Trong những năm qua, công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng. Với mục tiêu xây dựng một đội ngũ công chức có năng lực và trình độ chuyên môn cao, huyện Phú Bình đã có nhiều chủ trương định hướng trong công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện. Trước tình hình thực tế hiện nay một số công chức cấp xã huyện Phú Bình chưa đáp ứng yêu cầu của công việc do hạn chế về năng lực và trình độ. Với mục đích đào tạo và bồi dưỡng để xây dựng một đội ngũ công chức đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, kỹ năng và các kiến thức bổ trợ khác trước mắt cần tập trung nâng cao số lượng, chất lượng đào tạo bồi dưỡng và đặc biệt cơ cấu hợp lí, quan tâm và tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức quản lý đương nhiệm và công chức trong diện quy hoạch. Tuy nhiên muốn thực hiện có hiệu quả mục tiêu đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã của huyện có chất lượng cao cần thống kê, khảo sát nắm chắc chất lượng đội ngũ công chức các xã trong phạm vi toàn huyện để xây dựng kế hoạch và cử đi đào tạo, bồi dưỡng hàng năm theo chỉ tiêu được giao.Việc xây dựng và triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ trong công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã trong những năm tới chắc chắn sẽ tạo bước chuyển biến cơ bản về số lượng và chất lượng sớm đáp ứng nhiệm vụ và yêu cầu trong tình hình mới. Chính vì vậy muốn hướng tới một nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, các cơ quan trong bộ máy chính quyền cấp huyện, xã cần phải quan tâm, chú trọng trong việc đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ công chức cấp xã để có được một lực lượng công chức chuyên sâu đầu ngành trên các lĩnh vực trọng yếu, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, góp phần tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của huyện trong thời kì mới.Qua đây tác giả nhận thấy được kiến thức tiếp thu được ở trên giảng đường đại học là rất quan trọng. Đó là cơ sở, nền tảng khoa học để bắt nhịp với công việc trong thực tiễn. Qua đó tác giả đã có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức đã học trong nhà trường được vận dụng vào thực tế, rèn luyện kĩ năng đã học, mở mang kiến thức, học hỏi kinh nghiệm từ những người công chức đi trước.
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6
A PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Vấn đề nghiên cứu 11
6 Giả thuyết nghiên cứu 11
7 Phương pháp nghiên cứu 11
7.1 Phương pháp thu thập thông tin 11
7.2 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp 12
8 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 12
9 Bố cục đề tài 13
B: PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC XÃ CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH 14
Trang 31.1 Tiếp cận vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức 14
1.1.1 Khái niệm đào tạo và bồi dưỡng 14
1.1.2 Khái niệm công chức 16
1.1.3 Khái niệm công chức cấp xã 18
1.2 Nội dung của công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức 21
1.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo công chức 21
1.2.2 Lập kế hoạch ĐTBD 22
1.2.3 Thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức 22
1.2.4 Kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng 22
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã .23
1.3.1 Các yếu tố khách quan 23
1.3.2 Các yếu tố chủ quan 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA UBND HUYỆN PHÚ BÌNH 26 2.1 Khái quát về huyện Phú Bình 26
2.2 Số lượng và chất lượng công chức cấp xã của huyện Phú Bình 26
2.3 Thực trạng công tác đào tạo và bồi dưỡng CC cấp xã của huyện Phú Bình giai đoạn 2011-2015 31
2.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng 31
2.3.2 Lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015 34 2.3.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã.36 2.3.4 Kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã.41
Trang 42.4 Đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn
2011-2015 42
2.4.1 Kết quả đạt được 42
2.4.2 Hạn chế 43
2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã 43
2.5 Khuyến nghị 44
2.5.1 Đối với huyện Phú Bình 44
2.5.2 Đối với công chức xã 45
KẾT LUẬN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 50
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT CHỮ CÁI VIẾT TẮT CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ
Trang 6DANH MỤC BẢNG
BẢNG 2.1 THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨCCẤP XÃ CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH 27BẢNG 2.2 THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH NHU CẦU ĐÀO TẠO VÀ BỒIDƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ GIAI ĐOẠN 2011-2015 32BẢNG 2.3 TỔ CHỨC CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC CẤP XÃGIAI ĐOẠN 2011-2015 37Bảng 2.4 Tổ chức lớp bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015 40
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ: 2.1 MỨC ĐỘ ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG PHÙ HỢP VỚI VỊTRÍ VIỆC LÀM CÔNG VIỆC 29BIỂU ĐỒ 2.2 MỨC ĐỘ NẮM BẮT KIẾN THỨC CỦA CÔNG CHỨC CẤPXÃ 30Biểu đồ 2.3 Nhu cầu mong muốn tham gia các khóa học của công chức cấp
xã chưa qua qua đào tạo 33
Trang 8A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, yếu tốquyết định trong phát triển của mỗi cơ quan, đơn vị và mỗi địa phương.Côngchức cấp xã là bộ phận đặc thù, liên quan trực tiếp đến nhân dân do vậy việcphát triển nguồn nhân lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân
Trong điều kiện kinh tế thế giới không ngừng biến đổi, xu thế hội nhậpWTO ngày càng sâu rộng và cạnh tranh ngày càng găy gắt và khốc liệt thì nguồnnhân lực là yếu tố quyết định đến thành công của một tổ chức
Chính quyền hành chính cấp xã có vị trí, vai trò quan trọng trong hệthống chính trị, là nơi truyền tải mọi chủ trương, đường lối của Đảng chínhsách của Nhà nước đến ngươì dân Do đó cần phải có một đội ngũ công chứcđủ bản lĩnh chính trị, có đạo đức cách mạng và trang bị những kiến thức cơbản về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý Nhà nước, lý luận chính trị….Để đápứng yêu cầu công việc đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải nângcao chất lượng đội ngũ công chức Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc" "Công việc thành công hay thất bại đều docán bộ tốt hay kém" Thật vậy câu nói đấy của Bác vẫn luôn là tư tưởng chỉđạo để các thế hệ mai sau học hỏi và noi gương
Phú Bình là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái nguyên, có điềukiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội Hiện nay công tác đàotạo và bồi dưỡng chính quyền cấp xã của huyện Phú Bình hoạt động ngàycàng có hiệu lực và hiệu quả.Trong những năm qua huyện Phú Bình đặc biệtchú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã nên đạt đượcnhững kết quả to lớn như sau: 96,3% công chức cấp xã có trình độ chuyênmôn từ trung cấp trở lên phù hợp với chức danh đảm nhiệm theo tiêu chuẩnquy định; 92% công chức cấp xã thực hiện bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng
Trang 9năm về chuyên môn, nghiệp vụ chức danh đảm nhiệm.; 87% công chức cấp
xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên; 100% công chức cấp xã đượcbồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí côngviệc; 100% người hoạt động không chuyên trách được bồi dưỡng kiến thứcquản lý Nhà nước, lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ đối với chức danhđảm nhiệm
Bên cạnh những thành tự đạt được thì công tác đào tạo và bồi dưỡngcông chức vẫn còn một số bất cập như sau: Đào tạo và bồi dưỡng công chứcchưa đồng bộ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu, nội dung đào tạo, bồidưỡng còn thiếu cân đối giữa việc trình độ lý luận chính trị với kỹ năngchuyên môn nghiệp vụ; một số lĩnh vực chưa sâu, còn nhiều lý thuyết, ít kiếnthức thực tiễn; chưa quan tâm nhiều đến đào tạo kiến thức quản lý chuyênngành, lĩnh vực; việc mở các lớp bồi dưỡng theo chuyên đề có phần hạn chế.Chất lượng đào tạo (nhất là hệ tại chức) chưa cao, một số công chức đangchạy theo bằng cấp Đào tạo chưa gắn liền với quy hoạch, đào tạo và sử dụngchưa ăn khớp với nhau.Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo và bồidưỡng công chức còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu, khu vực ănuống và nghỉ ngơi của công chức còn nhiều hạn chế
Xuất phát từ những lý do trên,tác giả chọn đề tài “Công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên ”, làm
đề tài nghiên cứu khóa luận của mình Thông qua việc nghiên cứu đề tài,đồng thời chỉ ra những hạn chế của công tác này Từ đó làm tiền đề góp phầnđề xuất một số giải pháp, khuyến nghị góp phần nâng cao chất lượng củacông tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức trong cơ quan nhànước nói chung và công chức cấp xã nói riêng đã có nhiều công trình đề cậpđến vấn đề này Chẳng hạn như:
Trang 10Đề tài “Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan Tổng Liên đoànLao động Việt Nam giai đoạn hiện nay” của Lê Khắc Á, đề tài đã đề cập lýluận chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện naynói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức Tổng liên đoàn Lao động ViệtNam trong giai đoạn hiện nay nói riêng, và không những thế tác giả còn đưa
ra được thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay Đồng thờiđề tài còn đóng góp được những giải pháp thiết thực cho công tác đào tạo, bồidưỡng công chức trong giai đoạn hiện nay
Hay đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngànhTư pháp theoyêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” của tác giả NguyễnHữu Thanh Đề tài đã góp phần làm phong phú thêm lý luận về công tác đàotạo, bồi dưỡng công chức nói chung và đào tạo, bồi dưỡng ngành tư pháp nóiriêng, từ đó giúp cho công chức đang trực tiếp làm công tác thanh tra trongngành tư pháp và những người làm nhiệm vụ quản lý công tác đào tạo, bồidưỡng rút ra nhận thức chung về vấn đề này để nâng cao chất lượng, hiệu quảtrong công tác thanh tra
Vấn đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức cấp xã người dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh” của Trần Đức Độ, đề tàitrên có nhiều quan điểm và giải pháp nêu trong luận văn và áp dụng nhằmtăng cường nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực CBCC người dântộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh nói riêng, các tỉnh trong nước nói chung Tuynhiên đề tài trên chưa bám sâu vào cơ sở lý luận để phân tích vấn đề
Đặc biệt là đề tài “Đào tạo cán bộ, công chức của tỉnh Cần thơ” đượcTrần Ngọc Điệp chọn làm đề tài nghiên cứu, bảo vệ tại Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh, năm 1999 đã đưa ra được cái nhìn tổng quan về tìnhhình đào tạo công chức ở tỉnh Cần Thơ Tuy nhiên đề tài trên mang tính tổngquát nên đôi khi không quan tâm được hết các nội dung trong vấn đề nghiêncứu, các nội dung chưa cụ thể, rõ ràng
Trang 11Ngoài ra đề tài “Nhận diện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công tytrách nhiệm hữu hạn MTV My linh Thái Nguyên” của Vương Quang Luân,
cử nhân ngành Khoa học quản lý khóa 8 Thông qua nghiên cứu tác giả đãđưa ra thực trạng, giải pháp nhằm nâng chất lượng đào tạo, nguồn nhân lực tạicông ty này
Tóm lại có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến đào tạo, bồi dưỡngcông chức Tuy nhiên đề tài nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã tại UBND huyện Phú Bình thì chưa có tác giả nào đề cập tới Do đó đề tài
có tính mới về không gian nghiên cứu Đề tài của tác giả sẽ kế thừa nhữngthành quả mà các công trình nghiên cứu trên đã đạt đươc, đồng thời qua phântích tài liệu, kết quả có được từ điều tra, khảo sát để làm rõ vấn đề nghiên cứucủa đề tài
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến tìm hiểu thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng côngchức cấp xã của huyện Phú Bình, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượngcông tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở huyện Phú Bình, tỉnh TháiNguyên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã;
- Tìm hiểu thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã;
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cho công chức cấp xã ở huyện Phú Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình,tỉnh Thái nguyên
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2016 đến tháng
03/2016;
- Phạm vi thời gian khảo sát số liệu: 2011- 2015;
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Công tác đào tạo bồi dưỡng công chứccủa huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
5 Vấn đề nghiên cứu
Công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình hiện nay được thực hiện như thế nào? Cần có những giải pháp nào để nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
6 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã của huyện Phú Bình, hiện nayđược thực hiện theo kế hoạch, chỉ tiêu về số lượng cấp trên giao, xuất phát từnhu cầu thực tế, theo quy hoạch số lượng, chất lượng CC cấp xã của huyện vàbước đầu đạt được những kết quả nhất định:
Để công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện PhúBình ngày càng có chất lượng thì cần chú trọng đến một số biện pháp sau đây:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về công tácđào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã;
- Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng khoa học dựatrên nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức thực tế
- Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và công chức cấp xã vềchức năng, vai trò của công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức của huyệnPhú Bình, tỉnh Thái nguyên
- Huyện Phú Bình cần chú trọng, quan tâm đến các công chức đangtrong danh sách được huyện cử đi đào tạo và bồi dưỡng theo Kế hoạch đểcông chức hoàn thành được khóa học, mang lại hiệu quả cao nhất
Trang 13- Tường cường đầu tư kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bịhiện đại để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã.
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhiều bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khácnhau nhưng trong đề tài của tác giả sử dụng một số phương pháp như;
7.1 Phương pháp thu thập thông tin
Trên cơ sở các tài liệu thu thập thông qua sách, giáo trình, báo, đài, công văn, quyết định,kế hoạch và Internet, sau khi đã phân tích xử lý, tiến hành tổng hợp các ý, luận điểm chính, nội dung từng vấn đề liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng để từ đó nhận diện cụ thể hơn về công tác đào tạovà bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
7.2 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở thu thập các tài liệu tiến hành phân tích, tổng hợp làm tiềnđề cho đưa ra các nhận xét cụ thể trong từng nội dung, thực trạng góp phầnnâng cao chất lượng công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã củahuyện Phú Bình
7.3 phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Tổng số công chức cấp xã 206 công chức trên tổng số 222 công chứcđược giao theo biên chế Căn cứ vào số lượng công chức đã, đang và họcsong của 5 xã (Bàn Đạt, Kha Sơn, Bảo Lý, Tân Kim, Tân Thành) có số lượngcông chức đi học nhiều nhất để làm nghiên cứu cho bảng hỏi phục vụ cho đềtài nghiên cứu khóa luận
+ Số phiếu tiến hành phát: 40 phiếu( mỗi xã phát 8 phiếu)
+ Số phiếu thu về là: 40 phiếu
+ Số phiếu hợp lệ: 40 phiếu
+ Số phiếu không hợp lệ: 0 phiếu
8 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
8.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Trang 14Bằng việc hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến đề tài, góp phần làmphong phú thêm hệ thống lý luận về công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức.
8.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Những khuyến nghị đề cập trong khóa luận có thể giúp cho cơ quan hành chính cấp huyện áp dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng vàsố lượng cơ cấu công chức, duy trì và phát triển tổ chức ổn định
Kết quả khảo sát có thể được trích dẫn làm tài liệu tham khảo cho những đề tài có cùng hướng nghiên cứu, và những độc giả quan tâm tới vấn đề này
9 Bố cục đề tài
Ngoài những nội dung như: Lời cảm ơn, Danh mục từ viết tắt, Mục lục,Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo, Danh mụcbảng đề tài khóa luận có kết cấu 2 chương:
Chương 1:Một số vấn đề lý luận về công tác đào tạo và bồi dưỡng côngchức cấp xã;
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xãcủa huyện Phú Bình giai đoạn 2011-2015
Trang 15B: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC XÃ CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH
1.1 Tiếp cận vấn đề đào tạo và bồi dưỡng công chức
1.1.1 Khái niệm đào tạo và bồi dưỡng
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta đã chủ trương: Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, thị trấn với chương trình nội dung sát hợp; chú trọng đào tạo công chức Đảng ta coi việc đào tạo, bồi dưỡng công chức là việc thường xuyên được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “ Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”.Các cấp, bậc đào tạo đối với công chức theo quy định của Nghị định nói trên gồm có: đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng,đại học cho những công chức đã được bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ lãnh đạo,quản lý mà chưa đáp ứng được trình độ đào tạo theo quy định và đào tạo sau đại học.Tóm lại đào tạo là quá trình trang bị một cách có hệ thống kiến thức
cơ bản theo một chương trình có mục tiêu nhất định, nhằm hình thành và pháttriển các tri thức, kỹ năng, kỹ sảo, nghề nghiệp của mỗi cá nhân Đào tạo được xem là quá trình làm cho người ta trở thành có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định và có khả năng nhận được một sự phân công lao động Quá trình đào tạo, tùy theo mỗi cấp học mà mục tiêu đào tạo phải có một chương trình, nội dung và thời gian tương ứng, cuối khóa học, nếu người được học đáp ứng những yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp.Hay nói cách khác: Hoạt động đào tạo làm cho người CC trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, còn hoạt động bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực, phẩm chất
Trang 16Theo khoản 2 Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của
Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “Bồi dưỡng là
hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” Đây là
một quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng ghề nghiệp, nâng cao năng lực trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được đào tạo trước đó Trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng công chức, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức, kỹ năng thực thi nhiệm vụ, công vụ của người công chức
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định hai chế độ bồi dưỡng sau: Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch; Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành Trong chế độ bồi dưỡng này cần phân biệt: bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chuyên ngành và bồi dưỡng cập nhật theo vị trí việc làm Bồi dưỡng là quá trình bổ sung, cập nhật, củng cố kiến thức hoặc tăng thêm kiến thức mới cho người học Bồi dưỡng là quá trình làm cho người ta tăng thêm năng lực, phẩm chất Bồi dưỡng là công việc được tiến hành sau đào tạo, là việc bổ sung thêm kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm việc trong quá trình làm việc trên nền tảng của tri thức đã được đào tạo Kết quả của khóa bồi dưỡng là người học nhận chứng chỉ sau khi nộp bản báo cáo thu hoạch hoặc bài thi, kiểm tra Chứng chỉ được cấp trong đào tạo, bồi dưỡng công chức là cơ sở để công chức được xếp, hưởng các chế độ chính sách của những ngạch, chức danh cụ thể theo quy định Như vậy hoạt động đào tạo và bồi dưỡng là hai quá trình khác nhau nhưng đề có chung mục đích là cung cấpkiến thức cho người CC để tăng cường năng lực và hiệu quả trong bộ máy nhà nước.Nhìn chung, trong điều kiện chất lượng đội ngũ công chức nước ta còn hạn chế thì đào tạo, bồi dưỡng là giải pháp hữu hiệu nhất góp phần hoàn thiện cơ cấu cho chính quyền Nhà nước từ Trung ương đến địa phương
1.1.2 Khái niệm công chức
Khái niệm công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại cùng với sự ra đời vàphát triển của Nhà nước, nhưng quan điểm thế nào là công chức thì còn tồn
Trang 17tại rất nhiều ý kiến khác nhau Dưới cách hiểu chung: "Công chức là nhữngcông dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhànước, do ngân sách Nhà nước trả lương", mỗi nước đều xây dựng cho mìnhnhững khái niệm riêng phù hợp với quan niệm về hoạt động công vụ, chế độchính trị, văn hóa và lịch sử phát triển của họ.
Nền công vụ truyền thống Pháp quy định về công chức khá rõ ràng.Điều 2 Chương II Quy chế chung về công chức Nhà nước của Pháp năm 1994xác định: "Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thườngxuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trongthứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặccác công sở Nhà nước"
Trong những năm gần đây, một khái niệm khác được thừa nhận là:
"Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồnglãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong mộtcông sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào mộtngạch của nền hành chính công" Theo cách hiểu này, công chức Pháp gồm 3loại: Công chức hành chính Nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnhthổ và công chức trực thuộc các công sử tự quản
Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công táctrong ngành hành chính
Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của chính phủ đềuđược gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chínhtrị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập vànhững quan chức của ngành hành chính Quan hệ giữa Chính phủ và côngchức là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theoLuật hành chính, quan hệ này còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự
Tóm lại chúng ta có thể thấy mỗi quốc gia đều xác định một phạm vinhững người là công chức riêng Tuy nhiên hầu hết công chức đều mang mộtsố đặc điểm sau: là công dân nước đó, được tuyển dụng giữ một công việc
Trang 18thường xuyên trong cơ quan hành chính Nhà nước, được bổ nhiệm vào mộtngạch nhất định, làm việc trong công sở, chỉ được làm những gì pháp luật chophép, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Ở nước ta, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng vàngày càng hoàn thiện Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hànhSắc lệnh 76/ SL về "Quy chế công chức", đây được xem là văn bản pháp luậtđầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này Quy chế xác định rõ nghĩa
vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sửdụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó "những công dân ViệtNam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyêntrong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức”
Thời gian sau đó, chúng ta cũng đã có nhiều văn bản đề cập đến côngchức, công vụ và gần đây nhất, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công
chức Theo quy định này, "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật".
Theo Luật Cán bộ công chức thì công chức được hiểu là: công chức là
công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chứcdanh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
Trang 19trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcQuân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, côngnhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcủa đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trongbiên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộmáy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.(khoản 2, điều 4 của Luật cán bộ công chức) Như vậy trong khuôn khổ củakhóa luận này thuật ngữ công chức được hiểu theo Luật cán bộ công chức
Tóm lại, dù phạm vi của khái niệm công chức rộng hay hẹp, thì tầmquan trọng của lực lượng công chức đối với sự phát triển của nền công vụ nóiriêng và của cả đất nước nói chung là không thể phủ nhận Vấn đề đặt ra làphải làm thế nào để nâng cao, đổi mới toàn diện chất lượng và hiệu quả làmviệc của đội ngũ này, vì sự phát triển chung của toàn xã hội
1.1.3 Khái niệm công chức cấp xã
Cấp xã là đơn vị hành chính cuối cùng gần dân nhất, trực tiếp quản lýcác mặt đới sống xã hội Vì vậy muốn thực hiện quản lý tốt thì phải có nhữngcon người đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ muốn đạt được những tiêuchuẩn trên thì phải thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng
Từ cách hiểu cấp xã như trên, ta có thể hiểu: Công chức cấp xã là côngdân Việt Nam, làm việc và công tác ở một vị trí gần dân nhất, trong bộ máychính quyền cấp xã, được tuyển dụng và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã)
Công chức cấp xã đóng vai trò là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biếncác chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đếnnhân dân; tổ chức và vận hành nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách
Trang 20của Đảng, Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khảnăng phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống cho cộng đồng dân cư; nắmbắt kịp thời, phản ánh đầy đủ những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng,Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương,chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Theo Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 củaChính phủ thì đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn có 3 loại: Cấp xã loại1: không quá 25 người; Cấp xã loại 2: không quá 23 người; Cấp xã loại 3:không quá 21 người.Tương ứng với mỗi đơn vị hành chính ở địa ở địaphương được quy định như trên là một cấp chính quyền một hệ thống các cơquan thành lập nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước ở một vùnglãnh thổ nhất định
Hiện nay, công chức cấp xã tại huyện Phú Bình gồm có các chức danhsau đây: Trưởng Công an; (21 người); Chỉ huy trưởng Quân sự; (21 người);Văn phòng - thống kê; (43 người); Địa chính - xây dựng - đô thị và môitrường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng vàmôi trường (đối với xã);( 42 người); Tài chính - kế toán; (24 người); Tư pháp
- hộ tịch; (29 người); Văn hoá - xã hội.( 42 người)
Bên cạnh, khái niệm “công chức” còn có khái niệm “cán bộ” Theo,Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 Khoản 1 Điều 4 quy định
về cán bộ:“ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Trang 21Từ khái niệm “công chức” và “cán bộ” được quy định tại văn bản LuậtLuật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, chúng ta
có thể phân biệt khái niệm “cán bộ”, “công chức”, theo các tiêu chí cơ bản sau:
- Được bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm, trong biên chế
- Trách nhiệm chính trị trướcĐảng, Nhà nước, nhân dân và
trước cơ quan, tổ chức có thẩmquyền
- Thi tuyển, bổ nhiệm, cóquyết định của cơ quan nhànước có thẩm quyền, trongbiên chế
- Trách nhiệm chính trị, tráchnhiệm hành chính của côngchức
3 Chế độ lương Hưởng lương từ ngân sách
nhà nước, theo vị trí, chức danh
Hưởng lương từ ngân sáchnhà nước, theo ngạch bậc
4 Nơi làm việc Cơ quan của Đảng cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị- xã
Cơ quan Đảng, nhà nước,tổ chức CT-XH, Quân đội,Công an, Toà án, Viện kiểm
Trang 22- Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
- Năng lực, trình độ chuyênmôn nghiệp vụ;
- Tiến độ và kết quả thựchiện nhiệm vụ;
- Tinh thần trách nhiệm vàphối hợp trong thực thinhiệm vụ;
- Thái độ phục vụ nhân dân
Từ khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng, khái niệm công chức, công chức cấp
xã, có thể đi đến hiểu mục đích của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã là: Phát triển năng lực làm việc của công chức cấp xã và nâng cao khả năng
thực hiện công việc thực tế của họ; Giúp công chức cấp xã luôn phát triển để
có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức; Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của công chức cấp xã do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm.
1.2 Nội dung của công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức
Để đảm bảo công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức đạt hiệu quả cao.Đồng thời qúa trình này diễn ra thông suốt theo đúng kế hoạch thì một nội dungđào tạo gồm 4 bước sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng;
Bước 2: Lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng;
Bước 3: Thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức;
Bước 4: Kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng
Từ những nội dung đó được sơ đồ hóa như sau:
Trang 231.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo công chức
Để xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyệnPhú Bình cần trả lời các câu hỏi sau: Những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho
vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà CC hiện có? Nhữngkiến thức, kỹ năng còn thiếu của CC đối với vị trí công việc? Những khóa họcnào cần tổ chức để khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho CC?
Trang 241.2.2 Lập kế hoạch ĐTBD
Để lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện PhúBình cần trả lời các câu hỏi sau: Mục tiêu kế hoạch là gì? Nội dung là gì? Aithực hiện? thời gian và địa điểm tiến hành? Cách thức thực hiện? Kinh phí?Kiểm tra đánh giá như thế nào
1.2.3 Thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức
Ở nội dung tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng để thựchiện được cần trả lời các câu hỏi sau: Có những hoạt động cụ thể nào? Phâncông phối hợp như thế nào cho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp
để kết quả cao?
Do đó, để thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, cần phântích kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thành các công việc cụ thể: từ ra quyết địnhtổ chức khóa học, triệu tập học viên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chứcchọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chiphí thanh toán, đánh giá, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán
1.2.4 Kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng
Ở nội dung kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng để côngtác này đạt hiệu quả cần trả lời các câu hỏi sau: đào tạo, bồi dưỡng công chức
có đạt mục tiêu không? Nội dung có phù hợp không? Chương trình có phùhợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo,bồi dưỡng không? Học viên có tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡngkhông? Công tác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ ápdụng được những điều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả củachương trình đào tạo, bồi dưỡng?
Theo các nhà nghiên cứu, có 4 cấp độ đánh giá chương trình đào tạonhư sau: Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về đàotạo, bồi dưỡng vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá đào tạo và vào
Trang 25những thời điểm sau đào tạo; Đánh giá kết quả học tập: Xem xem học viên đãtiếp thu những gì từ khóa học Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đốichiếu với những: Xem xem học viên đã tiếp thu những gì từ khóa học Kiểmtra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra; Đánhgiá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những điều đãhọc vào công việc như thế nào Những thay đổi đối với việc thực hiện côngviệc; Đánh giá tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc đào tạo có tác động, ảnhhưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của đào tạo, bồi dưỡng như thế nào.
Tùy theo các cấp độ đánh giá mà người ta sử dụng các phương phápđánh giá khác nhau để xem xem thực hiện quy trình đào tạo, bồi dưỡng đạtkết quả đến đâu, hiệu quả như thế nào định số người cần đào tạo Nhu cầu đàotạo được xác định dựa trên những phân tích nhu cầu lao động của tổ chức, cácyêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết cho việc thực hiện các công việc vàphân tích trình độ, kiến thức, kỹ năng hiện có của công chức
Trang 26CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA UBND HUYỆN PHÚ BÌNH
2.1 Khái quát về huyện Phú Bình
Về địa lý: Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên.Huyện Phú Bình nằm ở phía nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phốThái Nguyên 26 km, cách thị xã Bắc Ninh 50km Địa hình của Phú Bìnhthuộc nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng và nhóm cảnh quan hình thái địahình gò đồi.Về dân số: Dân số hiện nay là khoảng là 146.086 người , gồm 9dân tộc anh em cùng chung sống Trong đó dân tộc Kinh là đông nhất PhúBình là huyện thuần nông nên dân số nông thôn chiếm trên 90%, mật độ dânsố 586 người/km2 , đứng hàng thứ hai trong tỉnh, sau thành phố Thái Nguyên
Bộ máy chính quyền cấp xã của huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chínhgồm thị trấn Hương Sơn và 20 xã, trong đó có 7 xã miền núi, với 31xóm (sốliệu năm 2007) Các xã của huyện gồm: Bàn Đạt, Bảo Lý, Dương Thành, Đào
Xá, Điềm Thụy, Đồng Liên, Hà Châu, Kha Sơn, Lương Phú, Nga My, NhãLộng, Tân Đức, Tân Hòa, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, ThanhNinh,Thượng Đình, Úc Kỳ và Xuân Phương.Về nguồn nhân lực của huyện:khá dồi dào, chất lượng nguồn nhân lực vào loại khá Đây là thế mạnh đối vớiviệc phát triển kinh tế xã hội của huyện Tuy nhiên, huyện cần chú trọng hơnnữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác đào tạo
Trang 27nghề phù hợp để có thể cung cấp lao động có chất lượng cho huyện, tỉnh cũngnhư cho cả nước (Cổng thông tin điện tử của huyện Phú Bình).
2.2 Số lượng và chất lượng công chức cấp xã của huyện Phú Bình
Theo thống kê của Phòng Nội vụ huyện Phú Bình , tỉnh Thái Nguyên,tính đến 31/12/2015 tổng số công chức cấp xã là được giao là 222 công chức,công chức hiện có của huyện 206 công chức cấp xã, trình độ chuyên mônnghiệp vụ và lý luận chính trị như thế nào được thể hiện cụ thể qua bảngsau:
Trang 28Bảng 2.1 Thống kê số lượng và chất lượng công chức cấp xã của huyện Phú Bình
24,3 9,
71,9
Trang 30Dựa vào bảng số liệu thống kê về số lượng và chất lượng công chức cấp
xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên ta thấy như sau:
- Về trình độ đào tạo chuyên môn: Thạc sĩ có 10/206 công chức(chiếm4,85%), Đại học 78/206 công chức (chiếm 37,9% ), Cao đẳng 15/206 công chức(chiếm 7,28%), Trung cấp 101/206 công chức (chiếm 49,0%), Sơ cấp 1/206 côngchức (chiếm 0, 48%) Ta thấy trình độ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ là đại học(37,9%) và trung cấp (49,0%), sơ cấp còn (0,48%), còn 10 (4,9%) công chức chưaqua đào tạo nữa Đặc biệt cần phải chú trọng đào tạo 10 công chức còn lại trongnăm 2016, đào tạo trình độ đại học(37,9%) cao đẳng (7,28%) Như vậy có thể thấyvẫn còn công chức chưa qua đào tào và số công chức chiếm tỷ lệ thạc sĩ vẫn cònít.Vì thế Đảng, Nhà nước và các cấp cần quan tâm và tạo điều kiện hơn nữa trongcông tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã góp phần đáp ứng được yêu cầucông việc, đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
- Về trình độ chính trị: Cao cấp lý luận chính trị 0/206 công chức (chiếm0%), cử nhân 0/206 công chức (chiếm 0%), trung cấp 65/206 công chức (chiếm31,6%), sơ cấp 17/206 công chức (chiếm 8,3%) Trình độ lý luận chính trị tươngđối là thấp chủ yếu là trình độ lý luận chính trị trung cấp và sơ cấp Thế nênhuyện cần quan tâm và tạo điều kiện hơn nữa về công tác đào tạo chuyên mônnghiệp vụ Số công chức cấp xã của huyện Phú Bình vẫn còn 124 công chứcchưa qua đào tạo về trình độ chính trị, cần phải huy động mọi nguồn lực để bổsung nguồn nhân lực còn thiếu đó
- Về trình độ quản lý Nhà nước: Chuyên viên chính và tương đương 0/206công chức (chiếm 0%), chuyên viên và tương đương 0/206 (chiếm 0%), chưaquan bồi dưỡng là 0/206 công chức (chiếm 0 %) Như vậy ta có thể thấy trình độquản lý Nhà nước vẫn còn rất hạn chế, nếu công chức cấp xã được đào tạo và bồi
Trang 31dưỡng về trình độ quản lý nhà nước thì năng lực của công chức được nâng lênđáng kể.
- Về chứng chỉ tin học: Chứng chỉ tin học 148/206 công chức (chiếm71,8%), công chức chưa có chứng chỉ tin học là 58( chiếm 28,2%) công chức
Do vậy cần phải bổ sung, đào tạo công chức về trình độ tin học để có thể đápứng được yêu cầu công việc hiện tại và trong tương lai
- Về chứng chỉ ngoại ngữ (tiếng anh): trình độ tiếng anh mà công chức nàocũng phải có, cần thiết cho mọi công việc mà trong khi đó chứng chỉ (A,B,C) là
35 công chức( chiếm 17%) , công chức chưa qua đào tạo là 171 (chiếm 83%).Tuynhiên số liệu này vẫn còn quá ít so với công chức cấp xã của huyện Phú Bình cầnphải có chính sách, kế hoạch đào tạo công chức trong những năm tới để đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của xã hội.Về chứng chỉ ngoại ngữ khác (tiếng Tày): Có2/206 công chức có chứng chỉ ngoại ngữ khác Như vậy trình độ tiếng dân tộctương đối là thấp so với công chức cấp xã
Qua phân tích số lượng, chất lượng công chức kết hợp với điều tra bằngbảng hỏi nhận thấy nội dung đào tạo và bồi dưỡng có phù hợp với vị trí côngviệc hay không? được thể hiện dưới biểu đồ sau:
Biểu đồ: 2.1 Mức độ đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với vị trí
việc làm công việc
Trang 32( Nguồn: Điều tra bằng phiếu khảo sát)
Từ biểu đồ trên ta nhận thấy mức độ đào tạo phù hợp với chức danh côngviệc như sau:
- Phù hợp: 25/40 phiếu (chiếm 62,5%)
- Khá phù hợp: 10/40 phiếu (chiếm 25%)
- Ít phù hợp: 5/40 phiếu (chiếm 12,5%)
Nhìn chung mức độ đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với chức danh côngviệc
Tuy nhiên công chức cấp xã của huyện Phú Bình vẫn còn nhiều hạn chế,hạn chế cả mặt số lượng lẫn chất lượng, cần phải chú trọng, tăng cường công tácđào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã
- Về độ tuổi: công chức có độ tuổi từ 30 trở xuống là 28/206 công chức( chiếm 13,6%), từ 31-40 là 99/206 công chức (chiếm 48,1%), từ 41-50 là 50/206công chức( chiếm 24,3%),từ 51-55 là 20/206 công chức ( chiếm 9,7%), và côngchức từ 51-60 là 4/206 công chức (chiếm 1,9%) Nhìn chung đa số công chứccấp xã của huyện Phú Bình là công chức trẻ, công chức già chiếm số lượng rất ít
Trang 33Từ số liệu thống kê cho thấy, số lượng công chức cấp xã của huyện PhúBình được giao chỉ tiêu 222 công chức trong đó huyện Phú Bình có 206 côngchức cấp xã Hầu hết đội ngũ công chức cấp xã của huyện là công chức trẻ, chủyếu trong độ tuổi 30-40 nên khả năng tiếp thu công nghệ cao, tư duy năng độnghơn các công chức ở độ tuổi 50-60 tuổi, công chức cấp xã của huyện có trình độchuyên môn, lý luận chính trị vững vàng, trình độ tin học, trình độ ngoại ngữ,luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Qua phân tích, khảo sát số liệu và kết hợp với điều tra bằng bảng hỏi tathấy được mức độ nắm bắt của công chức cấp xã được thể hiện dưới biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2 Mức độ nắm bắt kiến thức của công chức cấp xã
( Nguồn: Điều tra bằng phiếu khảo sát)
Qua biểu đồ ta nhận thấy mức độ nắm bắt kiến thức như sau:
- Nhiều: 20/ 40 phiếu (chiếm 50%)
- Khá nhiều: 10/40 phiếu (chiếm 25%)
- Trung bình: 7/40 phiếu (chiếm 17,5%)
- Ít: 3/40 phiếu (chiếm 7,5%)
Nhìn chung mức độ nắm bắt là tốt, số người không hoặc ít nắm bắtđược là rất hạn chế
Trang 34Huyện có đội ngũ công chức trẻ như vậy sẽ tạo ra có nguồn lao động dồirào, linh hoạt sáng tạo, luôn đi đầu trong mọi phong trào của tỉnh, thu hút được
sự đầu tư của trung ương, tỉnh giúp cho huyện Phú Bình ngày càng có danhtiếng, tạo được mối quan hệ tốt đẹp với các huyện trong tỉnh, được nhân dân tinyêu và quý trọng
Bên cạnh đó lại tồn tại một số điểm yếu như trình độ chuyên môn kiến thức củacông chức chưa cao,còn nhiều công chức chưa qua đào tạo và bồi dưỡng, chưa
có chứng chỉ tin học, ngoại ngữ gây khó khăn trong thực thi công việc, đôi khimang nặng bằng cấp
2.3 Thực trạng công tác đào tạo và bồi dưỡng CC cấp xã của huyện Phú Bình giai đoạn 2011-2015
Hằng năm Sở Nội vụ tỉnh Thái nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên giao chỉtiêu cho UBND huyện Phú Bình triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo và bồidưỡng công chức Dựa trên chỉ tiêu được giao Phòng Nội vụ tham mưu giúpUBND huyện Phú Bình tổ chức thực hiện theo kế hoạch” số 34/KH-UBND ngày16/12/2011 của UBND của huyện Phú Bình về kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015” Tổng số chỉ tiêu mà huyện đượcgiao từ Sở Nội vụ cho công chức huyện Phú Bình 511 trong đó công chức huyện
300, còn lại 211 là công chức cấp xã
2.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng
Dựa trên chỉ tiêu được giao của tỉnh Thái nguyên, cấp cơ sở đưa lên huyệnphú Bình, Phòng Nội vụ kết hợp các phòng ban trong huyện lên kế hoạch, xácđịnh nhu cầu đào tạo theo đúng chỉ tiêu, đúng kế hoạch:
- Thạc sĩ: 10 người;
- Đại học: 10 người;
Trang 35- Cao đẳng: 30 người;
- Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: 20 người;
- Trình độ trung cấp chính trị: 10 người;
- Bồi dưỡng quản lý nhà nước: 91 người;
- Bồi dưỡng tin học : 20 người;
- Bồi dưỡng tiếng anh: 20 người
Bảng 2.2 Thực trạng xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp
xã giai đoạn 2011-2015 STT Nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng Số lượng
4 Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ 20
5 Trình độ lý luận chính trị 10
6 Bồi dưỡng quản lý nhà nước 91
( Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Phú Bình)
Nhìn vào số liệu trên, ta thấy nhu cầu đào tạo công chức cấp xã của huyệnPhú Bình là không đồng đều giữa thạc sĩ, đại học, cao đẳng, lý luận chính trị,quản lý nhà nước với chuyên môn nghiệp vụ, tin học và ngoại ngữ.Cụ thể nhưsau:
- Trình độ thạc sĩ: 10/206 công chức (chiếm 4,85%)