu trong

hồ sơ vụ án

lập và chỉ tuân theo pháp luật

Nguyên tắc độc lập trong xét xử đều được quy định trong năm bản Hiến pháp của nước ta (Điều 69 Hiến pháp 1946, Điều 100 Hiến pháp 1959, Điều 131 Hiến pháp 1980, Điều 130 Hiến pháp 1992 và khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013) Trong Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946 và các luật tổ chức TAND năm 1960, 1981, 1992 và 2014 cũng đều ghi nhận nguyên tắc này

Trang 23

Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế XHCN, nó bảo đảm cho TAND xét xử khách quan, đúng pháp luật để bảo vệ trật tự pháp luật XHCN

Nguyên tắc này đòi hỏi khi xét xử các thành viên trong Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong suy nghĩ, trong việc xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ

và đưa ra các kết luận về vụ án Trong quá trình nghị án Thẩm phán giải thích cho Hội thẩm nhân dân biết những quy định của pháp luật và đường lối xét xử cần được áp dụng xử lý đối với vụ án đó nhưng Thẩm phán phải tôn trọng ý kiến, quan điểm của Hội thẩm và Thẩm phán phải phát biểu và biểu quyết sau cùng để tránh trường hợp Hội thẩm ỉ vào quyết định của Thẩm phán, chỉ việc đồng ý và biểu quyết theo quan điểm của Thẩm phán Trong trường hợp thành viên của Hội đồng xét xử có ý kiến khác nhau thì vẫn có quyền bảo lưu ý kiến của mình nếu ý kiến đó là thiểu số Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày

ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào trong hồ sơ

Độc lập xét xử không có nghĩa là xét xử tuỳ tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật

Nguyên tắc này còn được thể hiện ở nội dung Hội đồng xét xử độc lập với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân Trong quá trình xét xử cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân không được can thiệp hoặc tác động đến thành viên của Hội đồng xét xử Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào đều bị coi là bất hợp pháp Sự độc lập còn được thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét xử Toà án cấp trên không được quyết định hoặc gợi ý cho Toà án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể Đồng thời khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cũng không bị phụ thuộc bởi các nhận định những phán quyết của Toà án cấp dưới

Theo quan điểm của Ts Nguyễn Quang Hiền: “Độc lập” là một mình tự

lập, hành động không phụ thuộc vào người khác [17]

Tóm lại, đây là một trong những nguyên tắc tố tụng quan trọng bậc nhất đảm bảo cho việc giải quyết các VADS nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật

Trang 24

Theo quan điểm của Ngô Vĩnh Bạch Dương: “Chứng minh trong tố tụng

là một quá trình gồm thu thập, cung cấp, sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ cơ

sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế các yêu cầu của các bên trong vụ án Mỗi một chủ thể tham gia vào quá trình này có những quyền và nghĩa vụ riêng biệt, tùy thuộc vào vị trí tố tụng của họ Khái niệm nghĩa vụ chứng minh (mà người ta thường gọi là Onus probandi theo tiếng La tinh, Beweislast theo tiếng Đức, Burden of proof theo tiếng Anh, hay La charge de la preuve theo tiếng Pháp) được hình hành nhằm xác định bổn phận phải gánh vác của một chủ thể trong việc chứng tỏ hoặc phản bác một vấn đề trong vụ án Thông thường, nói đến nghĩa vụ chứng minh, người ta nói đến nghĩa vụ chứng minh nội dung và nghĩa

vụ chứng minh hình thức” [7]

Hoạt động xét xử các VADS là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự: người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các VADS, kinh tế, lao động, trước đây quy định Toà án phải giữ vai trò tích cực và chủ động trong việc xác minh, TTCC, theo đó Toà án không chỉ giới hạn ở những tài liệu, chứng cứ đã được đương sự xuất trình mà còn có thể (nếu xét thấy cần thiết) áp dụng các biện pháp TTCC do pháp luật quy định để bảo đảm cho việc GQVA được chính xác Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến tình trạng Toà án lạm dụng quyền lực, thiên vị cho một bên

hoặc “làm thay” cho các bên đương sự khi giải quyết vụ việc và hậu quả là quy

định về nghĩa vụ CCCC và chứng minh của đương sự trong TTDS chỉ còn mang tính hình thức, không còn mấy ý nghĩa trong thực tiễn Để khắc phục một phần những khiếm khuyết trong các Pháp lệnh trước, đồng thời mở rộng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự cũng như tăng cường yếu tố tranh tụng trong TTDS, Điều 6 BLTTDS quy định nguyên tắc CCCC và chứng minh trong TTDS như sau:

Trang 25

“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ CCCC cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ CCCC, chứng minh như đương sự 2 Toà án chỉ tiến hành xác minh, TTCC trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”

Nội dung chủ yếu của nguyên tắc này là:

- Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết mà mình

đã viện dẫn làm cơ sở cho những yêu cầu và phản đối của mình, hay nói một

cách giản đơn hơn: “Ai khẳng định một sự việc gì thì phải chứng minh sự việc

ấy” Nghĩa vụ này cũng được áp dụng trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ

chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Nhưng cần lưu ý là, nguyên tắc chung về nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự cũng có những ngoại lệ Những ngoại lệ này

có thể được quy định ngay trong BLTTDS (ví dụ: như quy định tại Điều 80 BLTTDS về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh) hoặc có thể do pháp luật nội dung quy định

- Đương sự có nghĩa vụ chứng minh nên khi không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó (khoản 4 Điều 79) Hậu quả đó có thể là yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu mà đương sự đưa ra không được Toà án chấp nhận hoặc chỉ được Toà án chấp nhận một phần…;

Đăc điểm này khác biệt hoàn toàn với tố tụng hình sự bởi: Điều 11 Bộ luật

tố tụng hình sự quy định :“…trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ

quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình là vô tội” [43] Vì vậy, trong vụ án hình sự nghĩa vụ chứng minh tội

phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng

- Vai trò của Toà án trong việc xác minh, TTCC được đổi mới theo hướng Toà án chỉ áp dụng một hoặc một số biện pháp TTCC trong những trường hợp luật quy định và việc tiến hành các biện pháp TTCC của Tòa án phải tuân theo

Trang 26

trình tự, thủ tục chặt chẽ do Bộ luật này quy định (từ khoản 2 Điều 85 - Điều 94); trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán không được tự mình xác minh, thu thập mà phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85)

1.2.5 Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự

Thực hiê ̣n Nghi ̣ quyết 49- NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về

Chiến lươ ̣c cải cách tư pháp đến năm 2020, về viê ̣c “bảo đảm cho đương sự thực

hiê ̣n quyền quyết định và tự định đoạt luôn được tôn trọng” [10]

Quyền quyết đi ̣nh và tự đi ̣nh đoa ̣t của đương sự là quyền mà theo đó, đương sự tự lựa cho ̣n và quyết đi ̣nh các hành vi được pháp luâ ̣t quy đi ̣nh nhằm bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia giải quyết vu ̣ viê ̣c dân sự

Trong TTDS, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện ở khả năng những người tham gia tố tụng tự do định đoạt các quyền dân sự của mình

và các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại Đó cũng là quan niệm chung nhất về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự được nhiều luật gia trên thế giới chia sẻ

Chính vì vậy Điều 5 BLTTDS quy định nguyên tắc quyền quyết định và

tự định đoạt của đương sự: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu

cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết

vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó; Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”

Nguyên tắc này có đặc điểm khác biệt với trong vụ án hình sự, sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt dựa trên các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, phạm vi xét xử tại phiên toà hình sự sơ thẩm dựa trên nội dung

Trang 27

quyết định truy tố của VKS đối với các bị can, hai bên buộc tội và gỡ tội không

thể thoả thuận với nhau về vụ án để chấm dứt quá trình tố tụng

Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cốt lõi, đặc trưng nhất của TTDS và được biểu hiện dưới những nội dung chủ yếu sau đây:

- Toà án không tự đưa các tranh chấp dân sự ra Toà để giải quyết, việc khởi kiện hay không khởi kiện là do các bên đương sự tự quyết định Chính các bên đương sự vừa là người quyết định việc khởi động tiến trình tố tụng bằng cách đưa VADS ra Toà, đồng thời cũng là người quyết định các hành vi tố tụng tiếp theo, như: Nguyên đơn có thể rút đơn khởi kiện hoặc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình; bị đơn có thể đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, thừa nhận hoặc không phản đối những chứng cứ, yêu cầu; người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng khi đã hình thành người khởi kiện , người bi ̣ kiê ̣n , để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng do chính họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự hoặc theo yêu cầu của toà án;

sự kiện mà bên nguyên đơn đưa ra; các bên đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự một cách tự nguyện, không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; tự mình quyết định việc kháng cáo hay không kháng cáo phúc thẩm…;

- Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ trong phạm vi mà các bên đương sự có yêu cầu Toà án thụ lý đơn khởi kiện chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện và chỉ trong phạm vi những bị đơn đã được nêu trong đơn khởi kiện đó (ngoại lệ là đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Toà án có quyền tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu mà không phụ thuộc vào yêu cầu của các bên đương sự);

Trang 28

- Thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ được bắt đầu khi và chỉ khi có đơn kháng cáo của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện (hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát) đối với bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Nếu người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo (hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị) thì Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ việc Bị giới hạn bởi nội dung kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm chỉ có quyền xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị (Điều 263)

1.3 Mối quan hệ của Thẩm phán với những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

1.3.1 Mối quan hệ của Thẩm phán với người tiến hành tố tụng

Thẩm phán giữ vai trò chủ đạo trong giải quyết các vụ việc dân sự nói riêng và các vụ án khác nói chung Xem xét các mối quan hệ của Thẩm phán với những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quan hơn về vị trí, vai trò của Thẩm phán Đây là mối quan hệ đã được BLTTDS quy định rất rõ ràng Bên cạnh mối quan hệ này Thẩm phán còn

có mối quan hệ hành chính với Chánh án…

Mối quan hệ của Thẩm phán với những người tiến hành tố tụng bao gồm: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Viện kiểm sát và Thư ký tòa án

- Mối quan hệ của Thẩm phán với Thẩm phán Đây là mối quan hệ phát sinh trong hoạt động xét xử VADS Trong một VADS, thành phần của Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm trong trường hợp đặc biệt có thể gồm hai Thẩm phán, còn trong Hội đồng xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm gồm ba Thẩm phán Khi đó, Thẩm phán tham gia cũng phải nghiên cứu hồ sơ, xem xét chứng

cứ, lên kế hoạch hỏi… Tóm lại cũng giống như Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, nhưng chỉ khác là không giữ vai trò điều khiển phiên tòa và giữ kỷ luật tại phiên tòa Mối quan hệ này được hình thành trong quá trình tố tụng để GQVA Ngoài

Trang 29

ra còn có mối quan hệ giữa Thẩm phán Chủ toạ phiên toà với Thẩm phán dự trường hợp phải thay đổi Thẩm phán

- Mối quan hệ của Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân: Hội thẩm nhân dân

là người đại diện cho nhân dân tham gia vào công tác xét xử, giám sát hoạt động của Toà án góp phần làm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật, công bằng và bảo đảm pháp chế Hội thẩm nhân dân là người được bầu và được cử theo quy định của pháp luật để cùng Toà án thực hiện nhiệm vụ xét xử Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 đều quy định: Việc xét xử của Toà án có Hội thẩm nhân dân, Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật

Mối quan hệ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ phát sinh từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi kết thúc phiên toà

Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận, thông qua các vấn đề liên quan đến vụ

án, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử Nhưng khi quyết định bản án Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, để cùng với Thẩm phán đưa ra một bản án chính xác, công bằng và tuân thủ đúng quy định của pháp luật Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm là mối quan hệ độc lập theo nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và tuân theo pháp luật, độc lập với chính những thành viên trong Hội đồng xét xử Trong quá trình nghị án, Hội thẩm là người nêu ý kiến trước về việc GQVA và biểu quyết giữa ba thành viên Hội đồng xét xử về từng vấn đề cụ thể trong vụ việc Mặc dù vậy, Thẩm phán phải có trách nhiệm phân tích, giải thích những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật mà các vị Hội thẩm chưa nắm rõ Vì Hội thẩm nhân dân không phải là người được đào tạo chuyên về pháp luật nên khi xét xử họ thường thiên

về cảm tính và niềm tin nội tâm

- Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Thư ký Tòa án Thư ký Tòa án làm những công việc đảm bảo cho Thẩm phán Tòa án thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật và quan hệ đó chỉ hình thành trong quá trình tố tụng Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thư ký phải giúp Thẩm phán thực hiện

Trang 30

một số tác nghiệp như: Triệu tập đương sự, ghi biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, tống đạt văn bản tố tụng Nhiệm vụ chính và quan trọng nhất được thể hiện tại phiên toà đối với Thư ký Toà án ghi chép thành văn bản diễn biến của phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc và cuối cùng cùng với Thẩm phán ký vào biên bản phiên tòa Giữa Thư ký và Thẩm phán phối hợp chặt chẽ với nhau sẽ tránh được tình trạng phải hoãn phiên toà do lỗi chủ quan của Toà án, đảm bảo vụ

án được xét xử theo đúng thời hạn quy định của pháp luật

- Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Viện kiểm sát Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Viện kiểm sát sử dụng chức năng này để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành

tố tụng và người tham gia tố tụng Trong mối quan hệ với Thẩm phán, Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà, có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động kiểm sát xét xử, giám sát Hội đồng xét xử trong việc thực hiện các nguyên tắc và trình

tự tố tụng theo quy định pháp luật Kể từ khi BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 có hiệu lực, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong TTDS đã có những thay đổi nhất định Bộ luật đã giới hạn phạm vi tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát, cụ thể theo Khoản 2 Điều 21 BLTTDS thì:

“Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành TTCC hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần” Như vậy, Viện kiểm sát không tham gia 100% các phiên tòa sơ

thẩm và phúc thẩm dân sự như tình thần của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Viện kiểm sát không có thẩm quyền khởi tố VADS, lao động trong một

số trường hợp như luật quy định trước năm 2004, Viện kiểm sát cung không có quyền tự xác minh TTCC, không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, không làm văn bản phản đối quyết định hòa giải thành, không tham gia 100% các phiên tòa Những quy định đổi mới này hoàn toàn xuất phát từ tinh thần tôn trọng các bên đương sự và đảm bảo hoạt động có hiệu quả của Viện kiểm sát Điều này

Trang 31

càng khẳng định tính tự chủ, tầm quan trọng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết VADS bởi những thẩm quyền mà Viện kiểm sát đã bị giới hạn đều được quy định trong phạm vi các quyền năng Thẩm phán được thực hiện Tại phiên tòa Kiểm sát viên phải tuân theo sự điều khiển của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa về mặt trình tự tố tụng

1.3.2 Mối quan hệ của Thẩm phán với người tham gia tố tụng

Mối quan hệ của Thẩm phán với những người tham gia tố tụng bao gồm: Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người đại diện của những người tham giá tố tụng

- Mối quan hệ của Thẩm phán với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Theo quy định pháp luật thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bao gồm: Luật sư tham gia TTDS theo quy định của pháp luật về luật sư; Trợ giúp viên pháp lý, người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý

và công dân Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện của pháp luật TTDS Người bảo vệ có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình TTDS họ có quyền: xác minh, TTCC và CCCC cho Toà án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự Bởi vậy, trong quá trình tác nghiệp của Luật sư tại phiên toà thì Thẩm phán phải tạo điều kiện để họ thực hiện những quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này; tham gia hoà giải, tham gia phiên toà hoặc có văn bản bảo vệ Thẩm phán cần đảm bảo về mặt thời gian, tạo điều kiện để họ thực hiện quyền của mình tại phiên tòa Tuy nhiên, họ cũng chịu

sự chi phối, điều khiển của Thẩm phán về trình tự tố tụng, phải có mặt khi có

Trang 32

giấy triệu tập của Tòa, chỉ được phép tranh luận khi Thẩm phán chủ tọa cho phép, tôn trọng tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa

- Mối quan hệ của Thẩm phán với đương sự Đây là mối quan hệ chỉ phát sinh khi giải quyết VADS Quyền và nghĩa vụ của đương sự đã được quy định rất

cụ thể trong BLTTDS như: Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá; Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc

do Tòa án thu thập… Trước pháp luật họ đều được đối xử một cách bình đẳng, Thẩm phán phải xử sự đúng mức, tôn trọng ý kiến của các bên Không áp đặt chủ quan những quan điểm của Thẩm phán có thể dẫn tới những định kiến làm sai lệch

vụ án Tại phiên tòa, các đương sự phải tuân thủ theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, đảm bảo cho các bên có quyền bình đẳng tham gia tranh luận tại phiên tòa Trong trường hợp đương sự không tham gia được thì có quyền cử người đại diện của họ tham gia và người đại diện có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như đương

sự

- Mối quan hệ của Thẩm phán với người giám định, người phiên dịch Khi thấy cần thiết phải trưng cầu giám định về một vấn đề nào đó trong vụ án, Thẩm phán chủ động liên hệ với cơ quan tổ chức giám định để họ cử Giám định viên thực hiện theo yêu cầu giám định Thẩm phán phải đưa ra quyết định trưng cầu giám định, người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu vụ án có liên quan đến đối tượng giám định, yêu cầu Thẩm phán cung cấp tài liệu cần thiết, tham gia vào việc xét hỏi và đặt câu hỏi liên quan đến đối tượng giám định tại phiên toà

Trong trường hợp người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt thì Thẩm phán phải mời người phiên dịch cho họ (nếu như họ không thoả thuận được về việc lựa chọn người phiên dịch) hoặc đương sự là người câm điếc Thẩm phán có trách nhiệm giải thích thêm về những vấn đề cần phiên dịch khi người phiên dịch yêu cầu Mặc dù luật tố tụng không quy định người phiên dịch có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án nhưng trên thực tế khi cần tìm hiểu về những vấn

Trang 33

đề chuyên môn, những thuật ngữ pháp lý, những lĩnh vực mới hoặc những cử chỉ cần diễn đạt để hiểu về một khái niệm, một từ nào đó thì Thẩm phán có thể cung cấp cho họ những tài liệu cần thiết hoặc có thể cho họ nghiên cứu hồ sơ vụ án trọng phạm vi nhất định

- Mối quan hệ giữa Thẩm phán với người làm chứng Theo yêu cầu của đương sự hoặc xét thấy cần thiết Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng để làm rõ các tình tiết liên quan đến nội dung vụ án mà người làm chứng biết được Thẩm phán xem xét mối quan hệ của người làm chứng với các đương

sự có thực sự vô tư trong lời khai của người chứng với các đương sự còn lại không Nếu trong trường hợp lời khai của người làm chứng với các đương sự thì Thẩm phán cho tiến hành đối chất với các đương sự hoặc giữa những người làm chứng với nhau để tìm ra những điểm mâu thuẫn trong lời khai của họ nhằm tìm

ra sự thật khách quan của vụ án Vì lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn của chứng cứ nên đòi hỏi Thẩm phán khi thu thập phải công tâm khách quan, không áp đặt trong việc lấy lời khai của người làm chứng

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật Việt Nam về vai trò của Thẩm phán

Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trọng đến công tác Tòa án Người coi Tòa án là cơ quan trọng tâm của ngành tư pháp, Tư pháp là một hệ thống trọng yếu để bảo vệ chính quyền Chính vì vậy, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới Trong đó, các văn bản về xây dựng hệ thống tư pháp mới và thủ tục tố tụng được đặc biệt chú trọng

Đó là Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945 thiết lập các Tòa án quân sự đầu tiên ở một số thành phố - là cơ quan xét xử của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để xét xử mọi hành vi phương hại đến nền độc lập nước nhà Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 dành 11 điều quy định về thủ tục tố tụng, tạm thời giữ những luật lệ hiện hành của chế độ cũ

Quy định các ngạch Thẩm phán, theo quy định theo Sắc lệnh số 13/SL

Trang 34

ngày 24/01/1946:

+ Ngạch Thẩm phán được chia làm hai ngạch: Thẩm phán sơ cấp làm việc

ở Tòa sơ cấp; Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm Các Thẩm phán đệ nhị cấp lại chia thành hai loại: Thẩm phái xét xử và Thẩm phán buội tội Thẩm phán xét xử có thể được chuyển sang làm Thẩm phán buộc tội và ngược lại

+ Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán: Sắc lệnh số 13 cũng quy định vào ngạch Thẩm phán phải có đủ 3 điều kiện: Có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông, đàn bà; có hạnh kiểm tốt và chưa can án bao giờ Ngạch Thẩm phán sơ cấp có 5 hạng, Thẩm phán phải ít nhất 21 tuổi, có bằng tú tài và phải thi trúng tuyển Ngạch Thẩm phán đệ nhị cấp có 7 hạng, tiêu chuẩn Thẩm phán phải

ít nhất 24 tuổi, có bằng Luật khoa cử nhân và trúng tuyển kỳ thi

Sắc lệnh còn quy định thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán: các Thẩm phán

đệ nhị cấp do Chủ tịch nước Việt Nam bổ nhiệm, còn các Thẩm phán sơ cấp do

Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm

Theo Sắc lệnh số 13/SL Thẩm phán có quyền hạn rất lớn trong xét xử Mặc dù quy định về tham gia của Phụ thẩm Tuy văn bản mang tính sơ khai chú trọng về thẩm quyền giải quyết các vụ án về hình sự nhưng cũng đã đề cập đến

xử việc Dân sự Cụ thể tại Điều thứ 17 quy định về xét xử Dân sự và thương sự:

Trang 35

ông Thẩm phán sơ cấp có thêm nhiệm vụ kiêm phụ trách tư pháp cảnh sát trong nội hạt mình dưới quyền chỉ hủy của ông biện lý…

Ngày 9/11/1946 Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã thông qua bản Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp đã ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta; trong đó có các nguyên tắc của Luật TTDS sau nay là: Nguyên tắc các phiên tòa đều phải mở công khai, trừ trường hợp đặc biệt (Điều 67), Nguyên tắc trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (Điều 69) Theo Hiến pháp 1946 thì hệ thống cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: Tòa án tối cao; các tòa phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp

Hiến pháp quy định các viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm với nhiệm kỳ làm việc suốt đời [32] Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 85/SL ngày 25.5.1950 về cải cách bộ máy tư pháp và hoạt động tố tụng được ban hành Theo đó đã thay đổi hoàn toàn tên gọi của các Toà án, các Toà án sơ cấp, Đệ nhị cấp, Thượng thẩm đổi thành TAND huyện, Tòa án nhân dân tỉnh và TAND liên khu

Tại Thông tư 141/HCTP ngày 05/02/1957 thì “Đối với những VADS, ông

Chánh án có nhiệm vụ điều tra, lập hồ sơ”

Đồng thời để phục vụ cho hoạt động xét xử Tại sắc lệnh số 158 ngày 17/11/1950 quy định về việc bổ dụng cán bộ công nông vào ngạch Thẩm phán

và thăng bổ các Thẩm phán huyện Theo đó những cán bộ công nông có thành tích, kinh nghiệm có thể được bổ dụng vào một ngạch Thẩm phán thích đáng theo đề nghị của Hội đồng tuyển trạch (Điều 1); các Thẩm phán Toà án nhân dân huyện nếu có năng lực và tinh thần phục vụ có thể được thăng bổ lên ngạch Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh theo đề nghị của Hội đồng tuyển trạch (Điều 2)

Giai đoạn này trong Toà án vừa có Thẩm phán thực hiện quyền công tố vừa có Thẩm phán thực hiện quyền xét xử, các Thẩm phán này có thể đổi chỗ cho nhau, vì thế việc kiểm tra giám sát công việc xét xử rất khó khăn Thực tế ở

Trang 36

nhiều địa phương không có đủ số lượng Thẩm phán để thực hiện từng giai đoạn

tố tụng theo luật định; thậm chí có Toà án chỉ có một Thẩm phán vừa đảm đương nhiều nhiệm vụ trong giải quyết VADS Do Thẩm phán phải đảm đương từ khâu đầu cho đến khâu cuối, nên dễ có những sai sót mà không biết, dẫn đến có nhiều

vụ đã bị xử sai

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980

Hiến pháp năm 1959 ra được ban hành đã khẳng định Toà án nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà

án quân sự các cấp là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Các Toà án nhân dân địa phương ở đây bao gồm Toà án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là Toà án cấp tỉnh), Toà án nhân dân huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Toà án cấp huyện) và Toà án nhân dân khu tự trị; trường hợp đặc biệt Quốc hội có thể thành lập Toà án đặc biệt [33]

Có thể nói, sau khi Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm

1960 ra đời đã có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu tổ chức, hoạt động của hệ thống Toà án cũng như các quy định liên quan đến đội ngũ Thẩm phán so với giai đoạn 1945-1959 Hoạt động công tố trước đây được giao cho Toà án nay được tách ra

và giao cho Viện kiểm sát nhân dân Toà án nhân dân tối cao có chức năng quản

lý các Toà án địa phương về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý đội ngũ Thẩm phán

về mặt tổ chức

Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động: theo Hiến pháp năm 1959 Thẩm phán thực hiện theo chế độ bầu, thực hiện nguyên tắc xét xử Toà án xét xử tập thể; việc xét xử tại các Toà án đều công khai trừ những trường hợp đặc biệt do luật định; Hội thẩm tham gia vào việc xét xử và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Trong giai đoạn này vẫn đề cao nguyên tắc khi xét xử Toà án có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định về điều kiện để được bầu làm Thẩm phán đó là: Công dân có quyền bầu cử và ứng cử, từ 23 tuổi trở lên, có lập trường cách mạng vững vàng và nắm vững chính sách của Đảng, Nhà nước, có

Trang 37

tinh thần công tác và tư tương, đạo đức tốt, có quan hệ với quần chúng nhân dân Nhiệm kỳ của Thẩm phán cũng có sự thay đổi, nhiệm kỳ của Thẩm phán cấp bầu

ra [37] Qua đây có thể thấy yếu tố về phẩm chất chính trị, trung thành với Tổ quốc với nhân dân luôn được đặt lên hàng đầu yếu tố về chuyên môn nghiệp vụ không phải là yếu tố bắt buộc đối với Thẩm phán

Quy định về thành phần Hội đồng xét xử gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân tham gia Đối với những vụ án nhỏ, đơn giản xét xử theo trình tự sơ thẩm thì do một Thẩm phán tiến hành

Trong giai đoạn này, vấn đề hòa giải tại Tòa án đã được quy định khá đầy

đủ và là giai đoạn tố tụng bắt buộc trước khi Tòa án xét xử sơ thẩm VADS

Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 hướng dẫn việc hòa giải trong TTDS thì: Đối với những vụ kiện mà việc hòa giải là một giai đoạn tố tụng bắt buộc thì Thẩm phán của Tòa án sơ thẩm phải hòa giải và chỉ đưa ra xét xử tại tòa

sơ thẩm khi hòa giải không thành

Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974 hướng dẫn về công tác điều tra trong TTDS, quy định: Trong TTDS Thẩm phán điều tra, TTCC, lập hồ sơ khi có đơn kiện là nhiệm vụ Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn người dự sự) có quyền

đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Nhiệm

vụ của TAND là phải kiểm tra kỹ những chứng cứ mà các đương sự đã đề xuất, đồng thời phải chủ động tiến hành mọi biện pháp điều tra cần thiết làm sáng tỏ sự thật

Như vậy, có thể thấy trong giải đoạn này pháp luật quy định về vai trò của Thẩm phán được độc lập tiến hành điều tra và trực tiếp một mình xét xử các vụ án tranh chấp nhỏ và đơn giản Nêu cao vai trò điều tra của Thẩm phán

Trên cơ sở thực tiễn và đúc kết kinh nghiệm trong những năm đầu sau ngày Việt Nam được hoàn toàn thống nhất, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp

Trang 38

1980 - Hiến pháp của thời kỳ đất nước thống nhất, hoà bình và tái thiết đất nước Theo đó Quốc hội và uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua một loạt văn bản luật về hệ thống tư pháp dưới dạng Luật, Pháp lệnh như: Luật Tổ chức TAND năm 1981, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989… Hệ thống Toà án vẫn gồm các Toà án nhân dân ở 3 cấp [34]:

- Toà án nhân dân tối cao;

- Các Toà án nhân dân ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Các Toà án nhân dân ở huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

Đối với Thẩm quyền giải quyết các VADS vẫn được áp dụng các văn bản

do TAND tối cao ban hành cho đến khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (thông qua ngày 29/11/1989) Pháp lệnh này đã kế thừa các quy định về TTDS của pháp luật các thời kỳ trước; bổ sung thêm những quy định quan trọng nhằm phát triển và hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết và vai trò của Thẩm phán đối với việc GQVA; về nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ, quy

định tại Điều 3: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi

của mình Toà án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc GQVA được chính xác” Đặc

biệt pháp lệnh dành chương VII để quy định thủ tục điều tra vụ án trước khi hòa giải, xét xử

Ngoài ra, nhiều quy định còn được TANDTC hướng dẫn cụ thể trong nhiều văn bản Cụ thể là:

- Nghị quyết số 03 của HĐTPTANDTC ngày 19/10/1990 hướng dẫn thực hiện PLTTGQCVADS

Trang 39

- Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 01/01/1990 của VKSNDTC - Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTGQCVADS

TANDTC-Tuy nhiên các văn bản trên quy chung hoạt động của Tòa án mà không quy định cụ thể vai trò của Thẩm phán trong GQVA, nghiên về quá trình điều tra

và khởi tố vụ án dân sự, không đúng với bản chất của tranh chấp dân sự Hơn nữa chưa có văn điều chỉnh các qua hệ tranh chấp khác đang pháp sinh trong xã hội mới là tranh chấp về kinh tế, tranh chấp về lao động còn nhiều khó khăn, vướng măc Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, án tồn đọng nhiều khi chưa có văn bản điều chỉnh

Giai đoạn này đánh dấu những chuyển đổi mạnh mẽ của nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN từng bước được định hình, các quan hệ dân sự ngày càng phát triển mạnh mẽ và phức tạp Trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý về tổ chức và hoạt động của Tòa án qua các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp 1992 ra đời đã quy định cách thức tổ chức

và hoạt động của TAND phù hợp hơn với tình hình mới Trên cơ sở đó Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 được ban hành để điều chỉnh các quan

hệ tranh chấp mới phát sinh ngoài tranh chấp dân sự đơn thuần

Chính vì vậy, điểm đổi mới đầu tiên trong Hiến pháp 1992 là sự thay thế chế định bầu Thẩm phán trong giai đoạn trước bằng chế định bổ nhiệm Thẩm phán làm việc theo nhiệm kỳ 5 năm [35] Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩmTAND 1993 quy định chung: Chủ tịch nước bổ nhiệm đối với chức danh Thẩm phán

Ngày 25/12/2001, Quốc hội ra Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 và thông qua Luật tổ chức TAND năm 2002 thay thế Luật tổ chức TAND năm 1992, UBTVQH thông qua Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND năm 2002 thay thế Pháp lệnh Thẩm phán và Hội

Trang 40

thẩm TAND 1993 Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán vẫn được kế thừa trong hai văn bản luật này Trong hệ thống Tòa án còn được thành lập thêm các Tòa án chuyên trách khác như Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính thuộc TANDTC Việc quản lý các TAND địa phương về tổ chức đã giao hẳn cho TANDTC, không còn tình trạng vướng mắc trong việc thống nhất thực hiện giữa Bộ trưởng Bộ tư pháp

và Chánh án TANDTC nữa Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định bổ sung về

sự giám sát của nhân dân đối với Thẩm phán, quy định về mối quan hệ giữa Thẩm phán với các cơ quan, tổ chức và công dân [40] Khi thực hiện quyền hạn của mình, Thẩm phán có quyền liên hệ, thực hiện phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội khác nhằm giải quyết các VADS được chính xác, nhanh chóng, đảm bảo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân tham gia tố tụng Có thể nói, giai đoạn này các văn bản pháp luật liên quan đến vai trò của Thẩm phán trong giải quyết VADS đã được pháp điển hóa một cách có hệ thống tạo thành hành lang pháp lý, cơ sở pháp luật cho hoạt động tố tụng cũng như việc thực hiện các quyền hạn và trách nhiệm Thẩm phán trong việc thi hành các nhiệm vụ được giao

1.4.5 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Trên cơ sở kế thừa và phát triển ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó, đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Cộng hòa Pháp, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc … Ngày 27/5/2004, Quốc hội đã thông qua BLTTDS có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005 BLTTDS ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong lịch sử pháp luật TTDS Việt Nam, khẳng định sự nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập và tiếp thu thành quả của nền văn minh nhân loại BLTTDS với tính tiến bộ rõ rệt khi bổ sung quy định về quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong đó có Thẩm phán So với các văn bản trước đây, Bộ luật đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, đề cao vai trò của tổ chức xã hội và công dân trong việc tham gia tố tụng nhằm giải quyết VADS một cách chính xác, khách quan,

Ngày đăng: 15/06/2016, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Bộ (2014), Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự, Tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2014, tr. 7-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự
Tác giả: Mai Bộ
Năm: 2014
2. Thái Chí Bình , Một vài ý kiến về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án khi giải quyết vụ án dân sự, http://www.toaan.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án khi giải quyết vụ án dân sự
3. Thái Chí Bình, (2014), Vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện một vài quy định của BLTTDS, http://moj.gov.vn/mobile/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện một vài quy định của BLTTDS
Tác giả: Thái Chí Bình
Năm: 2014
4. Trương Hòa Bình, Chế định bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao một số nước trên thế giới, http://congly.com.vn/hoat-dong-toa-an/nghiep-vu/che-dinh-bo-nhiem-tham-phan-toa-an-toi-cao-mot-so-nuoc-tren-the-gioi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao một số nước trên thế giới
5. Trương Hòa Bình (2014), Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa án giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân – Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2014, tr. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 4), Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa án giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân
Tác giả: Trương Hòa Bình
Năm: 2014
7. Ngô Vĩnh Bạch Dương (2015), Nghĩa vụ chứng minh trong TTDS, http://nguoibaovequyenloi.com/User/ThongTin_ChiTiet.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa vụ chứng minh trong TTDS
Tác giả: Ngô Vĩnh Bạch Dương
Năm: 2015
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
6. Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và các ngạch thẩm phán Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w