Mục đích nghiên cứu Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với 3 mục đích chính: • Tái hiện bức tranh xã hội Việt Nam tời kì vua Tự Đức • Nghiên cứu, phân tích các chính sách tôn giáo của vua
Trang 1MỤC LỤC
Lời nói đầu
Phần nội dung
Chương I: Lý luận chung về tôn giáo và chính trị
1. Lý luận chung của chủ nghĩa Marx về tôn giáo
2. Lý luận chung về chính trị
3. Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong lịch sử phát triển của nhân loại
Chương II: Nội dung
1. Điều kiện ra đời các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam đầu thế kỉ 19
1.2. Vua Tự Đức – con người và sự nghiệp
2. Nội dung các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
2.1. Chính sách đối với các tôn giáo truyền thống
2.2. Chính sách đối với Công giáo
Chương III: Ý nghĩa thực tiễn và bài học kinh nghiệm
Trang 2Lời nói đầu
1. Lí do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta có nhiều biến chuyển Với tinh thần tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước, nước ta có nhiều tôn giáo, nhiều nghi lễ tín ngưỡng Thêm vào đó, các “tôn giáo mới” xuất hiện từ trong nước, và du nhập từ bên ngoài làm cho tình hình tôn giáo, tín ngưỡng hết sức phức tạp, ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị, kinh tế, xã hội
Xét thấy tình trạng này có nét tương đồng với thời kì của vua Tự Đức, vậy
từ lịch sử, chúng ta đã rút ra được những gì ?
Trên quan điểm nhìn thẳng vào lịch sử, phân tích và rút ra những bài học cho hiện nay, chúng tôi lựa chọn đề tài này
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
“Chính sách tôn giáo thời Tự Đức” là luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Quỳnh, được xuất bản năm 2009 Đề tài này đã tìm hiểu bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỉ 19, phân tích, đánh giá những chính sách tôn giáo của vua Tự Đức Từ đó rút ra những bài học cho việc giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội Việt Nam hiện nay nói chung và hoàn thiện các chính sách tôn giáo nói riêng Tuy nhiên, đề tài này chưa nói rõ đến các tín ngưỡng – một vấn đề nhạy cảm, phổ biến ở Việt Nam Tập trung nghiên cứu, phân tích các chính sách tôn giáo là chính, các bài học rút ra còn chung chung
3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với 3 mục đích chính:
• Tái hiện bức tranh xã hội Việt Nam tời kì vua Tự Đức
• Nghiên cứu, phân tích các chính sách tôn giáo của vua Tự Đức và rút ra những bài học cho hiện nay
• Đề tài này có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là các chính sách tôn giáo của vua Tự Đức đặt trong bối cảnh lịch sử đương thời
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi lịch sử: Từ đầu thế kỉ 19 đến lúc vua Tự Đức mất năm 1883
Trang 3Phạm vi đối tượng nghiên cứu: các chính sách tôn giáo được vua Tự Đức ban hành
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Có 2 nhiệm vụ cơ bản:
• Từ bối cảnh lịch sử và các chính sách tôn giáo của vua Tự Đức, đề tài tập trung phân tích, đánh giá các chính sách đó
• Rút ra bài học cho hiện tại
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, đặc biệt là mối quan hệ giữa tồn tại xã hội
Trang 4Phần nội dung
Chương I: Lý luận chung về tôn giáo, chính trị
1. Lý luận chung của Chủ nghĩa Marx về tôn giáo
Tôn giáo là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay nhiều
vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy Có nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, về bản chất, tôn giáo chỉ là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ăngghen viết: “ Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu con người của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những thế lực trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế ”
Như vậy, về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh ý thức xã hội, phản ánh hư ảo thực tại xã hội bằng những lực lượng siêu nhiên nào đó Về mặt hình thức biểu hiện, tôn giáo bao gồm hệ thống hoàn chỉnh các quan niệm, ý thức tín ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn giáo, hành vi và hoạt động tôn giáo với những giáo lý, giáo luật, lễ nghi và giáo hội được tổ chức chặt chẽ
Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội của loài người, hoàn thiện và biến đổi gắn liền với các nguồn gốc, đó là:
+ Nguồn gốc kinh tế-xã hội
Tôn giáo ra đời trong điều kiện xã hội có trình độ sản xuất còn thấp
kém, con người hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, bất lực trước các hiện tượng tự nhiên như thiên tai, bệnh tật, chết chóc,… Con người không hiểu, không chế ngự được tự nhiên nên sợ hãi và lý giải các hiện tượng tự
Trang 5nhiên bằng sự suy đoán sai lệch thành các lực lượng siêu nhiên, thần bí Đó chính là nguồn gốc ban đầu của tôn giáo.
Bên cạnh cảm giác yếu đuối trước sức mạnh của tự nhiên, khi xã hội bắt đầu xuất hiện những giai cấp đối kháng, phân hóa giàu nghèo, xung đột bộ tộc, bộ lạc, áp bức bóc lột,…con người lại cảm thấy bất lực trước những sức mạnh tự phát của xã hội Không lý giải được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và xã hội ấy, con người lại ảo tưởng vào một thế giới “bên kia” mà V.I.Lênin đã nói: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia”
Trong cuộc sống hiện nay, dù khoa học và sản xuất ngày càng phát triển, con người dần thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào tự nhiên, giải thích được các hiện tượng tự nhiên, đồng thời các quan hệ xã hội cũng vận động, phát triển Tuy nhiên, cả tự nhiên và xã hội vẫn còn tồn tại những hiện tượng
mà con người chưa thể hiểu biết đầy đủ, triệt để và chế ngự được Trong điều kiện xã hội nhất định, con người – nhất là những người lao động, chưa thể có hạnh phúc đầy đủ, thực sự như người ta mong muốn Vì vậy, con người vẫn tin vào thần linh, thượng đế, vẫn tìm đến tôn giáo với chính sách tôn giáo để sinh hoạt tinh thần, nhằm thỏa mãn những nhu cầu về tâm linh
+Nguồn gốc nhận thức
Sự hiểu biết của con người thời nguyên thủy rất nông cạn, mơ hồ, hạn hẹp về thế giới là một trong những tiền đề hình thành tín ngưỡng, tôn giáo Sự lung túng nảy sinh từ sự hạn chế trong trình độ nhận thức của con người đã dấn đến sự thừa nhận những linh hồn sau khi thân thể chết đi Cũng
Trang 6bằng cách hoàn toàn giống như thế, sự nhân cách hóa các lực lượng tự nhiên làm nảy sinh các vị thần đầu tiên.
Con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thế giới khách quan, khái quát hóa thành các khái niệm, quy luật Nhưng càng khái quát hóa, trừu tượng hóa thì sự vật hiện tượng được con người nhận thức càng
có khả năng xa rời hiện thực và phản ánh sai lệch hiện thực Sự nhận thức bị tuyệt đối hóa, cường điệu hóa của chủ thể nhận thức sẽ dẫn đến thiếu khách quan, mất dần cơ sở hiện thực để trở thành siêu nhiên thần thánh
Giới tự nhiên là vô cùng tận, nhận thức và khả năng cải tạo tự nhiên của con người cũng là vô tận nhưng trong những điều kiện lịch sử cụ thể là có hạn Mặc dù khoa học đã phát triển cao, song khoa học càng phát triển thì người ta lại càng phát hiện ra nhiều điều bí ẩn chưa giải thích được, cần tiếp tục nghiên cứu Điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì người ta thường phải nhờ đến sức mạnh của linh cảm, của tâm linh, nhờ “đấng sáng tạo” để tìm ra nguyên nhân cuối cùng của thế giới
+Nguồn gốc tâm lý
Cảm xúc, tình cảm, tâm trạng của con người trước sức mạnh tự nhiên
và xã hội, trước những khó khăn thử thách trong cuộc sống của cá nhân và cộng đồng xã hội là một nguyên nhân của sự ra đời, tồn tài và phát triển của tôn giáo
Cảm giác về sự phụ thuộc là cơ sở của tôn giáo, sự sợ hãi đẻ ra thần linh, thượng đế Mặt khác, lòng biết ơn, tôn kính những người có công cũng dẫn đến sự ngưỡng mộ đến mức tưởng tượng, suy diễn những người thật, việc thật thành hình tượng thánh thần, có sức mạnh siêu phàm, có khả năng “cứu rỗi” Trong tình cảm, con người luôn có nhu cầu được an ủi, vỗ về khi gặp
Trang 7khó khăn, hoạn nạn, bất hạnh; tôn giáo chính là sự bù đắp những hụt hẫng, đem đến cho người ta hạnh phúc hư ảo C.Mác đã chỉ rõ: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
Như vậy, tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển có nguồn gốc từ những điều kiện cụ thể của xã hội, trong nhận thức và tâm lý của con người khi đứng trước những sức mạnh của tự nhiên và xã hội Nhưng cũng phải thấy rằng sự tuyên truyền, tác động của giáo hội thông qua các chức sắc, các nhà tu hành
và hệ thống nghi lễ, kết hợp các công cụ và biện pháp khác như kinh tế, văn hóa, từ thiện,…tới con người và các cộng đồng người, cũng là một nguyên nhân cho sự tồn tài và phát triển của tôn giáo Thậm chí trong lịch sử nhân loại, đã từng xảy ra các cuộc chiến tranh tôn giáo nhằm bảo vệ và phát triển tôn giáo này, đẩy lùi, hạn chế sự mở rộng và phổ biến của các tôn giáo khác cũng làm cho tôn giáo phát triển, biến đổi, mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên toàn thế giới
1.2 Chính trị
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, đấu tranh giai cấp (mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh ấy là đấu tranh nhằm giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cho một giai cấp nhất định); là việc giải quyết mối quan
hệ giữa các giai cấp và giai tầng xã hội trong việc phân bổ các lợi ích (đặc biệt là lợi ích kinh tế)
Quyền lực chính trị tất yếu luôn thuộc về giai cấp, tầng lớp xã hội đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, cho xu hướng tiến bộ của xã hội, cho lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân
Trang 8Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề trung tâm, then chốt, trực tiếp nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước Nó là công cụ cơ bản nhất để giải quyết các quan hệ kinh tế, các quan hệ giai cấp, theo hướng
có lợi cho lực lượng nắm quyền
Chủ nghĩa Mác – Lênin quan niệm rằng, chính trị của giai cấp vô sản là thái độ của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh tự giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột, là việc giai cấp vô sản phải vươn lên giành lấy quyền lực nhà nước từ trong tay các giai cấp bóc lột, là việc sử dụng nhà nước vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới
Chính trị trong xã hội đương đại không chỉ là quan hệ giữa các giai cấp,
mà còn là quan hệ giữa các cộng đồng (các nhóm lợi ích, các lực lượng xã hội, các công dân) với nhà nước Đây tức là quá trình đấu tranh để xác lập các thể chế, thiết chế quyền lực nhà nước hợp lí, có hiệu quả vì sự ổn định và phát triển của xã hội, là hoạt động của các chính đảng, các tổ chức đại diện nhóm lợi ích xã hội trong việc giành, chia sẻ và thực thi quyền lực nhà nước vì lợi ích khách quan của các lực lượng chính trị, của các cộng đồng công dân
Sự tham gia của công dân vào các hoạt động chính trị, xã hội được xem như một giá trị dân chủ và đó cũng là một môi trường để mọi công dân phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của mình với tư cách kà một con người chính trị Đặc biệt, trong xã hội công dân – một xã hội văn minh dựa trên nền tảng pháp luật và được điều hành bởi những nhà lãnh đạo có năng lực và văn hóa chính trị cao…một xã hội đã được dân chủ hóa và hội đủ những điều kiện
cơ bản nhất để phát triển toàn diện, bền vững với sự tham gia tích cực của công dân vào công việc của cộng đồng xã hội – đòi hỏi sự đối thoại công khai
và có sự tham gia rộng rãi, phải tạo cơ hội cho mọi công dân có được tiếng nói trong các quyết định ảnh hưởng đến họ…
Trang 91.3. Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong lịch sử phát triển nhân loại
Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị luôn được xem là vấn đề phức tạp, tế nhị, tinh vi và nhạy cảm vào bậc nhất so với các hiện tượng khác thuộc thượng tầng kiến trúc - xã hội Từ trước đến nay, nhận thức về mối quan hệ này đã tạo ra những cuộc tranh luận, không phải là "có hay không có quan hệ", mà là "quan hệ như thế nào" Các nhà triết học, thần học, tôn giáo học và chính trị học từ trước đến nay thường đưa ra 3 ý kiến khác nhau về mối quan
hệ này
Một là, tôn giáo hoá chính trị.
Hai là, chính trị hoá tôn giáo.
Ba là, phi chính trị hoá tôn giáo và thế tục hoá chính trị.
Trong các thời đại lịch sử khác nhau, tính chất, nội dung và hình thức của mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị đều do những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị quy định Vào thời cổ đại, mối quan hệ đó nổi lên là tình hình tôn giáo đối đầu với chính trị, hoặc chính trị lợi dụng tôn giáo, tùy theo vị thế của các lực lượng chính trị khác nhau Thời phong kiến ở châuÂu, tôn giáo,
mà cụ thể là Kitô giáo, là thế lực đứng trên chính trị, chi phối toàn bộ đời sống xã hội Chế độ chính trị phổ biến là chính trị thần quyền Nhưng đến cuối thời phong kiến, sang thời kỳ tư bản, giữa nhà nước chính trị và giáo hội nảy sinh cuộc xung đột quyết liệt theo hướng thế tục hoá chính trị và tự trị hoá tôn giáo Lúc đó, chính trị muốn thoát khỏi ảnh hưởng của thần học, tôn giáo đã trở về với bản chất thế tục, thực thi quyền lực chính trị - nhà nước Luận điểm "tách nhà nước ra khỏi nhà thờ" của giai cấp tư sản ở những thế kỷ trước, và sau đó, C.Mác, Ăngghen, Lênin phát triển lên, có thể xem là biểu hiện tiêu biểu của khuynh hướng này Còn trong tôn giáo này, phong trào cải cách tôn giáo diễn ra với tính chất là phi chính trị hoá tín ngưỡng
Trang 10Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các loại tôn giáo lớn trên thế giới ngày càng chuyển hoá phức tạp và lộ dần xu hướng phân hoá, mâu thuẫn Đặc biệt, càng ngày các tôn giáo mang tầm thế giới, xuyên lục địa càng xích gần chính trị, xuất hiện xu thế chính trị hoá tôn giáo.
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị được tập trung biểu hiện: chính – giáo hợp nhất, chính – giáo phân ly và chính – giáo hòa hợp
Thứ nhất, chính – giáo hợp nhất, tức là nhà nước và giáo hội - nhà thờ hợp làm một
Thứ hai, chính - giáo phân ly Đây là hình thức ngược lại với chính giáo hợp nhất Dưới hình thức chính giáo phân ly, nhà thờ - giáo hội tách khỏi nhà nước
Thứ ba, chính - giáo hòa hợp Có thể coi đây là hình thức mang tính tổng hợp và hình thức này cũng có các mô thức khác nhau:
Mô thức thứ nhất, thần học tôn giáo có vai trò chủ đạo trong hệ tư tưởng
trị nước, đồng thời là nguồn gốc của pháp luật
Mô thức thứ hai, về quan phương, nhà nước là thế tục, nhưng nhà nước
khai thác, sử dụng những tư tưởng thần học phù hợp để phục vụ mục đích của mình Giáo hội và các đoàn thể tôn giáo đồng thuận cùng nhà nước Giáo sĩ, nhà tu hành trong những chừng mực nhất định tham gia vào công quyền Tôn giáo được huy động vào các hoạt động, nhất là các hoạt động xã hội Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay có thể xếp vào mô thức này
Chương II: Nội dung
Trang 111. Điều kiện ra đời các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam đầu thế kỉ 19
1.1.1. Điều kiện về kinh tế
Về nông nghiệp, sau thời gian nội chiến kéo dài, tình hình nông nghiệp đất nước sa sút Nạn kiêm tính ruộng đất diễn ra nghiêm trọng trên khắp cả nước, ruộng đất công bị thu hẹp dần, người nông dân vừa bị cường hào tước doạt ruộng đất, vừa chịu sưu thuế nặng nề lại thêm thiên tai dồn dập, mùa màng thất bát, Triều đình đã nhiều lần đưa vấn đề sửa, đắp đê ra bàn bạc và có nhiều biện pháp nhưng tình trạng đê vỡ vẫn xãy ra phổ biến Riêng đê sông Hồng ở Khoái Châu (Hải Hưng) thời Tự Đức bị vỡ 10 năm liền [1]
Về công nghiệp và thương nghiệp triều Nguyễn nhìn chung vẫn sút kém do chủ trương “trọng nông, ức thương”, “bế quan tỏa cảng”, “chế độ công tượng mang tính chất cưỡng bức lao động, đánh thuế sản vật rất nặng mang tính chất
nô dịch” .[2] Cả nội thương và ngoại thương đều giảm sút nghiêm trọng:
“Riêng thuế cửa quan trước có 60 sở thu thì đến năm 1852 chỉ có 21 sở Một
số bến cảng trước đây buôn bán phồn thịnh nay trở nên vắng vẻ” [3] Nhà nước giữ độc quyền ngoại thương, cấm người trong nước có thuyền đi buôn bán ở nước ngoài, cấm người nước ngoài mở cửa hàng trên cạn Hàng hóa chỉ nhập những thứ triều đình cần như: sắt, chì, gang, lưu huỳnh hay tơ lụa, sợi bông, Những thứ như gạo, muối, đồng, kim loại quý phải có giấy phép mới được xuất cảng Nếu như thời Gia Long, thành Gia Định có 10 vạn dân thì đến thời Tự Đức chỉ còn vài vạn.” [4]
Trang 121.1.2. Điều kiện chính trị - xã hội
Nạn tham nhũng, bóc lột dân của quan lại khá phổ biến, tới mức nhà vua (Tự Đức) cũng phải than: “quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như sợ hổ; ngày đục tháng khoét dần của dân, mưu tính cho đầy túi riêng, lại thêm những việc sách nhiễu ngoài lệ, không kể hết được, Dân chúng quẫn bách, phiêu tán.” [1]
Mâu thuẫn trong xã hội gay gắt giữa nhân dân với triều đình phong kiến Các cuộc nổi dậy của nông dân và các dân tộc thiểu số miền núi nổ ra liên tiếp, mạnh mẽ và rộng khắp Ví dụ tiêu biểu như khởi nghĩa của Phan Bá Vành (1821-1835) và Nùng Văn Vân (1833-1835) Chỉ riêng từ thời Gia Long đến đời Tự Đức (1802-1883), triều đình nhà Nguyễn đã phải đối phó với gần
400 cuộc nổi dậy.[2]
Chính quyền nhà Nguyễn thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” một cách cực đoan, ngăn cản việc liên hệ với bên ngoài cả về kinh tế, văn hóa, và tôn giáo Tạo cớ để các nước phương Tây gây hấn với Việt Nam Đất nước vốn đang yếu lại trở thành miếng mồi ngon trước mắt các nước thực dân phương Tây
1.2. Vua Tự Đức – con người và sự nghiệp
Vua Tự Đức (1829-1883) là con thứ hai của vua Thiệu Trị, là vị vua thứ tư trong triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Phúc Thì, tự là Hồng Nhậm, tước hiệu
là Dực Tông Anh Hoàng Đế, lên ngôi năm 1847, làm vua 36 năm, thọ 54 tuổi.Nhìn chung, Tự Đức là một vị vua sáng, tư chất thông minh, song sức khỏe yếu Giám mục Pellerin nhận xét: “Đó là một con người thông minh và có khả năng hơn cả trong tất cả các hoàng tử của Thiệu Trị, mặc dù sức khỏe ông ta
có mong manh Ông là một thi sĩ và là một đại trí thức, người ta nói rằng ông
có nhiều ý tưởng tốt.” [3]
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Nxb Sử học, Hà Nội, 1963,
t.28, tr.19.
[2] Nguyễn Phan Quang: Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX, Sđd, tr.6.
[3] Nguyễn Sinh Duy: Cuốn sổ bình sanh, Nxb Văn học, Trung tâm Nghiên cứu quốc học,
Hà Nội, tr 136.
Vào năm 1864, Gabriel Aubaret sau khi được tiếp kiến nhà vua đã có những
ấn tượng sâu sắc: “Tự Đức có dung mạo hết sức dễ mến, cái nhìn sâu thẳm và không có chút giả dối, nước da trắng ngà, không có râu, tay chân thanh khảnh, nên vua có vẻ dịu dàng như phụ nữ Tuy nhiên vua có giọng trầm, lời lẽ ôn
Trang 13tồn, rõ ràng và rất dễ hiểu ( ) vua đã tỏ ra quan tâm muốn biết về châu Âu và các quốc gia lớn ở châu Âu” [1].
Vua Tự Đức là người giỏi thơ văn Nhà vua đã sáng tác hơn 4000 bài thơ và
hơn 600 bài văn Tiêu biểu được tập hợp trong các cuốn: Tự Đức ngự chế thi,
Tự Đức ngự chế văn, Việt sử tổng vịnh, Từ huấn lục.
Nhà vua là người lo cho đất nước, giáo sĩ Louvet nhận xét: “Từ lúc Việt Nam
ký tờ hòa ước với Pháp, Tự Đức không bao giờ mỉm cười Năm 1862, tóc ông
ta trở nên bạc trắng mặc dù lúc ấy ông mới 33 tuổi” [2] Nhà vua thường viết những bài tự chê trác khá dài với lời lẽ nghiêm khắc đối với bản thân về trách nhiệm với dân, với nước: “Gắng gượng theo mưu kế của người lão thành, mất
cả đất đai và chân chúng sáu tỉnh Nam Kỳ, để cầu cho việc khỏi chiến tranh
và được yên thiên hạ Cơ nghiệp sáng lập giữ gìn hơn 200 năm, bổng một bỏ mất, thật là tội của tiểu tử này không thể nói xiết Dù cho có làm được công đức cũng không thể chuộc được tội lỗi” [3]
Vua Tự Đức cũng nhìn ra những nguyên nhân của các mâu thuẫn trong xã hội, nhà vua đã đưa ra nhiều chính sách, chỉ dụ về chỉnh đốn hàng ngũ quan lại, chống nạn tham ô, hạch sách dân thường, mở lương cứu đói nạn dân Và đặc biệt là hệ thống các chính sách của nhà vua đối với các tôn giáo hiện thời Mặc dù không đủ sức để xoay đổi thế cờ thời đại, nhưng ít ra các chính sách, chỉ dụ của nhà vua cũng có những tác động cụ thể, để lại nhiều ý nghĩa và bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu
[1] Yoshiharu Tsuboi: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847-1885), Hội Sử
học Việt Nam, Hà Nội, 1993, tr.197.
[2] Phan Phát Huồn: Việt Nam giáo sử, Cứu thế tùng thư, Sài Gòn, 1959, tr.519.
[3] Thơ văn Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1996, t.2, tr.58.
2. Nội dung các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
2.1. Chính sách đối với các tôn giáo truyền thống
2.1.1. Hoạt động của các tôn giáo truyền thống thời Tự Đức