Tuy nhiên, thực tiễn về nuôi con nuôi còn cho thấy nhiều bất cập, nhiều trường hợp nhận và nuôi dưỡng trẻ em làm con nuôi nhưng không làm thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Thị Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ Ở VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm chung 7
1.1.1 Khái niệm con nuôi và cha, mẹ nuôi 7
1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi và nuôi con nuôi thực tế 8
1.1.3 Đặc điểm của quan hệ nuôi con nuôi thực tế 10
1.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi thực tế 12
1.3 Pháp luật điều chỉnh về nuôi con nuôi thực tế ở Việt Nam 14
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc điều chỉnh nuôi con nuôi thực tế 14
1.3.2 Pháp luật của Nhà nước ta về nuôi con nuôi thực tế 17
CHƯƠNG 2:PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ 26
2.1 Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết nuôi con nuôi thực tế 26
2.1.1 Khi giải quyết viê ̣c nuôi con nuôi cần tôn tro ̣ng quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc 27
2.1.2 Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi tự nguyện, bình đẳng không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội 29
2.1.3 Chỉ cho làm con nuôi ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế trong nước 34
2.2 Điều kiện công nhận nuôi con nuôi thực tế 36
2.2.1 Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi 37
Trang 52.2.2 Đến thời điểm Luâ ̣t nuôi con nuôi có hiê ̣u lực quan hê ̣ cha , mẹ và con
vẫn tồn ta ̣i và cả hai bên đều còn sống 46
2.2.3 Giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc , nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha, mẹ và con 47
2.3 Đăng ký nuôi con nuôi thực tế 49
2.3.1 Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi thực tế 49
2.3.2 Hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi thực tế 50
2.3.3 Tiến hành đăng ký nuôi con nuôi thực tế 53
2.4 Hê ̣ quả của viê ̣c nuôi con nuôi thực tế 54
2.4.1 Quan hê ̣ giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi 54
2.4.2.Quan hệ giữa người được nhận nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha, mẹ nuôi 60
2.4.3 Quan hệ với gia đình gốc 64
2.5 Chấm dứt nuôi con nuôi thực tế 66
2.5.1 Căn cứ chấm dứt viê ̣c nuôi con nuôi thực tế 66
2.5.2 Thủ tục chấm dứt việc nuôi con nuôi thực tế 68
2.5.3 Hê ̣ quả chấm dứt việc nuôi con nuôi thực tế 69
CHƯƠNG 3:THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ Ở VIỆT NAM 71
3.1 Nhận xét chung 71
3.2 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi thực tế 73
3.2.1 Thực trạng và giải pháp huàn thiện về điều kiện công nhận và thời hạn đăng ký nuôi con nuôi thực tế 74
3.2.3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về đăng ký nuôi con nuôi thực tế 81 KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 71
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi con nuôi là chế định quan trọng trong pháp luật HN&GĐ trước đây, BLDS năm 2005 quy định, quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ Tại Điều
43 BLDS 2005 quy định: “Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận
làm con nuôi của cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ Việc nhận làm con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật” Chính vì vậy việc thi hành pháp luật về nuôi con nuôi đã góp
phần giúp cho nhiều trẻ em có được mái ấm gia đình thay thế và cũng góp phần quan trọng bảo đảm cho những người đơn thân hoặc cặp vợ chồng hiếm con được thực hiện quyền làm cha mẹ, quyền có mái ấm gia đình trọn vẹn Tuy nhiên, thực tiễn về nuôi con nuôi còn cho thấy nhiều bất cập, nhiều trường hợp nhận và nuôi dưỡng trẻ em làm con nuôi nhưng không làm thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do trình độ am hiểu pháp luật của người dân còn thấp, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng
ký nuôi con nuôi nên không được pháp luật công nhận làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên và còn liên quan đến nhiều lĩnh vực phát sinh nhất là trong lĩnh vực thừa kế, nhiều tranh chấp về di sản, về quyền thừa kế đã xảy ra và đã gây không ít khó khăn cho cơ quan giải quyết.Vì vậy lĩnh vực nuôi con nuôi không đăng ký nhưng đã phát sinh trên thực tế, việc bảo vệ quyền lợi của người được nuôi và người nhận nuôi là một lĩnh vực quan trọng trong thực tiễn đời sống Đây là công việc khó khăn, đòi hỏi thời gian và sự tham gia của không chỉ các cơ quan nhà nước mà của toàn xã hội
Với khẩu hiệu “ Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” thể hiện bất kỳ một lĩnh vực nào trong đời sống xã hội cũng cần có sự điều chỉnh của
Trang 82
pháp luật, nó cần phải có nguyên tắc, các quy định cụ thể để hoạt động trong khuân khổ pháp luật, nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật thì các mối quan hệ sẽ không kiểm soát được và dẫn đến nhiều tiêu cực trong xã hội Lĩnh vực nuôi con nuôi nói chung cũng như nuôi con nuôi không đăng ký nhưng đã phát sinh trên thực tế nói riêng cũng vậy, việc bảo vệ quyền lợi của người được nuôi và người nhận con nuôi là một lĩnh vực quan trọng trong thực tiễn đời sống Đây là công việc khó khăn đòi hỏi thời gian và sự tham gia của không chỉ các cơ quan nhà nước mà của toàn xã hội Luật nuôi con nuôi ra đời với những điều khoản quy định cụ thể về lĩnh vực nuôi con nuôi đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với cha, mẹ nuôi và con nuôi, tạo tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết nuôi con nuôi ở nước ta
Luật nuôi con nuôi năm 2010 với quy định điều chỉnh đối với việc nuôi con nuôi không đăng ký, nhưng đã phát sinh trên thực tế (hay còn gọi là con nuôi thực tế) có ý nghĩa hết sức to lớn Luật đã quy định rõ điều kiện và thủ tục riêng đối với con nuôi thực tế Theo đó, việc nuôi con nuôi chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật nuôi con nuôi có hiệu lực giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi, khi trên thực tế quan hệ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi đã được xác lập, giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục nhau như cha, mẹ và con
và hiện tại sau khi Luật nuôi con nuôi có hiệu lực quan hệ đó vẫn đang tồn tại
và cả cha, mẹ nuôi và con nuôi đều còn sống thì được pháp luật công nhận và được nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký nhận nuôi con nuôi trong thời hạn 5 năm bắt đầu kể từ ngày Luật con nuôi có hiệu lực (01/01/2011)
Trước đây Nghị định số 32/2002/NĐ- CP ngày 27 tháng 03 năm 2002 của Chính phủ chỉ công nhận con nuôi thực tế đối với các vùng đồng bào dân
Trang 93
tộc thiểu số được xác lập trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật HN&GĐ năm
2000 có hiệu lực), còn các trường hợp quan hệ nuôi con nuôi xác lập sau ngày 01/01/2001 mà không đăng ký sẽ không được pháp luật công nhận, các quan
hệ nuôi con nuôi ở vùng khác mà không thực hiện thủ tục đăng ký thì không được công nhận có giá trị pháp lý và chưa có văn bản nào quy định bổ sung
về vấn đề này Luật Nuôi con nuôi năm 2010 công nhận con nuôi thực tế, nhưng do còn nhiều điểm chưa hợp lý như điều kiện, hệ quả xác lập con nuôi thực tế, đặc biệt là thời hạn giải quyết việc nuôi 05 năm kể từ ngày 01/01/2011 Vậy sau thời gian trên việc nuôi con nuôi thực tế chưa đăng ký sẽ được giải quyết như thế nào? Quyền lợi của các bên liên quan trong việc nuôi con nuôi, hệ quả pháp lý…bởi thực tiễn cho thấy pháp luật không phải lúc nào cũng đi vào cuộc sống của người dân một cách thuận lợi mà còn có trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đưa pháp luật vào thực tiễn và đến với người dân Theo kết quả mới nhất từ Bộ Tư pháp, tính đến ngày 31/12/2014 trên toàn quốc đã rà soát được 6.419 trường hợp nuôi con nuôi thực tế nhưng chỉ có 1.916 trường hợp đã được đăng ký còn 4.503 trường hợp chưa được đăng ký nuôi con nuôi thực tế Vì vậy việc nghiên cứu pháp luật về nuôi con nuôi thực tế là rất cần thiết để kịp thời bảo vệ quyền lợi của công dân Ngoài ra, là để hiểu thêm về bản chất và ý nghĩa của việc con nuôi thực tế trong xã hội hiện nay Với những lý do trên mà tác giả chọn đề tài: “Nuôi con nuôi thực tế theo Luâ ̣t nuôi c on nuôi năm 2010” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nuôi con nuôi thực tế là một chế định pháp luật mới trong Luật nuôi con nuôi năm 2010, mặc dù trước đây vấn đề nuôi con nuôi thực tế đã được đề cập trong văn bản pháp luật nhưng do tính chất đặc thù chỉ áp dụng giải quyết đối với đồng bào dân tộc thiểu số nên hình thức nuôi con nuôi này chưa được nhiều
Trang 104
độc giả nghiên cứu Vì vậy đề tài nuôi con nuôi thực tế theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010 là luận văn đầu tiên được nghiên cứu ở bậc cao học có tính hệ thống, toàn diện về nuôi con nuôi thực tế ở nước ta hiện nay
Luật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực thi hành được hơn 3 năm nên chưa có đề tài đánh giá sự tác động của Luật nuôi con nuôi năm 2010 đối với nuôi con nuôi thực tế, thực tiễn, những ưu, nhược điểm của Luật nuôi con nuôi, những khó khăn, vướng mắc mà cơ quan giải quyết và người yêu cầu giải quyết nuôi con nuôi đang gặp phải trong quá trình thực thi luật nuôi con nuôi
Luận văn: “Nuôi con nuôi thực tế theo Luâ ̣t nuôi c on nuôi năm 2010”
hi vọng sẽ góp phần nhỏ bé trong việc làm rõ hơn nữa chế định pháp luật nuôi con nuôi thực tế, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng công tác giải quyết nuôi con nuôi thực tế trong những năm qua, tác giả sẽ tìm ra những tồn tại, vướng mắc làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nuôi con nuôi, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi thực tế ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của luận văn là “ Nuôi con nuôi thực tế theo Luật nuôi con nuôi năm 2010” vì vậy trong luận văn này người viết chủ yếu đi sâu nghiên cứu các văn bản pháp luật điều chỉnh về nuôi con nuôi thực tế ở nước
ta như Luật nuôi con nuôi năm 2010, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật nuôi con nuôi và một số vụ việc phát sinh trong thực tiễn về nuôi con nuôi thực tế
để làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi thực tế ở nước ta hiện nay
*Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu giới hạn về nuôi con nuôi thực tế trong nước ở Việt Nam
Trang 115
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Với đề tài luận văn: “Nuôi con nuôi thực tế theo Luâ ̣t nuôi con nuôi năm 2010” người viết nghiên cứu nhằm mục đích :
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về vấn đề nuôi con nuôi thực tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện chủ yếu dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của Chủ nghĩa Mac-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: diễn dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh, đối chiếu, phương pháp xã hội học… nhằm đi sâu vào từng điều luật cụ thể và tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu cũng như mặt hạn chế của việc nuôi con nuôi thực tế để từ đó đề ra hướng giải quyết cho những vẫn đề đặt ra
6 Những đóng góp mới của Luận văn
- Luận văn đưa ra được khái niệm về nuôi con nuôi thực tế trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và ứng dụng khái niệm nuôi con nuôi đã được pháp luật quy định Với khái niệm này trong tình hình hiện nay là cần thiết, góp phần quan trọng trong công tác nghiên cứu và giảng dạy về nuôi con nuôi thực tế ở nước ta hiện nay
- Luận văn phân tích và đánh giá một cách khoa học những quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010 về điều kện công nhận, thời hạn đăng ký, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi thực tế
Trang 12Chương 1: Khái quát chung về nuôi con nuôi và con nuôi thực tế ở Việt Nam
Chương 2: Pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi thực tế
Chương 3: Thƣ̣c tra ̣ng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuô i
thực tế ở Việt Nam
Trang 137
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm con nuôi và cha, mẹ nuôi
Khái niệm về con nuôi – cha, mẹ nuôi trước đây đã được đề cập trong các tài liệu liên quan nhưng chỉ khi Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời thì khái niệm trên đã chính thức được Luật định rõ nhằm tạo ra cách hiểu chung, thống nhất về con nuôi và cha, mẹ nuôi Theo đó, Luật nuôi con nuôi năm
2010 khái niệm về con nuôi và cha, mẹ nuôi như sau:
- Con nuôi là “người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con
nuôi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký”[22, Điều 3] Từ khái
niệm trên có thể hiểu con nuôi là một người được người khác nhận làm con nhưng không trực tiếp sinh ra như quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ mà được hình thành bằng con đường nhân tạo đó là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người con nuôi là người sẽ được người khác chăm sóc, nuôi dưỡng như con đẻ, người nuôi dưỡng đó gọi là cha, mẹ nuôi Con nuôi
có thể là trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
- Cha, mẹ nuôi là “Người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” [22, Điều3]
Từ hai khái niệm trên cho thấy giữa con nuôi – cha, mẹ nuôi hình thành mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha, mẹ đẻ và con đẻ dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền - cầu nối cho ý chí, nguyện vọng của các bên tham gia quan hệ nuôi con nuôi được thực hiện Như vậy, quan hệ gia đình (quan hệ cha, mẹ và con) giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi phải được nhà nước công nhận Việc nuôi con nuôi được
Trang 148
thực hiện có thể do cha, mẹ nuôi cùng nhận con nuôi hoặc có thể làm con nuôi của người đơn thân đều được pháp luật công nhận
1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi và nuôi con nuôi thực tế
1.1.2.1 Khái niệm nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi - một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất
hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam Nuôi con nuôi là “việc xác lập
quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi”[23, Tr180]
Theo Điều 3 Luật nuôi con nuôi giải thích:“Nuôi con nuôi là việc xác
lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi” Như vậy, quan hệ cha, mẹ nuôi - con nuôi là quan hệ ràng
buộc giữa bên nhận nuôi và bên được nhận, mặc dù các bên có thể có quan hệ
họ hàng nhưng khi đã phát sinh quan hệ nuôi con nuôi, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thì các bên phải đối xử với nhau theo đúng quan
hệ cha mẹ con, người nuôi xem như cha mẹ của người được nuôi, dù không sinh ra người được nuôi; đối với người được nuôi có quyền và nghĩa vụ coi người nuôi như cha, mẹ ruột Đó là quan hệ cha mẹ con không được xác lập bằng con đường sinh sản mà theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng của các đương sự, đặc biệt là của người nuôi Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi làm phát sinh giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con không phân biệt đối xử giữa cha, mẹ nuôi với cha mẹ đẻ, con nuôi với con đẻ, các bên đều được đối xử như nhau và việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi đã được đăng ký theo quy định của pháp luật
Việc nuôi con nuôi phải đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành đăng ký, các nghi thức nhận nuôi con nuôi khác (như giấy tờ
Trang 159
viết tay giữa cha mẹ đẻ cho con đẻ của mình làm con nuôi người khác hay người nhận con nuôi lập đàn lễ cúng tế tổ tiên về việc nhận con nuôi hoặc nhặt được trẻ bị bỏ rơi thì mang về nuôi mà không khai báo, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền) về nguyên tắc đều không có giá trị pháp lý và không được nhà nước công nhận, giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi không có các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con theo quy định của pháp luật [24, tr3]
Như vậy, quan hệ gia đình, quan hệ cha, mẹ - con giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận làm con nuôi được hình thành từ quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc và phải được nhà nước công nhận
1.1.2.2 Khái niệm nuôi con nuôi thực tế
Cũng giống như quan hệ pháp luật nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi thực tế được hình thành trên cơ sở nguyện vọng của các bên đương sự Việc nhận con nuôi phải theo đúng quy định của pháp luật về nuôi con nuôi
và mang đúng bản chất, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi, người con nuôi cùng chung sống với gia đình cha, mẹ nuôi, giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi phát sinh quan hệ cha mẹ con, không phân biệt đối xử giữa con đẻ
và con nuôi, các bên có quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con đối với nhau
để xây dựng gia đình thực sự Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung của việc nuôi con nuôi nói chung thì nuôi con nuôi thực tế có điểm riêng biệt ở chỗ việc nuôi con nuôi phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện của pháp luật nuôi con nuôi tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi không trái mục đích, đạo đức xã hội Các bên phát sinh quan hệ nuôi con nuôi
có thể bằng văn bản thỏa thuận hoặc bằng lời nói mà không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi Tại thời điểm Luật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực, quan hệ nuôi con nuôi vẫn tồn tại và cả hai bên đều còn sống, được mọi người xung quanh
Trang 1610
thừa nhận thì quan hệ của họ sẽ được pháp luật công nhận, có giá trị pháp lý
kể tử thời điểm phát sinh và các bên thực hiện đi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Luật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực thi hành
Có quan điểm cho rằng: “con nuôi thực tế cũng giống như con nuôi trên danh nghĩa, là sự thoả thuận miệng giữa hai gia đình về việc nuôi con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, (có một số ít trường hợp
có văn bản viết tay giữa hai gia đình) Tuy nhiên loại con nuôi này khác với con nuôi trên danh nghĩa là người con nuôi ở hẳn với cha, mẹ nuôi và gắn bó với cha mẹ nuôi”[3, tr70]
Có thể nhận thấy quan hệ con nuôi thực tế và con nuôi danh nghĩa có dấu hiệu giống nhau là đều không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, song về bản chất của hai quan hệ là khác nhau.Con nuôi thực tế là người được nhận làm con trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, giữa người nuôi và người được nhận nuôi đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con đối với nhau, nhưng không đăng ký
việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền [13]
Vậy có thể định nghĩa nuôi con nuôi thực tế là hình thức nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi trên thực tế đời sống xã hội mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền gọi là nuôi con nuôi thực tế
1.1.3 Đặc điểm của quan hệ nuôi con nuôi thực tế
- Nuôi con nuôi thực tế xuất phát từ yếu tố tình cảm: Việc nuôi con nuôi phát sinh có thể do nhiều lý do khác nhau nhưng yếu tố chi phối đầu tiên
và không thể thiếu đó là xuất phát yếu tố tình cảm, bởi cũng giống như việc nuôi con nuôi nói chung, trong nuôi con nuôi thực tế giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi hình thành mối quan hệ cha, mẹ và con, các bên đã thực hiện việc
Trang 1711
chăm sóc và nuôi dưỡng nhau trên thực tế Vì vậy mà nuôi con nuôi thực tế phải xuất phát từ yếu tố tình cảm thì các bên mới có thể xây dựng và vun đắp tình cảm cha, mẹ con bền vững
- Nuôi con nuôi thực tế là quan hệ lâu dài, bền vững: Giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi đã phát sinh quan hệ cha mẹ con từ trước khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các bên đã xây dựng tình cảm, gắn kết giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi, tự nguyện thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhau xuất phát từ tình cảm mà không phải theo sự áp đặt từ yếu tố bên ngoài Vì vậy mà nuôi con nuôi thực tế là quan hệ lâu dài, bền vững
- Các bên tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ: Nuôi con nuôi xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của các bên chủ thể, Nhà nước không thể dùng pháp luật để ép buộc các bên phải tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi nếu như họ không muốn Vì vậy mà các bên hình thành mối quan hệ cha, mẹ và con bền vững, sống chung một mái nhà, gắn bó tình cảm như người ruột thịt nên các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ, nuôi và con nuôi được thực hiện xuất phát từ ý chí, tự giác của các bên mà không phụ thuộc vào tác động bên ngoài
- Gắn bó mối quan hệ cha, mẹ và con trên thực tế: Các bên đã tự nguyện bày tỏ ý chí thiết lập quan hệ cha mẹ con trên thực tế mà không có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc cho - nhận con nuôi có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản tùy thuộc vào ý chí của chủ thể nhưng hệ quả của việc thỏa thuận đó là giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi đã phát sinh quan hệ cha, mẹ và con được họ hàng và mọi người xung quanh thừa nhận mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Nuôi con nuôi thực tế không mang yếu tố đền bù ngang giá: Mục đích của việc nuôi con nuôi nhằm giúp cho trẻ em có được gia đình thay thế được chăm sóc nuôi dưỡng và phát triển trong môi trường lành mạnh giúp cho việc
Trang 1812
hình thành và phát triển sau này Việc nuôi con nuôi xuất phát từ tình cảm, từ những tấm lòng nhân đạo đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ mắc bệnh hiểm nghèo Vì vậy trong mọi trường hợp lợi ích của trẻ
em luôn được xem xét, giải quyết trước lợi ích của cha, mẹ nuôi Vì vậy tính chất đền bù ngang giá không được đặt ra trong quan hệ nuôi con nuôi
1.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi thực tế
Ở nước ta, một quốc gia đang phát triển với mức thu nhập thấp kèm theo di chứng nặng nề từ lịch sử các cuộc chiến tranh, vì vậy điều kiện kinh tế
xã hội còn gặp nhiều khó khăn kèm theo nhiều vấn đề phát sinh từ xã hội, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ nhiễm chất độc màu da cam
từ hậu quả chiến tranh Việt Nam, rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi khi vừa được sinh
ra, những gia đình hoàn cảnh đông con không có điều kiện chăm sóc con cái… các em đã sớm phải bươn trải ngoài xã hội để lo miếng cơm manh áo phải đi đánh giày, ăn xin… nhiều trường hợp bị dòng đời xô đẩy đã rơi và những tệ nạn xã hội như trộm cắp, móc túi, thậm chí giết người cướp của
…đã và đang trở thành gánh nặng của xã hội Trong khi đó, lẽ ra ở lứa tuổi này các em phải được chăm sóc từ cha mẹ và những người thân yêu của mình, được cắp sách đến trường, được vui chơi nhưng các em hầu như không được một mái ấm gia đình được học hành, giáo dục Vì vậy vấn đề nuôi con nuôi có
ý nghĩa rất quan trọng giúp trẻ em có được một mái ấm gia đình, được hưởng
sự chăm sóc nuôi dưỡng từ gia đình cha, mẹ nuôi, giúp cho các em có sự phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần; Ngoài ra, việc nhận con nuôi cũng giúp cho những người đơn thân, những cặp vợ chồng hiếm con , vô sinh được
có con, có chỗ dựa tinh thần để cảm nhận được cuộc sống trọn vẹn
Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội phổ biến vì vậy việc ban hành pháp luật về nuôi con nuôi là rất cần thiết để có cơ sở bảo vệ bền vững cho quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi Trong các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước,
Trang 1913
pháp luật về nuôi con nuôi cũng đã có những quy định, có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tiễn Tuy nhiên, trên thực tế đã không ít trường hợp do không hiểu biết pháp luật nên khi phát sinh quan hệ nuôi con nuôi các bên đã
tự thỏa thuận việc cho, nhận con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số Mặc dù Luật HN&GĐ đã quy định việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan hành chính đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch nhưng đã không được người dân thực hiện theo đúng quy định của pháp luật bởi tâm lý, quan niệm cho rằng tình cảm, sự yêu thương và trách nhiệm cho nhau là đủ để gắn kết cha, mẹ con
Cùng với sự phát triển của xã hội các vấn đề phát sinh liên quan đến quan
hệ nuôi con nuôi như quyền hưởng di sản thừa kế giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi, tranh chấp thừa kế giữa anh, chị em nuôi… người dân cũng nhận thức rõ hơn về việc sự cần thiết phải đăng ký quan đến tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo cho quan hệ cha, mẹ con bền vững Tuy nhiên không phải lúc nào pháp luật cũng kịp thời điều chỉnh các sự kiện phát sinh trên thực tế, chẳng hạn đến khi đi đăng ký thì con nuôi đã quá tuổi, không đủ điều kiện để đăng ký
Vì vậy, Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của cả bên nuôi và bên được nhận nuôi về việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế nhưng không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều 50 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về điều khoản chuyển tiếp có vai trò quan trọng trong việc giải quyết nuôi con nuôi
Có thể thấy rằng nuôi con nuôi là biện pháp hữu hiệu và có ý nghĩa hết sức to lớn để cho trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong tình yêu thương của gia đình và người thân Tuy nhiên dù trong hoàn cảnh nào, xã hội có thay đổi đến đâu cũng phải đảm bảo được mục đích là vì tương lai trẻ
em - tương lai đất nước
Trang 2014
1.3 Pháp luật điều chỉnh về nuôi con nuôi thực tế ở Việt Nam
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc điều chỉnh nuôi con nuôi thực tế
* Phong tục tập quán và đạo đức truyền thống:
Việc nhận trẻ mồ côi, không nơi nương tựa làm con nuôi là việc làm thiện, nhân đạo là phong tục thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc
“lá lành đùm lá rách” luôn được xã hội ủng hộ Việc nhận nuôi con nuôi đối với những trường hợp này mang tính nhân đạo cao cả thể hiện tinh thần tương thân tương ái của người dân Việt Nam ta
Việt Nam có phong tục nhận nuôi con nuôi theo tập tục nối nòi- tục lệ phổ biến có tính chất đặc trưng ở các đồng bào dân tộc thiểu số Nối nòi có thể hiểu là sự thay thế người khác bằng một người trong họ hàng của người chết để tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nhằm duy trì dòng họ, nòi giống
“Đối với dân tộc Mường, Thái mà không có con thì họ nhận con của người anh hay em làm con nuôi coi như con đẻ của mình”[27, tr70], “Người Chăm cũng thường nhận nuôi con nuôi là người trong tộc họ, nếu không có thì kiếm người ngoài tộc”[27,tr101].Có thể nói việc nhận con nuôi trong họ đã trở
thành một phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta, phù hợp với tâm lý của người Việt Nam “đông con nhiều cháu”
Ngoài ra, với quan niệm của người Việt Nam “Có nếp, có tẻ” nên việc nhận con nuôi còn để thỏa mãn tâm ý của người nhận nuôi Bên cạnh đó, một
số người còn có quan niệm nhận con nuôi để lấy phúc, trong thực tiễn đời sống rất nhiều trường hợp vì mê tín nên đã nhận nuôi đứa trẻ để lấy phúc với
hi vọng đem lại may mắn cho gia đình, có thể giảm bớt tai vạ, những điều không may mắn cho gia đình hoặc xin con nuôi để sinh con theo ý muốn
Quan hệ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán, đạo đức truyền thống tồn tại từ lâu trong cộng đồng người dân Việt Nam và đến nay vẫn đang tồn tại, quan hệ này mặc dù chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
Trang 2115
quyền nhưng đã được mọi người thừa nhận, các bên đã thực hiện các quyền
và nghĩa vụ cha, mẹ con trên thực tế
*Tình hình thực tế của việc nuôi con nuôi:
- Thứ nhất: Việt Nam là nước chịu hậu quả nặng nề từ các cuộc chiến
tranh để lại, lịch sử phát triển của đất nước ta rất khó khăn, xuất phát điểm thấp chủ yếu là nông nghiệp, điều kiện kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn nên dẫn đến trình độ nhận thức của người dân còn hạn chế Việc phát sinh quan hệ nuôi con nuôi được người dân nhận thức giản đơn như việc có con nuôi chỉ suy nghĩ theo hướng đối xử tốt như con đẻ, các bên chăm sóc nuôi dưỡng nhau chứ không nghĩ đến việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc nuôi con nuôi không đăng ký rất phổ biến trong xã hội Việt Nam ta Ngoài ra, do điều kiện kinh tế xã hội nước ta trước đây gặp nhiều khó khăn nên công tác tiếp cận pháp luật đến với người dân còn hạn chế do thiếu điều kiện vật chất, công tác thông tin, tuyên truyền pháp luật nói chung và nuôi con nuôi nói riêng không được quan tâm trú trọng vì vậy khi phát sinh việc nuôi con nuôi các bên tự giác thực hiện các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ con mà không đăng ký cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Thứ hai: Việt Nam là nước có địa hình phức tạp cả đồng bằng và
miền núi, việc phát sinh quan hệ nuôi con nuôi không phải lúc nào người dân
đi đăng ký cũng thuận lợi Thực tiễn cho thấy tại các tỉnh miền núi địa hình đi lại phức tạp, khó khăn nhiều địa phương để người dân đến cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để thực hiện giao dịch phải mất một vài ngày mới đến nơi Việc nuôi con nuôi cũng vậy, có thể do đi lại khó khăn nên người dân ngại đi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khảo sát tại các tỉnh miền núi cho thấy, hầu hết con nuôi đều không đi đăng ký, thậm chí ngay cả con đẻ của đồng bào cũng không được đăng ký khai sinh [28]
Trang 2216
Ngoài ra, khi phát sinh quan hệ nuôi con nuôi thì cha, mẹ nuôi luôn mong muốn người con nuôi sẽ đối xử với mình như cha, mẹ đẻ, muốn gắn kết cha, mẹ và con bền vững nên cha, mẹ nuôi luôn muốn giấu việc nhận con nuôi đối với người con nên không đến đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc phát sinh quan hệ nuôi con nuôi có thể do nhiều trường hợp vô sinh, hiếm muộn nên nhận con nuôi để được chăm sóc, nuôi dưỡng con cái…
- Thứ 3: Khi phát sinh quan hệ nuôi con nuôi người dân không đi đăng
ký có thể do nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau như ngại chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ hoặc không có đủ văn bản xuất trình cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành thủ tục đăng ký nên đã không đăng ký Theo kết quả rà soát và thống kê tại 48 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp), tính đến tháng 11-2013 có 5.236 trường hợp nuôi con nuôi thực tế; trong đó có 4.067 trường hợp đủ điều kiện theo luật định, 1.169 trường hợp không đáp ứng đủ điều kiện.Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do có khó khăn về hồ sơ giấy tờ (chiếm 1.038 trường hợp) Các giấy tờ hay thiếu là giấy khai sinh của con nuôi, giấy kết hôn, chứng minh thư nhân dân Mặc dù nghị định hướng dẫn thi hành Luật Nuôi con nuôi đã có quy định hết sức đơn giản về hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi thực tế song tại một số địa phương, nhiều người xin trẻ ở nơi khác về nuôi mà không báo với chính quyền địa phương, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, nhân thân của trẻ nên không thể đăng ký việc nuôi con nuôi Một số trường hợp đã hợp thức hóa con nuôi thành con đẻ khi đăng ký khai sinh, nhập hộ khẩu và các giấy tờ khác đều ghi quan hệ là “con đẻ”[29] hoặc cán bộ đăng ký cửa quyền, hách dịch nên người dân đã không đăng ký nuôi con nuôi
Thực tiễn cho thấy khi đất nước đang ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình đang dần có những thay đổi nhất định Các tranh chấp phát sinh trong gia đình đang ngày càng gia tăng và phức tạp
Trang 23mẹ nuôi và con nuôi, pháp luật đã quy định việc đăng ký nuôi con nuôi thực
tế tại Luật nuôi con nuôi năm 2010
1.3.2 Pháp luật của Nhà nước ta về nuôi con nuôi thực tế
1.3.2.1 Luật HNN&GĐ năm 1959 về nuôi con nuôi thực tế
Pháp luật về nuôi con nuôi hay các ngành luật khác cũng vậy đều có những giai đoạn phát triển nhất định, giai đoạn sau hoàn thiện và phát triển hơn giai đoạn trước dựa trên sự kế thừa và phát triển của xã hội
Luật HN&GĐ năm 1959 là đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta điều chỉnh về vấn đề nuôi con nuôi và việc nuôi con nuôi được đề cập đến duy
nhất tại một điều luật đó là Điều 24 quy định như sau: “ Việc nhận nuôi con
nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch ”
Pháp luật trong giai đoạn này quy định rất sơ sài về nuôi con nuôi, không
có quy định gì về điều kiện giữa bên cho và bên nhận, hay trình tự, thủ tục việc nuôi con nuôi Vì vậy quyền lợi của trẻ em được nhận làm con nuôi chưa được bảo vệ, nhiều trường hợp nhận con nuôi để khuếch trương quyền thế của gia đình hay nhận con nuôi có người làm công mà không phải trả tiền công…
Mặc dù quy định về nuôi con nuôi còn sơ sài nhưng so với chế định nuôi con nuôi các thời kỳ trước thì Luật HN&GĐ năm 1959 đã có quy định tiến bộ hơn đó là việc nuôi con nuôi phải được công nhận và ghi vào
sổ hộ tịch
Trang 2418
Pháp luật thời kỳ trước không có quy định gì về việc đăng ký nuôi con
nuôi Chẳng hạn như Bộ dân luật giản yếu năm 1883 chỉ quy định: “Việc
nuôi con nuôi phải được lập khế ước và khế ước đó phải làm trước mặt Hộ lại chổ trú quán của người đứng nuôi Cha mẹ nuôi hoặc chổ trú quán của người con đó, người đứng nuôi và vợ (nếu có) phải ký vào khế ước đó nếu chấp nhận việc nuôi con nuôi”[1, Điều 187] Với việc quy định như trên, nếu
bên cho và nhận con nuôi không lập khế ước thì không được công nhận, mặc
dù việc lập khế ước chỉ thể hiện sự tham gia giữa bên cho và nhận nhưng đó
là văn bản chứng minh việc nuôi con nuôi đã được thỏa thuận giữa các bên, nếu sảy ra tranh chấp thì văn bản đó là sơ sở chứng minh cho sự thỏa thuận Pháp luật trong giai đoạn này không có quy định gì về việc nuôi con nuôi phải
có sự tham gia của cơ quan nhà nước
Luật HN&GĐ năm 1959 mặc dù quy định còn sơ sài về chế định nuôi con nuôi nhưng đã có những quy định sơ khai về việc công nhận của cơ quan nhà nước, là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định nuôi con nuôi sau này
1.3.2.2 Luật HN&GĐ năm 1986 về nuôi con nuôi thực tế
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, hai miền Nam –Bắc
đã thống nhất Vì vậy Luật HN&GĐ 1959 không còn phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước Hiến pháp năm 1986 ra đời - văn bản pháp lý quan trọng tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong cả nước Trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động như trên, cần phải có một văn bản pháp luật chính thống điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong cả nước Vì vậy Luật HN&GĐ năm 1986 đã được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 12 năm 1986 Sự ra đời của Luật HN&GĐ năm 1986 là một tất yếu khách quan, Luật gồm 10 chương, 57 Điều, chế định nuôi con nuôi được quy định tại Chương VI gồm 06 Điều (từ Điều 34 đến
Trang 2519
Điều 39) gồm những quy định về tuổi của người được nhận làm con nuôi, ý chí của các bên và việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch Như vậy, điểm giống nhau Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 đều quy định việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ
hộ tịch thì mới có giá trị pháp lý Có thể thấy, Luật HN&GĐ năm 1986 có nhiều điểm tiến bộ hơn năm 1959, quy định cụ thể tại các điều luật riêng biệt, điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi, người nhận con nuôi đã được luật hóa tạo điều kiện cho việc áp dụng và thống nhất trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi
Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình thực tiễn, để phù hợp với thực trạng khách quan trong điều kiện đất nước có nhiều biến động không phải lúc nào phát sinh sự kiện nuôi con nuôi đều được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì nhiều lý do khác nhau có thể do đi lại khó khăn, do phong tục tập quán, thiếu hiểu biết pháp luật…mà rất nhiều trường hợp giữa bên cho và bên nhận con nuôi tự thỏa thuận mà không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (gọi là con nuôi thực tế) Việc nuôi con nuôi thực tế không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên về mặt pháp lý quan hệ đó không có giá trị, không được pháp luật công nhận và bảo hộ vì vậy quyền và lợi ích hợp pháp các bên không được pháp luật bảo vệ Để khắc phục những tồn tại trên, ngày 20 tháng 01 năm 1988, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-HĐTPTANDTC của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định: “Những điều kiện về nuôi con
nuôi đã được quy định trong các điều 34, 35, 36, và 37 nhưng trước khi Luật này được ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ Vì vậy, những việc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị
Trang 2620
pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như: nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa, phạm pháp) Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do luật định”[5]
Theo hướng dẫn trên thì việc nuôi con nuôi phát sinh trước ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc nuôi con nuôi vẫn được pháp luật công nhận và bảo hộ trong khoảng thời gian Luật HN&GĐ năm 1986 còn hiệu lực Vì vậy nếu có tranh chấp xảy ra trong khoảng thời gian Luật HN&GĐ năm 1986 và Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTPTANDTC ngày 20/01/1988 còn hiệu lực thì quan
hệ cha mẹ - con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi vẫn được công nhận Nếu tranh chấp phát sinh sau khoảng thời gian trên, nghĩa là từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực mà việc nuôi con nuôi chưa được đăng
ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không có giá trị pháp lý Ví dụ: Bà
A không có con trai nên đã nhận cháu D làm con nuôi từ năm 1970, lúc đó cháu D đã 05 tuổi nhưng đã không đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
đề nghị công nhận và vào sổ hộ tịch Mặc dù bà A và D chung sống tình cảm
mẹ con với nhau, quan hệ mẹ- con được mọi người xung quanh và họ hàng thừa nhận Giả sử năm 1998 bà A chết, nếu có tranh chấp về thừa kế thì D vẫn được công nhận là con nuôi thực tế của bà A và được thừa kế gia sản của bà
A Nhưng nếu bà A chết năm 2001 thì sẽ khác, D sẽ không được công nhận là con nuôi thực tế của bà A và sẽ không được hưởng gia sản của bà A vì thời điểm trên Luật HN&GĐ năm 1986 đã hết hiệu lực và thay thế là Luật HN&GĐ năm 2000 Từ ví dụ trên cho thấy quy định như trên là không phù
Trang 27Vì vậy để kịp thời điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong xã hội cần phải ban hành Luật mới phù hợp với thực tiễn và Luật HN&GĐ năm 2000 đã ra đời
1.3.2.3 Luật HN&GĐ năm 2000 về nuôi con nuôi thực tế
Luật HN&GĐ năm 2000 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 09 tháng 6 năm 2000 Luật gồm 13 Chương,
110 Điều, trong đó chế định nuôi con nuôi được quy định tại chương VIII với
11 điều từ điều 67 đến điều 78, trong đó đã quy định khá chi tiết: Khái niệm nuôi con nuôi, điều kiện, trình tự thủ tục nuôi con nuôi, điều kiện người nhận nuôi và người được nhận nuôi và các vấn đề liên quan như hệ quả, quyền thay đổi họ, tên của con nuôi, dân tộc, việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi…
So với pháp luật HN&GĐ thời kỳ trước, Luật HN&GĐ năm 2000 phát triển hơn rất nhiều và đã quy định hoàn thiện, chặt chẽ hơn trong chế định nuôi con nuôi Trước đây, Nghị định số 04/CP ngày 16 tháng 01 năm 1961 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ đăng ký hộ tịch, quy định: Trường hợp trẻ con mới đẻ bị bỏ rơi, Uỷ ban hành chính đứng khai sinh và tìm người nuôi đứa trẻ Sau khi công nhận việc nuôi con nuôi thì Uỷ ban hành chính cơ
sở ghi chú việc ấy vào sổ đã đăng ký việc sinh của người con nuôi và vào giấy khai sinh đã cấp Nếu trước chưa đăng ký việc sinh thì phải xin đăng ký quá hạn, rồi Uỷ ban hành chính mới ghi chú việc nuôi con nuôi vào sổ và giấy khai sinh cấp cho đương sự [4, Điều 4; Điều 12 ] Nếu việc nuôi con nuôi trước đây được cơ quan có thẩm quyền công nhận mới có giá trị pháp lý, quy định như trên dẫn đến cách hiểu là việc nuôi con nuôi chỉ cần cơ quan nhà
Trang 2822
nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch mà không bắt buộc phải đăng ký, vì vậy đã làm giảm vai trò của cơ quan nhà nước trong công tác quản
lý nhà nước Luật HN&GĐ năm 2000 đã có những quy định chặt chẽ hơn
Trong đó thủ tục nuôi con nuôi quy định:“ Việc nuôi con nuôi phải được đăng
ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ hộ tịch
Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, giao nhận con nuôi được quy định của pháp luật về hộ tịch.”[20,Điều 72] Tuy nhiên, theo văn bản pháp luật về
hộ tịch: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 12 năm
2005 về đăng ký, quản lý hộ tịch thì đăng ký hộ tịch có thể hiểu gồm hai nội dung: Đó là xác nhận các sự kiện hộ tịch (công nhận) và ghi các sự kiện hộ tịch đã được xác nhận vào sổ đăng ký hộ tịch [7, Điều 1] Sự công nhận việc nuôi con nuôi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thể hiện bằng Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi Quyết định đó được trao cho các bên đương sự, là một loại giấy tờ hộ tịch và là chứng cứ pháp lý xác nhận sự kiện
hộ tịch của cá nhân Đồng thời với việc ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi, việc nhận nuôi con nuôi phải được ghi vào sổ hộ tịch Ghi vào sổ hộ tịch
là việc xác nhận một sự kiện hộ tịch và lưu trữ những thông tin gắn liền với nhân thân của cá nhân vào sổ gốc, là cơ sở pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân
Theo quy định trên, việc nhận con nuôi phải được đăng ký và ra Quyết định công nhận tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được ghi vào sổ hộ tịch mới có giá trị pháp lý Như vậy, bản chất đây là đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứ không phải cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ ra Quyết định công nhận cho các bên được sự
Và trong giai đoạn Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực thi hành thì vấn đề nuôi con nuôi thực tế đã được pháp luật công nhận đối với các dân tộc
thiểu số đã quy định: “Những trường hợp nhận nuôi con nuôi được xác lập
Trang 2923
trước ngày 01 tháng 01 năm 2001, ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 có hiệu lực pháp luật, mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng có đủ điều kiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và trên thực tế, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã được xác lập, các bên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, thì được pháp luật công nhận và được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký nuôi con nuôi Nếu có tranh chấp liên quan đến việc xác định quan hệ giữa cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi thì do Toà án giải quyết”[6,Điều 17]
Như vậy, việc nuôi con nuôi thực tế đã được pháp luật công nhận Tuy nhiên chỉ được công nhận nếu việc nuôi con nuôi đó được xác lập giữa “công dân thuộc các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa” trước ngày 01/01/2001 nhưng chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đối với các trường hợp nuôi con nuôi phát sinh sau ngày 01 tháng 01 năm 2001 giữa công dân các dân tộc thiểu số phải thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi theo Điều 16 của Nghị định số 32/2002/NĐ-CP Như vậy,theo Luật HN&GĐ năm 2000 việc nhận nuôi con nuôi được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực (01/01/2001) mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không giá trị pháp lý, quan
hệ nuôi con nuôi không được công nhận, trừ việc nuôi con nuôi giữa các đồng bào dân tộc thiểu số với nhau tại vùng sâu, vùng xa Từ sau ngày 01/01/2001 việc nuôi con nuôi mà không đi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ không được công nhận nuôi con nuôi thực tế trong mọi trường hợp, kể cả việc nuôi con nuôi của đồng bào dân tộc thiểu số
Từ những quy định trên cho thấy, trong quá trình thực thi pháp luật nếu
áp dụng mang tính nguyên tắc cứng nhắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi và không phù hợp với thực tế khách quan của quan hệ nuôi con nuôi, mất đi ý nghĩa nhân văn và
Trang 30có cơ sở để giải quyết, vì vậy quyền lợi của các bên không được bảo đảm Trong những trường hợp này, khi có tranh chấp hoặc một sự kiện nào đó xảy
ra, như có yêu cầu được hưởng di sản thừa kế của người chết là cha nuôi mẹ nuôi… thì không có cơ sở để giải quyết
Vì vậy để có cơ chế giải quyết hợp tình hợp lý, hợp lý, phù hợp với thực trạng khách quan cần phải có Luật chuyên biệt điều chỉnh về lĩnh vực nuôi con nuôi Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã ra đời, được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
17 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực ngày 01/01/2011 gồm 05 chương, 52 điều Luật nuôi con nuôi năm 2010 tạo nên sự đồng bộ, thống nhất trong cơ chế điều chỉnh lĩnh vực nuôi con nuôi Trước đây lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định trong nhiều văn bản khác nhau đã dẫn đến việc khó khăn, vướng mắc trong công tác áp dụng pháp luật Chế định nuôi con nuôi được quy định tại các văn bản: Luật HN&GĐ năm 2000; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày
27 tháng 03 năm 2002 quy định việc áp dụng Luật HN&GĐ áp dụng đối với dân tộc thiểu số; Nghị định 68/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 quy định chi tiết một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm
2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch
Trang 31Với sự ra đời của Luật nuôi con nuôi năm 2010, một số chế định trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã không con phù hợp với thực tiễn những vấn đề phát sinh nhƣ mang thai hộ, kết hôn đồng giới Đặc biệt là lĩnh vực nuôi con nuôi đã đƣợc quy định trong luật chuyên ngành mà Luật HN&GĐ năm 2000 đã chƣa kịp thời điều chỉnh Vì vậy Luật HN&GĐ năm 2014 đã ra đời, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 Chế định nuôi con nuôi đƣợc quy định tại Điều 78 quy định
về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã đƣợc pháp luật quy định chi tiết và cụ thể hơn Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định trình tự, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi mà đƣợc quy định tại Luật nuôi con nuôi năm 2010 Tuy nhiên quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi đã đƣợc Luật HN&GĐ năm 2014 quy định chi tiết, cụ thể tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật
Trang 3226
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ
2.1 Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết nuôi con nuôi thực tế
Mục đích của việc nuôi con nuôi là „ nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và
con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi , đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trong môi trường
gia đình’[22, Điều 2] Bất kỳ quan hê ̣ nuôi con nuô i nào do pháp luâ ̣t điều
chỉnh cũng phải hướng đến mục tiêu xác lập mối qua hệ cha mẹ con , mối quan hê ̣ gắn bó , lâu dài và bền vững Đây cũng là mu ̣c tiêu của công ước LaHay về nuôi con nuôi mà nước ta đã được gia nhâ ̣p Ngày 10/4/2013 tại hội nghị Lahay, Viê ̣t Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức uy tín
bâ ̣c nhất về tư pháp quốc tế điều chỉnh trong lĩnh vực nuôi con nuôi góp phần tích cực trong quá trình hoàn thiện và điều chỉnh pháp luật về nuôi con nuôi ở nước ta hiê ̣n nay
Luâ ̣t nuôi con nuôi năm 2010 ra đời là mô ̣t phát triển vượt bâ ̣c so với pháp luật thời kỳ trước đây Qua viê ̣c nghiên cứu pháp luâ ̣t thời kỳ trước có thể thấy viê ̣c nuôi con nuôi chủ yếu là vì lợi ích của người nhâ ̣n con nuôi chứ không xuất phát từ quyền lợi của người được nuôi [23]
Tại Điều 2 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã quy đi ̣nh rõ mu ̣c đích của việc nuôi con nuôi , mang ý nghĩa xã hô ̣i sâu sắc , mặt khác còn chống lại sự trá hình của viê ̣c nuôi con nuôi để thực hiê ̣n các viê ̣c như buôn bán trẻ em , bóc lột sức lao động của trẻ em Pháp luật nuôi con nuôi nước ta đã thể hiện tính nhân đạo sâu sắc , đã đề ra những nguy ên tắc phù hợp với chủ trương , đường lối chính sách của Đảng , pháp luật của nhà nước trong việc bảo vệ trẻ
em Vì vậy việc giải quyết nuôi con nuôi nói chung và con nuôi thực tế nói riêng phải tuân theo những nguyên tắc cu ̣ thể sau:
Trang 3327
2.1.1 Khi giải quyết viê ̣c nuôi con nuôi cần tôn trọng quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc
Gia đình gốc là gia đình của những người có cùng huyết thống , nơi trẻ
em sinh ra , cái nôi cho sự hình thành và phát triển của trẻ em sau này , gia đình là nơi đầu tiên đón nhâ ̣n , chăm sóc và nuôi da ̣y trẻ em tốt nhất cả về vâ ̣t chất lẫn tinh thần Khi được sinh ra , trẻ em như tờ giấy trắng còn non nớt cả về thể chất và trí tuê ̣ nên trẻ cần được chăm sóc đặc biệt trong bầu không khí yêu thương của gia đình của cha me ̣ và những người thân của mình Điều này cũng đã được Công ước quốc tế ghi nhận Công ước của Liên Hiê ̣p quốc về
quyền trẻ em đã khẳng đi ̣nh: “ Gia đình là nhóm xã hội cơ bản và môi trường
tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em”
Nguyên tắc tôn tro ̣ng trẻ em sống trong gia đình gốc không chỉ được quy đi ̣nh trong pháp luâ ̣t nuôi con nuôi ở Viê ̣t Nam mà nó còn là nguyên tắc chung được cô ̣ng đồng quốc tế thừa nhâ ̣n Tuyên bố của Liên Hiê ̣p quốc về nguyên tắc pháp lý và xã hô ̣i liên quan đến phúc lợi và bảo vê ̣ trẻ em ghi
nhâ ̣n: “ Ưu tiên hàng đầu đối vớ i trẻ em phải được cha , mẹ đẻ chăm sóc”
Viê ̣c chung sống với cha , mẹ là quyền trẻ em Quyền này đã ghi nhâ ̣n ta ̣i
Khoản 1 Điều 9 Công ước của Liên hiê ̣p quốc về quyền trẻ em đó là: “ trẻ em
không bị buộc phải cách li cha mẹ trái với ý muốn của cha mẹ, trừ trường hợp những nhà chức trách có thẩm quyền, tuân theo sự xem xét của pháp luật, quyết định rằng theo luật pháp và các thủ tục thích hợp thì việc cách ly như thế là cần thiết cho những lợi ích tốt nhất của trẻ em Một quyết định như thế có thể là cần thiết trong trường hợp đặc biệt như khi trẻ em bị cha mẹ xúc phạm hay xao nhãng, hoặc khi cha mẹ sống ly thân và cần phải có một quyết định về nơi cư trú của trẻ em.” Tại Điều 13 Luâ ̣t bảo vê ̣, chăm sóc, giáo dục
trẻ em quy đi ̣nh: “Trẻ em có quyền chung sống với cha me ̣ Không ai có
quyền cách lý trẻ em với cha me ̣, trừ trường hợp viê ̣c cách ly như thế là vì lợi
Trang 3428
ích tốt nhất cho trẻ em” Như vâ ̣y viê ̣c trẻ em được quyền chung sống với cha
mẹ được pháp luâ ̣t tôn tro ̣ng và bảo vê ̣, không ai có quyền cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ trừ trường hợp việc cách ly đó là cần thiết cho sự phát triển của trẻ Thực tiễn cho thấy , đã không ít trường hợp cha , mẹ đã có những hành vi ngược đãi con mình đã bi ̣ dư luâ ̣n và xã hô ̣i lên tiếng nên nếu để trẻ sống với cha, mẹ trong môi trường như vậy sẽ không tốt cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ sau này Vì vậy để tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh thì viê ̣c tách trẻ em ra khỏi cha mẹ là cần thiết
Viê ̣c trẻ em không được sống trong gia đình gốc của mình có rất nhiều nguyên nhân có thể do gia đình hoàn cảnh khó khăn không đủ điều kiê ̣n nuôi dưỡng các em, trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi Vì vâ ̣y để các em có điều kiê ̣n được biết nguồn gốc của mình tại khoản 1 Điều 5 Luâ ̣t nuôi con nuôi năm 2010 quy
đi ̣nh thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế trong đó cha dượng, mẹ kế, cô,
câ ̣u, gì, chú, bác ruô ̣t của người được nhâ ̣n là con nuôi được xem là lựa chọn đầu tiên khi cha, mẹ, ông, bà, anh, chị em ruô ̣t của người được nuôi không có khả năng nuôi dưỡng, vì vâ ̣y những người thân thuô ̣c và có cùng huyết thống này sẽ đảm đảo được nguồn gốc cũng như gia đình gốc của trẻ em Luâ ̣t nuôi
con nuôi năm 2010 cũng đã quy đi ̣nh: “ Con nuôi có quyền được biết về
nguồn gốc của mình Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc của mình”[22,Điều 11] Quy đi ̣nh trên sẽ đảm bảo cho trẻ em được quyền biết
về nguồn gốc, cô ̣i nguồn của mình Điều này cũng phù hợp với đa ̣o lý của người Viê ̣t Nam ta “ cây có cô ̣i, nước có nguồn” tìm về cô ̣i nguồn, người đã
có công sinh thành ra mình
Viê ̣c quy đi ̣nh về viê ̣c được biết về nguồn gốc xuất phát từ thực tiễn, có rất nhiều trường hợp sau khi nhận con nuôi, cha mẹ nuôi không muốn con nuôi biết được nguồn gốc của mình để tình cảm giữa họ và con nuôi không bị rạn nứt, cha mẹ nuôi sợ sau khi biết nguồn gốc đứa trẻ sẽ về với cha, mẹ đẻ
Trang 3529
của chúng, nhưng việc không cho trẻ biết về cội nguồn của mình cũng sẽ có những ảnh hưởng xấu nhất định Chẳng hạn vì không biết ngồn gốc nên sau khi lớn lên đứa trẻ đó có quan hệ tình cảm hoặc kết hôn với một người nào đó
có họ trong phạm vi ba đời trực hệ cùng huyết thống với mình, điều đó không những trái pháp luật mà còn ảnh hưởng đến con cháu của họ sau này, vô tình làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của người Việt Nam ta Vì vậy việc quy định quyền được biết về nuồn gốc của trẻ, quyền được sống trong gia đình gốc là cần thiết cho sự phát triển của trẻ sau này
2.1.2 Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi tự nguyện, bình đẳng không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Là một trong ba nguyên tắc cơ bản trong giải quyết việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 4 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 Nguyên tắc này
là cơ sở cho việc xem xét áp dụng các điều kiện, trình tự thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi đối với nhận con nuôi và người được nhận con nuôi một cách công bằng Trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi, lợi ích của trẻ được cho làm con nuôi được tính đến trước lợi ích của cha, mẹ nuôi bởi do điều kiện, hoàn cảnh nhất định trẻ em đã không được sống trong môi trường gia đình gốc của mình nên phải tìm gia đình thay thế cho trẻ vì vậy lợi ích của trẻ phải được ưu tiên lên hàng đầu Tại khoản 2 Điều 5 Luật nuôi con nuôi năm
2010 quy định: “Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận trẻ
làm con nuôi thì xem xét giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất”
Sự kiện nuôi con nuôi thực hiện theo nguyện vọng của bên nhận nuôi
và bên được nhận nuôi trên tinh thần tự nguyện giữa bên cho và bên nhận, không ai hoặc yếu tố nào có thể bắt một người phải nhận đứa trẻ làm con nuôi hoặc bắt một đứa trẻ phải nhận người khác làm cha, mẹ nuôi nếu họ không
Trang 3630
muốn, các bên thể hiện hiện chí tự nguyện cho, nhận con nuôi bằng các hành động như đăng ký nhu cầu nhận nuôi con nuôi…; việc nuôi con nuôi không phân biệt giữa người nhận con nuôi là nam hay nữ, thành phần tôn giáo, người độc thân hay đã kết hôn nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đều có thể nhận con nuôi; đối với con nuôi đều có thể là nam hay nữ nếu
đủ diều kiện và đúng đối tượng đều có thể được nhận làm con nuôi Pháp luật nuôi con nuôi cũng giống như mọi lĩnh vực khác các quy định đều được áp dụng chung trên nguyên tắc bình đẳng đối với mọi công dân
Việc cho trẻ làm con nuôi cũng phải đảm quyền được trình bày quan điểm, ý kiến về nguyện vọng của trẻ em, đối với trẻ em dưới 09 tuổi được thực hiện qua người giám hộ (cá nhân hoặc tổ chức tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể) bởi do còn non nớt về thể chất và trí tuệ các em chưa thể biết được cái gì là tốt, đúng đắn, đối với trẻ em từ 09 tuổi trở lên được cho làm con nuôi phải có sự đồng ý của trẻ em đó[22, Điều 21] tránh tư tưởng áp đặt của những người giám hộ thể hiện ý chí trái với nguyện vọng của các em, tạo nên tư tưởng không tốt đối với trẻ em; Việc nuôi con nuôi cũng phải tính đến nguyện vọng của người nhận con nuôi, có thể lựa chọn trẻ làm con nuôi là nam hoặc nữ phù hợp với nguyện vọng của người nhận con nuôi
Bản chất của quan hệ nuôi con nuôi là tạo dựng mối quan hệ cha mẹ con bền vững, thể hiện tính nhân đạo, nhân văn cao cả nên ngoài việc tự nguyện, bình đẳng không phân biệt đối xử, việc nuôi con nuôi không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Tại Điều 13 Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã tổng hợp các hành vi bị cấm, những hành vi trên trước đây cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan nhưng do không được quy định theo một chỉnh thể thống nhất nên các quy định mang tính tản mạn không toát lên được ý phòng ngừa, răn đe đối với các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 37em ( Điều 112), tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), tội giao cấu trẻ em (Điều 115)…Bộ luật hình sự năm 1999 Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã kết hợp với những quy định cấm này với việc theo dõi tình hình nuôi con nuôi trong nước đó là việc thông báo tình hình phát triển của con nuôi theo Điều 23 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 là biện pháp pháp lý an toàn để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của trẻ em
*Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi Đây là một hiện tượng cần được chấn chỉnh, đã có trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phát hành những giấy tờ làm sai lệch hồ sơ nhân thân, nguồn gốc của trẻ được cho làm con nuôi Để ngăn chặn những hành vi trên, người có hành vi sử
Trang 3832
dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký cho, nhận nuôi con nuôi bị phạt tiền
từ 01 đến 3 triệu đồng; hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký cho, nhận nuôi con nuôi thì bị phạt tiền từ 03 đến 5 triệu đồng (Điều 50 Nghị định 110/2013/NĐ-CP)
* Phân biệt giữa con đẻ và con nuôi: Mục đích của nuôi con nuôi là xác định mối quan hệ cha mẹ con bền vững, pháp luật HN&GĐ, pháp luật về bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đều quy định về vấn đề này Vì vậy khi việc nuôi con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quan hệ cha mẹ con được xác lập thì cha, mẹ không được phân biệt đối xử giữa con đẻ
và con nuôi, các con đều phải được đối xử như nhau
*Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số: Theo quy định tại Pháp lệnh số 03/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 09 tháng 01 năm 2003 về dân số thì mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh 02 con để đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục tốt cho con Tuy nhiên, thực tiễn lại rất nhiều vướng mắc khi có những gia đình chỉ sinh con trai mà không sinh con gái hoặc có những gia đình chỉ sinh con gái mà không sinh con trai nên đã có nhiều gia đình đã lách luật bằng các biện pháp như giả
ly hôn để người vợ sinh con sau khi sinh con vợ chồng kết hôn lại để chồng nhận con riêng của vợ làm con nuôi hoặc có gia đình đã cho con làm con nuôi
để sinh con thứ ba… Trước những hiện tượng xã hội như vậy, việc cho trẻ
em làm con nuôi cũng là một trong những hành vi nhằm vi phạm chính sách
về dân số, kế hoạch hóa gia đình làm gia tăng mật độ dân số, mất cân bằng giới tính Để ngăn chặn tình trạng này, Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã nghiêm cấm việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số Người có hành vi vi phạm này bị phạt từ 03- 5 triệu đồng theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 50 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP
Trang 39về bảo hiểm xã hội, miễn giảm học phí [2]…có trường hợp đã đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của những trường hợp trên nhưng vẫn sinh sống cùng cha, mẹ đẻ mà không hề phát sinh quan hệ nuôi con nuôi Đây là những vấn đề đã và đang phát sinh tại các địa phương, nhiều ban, ngành đã phản ánh Vì vậy cần phải ngăn cấm triệt để, đảm bảo chính sách pháp luật của nhà nước ta được thi hành nghiêm chỉnh, đúng đối tượng Người có hành vi lợi dụng viê ̣c làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế đô ̣, chính sách ưu đãi của Nhà nước sẽ bị phạt tiền từ 03-05 triê ̣u theo quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 50 Nghị đi ̣nh số 110/2013/NĐ-CP
*Ông bà nhâ ̣n cháu làm con nuôi hoă ̣c anh chị em ruô ̣t nhâ ̣n nhau làm con nuôi
Luâ ̣t nuôi con nuôi năm 2010 đã quy đi ̣nh cấm những trường hợp trên bởi nếu phát sinh quan hê ̣ nuôi con nuôi sẽ làm đảo lô ̣n thứ bâ ̣c trong quan hê ̣ gia đình (ông, bà trở thành bố mẹ, cháu thành con; anh, chị thành cha mẹ, em
Trang 4034
thành con) điều này trái với pháp luâ ̣t, đa ̣o đức xã hô ̣i ảnh hưởng đến quan hê ̣ pháp luâ ̣t sau này như quan hê ̣ thừa kế Vì vâ ̣y Luâ ̣t nuôi con nuôi năm 2010 đã đưa ra quy đi ̣nh cấm những trường hợp trên
Ở đây cần phân biê ̣t giữa quan hê ̣ nuôi con nuôi và nuôi dưỡng Viê ̣c nuôi con nuôi là làm phát sinh quan hê ̣ giữa cha, mẹ và con, còn nuôi dưỡng
là nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình trong trường hợp bố, mẹ chết
mà không cần phải xác lâ ̣p quan hê ̣ nuôi con nuôi Vì vậy đối với những trường hợp này, khi tiếp nhận yêu cầu đăng ký nuôi con nuôi các cơ quan chức năng có trách nhiệm phân tích, giải thích để người dân hiểu được bản chất của việc nuôi con nuôi
*Lợi dụng nuôi con nuôi để vi phạm pháp luâ ̣t, phong tục tâ ̣p quán, truyền thống văn hóa tốt đe ̣p của dân tô ̣c
Quy đi ̣nh trên là hết sức cần thiết nhằm giữ gìn kỷ cương , đảm bảo cho mọi công dân sống và làm viê ̣c theo Hiến pháp và pháp luâ ̣t, giữ gì bản sắc văn hoá dân tô ̣c, ngăn chă ̣n các hành vi vi pháp pháp luâ ̣t, lợi dụng viê ̣c nuôi con nuôi để vi phạm pháp luâ ̣t về dân số, chính sách người có công và các chính sách khác
2.1.3 Chỉ cho làm con nuôi ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế trong nước
Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc Trong điều kiện, hoàn cảnh nào đó
mà trẻ không thể sống trong gia đình gốc, để đảm bảo tốt nhất cho quyền và lợi ích của trẻ em, pháp luật đã quy định việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em
ở trong nước đó là việc nuôi con nuôi Chỉ xem xét đến giải pháp cho trẻ làm con nuôi nước ngoài nếu không thể tìm được gia đình thay thế cho trẻ em ở trong nước và mục đích cho trẻ làm con nuôi nước ngoài cũng là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em Nguyên tắc trên cũng đã được quy định tại văn kiện quốc tế