Phát triển Y tế chính là phát triển chất lượng. Tiêu chuẩn Y tế thế giới đã định nghĩa “ chất lượng Y tế là đảm bảo cho bệnh nhân một quá trình định bệnh, điều trị có kết quả tốt nhất, ít nguy cơ bị tai biến, được bệnh nhân hài lòng với giá cả phải chăng.” Mà bác sĩ muốn điều trị cho bệnh nhân có kết quả tốt nhất, ít bị nguy cơ tai biến nhất thì bác sĩ phải biết được tiền sử của bệnh nhân đối với bệnh nhân mới khám, còn đối với bệnh nhân tái khám ngoài việc hỏi bệnh nhân thì nghiên cứu Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân là cần thiết vì trong Hồ sơ bệnh án co đầy đủ các thông tin về bệnh của bệnh nhân mà bác sĩ cần qua đó bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị thích hợp. Do đó, để đảm bảo chất lượng, song song với việc xác định tiêu chuẩn chất lượng khám chữa bệnh thì cần phải có một quy trình quản lý Hồ sơ bệnh án tốt.
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết
ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Quản trị bệnh viện – Trường Đại Học Hùng Vương đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Và đặc biệt, em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Bệnh viện Quận 2 đã tạo điều kiện cho em được thực tập, em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Bs Kiều Ngọc Minh – Trưởng phòng kế hoạch tổng hợp cùng các anh chị nhân viên trong phòng đã chỉ bảo em để em cọ sát với thực tế học học nhiều điều, có nhiều kiến thức giúp em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Và em cũng xin chân thành cám ơn BS.CKII Phạm Hữu Quốc đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khóa luận
Trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình làm khóa luận Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực quản lý Hồ sơ bệnh án kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sv Đào Thị Huyền
Trang 4DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tình hình nhân sự tại bệnh viện
Bảng 2.1: Số lượng Hồ sơ bệnh án được đưa vào lưu trữ từ năm 2010-2013 Bảng 2.2: Mục đích và đối tượng phục vụ của Hồ sơ bệnh án
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, khi toàn thể nhân loại đang bước vào thế kỷ 21, thế
kỷ với những sử đổi mới và phát triển về mọi mặt thì việc chăm lo đến sức khỏe con người là mối quan tâm của toàn xã hội Bởi vì con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết định sự phát triển của đất nước trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy, đầu tư cho sức khỏe chính là đầu tư cho sự phát triển
Phát triển Y tế chính là phát triển chất lượng Tiêu chuẩn Y tế thế giới đã định nghĩa “ chất lượng Y tế là đảm bảo cho bệnh nhân một quá trình định bệnh, điều trị
có kết quả tốt nhất, ít nguy cơ bị tai biến, được bệnh nhân hài lòng với giá cả phải chăng.” Mà bác sĩ muốn điều trị cho bệnh nhân có kết quả tốt nhất, ít bị nguy cơ tai biến nhất thì bác sĩ phải biết được tiền sử của bệnh nhân đối với bệnh nhân mới khám, còn đối với bệnh nhân tái khám ngoài việc hỏi bệnh nhân thì nghiên cứu Hồ
sơ bệnh án của bệnh nhân là cần thiết vì trong Hồ sơ bệnh án co đầy đủ các thông tin về bệnh của bệnh nhân mà bác sĩ cần qua đó bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị thích hợp Do đó, để đảm bảo chất lượng, song song với việc xác định tiêu chuẩn chất lượng khám chữa bệnh thì cần phải có một quy trình quản lý Hồ sơ bệnh án tốt
Hồ sơ bệnh án là một hồ sơ rất quan trọng đối với bệnh viện và bệnh nhân Nó được coi như những bằng chứng chứng tỏ bệnh nhân đã và đang điều trị tại bệnh viện ( bị bệnh gì, điều trị như thế nào, để là căn cứ nếu bệnh nhân muốn chuyển viện, và được chuyển viện ) Và nó cũng là những chứng cứ pháp y liên quan đến người bệnh nếu người bệnh dính lứu đến pháp luật, nó cũng là cơ sở để cho các cơ quan điều tra, và tòa án ra quyết định Nên việc làm và bảo quản hồ sơ bệnh án là một điều cần thiết vì bệnh án làm bằng giấy, rất nhanh hư hại trong khi đó thời gian bảo quản một bệnh án thì rất lâu, muốn hủy phải theo các quy định hủy bệnh án Trong quá trình bảo quản bệnh án nếu bệnh án bị hư hại thì rất nguy hiểm Chính vì điều đó, việc khảo sát và áp dụng những quy trình quản lý bệnh án tiên tiến là một điều rất cần thiết hiện nay
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguồn tài liệu của Phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện quận 2
[2] Nguồn tài liệu của Phòng Tổ chức cán bộ Bệnh viện quận 2
[3] Quản lý bệnh viện (1997), NXB Y học Hà Nội
[4] Quy chế bệnh viện (1997), NXB Y học Hà Nội
[5] BS Nguyễn Thành Ni, “ Đề cương môn học quản lý Hồ sơ bệnh án ngày 01/01/2001”
[6] http://nanosoft.vn/home/news/87/detail/36/ung-dung-cong-nghe-thong- tin-trong-quan-ly-benh-vien.aspx
[7] http://medisoft.com.vn/moresoft.htm
[8] day-phat-trien-ung-dung-dich-vu-vt-cntt-trong-linh-vuc-y-
http://benhnhietdoi.vn/tin-tuc/CNTT-trong-Y-te/vnpt-va-bo-y-te-thuc-te_7800.html
[9] ung-dung-cntt-o-nganh-y_8204.html
Trang 8http://benhnhietdoi.vn/tin-tuc/CNTT-trong-Y-te/ngo-ngang-su-nghiep-MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH SÁCH BẢNG BIỂU ii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
LỜI MỞ ĐẦU iv
TÀI LIỆU THAM KHẢO v
MỞ ĐẦU 1
1) Đặt vấn đề 1
2) Lý do chọn đề tài 2
3) Mục tiêu của đề tài 4
4) Phạm vi nghiên cứu 4
5) Phương pháp nghiên cứu 4
6) Đối tượng nghiên cứu 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 5
1.1.1 Công nghệ thông tin là gì 5
1.1.2 Vai trò của CNTT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta 5
1.1.3 Ứng dụng CNTT trong Y tế và chăm sóc sức khỏe 9
1.1.4 Vai trò CNTT trong Y tế và chăm sóc sức khỏe ở nước ta 12
1.1.5 Một số lĩnh vực phát triển CNTT Y tế ở Việt Nam 13
1.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC TIN HỌC HÓA TẠI CÁC BỆNH VIỆN GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2010 ĐẾN 2015 17
1.2.1 Mục tiêu chung 17
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 17
1.2.3 Nội dung thực hiện 17
1.3 KHÁI NIỆM VỀ HỒ SƠ BỆNH ÁN 18
1.3.1 Khái niệm 18
1.3.2 Hình thức của Hồ sơ bệnh án 18
1.3.3 Nội dung của Hồ sơ bệnh án 19
Trang 91.4 MỤC ĐÍCH CỦA QUẢN LÝ HỒ SƠ BỆNH ÁN 20
1.5 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ HỒ SƠ BỆNH ÁN 21
1.6 KHÁI NIỆM VỀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ 21
1.7 QUẢN LÝ HỒ SƠ BỆNH ÁN 22
1.7.1 Hồ sơ bệnh án và công tác chăm sóc sức khỏe 22
1.7.2 Hệ thống ghi chép và sổ sách 22
1.7.3 Công tác lưu trữ Hồ sơ bệnh án 23
1.7.4 Đối tượng quản lý Hồ sơ bệnh án 24
CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ BỆNH VIỆN QUẬN 2 VÀ PHÒNG KẾ HOẠCH TỔNG HỢP CỦA BỆNH VIỆN 26
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT BỆNH VIỆN QUẬN 2 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bệnh viện 26
2.1.2 Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện 26
2.1.3 Thành tích – khen thưởng 29
2.1.4 Những thành tựu đạt được 30
2.1.5 Tình hình nhân sự và cơ cấu tổ chức 30
2.1.5.1 Cơ cấu tổ chức 30
2.1.5.2 Tình hình nhân sự 31
2.1.5.3 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện 32
2.2 GIỚI THIỆU VỀ PHÒNG KẾ HOẠCH TỔNG HỢP BỆNH VIỆN QUẬN 2 33
2.2.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Phòng 33
2.2.2 Sơ đồ tổ chức Phòng 34
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỒ SƠ BỆNH ÁN TẠI BỆNH VIỆN QUẬN 2 35
3.1 CÔNG TÁC GIAO BAN 35
3.2 CÁC BƯỚC QUẢN LÝ HSBA HIỆN NAY TẠI BỆNH VIỆN 35
3.2.1 Các giai đoạn quản lý HSBA 35
3.2.2 Công tác lưu trữ HSBA 38
3.2.3 Công tác bảo quản HSBA 39
Trang 103.2.4 Sử dụng HSBA 39
3.2.5 Yêu cầu với việc hủy HSBA 40
3.2.6 Yêu cầu với hoạt động khắc phục và phòng ngừa đối với HSBA chưa phù hợp 40
3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HSBA HIỆN NAY TẠI BỆNH VIỆN 42
3.3.1 Đối với công tác quản lý HSBA bằng giấy 42
3.3.2 Đối với công tác quản lý HSBA bằng công nghệ thông tin 44
3.3.2.1 Phần mềm nhập liệu bệnh nhân tại Khoa Khám bệnh và Khoa Cấp cứu 45
3.3.2.2 Giao diện phần mềm nhập liệu trong lưu trữ HSBA 45
3.3.3 Một số quy trình 46
3.3.3.1 Quy trình nhận bệnh tại khoa khám: 46
3.3.3.2 Quy trình nhận bệnh tại Khoa Cấp cứu 48
3.3.3.3 Quy trình nhập/ xuất viện – BN nội trú: 49
3.3.3.4 Quy trình kiểm tra HSBA tại Phòng KHTH 51
CHƯƠNG IV: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 54
4.1 KIẾN NGHỊ 54
4.2 KẾT LUẬN 55
Trang 11MỞ ĐẦU 1) Đặt vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, khi toàn thể nhân loại đang bước vào thế kỷ 21, thế
kỷ với những sử đổi mới và phát triển về mọi mặt thì việc chăm lo đến sức khỏe con người là mối quan tâm của toàn xã hội Bởi vì con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết định sự phát triển của đất nước trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy, đầu tư cho sức khỏe chính là đầu tư cho sự phát triển
Phát triển Y tế chính là phát triển chất lượng tiêu chuẩn Y tế thế giới đã định nghĩa “ chất lượng Y tế là đảm bảo cho bệnh nhân một quá trình định bệnh, điều trị
có kết quả tốt nhất, ít nguy cơ bị tai biến, được bệnh nhân hài lòng với giá cả phải chăng.” Mà bác sĩ muốn điều trị cho bệnh nhân có kết quả tốt nhất, ít bị nguy cơ tai biến nhất thì bác sĩ phải biết được tiền sử của bệnh nhân đối với bệnh nhân mới khám, còn đối với bệnh nhân tái khám ngoài việc hỏi bệnh nhân thì nghiên cứu Hồ
sơ bệnh án của bệnh nhân là cần thiết vì trong Hồ sơ bệnh án co đầy đủ các thông tin về bệnh của bệnh nhân mà bác sĩ cần qua đó bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị thích hợp Do đó, để đảm bảo chất lượng, song song với việc xác định tiêu chuẩn chất lượng khám chữa bệnh thì cần phải có một quy trình quản lý Hồ sơ bệnh án tốt
Hồ sơ bệnh án là một hồ sơ rất quan trọng đối với bệnh viện và bệnh nhân Nó được coi như những bằng chứng chứng tỏ bệnh nhân đã và đang điều trị tại bệnh viện ( bị bệnh gì, điều trị như thế nào, để là căn cứ nếu bệnh nhân muốn chuyển viện, và được chuyển viện ) Và nó cũng là những chứng cứ pháp y liên quan đến người bệnh nếu người bệnh dính lứu đến pháp luật, nó cũng là cơ sở để cho các cơ quan điều tra, và tòa án ra quyết định Nên việc làm và bảo quản hồ sơ bệnh án là một điều cần thiết vì bệnh án làm bằng giấy, rất nhanh hư hại trong khi đó thời gian bảo quản một bệnh án thì rất lâu, muốn hủy phải theo các quy định hủy bệnh án Trong quá trình bảo quản bệnh án nếu bệnh án bị hư hại thì rất nguy hiểm Chính vì điều đó, việc khảo sát và áp dụng những quy trình quản lý bệnh án tiên tiến là một điều rất cần thiết hiện nay
Trang 122) Lý do chọn đề tài
Khi có vấn đề về sức khỏe, người ta tìm cách chữa trị và phục hồi, có thể tự chữa lấy nhưng hầu hết là nhờ sự giúp đỡ của người khác – thầy thuốc , bác sĩ Một câu hỏi đặt ra: Bác sĩ làm gì? Câu trả lời vắn tắt: tìm; xác định bệnh; chữa trị hợp lý
Quá trình diển tiến bệnh lý của một người có thể khác nhau ở từng giai đoạn khác nhau và quá trình theo dõi bệnh trạng và điều trị của bác sĩ đối với bệnh nhân muốn đạt được hiệu quả và xác thực thì cơ sở duy nhất để làm tốt, đảm bảo chất lượng điều trị là phải có các loại giấy tờ, hố sơ, sổ sách được ghi lại hay được lưu trữ để bác sĩ tham khảo, từ đó mà đề ra phương pháp điều trị hợp lý
Những loại giấy tờ, hồ sơ, sổ sách nêu trên được sử dụng trong bệnh viện gọi
là Hồ sơ bệnh án Ngoài chức năng làm cơ sở cho việc theo dõi quá trình điều trị của bác sĩ, Hồ sơ bệnh án còn thể hiện tình trạng sức khỏe và bệnh tật tại địa phương (quốc gia, vùng, tỉnh,…) thông qua các động tác thống kê báo cáo từ Hồ sơ bệnh án tại các cơ sở Y tế Hồ sơ bệnh án còn được sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học và đào tạo bác sĩ Qua đó, ta thấy công tác quản lý Hồ sơ bệnh án đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống Y tế nói chung và bệnh viện nói riêng
Để quản lý Hồ sơ bệnh án tốt, các bệnh viện cần có những quản lý riêng sao cho khi bệnh án được đưa vào lưu trữ rồi khi cần lấy thì ta lấy được ra ngay Vì vậy mỗi bệnh viện cần xây dựng một hệ thống quản lý Hồ sơ bệnh án thật thống nhât,
và logic từ khi nhận bệnh án đến khi được đưa vào cất giữ Về vĩ mô các bệnh viện cần xây dựng một quy trình chuẩn, sự hợp tác giữa các khoa với nhau trong việc quản lý bệnh án Về vi mô, phòng Kế hoạch tổng hợp cần xem xét một cách kỹ lượng khi nhận bệnh án và kiểm soát tốt quá trình mượn trả bệnh án của các khoa Đây là trọng tâm để bảo quản tốt hồ sơ bệnh án của bệnh viện và tránh được các hệ lụy của nó sau này
Bệnh viện Quận 2 là một bệnh viện được xây dựng mới năm 2008 với cảnh ít bệnh nhân thì đến nay bệnh viện đã khám cho khoảng 1200 lượt bệnh nhân mỗi ngày, và trở thành cơ sở 2 cho bệnh viện Ung Bướu, và chỉ đạo tuyến của bệnh viện
Trang 13Nhi Đồng 2 Bệnh viện quận 2 xứng đáng là một tấm gương để cho các bệnh viện khác học hỏi Chính vì điều đó số lượng hồ sơ bệnh viện cũng tăng lên một cách đáng kể, việc nâng cao và đảm bảo chất lượng quản lý Hồ sơ bệnh án là vô cùng cần thiết đòi hỏi bệnh viện cần phải có một cách bảo quản hồ sơ hợp lý Chính vì điều đó tôi muốn thực hiện đề tài nghiên cứu này với mong muốn được tìm hiểu công tác quản lý hồ sơ bệnh án tại bệnh viện, qua đó cũng góp một vài ý kiến nho nhỏ tới ban lãnh đạo bệnh viện để làm cho công tác quản lý hồ sơ được tốt hơn
Trang 143) Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát:
- Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện quận 2
- Mô tả được quy trình lập và bảo quản được hồ sơ bệnh án
- Nêu được tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong y tế và chăm sóc sức khỏe
5) Phương pháp nghiên cứu
- Tham khảo sách chuyên ngành
- Quan sát trực tiếp và ghi nhận
- Tìm hiểu số liệu và tổng hợp
6) Đối tượng nghiên cứu
Phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện Quận 2
Trang 15CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1.1 Công nghệ thông tin là gì
CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin
CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương pháp, công
cụ bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống dữ liệu nhằm
tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa… của con người
1.1.2 Vai trò của CNTT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Phát biểu khai mạc Diễn đàn cấp cao CNTT-TT Việt Nam năm 2013 (Vietnam ICT Summit 2013) diễn ra ngày 20/6/2013, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết: Từ năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Trong đó xác định CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của phát triển, góp phần làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
Hơn 10 năm qua, CNTT đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP của đất nước, có tác động lan tỏa thúc đẩy phát triển nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội Việt Nam đã có vị trí trên bản
đồ CNTT thế giới
Tuy nhiên, với góc nhìn tổng thể về năng lực cạnh tranh và phát triển của quốc gia, Thủ tướng lưu ý: Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng còn thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao, cải cách hành chính còn chậm, không ít chỉ số cạnh tranh quốc gia của Việt Nam còn thua kém một số nước trong khu vực
Trang 16Trong bối cảnh hiện nay, Thủ tướng cho rằng CNTT là một phương thức phát triển mới giúp Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa Việt Nam thoát nguy cơ tụt hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Để CNTT thực sự trở thành nền tảng của phương thức phát triển mới, Chính phủ yêu cầu các các Bộ, ngành, địa phương, và cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà nghiên cứu cùng triển khai 7 nội dung, nhiệm vụ giải pháp
Một là nâng cao nhận thức, quán triệt quan điểm CNTT là 1 nền tảng của phương thức phát triển mới trong các cấp quản lý, các ngành kinh tế xã hội, trong mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội Phát triển và ứng dụng CNTT trong sản xuất, kinh doanh và quản lý, hướng tới mục tiêu nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh quốc gia, coi đây là con đường ngắn nhất để Việt Nam tiến kịp các nước phát triển, tiến cùng thời đại
Hai là xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia, ban hành chuẩn thông tin quốc gia, bảo đảm khả năng kết nối liên thông đồng bộ, chú trọng công tác an ninh,
an toàn bảo mật thông tin quốc gia
Ba là đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, làm chủ các bí quyết, giải pháp công nghệ mới, ưu tiên đào tạo phát triển nguồn nhân lực CNTT của từng ngành, lĩnh vực, từng địa phương, doanh nghiệp và của cả quốc gia
Bốn là xây dựng cơ chế chính sách tạo thuận lợi và hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo việc ứng dụng CNTT trở thành một yêu cầu tiên quyết trong mọi ngành, lĩnh vực, mọi công trình, dự án đầu tư trong tiến trình phát triển
Năm là tạo môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường CNTT, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và xây dựng năng lực cạnh tranh, vươn ra thị trường ngoài nước
Trang 17Sáu là tăng cường hợp tác quốc tế, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài để phát triển CNTT
Bảy là phát triển và ứng dụng CNTT được coi là nhiệm vụ quan trọng của toàn
bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội Người đứng đầu tất cả các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về triển khai ứng dụng hiệu quả CNTT vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững
Tiếp thu 7 nội dung giải pháp, nhiệm vụ Thủ tướng nêu ra tại Diễn đàn Vietnam ICT Summit 2013, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Son cho biết: Bộ TT&TT đang nỗ lực hoàn thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách về CNTT nhằm tiếp tục tạo hành lang pháp lý để phát triển nhanh CNTT-TT, góp phần quan trọng đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào 2020 Thực hiện Nghị quyết của Đảng và sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ TT&TT sẽ phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực trong quản lý hạ tầng đồng bộ thông tin, nội dung thông tin phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Đảng và Nhà nước, phát triển năng lực CNTT quốc gia để đáp ứng yêu cầu cung cấp trao đổi thông tin của xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Trong xã hội ngày nay, không có một lĩnh vực nào, ngành nào, không có nơi nào không có sự hiện diện của CNTT Tác động của CNTT đối với đời sống xã hội
là vô cùng to lớn, không chỉ đẩy mạnh – nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế mà còn kéo theo sự biến đổi về phương thức sáng tạo, tạo ra của cải trong đời sống xã hội
và tư duy của con người Ở Việt Nam, những năm vừa qua, CNTT đã phát triển nhanh, mạnh, từng bước ứng dụng rộng rãi trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao năng lực, năng suất lao động, cải thiện được hiệu quả hoạt động, thay đổi lối sống của con người Trong thời gian tới, CNTT sẽ trở thành một động lực quan trọng và mang tính đột phá của sự phát triển đất nước" Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son nhấn mạnh
Trang 18Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son cho biết, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 đã ban hành Nghị quyết số 13 về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Trong đó, hạ tầng thông tin là một trong những hạ tầng quan trọng thuộc hệ thống kết cấu hạ tầng được ưu tiên phát triển Thực hiện Nghị quyết số 13, Bộ TT&TT đã đề ra Chương trình hành động cụ thể, theo đó, đưa ra các quan điểm, định hướng lớn trong phát triển CNTT-TT trong thời gian tới Một là tăng tốc phát triển hạ tầng thông tin trên cơ sở tính kế thừa, tận dụng thành tựu, kết quả phù hợp với các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch trong lĩnh vực TT&TT kết hợp với những đột phá phát triển với những mục tiêu cao hơn và tốc độ nhanh hơn Hai là đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào quản lý, khai thác, vận hành kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và toàn bộ nền kinh tế, coi thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong lộ trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa từng ngành, từng lĩnh vực Ba là phát triển công nghiệp CNTT-TT có giá trị gia tăng cao, chủ động hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đáp ứng nhu cầu trong nước, xuất khẩu ra thị trường thế giới
"Diễn đàn lần này là cơ hội để giới CNTT-TT trao đổi và đưa ra các giải pháp góp phần thực hiện thành công Nghị quyết số 13 của Trung ương, nâng tầm và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là sự quan tâm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tôi tin rằng giới CNTT-
TT sẽ hiện thực hóa được mục tiêu sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT-TT và có hạ tầng thông tin ngang tầm khu vực, thế giới" Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son nói
Diễn đàn năm nay bàn về việc phát huy vai trò của CNTT trong nâng cao năng lực cạnh tranh, tập trung vào các vấn đề: xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia, cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cải cách giáo dục đào tạo Đây là những vấn đề đang được Chính phủ đặc biệt quan tâm giải quyết
Trang 191.1.3 Ứng dụng CNTT trong Y tế và chăm sóc sức khỏe
Công nghệ thông tin đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ giúp ích cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý m2 còn có vai trò quan trọng trong việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong công tác KCB như chụp cắt lớp, mổ nội soi,… rồi trong công tác giảng dạy, đào tạo, gám sát dịch bệnh, nghiên cứu phát triển thuốc,…
Người bệnh và bệnh viện được lợi gì khi ứng dụng CNTT: Năm 2012, Khoa
Khám chữa bệnh theo yêu cầu của BV Bạch Mai, một trong những đơn vị tiên phong của BV đã áp dụng thữ nghiệm đưa thẻ KCB điện tử nhỏ gọn như thẻ ATM với rất nhiều tiện ích cho bệnh nhân Theo đó chỉ cần sở hữu một thẻ KCB điện tử mua thẻ tại Khoa KCB theo yêu cầu, bệnh nhân sẽ có mã số, mã vạch và mật khẩu
để có thể truy cập trang web của BV Bạch Mai bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu miễn
là có đường truyền Internet Hiệu quả của việc ứng dụng CNTT đã thấy rõ, bởi thẻ KCB điện tử sẽ giống như một bệnh án điện tử, mỗi lần đi KCB, bệnh nhân không phải mang nhiều giấy tờ, hồ sơ bệnh án, không phải chờ đợi làm các thủ tục, xét nghiệm, thăm khám lại, mà bác sỹ điều trị vẫn có thể xác định tương đối chính xác phác đồ điều trị bởi mọi thông tin bệnh án như tiền sử bệnh, triệu chứng, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc, các chất chống chỉ định cũng như tất cả thông tin liên quan qua các lần KCB, điều trị đã được lưu giữ tại hệ thống máy tính bệnh viện Không những thế, người bệnh qua quá trình KCB còn có thể liên hệ trực tiếp, gửi e-mail cho các bác sỹ điều trị; vào hệ thống đọc các thông tin liên quan đến bệnh lý, tự so sánh đánh giá, tự xác định kết quả KCB với các mức chi phí quy định Việc này vừa không chỉ tạo ra vô vàn thuận lợi cho người bệnh mà còn góp phần nâng cao chất lượng KCB và đẩy nhanh việc giải quyết thủ tục hành chính cho bệnh nhân của Khoa Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, thời gian chờ khám khi chưa ứng dụng CNTT trung bình là 30 phút, đến nay đã giảm hơn nửa; thời gian chờ mua thuốc trước là 45 phút nay còn khoảng 10 phút; thời gian làm thủ tục xuất viện
Trang 20trước từ 2- 4 giờ, nay chỉ còn… 15 phút! Việc kê đơn thuốc trước đây nhiều người kêu ca về chữ bác sĩ xấu, khó đọc nay nhờ áp dụng mô hình quản lý bằng CNTT
mà đơn thuốc được in trên giấy vi tính dễ đọc, lãnh đạo BV lại dễ dàng quản lý việc
kê đơn thuốc nhằm giảm tình trạng các đơn thuốc chưa hợp lý đến tay người bệnh Với BV Gang thép Thái Nguyên, việc làm chủ CNTT và ứng dụng thành công CNTT trong quản lý BV đã đem lại những hiệu quả rất thiết thực Theo đó, 100% bệnh nhân đã được quản lý trên mạng của BV với mã số riêng giúp cho việc tra cứu các kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh từ những lần khám trước rất nhanh chóng trong thời gian khoảng 1 phút thay cho việc phải chờ đợi các thủ tục hành chính để rút các hồ sơ bệnh án như trước (kéo dài gần 1 ngày); Các khoa dự trù và cấp phát thuốc qua mạng do đó người bệnh được công khai thuốc hàng ngày qua các phiếu in trên mạng có đầy đủ thông tin về tên thuốc, làm lượng, số lượng, nước sản xuất… đến giá tiền Không những thế, đối với hoạt động của BV, việc ứng dụng CNTT đã giúp phòng chức năng kiểm tra được các thất thu về tài chính, làm giảm tỷ lệ thất thu trong toàn bệnh viện từ trung bình >10 triệu đồng/tháng xuống còn < 1 triệu đồng/ tháng… CNTT còn làm giảm 2/3 thời gian giải quyết thủ tục hành chính tạo điều kiện cho cho các thầy thuốc có thêm thời gian chăm sóc và tiếp xúc bệnh nhân
Ứng dụng CNTT để đối phó với đại dịch: TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng
Cục Y tế Dự phòng và Môi trường, Bộ Y tế cho biết, hiện nay trang thiết bị về CNTT của hệ YTDP cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu bước đầu về cơ sở vật chất, với 100% TTYTDP tuyến huyện được trang bị máy tính, 100% TTYTDP tỉnh, thành phố đã kết nối mạng internet… Ngoài ra tại các Viện Vệ sinh dịch tễ và Pasteur TƯ, khu vực tạo còn được trang bị hệ thống thiết bị hội nghị truyền hình tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao ban, trao đổi thông tin về phòng, chống dịch bệnh, kiểm dịch y tế quốc tế, sức khỏe môi trường, y tế lao động… đặc biệt là đối phó với các dịch bệnh nguy hiểm như SARS, cúm AH5N1 nhanh chóng, kịp thời
và đỡ tốn kém hơn hơn Bên cạnh đó, các phần mềm chuyên môn về kiểm soát dịch- quản lý hóa chất, kiểm soát bệnh truyền nhiễm- vaccine, sức khỏe- nghề
Trang 21nghiệp và tai nạn thương tích… đã được Cục triển khai áp dụng để nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, phòng chống dịch bệnh…
Tại Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, trước đây khách hàng phải nộp hồ sơ trực tiếp
và nhận kết quả từ chuyên viên thụ lý riêng của từng lĩnh vực Quá trình tiếp nhận, thụ lý hồ sơ này hoàn toàn lệ thuộc vào chuyên viên chuyên trách, vì thế dễ dẫn đến một số bất cập Nhưng từ năm 2005, song song với quá trình triển khai thực hiện cơ chế một cửa trong các dịch vụ hành chính công, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh đã ứng dụng CNTT vào hoạt động qua việc sử dụng phần mềm dùng chung quản lý văn bản và hồ sơ công việc để quản lý quy trình và hồ sơ của tất cả các dịch vụ hành chính công mà Sở đang cung ứng cho người dân Kết quả triển khai CNTT trong hoạt động dịch vụ hành chính công tại Sở Y tế đã giúp toàn bộ quá trình thụ lý hồ
sơ được thực hiện chặt chẽ trên môi trường mạng LAN, quá trình xử lý được kiểm soát chặt chẽ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ tăng lên… Bên cạnh đó, người dân cũng có một kênh tra cứu thông tin và giao tiếp với cơ quan quản lý nhà nước thuận lợi, hạn chế được phần nào tình trạng người dân phải “ăn chực nằm chờ” với thủ tục hành chính công như trước
CNTT với cải cách thủ tục hành chính: Mặc dù CNTT đã có những đóng góp
thiết thực đối với sự phát triển trên nhiều mặt hoạt động của ngành y tế trong thời gian quan, nhưng thực tế cho thấy đầu tư cho CNTT trong ngành y tế vẫn manh mún, dàn trải và chưa có kiến trúc tổng thể về ứng dụng CNTT của toàn ngành; các chuẩn thông tin y tế chưa hoàn chỉnh, đồng bộ do đó nhiều đơn vị đã không thành công khi triển khai ứng dụng CNTT ở cơ sở Vì vậy tại hội nghị về ứng dụng CNTT trong ngành y tế vừa được tổ chức vào cuối tháng 2.2009, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã nhấn mạnh và yêu cầu: “Với nhận thức sâu sắc vai trò của CNTT đối với công tác y tế hiện đại, ngành y tế cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công cụ này vừa để tạo ra những biến chuyển mang tính bước ngoặt trong chuyên môn, vừa góp phần giảm nhẹ các thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công tác quản lý điều hành và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…” Trên tinh thần
đó, Ban chỉ đạo CNTT ngành y tế cho hay theo kế hoạch ứng dụng CNTT năm
Trang 222009-2010, ít nhất 50% thông tin trao đổi, giao dịch giữa Bộ Y tế, các đơn vị y tế tuyến TƯ
và Sở Y tế sẽ thực hiện trên mạng, giảm thiểu sử dụng giấy tờ; 30% hội nghị, hội thảo của ngành được thực hiện trên môi trường mạng và 100% văn bản phục vụ các cuộc họp của Bộ được cung cấp thông tin dưới dạng điện tử cho các đại biểu trước cuộc họp… Theo đó, các dịch vụ hành chính công sẽ được cung cấp ở mức độ 2 trên cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế và website của Sở Y tế để phục vụ người dân, doanh nghiệp…
1.1.4 Vai trò CNTT trong Y tế và chăm sóc sức khỏe ở nước ta
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho rằng ứng dụng CNTT trong ngành y tế còn manh mún, dàn trải, thiếu các dự án tổng thể và chất lượng các dự án không cao; Nhân lực chuyên môn về CNTT tại các cơ sở y tế và các đơn vị y tế thiếu, mất cân đối, tự phát, không thống nhất và đây được coi là điểm yếu rất cơ bản, những “nút thắt” cần sớm khắc phục…
Hiện nay Bộ Y tế đã xác định được 247 thủ tục hành chính được thực hiện tại
cơ quan Bộ trong các lĩnh vực như dược, mỹ phẩm; khám chữa bệnh; y học cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị và công trình y tế; y tế dự phòng và môi trường; an toàn vệ sinh thực phẩm; tổ chức cán bộ… Mục tiêu đặt ra trong thời gian tới là 100% dịch vụ công đơn giản liên quan đến hành chính phải được cung cấp thông tin trên môi trường mạng, số dịch vụ công trực tuyến ở mức 2 là 245 dịch vụ (chiếm 99,2%) phải sớm được hoàn thành
Về ứng dụng phần mềm, do đặc thù ngành y nên hầu hết các cơ sở y tế đã đưa vào sử dụng các phần ứng dụng như: quản lý nhân sự, vật tư - tài chính, quản lý công văn… đều chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc chuyên môn Thực tế đã
có tới hơn 65% bệnh viện toàn quốc ứng dụng phần mềm báo cáo thống kê của bệnh viện; 20% bệnh viện ứng dụng phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện Một số bệnh viện tuyến trung ương đã hình thành bệnh viện vệ tinh có hệ thống y tế từ xa như Bệnh viện Nhi T.Ư, Việt Đức, Bạch Mai… nhằm tư vấn cho các bệnh viện tuyến dưới Tuy nhiên, việc ứng dụng các phần mềm vẫn chưa có được kết quả như mong muốn Chính vì vậy, Bộ Y tế xác định các đơn vị cần hỗ trợ để các nhà cung
Trang 23cấp dịch vụ tin học xây dựng các phần mềm ứng dụng chuyên biệt trong một số lĩnh vực như quản lý bệnh viện, quản lý trang thiết bị, quản lý đào tạo,… đồng thời Bộ
Y tế cho sử dụng một số chuẩn quốc tế làm cơ sở xây dựng các phầm mềm ứng dụng Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long đề nghị việc cần làm ngay là đánh giá đúng thực trạng về những khó khăn, yếu kém đối với việc ứng dụng CNTT trong ngành y
tế, nhất là ở y tế cơ sở Như vậy ngay trong năm 2012, Bộ Y tế sẽ tập trung triển khai một số dự án ưu tiên nhằm tăng cường ứng dụng CNTT phục vụ công tác bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân như xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu Bộ Y tế; đăng ký vốn năm 2013 cho dự án “Bệnh án điện tử và quản lý hệ thống khám chữa bệnh”; xây dựng chuẩn CNTT trong ngành y tế; nâng cao năng lực hệ thống thông tin y tế; xây dựng dự án quản lý bệnh nhân sử dụng công nghệ Smartcard với mã bệnh nhân thống nhất; hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi cho
dự án "Xây dựng dịch vụ tư vấn y tế, khám chữa bệnh từ xa"
Đặc biệt năm 2012, Bộ Y tế cũng sẽ gấp rút kiện toàn tổ chức CNTT, như việc thành lập Cục Công nghệ thông tin thuộc Bộ Y tế và phòng Công nghệ thông tin ở tất cả các bệnh viện hạng I và hạng đặc biệt; ưu tiên một số dự án trọng điểm quốc gia như phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện dự án Internet cộng đồng nông thôn - Hợp phần Bộ Y tế Bộ Y tế phấn đấu đến năm 2015 có các phần mềm hỗ trợ 100% hoạt động quản lý, điều hành tại cơ quan Bộ Y tế; 100% cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế ứng dụng CNTT để quản lý mọi mặt hoạt động quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ hành chính Qua đó rút ngắn thời gian cho thủ tục hành chính, để bác sỹ có điều kiện chuyên tâm vào công tác chuyên môn
1.1.5 Một số lĩnh vực phát triển CNTT Y tế ở Việt Nam
Trong những năm qua, lĩnh vực viễn thông, Công nghệ thông tin ngày càng chứng minh vai trò quan trọng làm thay đổi diện mạo của đời sống xã hội với những giải pháp, dịch vụ tiện ichs Trong lĩnh vực y tế, có thể thấy rằng, VT, CNTT cũng
đã và đang tạo ra những thay đổi mới mẻ, không chỉ thúc đẩy cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, hoạt động của đơn vị y tế mà còn hỗ trợ hiệu quả công tác ứng dụng thành công kỹ thuật cao trong các hoạt động Khám chữa bệnh
Trang 24như: chụp cắt lớp, mổ nội soi, khám chữa bệnh từ xa, đào tạo E-Learning, Y tế điện
tử, bệnh viện không giấy tờ Đặc biệt trong quá trình triển khai dự án bệnh viện vệ tinh
Từ những năm 1998, VNPT đã là doanh nghiệp tiên phong thực hiện các hợp tác trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ VT, CNTT cho các bệnh viện tuyến trung ương thực hiện dự án truyền hình hội nghị trong điều trị với các bệnh viện trong khu vực Cụ thể từ năm 2005, dự án truyền hình hội nghị trong lĩnh vực y tế (Telemedicine) đã được VNPT triển khai thành công với việc thực hiện thành công
ca phẫu thuật tại bệnh viện Việt Tiệp (Hải phòng) dưới sự tư vấn từ xa của bệnh viện Việt Đức tại Hà Nội Tiếp đó, năm 2006 ca phẫu thuật can thiệp tim mạch đã được triển khai giữa bệnh viện Tim Việt Nam và chuyên gia Singapore Cho đến nay nhiều chương trình Hội thảo truyền hình giữa Bộ Y tế và các đơn vị trên toàn quốc và giữa các bệnh viện, các cơ sở đào tạo đã được VNPT phối hợp triển khai thành công
Bên cạnh đó, những dịch vụ CNTT là các chương trình phần mềm ứng dụng phát triển mô hình bệnh viện không giấy tờ đã thực hiện thành công tại nhiều bệnh viện trên toàn quốc Dịch vụ này đã chứng minh tính ưu việt, hiệu quả rõ rệt trong công tác quản lý thông tin, dữ liệu, văn bản, quản lý thuốc, khám chữa bệnh… Điều này đã thúc đẩy quá trình cải cách thủ tục hành chính bao gồm các công tác về đón tiếp bệnh nhân, thu phí, chỉ định xét nghiệm vv
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là khám chữa bệnh không còn là vấn đề mới tại Việt Nam và tính hiệu quả của của mô hình này mới vẫn mang tính chất đơn lẻ ở từng đơn vị khám chữa bệnh, đào tạo (chủ yếu là những cơ sở y tế tuyến trung ương) Do đó rất cần năng lực cung cấp dịch vụ hiện đại, đồng bộ và chuyên nghiệp của các nhà cung cấp dịch vụ Nắm bắt nhu cầu này, VNPT đã và đang xây dựng, phát triển các giải pháp, dịch vụ VT, CNTT theo hướng tích hợp công nghệ hiện đại, chất lượng cao, giá thành phù hợp để đáp ứng nhu cầu hội nghị truyền hình và giải pháp khám bệnh từ xa nhằm phục vụ công tác của Bệnh viện, cơ sở y tế và các trường đào tạo thuộc ngành Y tế
Trang 25Tại Hội thảo “Phát triển ứng dụng CNTT-VT đối với ngành Y tế” là một sự kiện nằm trong chuỗi các hoạt động của Tuần lễ VNPT 2011 VNPT đã giới thiệu
về một số dịch vu VT, CNTT tiêu biểu phục vụ cho ngành y tế Về dịch vụ giải pháp hội nghị truyền hình ứng dụng trong lĩnh vực y tế Telemedicine Với dịch Telemedicine, các bệnh viện, cơ sở đào tạo y tế sẽ thu được lợi ích thiết thực thông qua việc tiết kiệm chi phí tổ chức Hội nghị, rút ngắn thời gian, kết nối được đồng thời tới nhiều điểm cầu tại các vùng địa lý khác nhau, thông tin hội nghị được lưu trữ, bảo mật Hiện với dịch vụ này VNPT đã có hạ tầng rộng khắp với đường truyền vệ tinh Vinasat 1, tuyến cáp quang biển đi quốc tế, hệ thống truyền dẫn quang nối đến 100% xã phường trên toàn quốc với tốc độ truyền dẫn cao, chất lượng âm thanh, hình ảnh rõ nét (hỗ trợ chuẩn HD) Đặc biệt với công nghệ hiện đại, dịch vụ này của VNPT có thể cung cấp đến gần 800 điểm cầu trong một chương trình Hội nghị truyền hình Đặc biệt với phương tiện máy tính cá nhân, các chuyên gia, cá nhân riêng lẻ có thể tham gia hội nghị tại bất cứ điểm cầu nào Với hạ tầng đồng bộ, bề dày kinh nghiệm qua triển khai hệ thống truyền hình trực tuyến phục vụ Chính phủ, các bộ ngành, địa phương (mạng chuyên dùng) trong những năm qua, VNPT khẳng định sự sẵn sàng về dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu của ngành Y tế
Đối với dịch vụ an ninh và lưu trữ, tại Hội nghị VNPT đã giới thiệu khá ấn tượng về gõi dịch vụ MegaCamera và dữ liệu tập trung Hiện nay trước những yêu cầu về giám sát an ninh tại các bệnh viện ngày càng cao, dịch vụ MegaCamera được đánh giá là một giải pháp tích hợp hiện đại Với MegaCamera, các bện viện có thể tiết kiệm được chi phí đầu tư do không phải mua sắm thiết bị mà chỉ cần trả phí hàng tháng MegaCamera có tính bảo mật cao, tích hợp với mạng quản trị nội bộ, điện thoại di động, website Đối với dịch vụ dữ liệu tập trung, đây là một dịch vụ thiết yếu đối với yêu cầu quản lý thông tin dữ liệu của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế và các đơn vị đào tạo, bệnh viện Với số lượng dữ liệu y tế ngày càng tăng, việc lưu trữ và quản lý tốt, an toàn sẽ phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý, đào tạo, khám chữa bệnh Dịch vụ này còn cho phép hình thành các cổng thông tin
y tế với các dữ liệu tập trung và chính thống để các đơn vị khám chữa bệnh khai thác sử dụng, người bệnh tham khảo, tra cứu thông tin
Trang 26Một trong những nội dung dịch vụ thu hút sự quan tâm của Hội thảo đó là những ứng dụng của dịch vụ MyTv đối với các bệnh viện và phòng điều trị tự nguyện MyTv là dịch vụ truyền hình sử dụng công nghệ IPTV Với công nghệ này, MyTv cung cấp đa dịch vụ tương tác trên nền IP; nội dung cung cấp không giới hạn,
có tính lưu trữ, tương tác linh hoạt Ngoài những chương trình truyền hình truyền thống, MyTv vượt trội hơn với các dịch vụ gia tăng giải trí (thông tin thị trường, thời tiết, thời trang, mua sắm, kho phim và ca nhạc, tin tức ) Với dịch vụ này, tại phòng điều trị, có thể đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí cho người bệnh với các dịch
vụ hấp dẫn trên MyTv như ca nhạc, phim theo yêu cầu, nghe radia, chơi game, thư giãn Ngoài ra myTv còn có thể kết nối với hệ thống quản trị của bệnh viện để cung cấp các dịch vụ như thông tin về bệnh án, thông báo của bệnh viện đối với bệnh nhân, thông báo lịch khám, giá dịch vụ, báo thức, ăn uống
Sau hơn 2 năm thực hiện thỏa thuận hợp tác giữa VNPT và Bộ Y tế, tính đến thời điểm này, VNPT đang tích cực thực hiện triển khai dịch vụ VT, CNTT tới các đơn vị thuộc Bộ Y tế trên cả nước Điển hình như việc cung cấp cho Bộ Y tế đường truyền tốc độ cao để phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, và các dự án tư vấn y tế, khám chữa bệnh từ xa, thiết lập thông tin y tế cộng đồng, cải cách hành chính Trong hoạt động hỗ trợ thông tin y
tế phục vụ cộng đồng, từ năm 2010, Cổng thông tin y tế VHO của VNPT đã kết hợp nhiều công cụ VT-CNTT khác nhau để thực hiện công tác tuyên truyền thông tin y
tế phục vụ nhu cầu thông tin của người dân, cán bộ y tế trên toàn quốc Đặc biệt trong đề án hỗ trợ 2 huyện nghèo Sìn Hồ, Mường Tè (Lai Châu), VNPT đã đầu tư xây dựng hạ tầng y tế kết hợp với chương trình khám chữa bệnh và đào tạo cán bộ y
tế cho trung tâm y tế huyện và trạm y tế xã
Tiếp tục khẳng định cam kết trong thỏa thuận hợp tác giữa VNPT và Bộ Y tế, tại Hội thảo, đại diện VNPT nhấn mạnh, chính sách giá cước ưu đãi cho ngành y tế với mức hỗ trợ tối đa sẽ được duy trì với đối tượng tham gia là các đơn vị, cá nhân trong ngành Y tế: các cơ sở y tế, các trường đại học, cao đẳng và trung học y trên toàn quốc, các cán bộ công nhân viên, học sinh, sinh viên, những người đang công tác trong ngành Y tế
Trang 271.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC TIN
HỌC HÓA TẠI CÁC BỆNH VIỆN GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2010 ĐẾN
2015
Theo quyết định số 1191/QĐ – BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt
Đề án kiện toàn hệ thống tổ chức CNTT trong các đơn vị sự nghiệp của Ngành Y tế trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2015 với các nội dung sau:
1.2.1 Mục tiêu chung
Kiện toàn hệ thống tổ chức công nghệ thông tin trong các đơn vị sự nghiệp của Ngành Y tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động CNTT trong Ngành Y tế, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả trong quản lý điều hành hoạt động của các đơn
1.2.3 Nội dung thực hiện
Thành lập phòng CNTT tất cả các đơn vị sự nghiệp hạng đặc biệt và hạng I, tại các trường đại học và cao đẳng trong Ngành Y tế
Chức năng của phòng CNTT và quản lý, triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của đơn vị
Nhiệm vụ của phòng:
+ Xây dựng kế hoạch triển khai ứng dụng và phát triên CNTT trong hoạt động của đơn vị, trình thủ trưởng đơn vị phê duyệt
Trang 28+ Tổ chức thiết kế, lắp đặt các thiết bị CNTT cho các tổ chức thuộc đơn vị theo
kế hoạch đã được phê duyệt
+ Hướng dẫn, đào tạo nâng cao năng lực ứng dụng CNTT vào các hoạt động của đơn vị cho cán bộ, viên chức của đơn vị
+ Quản lý, duy trì hoạt động ổn định, có hiệu quả của hệ thống mạng, hệ thống thư điện tử, đảm bảo việc kết nối thông tin giữa các khoa, phòng và với cơ quan
Bộ Y tế và các đơn vị sự nghiệp có liên quan
+ Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu của đơn vị
+ Tổ chức triển khai các giải pháp đảm bảo an toàn và bảo mật cho hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của đơn vị
Biên chế của Phòng dự kiến 8-15 người Trong đó cán bộ, viên chức có trình độ Đại học chuyên ngành CNTT chiếm 60% tổng số cán bộ, viên chức của phòng
1.3 KHÁI NIỆM VỀ HỒ SƠ BỆNH ÁN
1.3.1 Khái niệm
Hồ sơ bệnh án là gì?
- Hồ sơ bệnh án là một bộ tài liệu sưu tập những sự kiện đã qua và quá trình can thiệp của thầy thuốc có liên quan đến tình trạng sức khỏe của người bệnh
- Hồ sơ bệnh án là bằng chứng pháp lý về mối quan hệ xã hội giữa người bệnh và bác sĩ tại một cơ sở điều trị
1.3.2 Hình thức của Hồ sơ bệnh án
- Hồ sơ bệnh án là một bộ ( tập ) hồ sơ gồm nhiều loại giấy tờ và hình ảnh khác nhau được sắp xếp theo thứ tự nhất định và đóng lại thành tập để dễ dàng lưu trữ và tra cứu khi cấn thiết
Các loại giấy tờ trên thông thường gồm có:
Mẫu bệnh án in sẵn;
Các loại mẫu in phiếu xét nghiệm;
Phiếu ghi theo dõi tình trạng bệnh và chi tiết điều trị;
Trang 29 Phiếu theo dõi chăm sóc điều dưỡng
Hình ảnh có:
Phim X-quang; phim CT-scanner; MRI,…
Hình siêu âm;
Hình nội soi;
Điện tâm đồ; điện não; điện cơ;…
1.3.3 Nội dung của Hồ sơ bệnh án
Hiện nay đối tượng chủ yếu và phổ biến của công tác quản lý Hồ sơ là HSBA nội trú Thông thường, Bệnh án nội trú được in sẵn với bìa và 4 trang chính, gồm:
Trang 1:
Chứa các thông tin tổng quát về quá trình nằm viện hay còn gọi là
“trang thống kê” Hầu hết các trang này đều đã được mã hóa nhằm phục vụ cho công tác thống kê báo cáo và chia thành 5 phần:
Phần 1: Lý lịch ( thông tin của Bệnh nhân)
Phần 2: Quản lý bệnh nhân ( theo dõi quá trình nằm viện )
Phần 2: Bệnh án: do bác sĩ điều trị thực hiện tại khoa điều trị sau khi khám toàn diện bệnh nhân và phải hoàn thành trong vòng 24 giờ sau nhập viện Bao gồm các phần:
Lý do vào viện
Hỏi bệnh
Trang 30Phần cuối trang này thể hiện việc quản lý HSBA như họ tên và chữ ký người giao nhận, số lượng và các loại phim X-Quang kèm theo hồ sơ
Tiếp theo các trang in sẵn là các gáy để dán các loại giấy và phiếu rời Tùy quy mô Bệnh viện mà có số lượng gáy Tuy nhiên, các hồ sơ pahi3 được dán theo đúng thứ tự được quy định theo quy chế làm Hồ sơ bệnh án Trong mỗi nhóm, các phiếu được xếp theo thứ tự thời gian ngược với mục đích:
- Tạo sự thống nhất cho hệ thống HSBA của Bệnh viện
- Giúp tra cứu nhanh chóng trong quá trình theo dõi Bệnh nhân, đặc biệt là hồi sức cấp cứu
1.4 MỤC ĐÍCH CỦA QUẢN LÝ HỒ SƠ BỆNH ÁN
Hồ sơ bệnh án được xem là một loại hồ sơ đặc biệt quan trọng, phục vụ cho nhiều yêu cầu khác nhau như:
- Theo dõi quá trình điều trị
- Cung cấp cho bác sĩ điều trị tham khảo khi bệnh nhân tái nhập viện
- Phục vụ thông tin cho các mục đích:
+ Nghiên cứu khoa học
+ Giảng dạy và đào tạo
+ Phục vũ cho các yêu cầu của cơ quan bảo vệ pháp luật
+ Cung cấp thông tin cho cơ quan BHYT
Trang 311.5 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ HỒ SƠ BỆNH ÁN
a Đối với bệnh nhân:
Thể hiện tình trạng sức khỏe, quá trình diễn biến bệnh lý của một người trong một giai đoạn cụ thể và quá trình theo dõi bệnh trạng và điều trị của bệnh viện (bác sĩ) đối với bệnh nhân trong khoảng thời gian tương ứng
b Đối với pháp luật:
Thể hiện nội dung pháp lý, đó là bằng chứng về sự can thiệp của thầy thuốc đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh nhằm bảo vệ, phục hồi sức khỏe và kéo dài sự sống của người bệnh
c Đối với xã hội:
Thể hiện tình hình sức khỏe và bệnh tật tại địa phương ( quốc gia, tỉnh, vùng,…) thông qua công tác thống kê báo cáo từ hồ sơ bệnh án tại các cơ sở y
tế
d Đối với ngành Y tế:
Thể hiện hoạt dộng chuyên môn của bệnh viện, cơ sở y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo thầy thuốc
1.6 KHÁI NIỆM VỀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ
Khái niệm quản lý:
Thuật ngữ quản lý là một phương thức làm cho hoạt động hướng tới mục tiêu được hoàn thành với một hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác Phương thức này bao gồm những chức năng hay hoạt động cơ bản mà nhà quản lý có thể sử dụng đó là hoạch định, tổ chức, điều khiển, và kiểm tra Quản lý là quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển, và kiểm tra nhân, tài, vật lực và thông tin của một tổ chức một cách có ích và có hiệu quả nhằm theo đuổi những mục tiêu của tổ chức
Khái niệm quy trình quản lý:
Trang 32Quy trình quản lý là việc quản lý các hoạt động bao gồm hoạch định, tổ chức, điều khiển, và kiểm tra:
- Hoạch định bao gồm việc định rõ những mục tiêu của tổ chức, thiết lập một chiến lược toàn bộ để thực hiện những mục tiêu và phát triển một hệ thống gồm những kế hoạch hạ cấp để tổng hợp và phối hợp những hoạt động
- Tổ chức gồm việc xác định những nhiệm vụ phải làm, ai sẽ thực hiện những nhiệm vụ đó, những nhiệm vụ đó được thực hiện như thế nào, ai báo cáo cho ai, và những quyết định được làm ra ở đâu
- Điều khiển bao gồm việc động viên những người dưới quyền, điề khiển những hoạt động của những người khác, chọn lọc một kênh thông tin hiệu nghiệm nhất, giải quyết các xung đột, mâu thuẫn, thay đổi,…
- Kiểm tra bao gồm các công việc theo dõi các hoạt động, so sành với mục tiêu đặt ra và điều chỉnh, sửa chữa những sai lệch so với mục tiêu
thức được rằng “ một dân tộc khỏe mạnh sẽ đem lại sự phát triển kinh tế dồi dào” Chính vì thế, người ta bắt đầu quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Tại Mỹ năm 1952, Bệnh viện đầu tiên được thành lập tại Philadelphia mang tên bệnh viện Pennsylvania Benjamin Franklin phục vụ như một thư ký, ông ta đã ghi lại danh sách bệnh nhân điều trị tại bệnh viện với các chi tiết như tên họ, địa chỉ, bệnh trạng, ngày nhập viện và ngày xuất viện ( bằng chữ viết tay )