Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10.Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10 Trong thời buổi hiện nay, khi mà hội nhập kinh tế quốc tế đang được đẩy mạnh, các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất được áp dụng để phát triển sản xuất thì vai trò của nguồn nhân lực lại càng được coi trọng. Bởi đây là nguồn lực cạnh tranh có yếu tố quyết định mà các máy móc hay các công nghệ dù tiên tiến đến đâu cũng không có khả năng thay thế. Vì vậy mà có rất nhiều câu hỏi liên quan đến lực lượng lao động mà doanh nghiệp rất quan tâm như “Làm sao để tạo động lực mạnh mẽ cho người lao động?” hay “Làm sao để người lao động trung thành hơn với doanh nghiệp?”. Và chính các doanh nghiệp cũng nhận thấy rằng một trong những câu trả lời giúp giải quyết hai câu hỏi này đó chính là trả lương hợp lý cho người lao động. Do tiền lương là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất và tinh thần không chỉ của người lao động mà còn cả gia đình của họ. Và để nghiên cứu rõ hơn về tiền lương cũng như các phương pháp trả lương cho người lao động của doanh nghiệp, nhóm đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:” Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10”.I, Cơ sở lý thuyết:1.1. Khái niệm chung về tiền lương: 1.1.1.Khái niệm,bản chất:•Khái niệm tiền lương: Tiền lương là giá cả của lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa trên năng suất,chất lượng, hiệu quả lao động mà người lao động tạo ra tính đến quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường và tuân thủ pháp luật của nhà nước.•Bản chất của tiền lương:Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của của giá trị lao động mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động. Như vậy,bản chất của tiền lương chính là giá cả lao động, được xác định dựa trên cơ sở giá trị của sức lao động đã hao phí để sản xuất ra của cải vật chất, được người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận với nhau. Tiền lương còn là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Về nguyên tắc, người bán sức lao động (người lao động) phải đưa ra giá trước, sau đó hai bên mặc cả và đi đến sự thỏa thuận, sự thỏa thuận đó phải được thể hiện trong hợp đồng lao động, làm cơ sở pháp lý để trả lương cũng như giải quyết tranh chấp lao động vốn rất dễ xảy ra do sự tách biệt giữa thỏa thuận mua bán với sử dụng, thanh toán. 1.1.2. Chức năng của tiền lương:a. Chức năng thước đo giá trị sức lao động: Tiền lương là giá cả của sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị lao động nên phản ánh được giá trị sức lao động có nghĩa là nó là thước đo để xác định giá trị mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm. Đây là chức năng quan trọng của tiền lương. Thực hiện chức năng này đòi hỏi việc xác định tiền lương phải dựa trên cơ sở giá trị sức lao động. Mặt khác, phải xác định được đúng giá trị sức lao động. Khi giá trị sức lao động thay đổi thì tiền lương cũng phải thay đổi theo thì mới phản ánh được giá trị của nó. Do giá trị sức lao động có xu hướng tăng nên tiền lương cũng phải có xu hướng tăng theo các thời kỳ.b. Chức năng tái sản xuất sức lao động: Thu nhập của NLĐ dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả trong quá trình sau. Tiền lương của NLĐ không chỉ là nguồn sống chủ yếu của NLĐ mà cón của các thành viên trong gia đình họ. Tiền lương phải duy trì và phát triển được sức lao động cho NLĐc. Chức năng kích thích: Kích thích là hình thức tác động, tạo ra động lực trong lao động. Trong hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế là động cơ bản, nó biểu hiện trên nhiều dạng, có lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội. Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của NLĐ nhằm thỏa mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của NLĐ, nó chính là một động lực quan trọng để NLĐ không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề của mình. Trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bấy quan trọng hữu ích nhằm kích thích NLĐ làm việc một cách hiệu quả.d. Chức năng tích lũy: Tiền lương trả cho NLĐ phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro. Nghĩa là tiền lương
Trang 1Lời mở đầu
Trong thời buổi hiện nay, khi mà hội nhập kinh tế quốc tế đang được đẩy mạnh, các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất được áp dụng để pháttriển sản xuất thì vai trò của nguồn nhân lực lại càng được coi trọng Bởi đây là nguồn lực cạnh tranh có yếu tố quyết định mà các máy móchay các công nghệ dù tiên tiến đến đâu cũng không có khả năng thay thế Vì vậy mà có rất nhiều câu hỏi liên quan đến lực lượng lao động
mà doanh nghiệp rất quan tâm như “Làm sao để tạo động lực mạnh
mẽ cho người lao động?” hay “Làm sao để người lao động trung thànhhơn với doanh nghiệp?” Và chính các doanh nghiệp cũng nhận thấy rằng một trong những câu trả lời giúp giải quyết hai câu hỏi này đó chính là trả lương hợp lý cho người lao động Do tiền lương là yếu tố
cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất và tinh thần không chỉ của người lao động mà còn cả gia đình của họ
Và để nghiên cứu rõ hơn về tiền lương cũng như các phương pháp trả lương cho người lao động của doanh nghiệp, nhóm đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:” Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tạicông ty May10”
Dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn nên bài làm của nhóm không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp từ cô giáo và các bạn Nhóm xin chân thành cảm ơn!
Trang 2I, Cơ sở lý thuyết:
1.1 Khái niệm chung về tiền lương:
1.1.1.Khái niệm,bản chất:
• Khái niệm tiền lương:
- Tiền lương là giá cả của lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa trên năng suất,chất lượng, hiệu quả lao động mà người lao động tạo ra tính đếnquan hệ cung cầu về lao động trên thị trường và tuân thủ pháp luật của nhà nước
• Bản chất của tiền lương:
- Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của của giá trị lao động mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động Như
vậy,bản chất của tiền lương chính là giá cả lao động, được xác định dựa trên cơ sở giá trị của sức lao động đã hao phí để sản xuất ra của cải vật chất, được người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận với nhau
- Tiền lương còn là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động Về nguyên tắc, người bán sức lao động (người lao động) phải đưa ra giá trước, sau đó hai bên mặc cả và đi đến sự thỏa thuận, sự thỏa thuận đó phải được thể hiện trong hợp đồng lao động, làm cơ sở pháp lý để trả lương cũng như giải quyết tranh chấp lao động vốn rất dễ xảy ra do sự tách biệt giữa thỏa thuận mua bán với sử dụng, thanh toán
1.1.2 Chức năng của tiền lương:
a Chức năng thước đo giá trị sức lao động:
Tiền lương là giá cả của sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị lao động nên phảnánh được giá trị sức lao động có nghĩa là nó là thước đo để xác định
Trang 3giá trị mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm Đây là chức năng quan trọng của tiền lương Thực hiện chức năng này đòi hỏi việc xác định tiền lương phải dựa trên cơ sở giá trị sức lao động.
Mặt khác, phải xác định được đúng giá trị sức lao động Khi giá trịsức lao động thay đổi thì tiền lương cũng phải thay đổi theo thì mới phản ánh được giá trị của nó Do giá trị sức lao động có xu hướng tăngnên tiền lương cũng phải có xu hướng tăng theo các thời kỳ
b Chức năng tái sản xuất sức lao động:
Thu nhập của NLĐ dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ
ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả trong quá trình sau Tiền lương của NLĐ khôngchỉ là nguồn sống chủ yếu của NLĐ mà cón của các thành viên trong gia đình họ Tiền lương phải duy trì và phát triển được sức lao động cho NLĐ
c Chức năng kích thích:
Kích thích là hình thức tác động, tạo ra động lực trong lao động Trong hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế là động cơ bản, nó biểu hiệntrên nhiều dạng, có lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của NLĐ nhằm thỏa mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của NLĐ, nó chính là một động lực quan trọng để NLĐ không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề của mình Trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bấy quan trọng hữu ích nhằm kích thích NLĐ làm việc một cách hiệu quả
d Chức năng tích lũy:
Tiền lương trả cho NLĐ phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâudài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro Nghĩa là tiền lương
Trang 4không chỉ được NLĐ tiêu dùng trong quá trình làm việc mà còn tích lũy để giành đề phòng những bất trắc có thể xảy ra khi NLĐ không thểlàm việc được nhưng vẫn tiêu dùng Tích lũy là sự cần thiết khách quan đối với mọi NLĐ Trên thực tế, tiền lương của NLĐ nói chung không đủ dùng, vì thế, không có điều kiện tích lũy Tuy nhiên, Nhà nước vẫn buộc NLĐ phải để giành thông qua đóng góp BHXH và BHYT bắt buộc.
e Chức năng xã hội:
Tiền lương là yếu tố kích thích việc hoàn thiện mối quan hệ lao động.Việc gắn tiền lương với hiệu quả kinh doanh của NLĐ và doanhnghiệp sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội phát triểntheo hướng dân chủ và văn minh
Chức năng xã hội của tiền lương còn được thể hiện ở việc điều phối thu nhập trong nền kinh tế quốc dân, tạo sự cân bằng xã hội trongviệc trả lương cho NLĐ trong cùng một ngành nghề, khu vực và giữa các ngành nghề, khu vực khác nhau
1.2 Yêu cầu và nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương:
1.2.1 Yêu cầu của tổ chức tiền lương :
- Đảm bảo tái sản xuất lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
Đây là một yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện đúng chức năng và vai trò của tiền lương trong đời sống xã hội Yêu cầu này cũng đặt ra những đòi hỏi cần thiết khi xây dựng các chính sách tiền lương
- Phải có tác dụng khuyến khích năng suất lao động không ngừng nâng cao
Tiền lương là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao năng suất lao động tạo cơ sở quan trọng nâng cao hiệu quả kinh doanh Do vậy tổ chức tiền lương phải đạt yêu cầu làm tăng năng suất lao động Mặt khác,
Trang 5đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển, nâng cao trình độ và
kỹ năng của người lao động
- Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu
Tiền lương luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi người lao động Một chế độ tiền lương đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu có tác dụng trực tiếp tới động cơ và thái độ làm việc của họ, đồng thời làm tăng hiệu quả của hoạt động quản lí nhất là về quản lí về tiền lương
1.2.2 Nguyên tắc tổ chức tiền lương:
Nguyên tắc 1 : Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau
Xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động Nguyên tắc này dùng thước đo lao động để đánh giá, so sánh và thực hiện trả lương Những người lao động khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ…nhưng có mức hao phí sức lao động như nhau thì được trả lương như nhau
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng trong trả lương Điều này có sức khuyến khích rất lớnđối với người lao động
Nguyên tắc trả lương ngang nhau cho lao động như nhau nhất quántrong từng chủ thể kinh tế, trong từng doanh nghiệp cũng như từng khu vực hoạt động Nguyên tắc này được thể hiện trong các thang lương, bảng lương và các hình thức trả lương, trong cơ chế và phương thức trả lương, trong chính sách về tiền lương
Tuy nhiên dù là một nguyên tắc rất quan trọng thì việc áp dụng nguyên tắc này và phạm vi mở rộng việc áp dụng trong nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển về tổ chức và quản lý kinh tế
xã hội của từng nước trong thời kì khác nhau
Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau bao hàm ý nghĩa đối với những công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng mức và phân biệt công bằng, chính xác trong tính toán trả lương
Trang 6Nguyên tắc 2: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân
Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân, một phần giátrị mới sáng tạo, tiền lương là hình thức và là công cụ cơ bản thực hiệnnguyên tắc này Điều đó đồng thời có nghĩa rằng xét ở tầm vĩ mô, chỉđược phép phân phối và tiêu dùng trong phạm vi thu nhập quốc dân,tốc độ tăng tiền lương không được tăng hơn tốc độ tăng năng suất laođộng
Tiền lương bình quân tăng lên phụ thuộc vào những nhân tố chủquan do nâng cao năng suất lao động ( nâng cao trình độ lành nghề,giảm bớt tổn thất về thời gian lao động …)
Năng suất lao động tăng không phải chỉ do những nhân tố trên màcòn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan khác ( áp dụng kỹthuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên…) Như vậy, tốc độtăng năng suất lao động rõ ràng là có khả năng khách quan lớn hơn tốc
độ tăng của tiền lương bình quân
Không những thế, khi xem xét các mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động với tiền lương thực tế, giữa tích lũy và tiêu dùng Trong thu nhập quốc dân, ta thấy chúng có mối quan hệ liên hệ trực tiếp với tốc độ phát triển khu vực I ( sản xuất tư liệu sản xuất) và khu vực II (sản xuất vật phẩm tiêu dùng) Do yêu cầu của tái sản xuất mở rộng đòi hỏi khu vực I phải tăng nhanh hơn khu vực II Tốc độ tăng của tổng sản phẩm XH (I + II) lớn hơn tốc độ tăng của khu vực II làm cho sản phẩm XH tính bình quân theo đầu người lao động tăng Vậy trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như nội bộ các Doanh
nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm và tăng tích lũy thì không còn con đường nào khác ngoài việc tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc
độ tăng tiền lương bình quân
Nguyên tắc 3 : Đảm bảo mối quan hệ hợp lí về tiền lương giữa những người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
Trang 7Đảm bảo mối quan hệ hợp lí về tiền lương giữa những người lao
động làm việc trong các nghề khác nhau nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả lương cho người lao động Nguyên tắc này là cần thiết dựa trên những cơ sở:
- Trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành
Do đặc điểm và tính chất phức tạp về kỹ thuật và công nghệ ở các ngành nghề khác nhau là khác nhau Điều này làm cho trình độ lành nghề bình quân của người lao động giữa các ngành khác nhau cũng khác nhau Sự khác nhau này cần thiết phải được phân biệt trong trả lương Có như vậy mức khuyến khích người lao động tích cực học tập,lao động, rèn luyện , nâng cao trình độ lành nghề và kỹ năng làm việc,nhất là trong các ngành nghề đòi hỏi kiến thức và tay nghề cao
- Điều kiện lao động
Điều kiện lao động khác nhau có ảnh hưởng đến mức hao phí sứclao động trong quá trình làm việc Những người làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, hao tốn nhiều sức lực phải được trả lương cao hơn so với người làm việc trong điều kiện bình thường Sự phân biệt này làm cho tiền lương bình quân trả cho người lao động làm ở những nơi, những ngành có điều kiện lao động khác nhau là rất khác nhau Để làm tăng tính linh hoạt trong trả lương phân biệt theo điều kiện lao động, người ta thường sử dụng các loại phụ cấp về điều kiện lao động để trả cho người lao động ở những công việc có điều kiện làm việc rất khác nhau
- Ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân
Nền kinh tế bao gồm rất nhiều ngành khác nhau Trong từng thời kìtừng giai đoạn của sự phát triển của mỗi nước, một số ngành được xem là trọng điểm vì có tác dụng rất lớn đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế Các ngành này cần được ưu tiên phát triển
Trong đó dùng tiền lương để thu hút và khuyến khích người lao động trong các ngành có ý nghĩa kinh tế quan trọng, đó là một biện pháp đòn bẩy về kinh tế và cần được thực hiện tốt Thực hiện sự phân biệt này thường rất đa dạng, có thể trong tiền lương cũng có thể dùng các loại phụ cấp khuyến khích
- Sự phân bổ theo khu vực sản xuất
Trang 8Một ngành có thể được phân bổ ở những khu vực khác nhau về địa lý, kéo theo sự khác nhau về đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa, tập quán Những sự khác nhau đó gây ảnh hưởng và làm cho mức sống của người lao động hưởng lương khác nhau Để thu hút, khuyến khích lao động làm việc ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, phải có chính sách tiền lương thích hợp với những loại phụ cấp, ưu đãi thỏa đáng.
1.3 Các hình thức tiền lương:
1.3.1 Hình thức trả lương theo thời gian:
Là hình thức trả lương cho người lao động được tính trên cơ sở thời gian làm việc thực tế và trình độ thành thạo nghề nghiệp của họ Hình thức này áp dụng cho những người làm công tác quản lý, đối vớicông nhân trực tiếp sản xuất chỉ áp dụng cho những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc không thể tiến hành định mức một cách chính xác chặt chẽ
Để trả lương theo thời gian căn cứ vào 3 yếu tố : Ngày công thực tế của người lao động, đơn giá tiền lương tính theo ngày công và
hệ số tiền lương ( hệ số cấp bậc công việc )
Có 2 chế độ trả lương theo thời gian :
Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn
Tiền lương theo thời gian giản đơn là tiền lương mà mỗi người lao động nhận được do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định Công thức xác định:
Ltt = Lcb x tTrong đó :
Ltt : Tiền lương người lao động nhận được
Lcb : Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian
t : Thời gian làm việc thực tế
Trang 9Tiền lương theo thời gian có thể trả theo 3 cách: Lương giờ, lương ngày và lương tháng.
Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng
Tiền lương theo thời gian có thưởng là tiền lương trả cho người lao động được kết hợp giữa lương theo thời gian đơn giản và những khoản tiền thưởng do đạt hoặc vượt các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng quy định
Công thức tính:
Lt= Ltt+Tt
Trong đó:
Lt: tiền lương theo thời gian có thưởng
Ltt: Tiền lương theo thời gian đơn giản
Tt: Tiền thưởng
Trả lương theo thời gian có thưởng có ưu điểm so với thời gian giản đơn Hình thức này sẽ khuyến khích người lao động nhiệt tình hăng say trong công việc
1.3.2.Hình thức trả lương theo sản phẩm:
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương căn cứ vào số lượng và chất lượng sản phẩm mà người lao động tạo ra và đơn giá tiền lương theo sản phẩm để trả lương cho người lao động Tiền lươngtheo sản phẩm được xây dựng trên cở sở định mức lao động, đó là mức sản xuất trung bình tiên tiến mà phần đông những người lao động
có thể đạt được, đảm bảo tốc độ tăng tiền lương tương xứng với tăng năng suất lao động
Hiện nay, hình thức này được áp dụng phổ biến vì nó có những
ưu điểm sau:
Gắn thu nhập của nhân viên với kết quả thực hiện công việc, đảm bảo sự công bằng, làm theo năng lực, hưởng theo lao động
Trang 10Khuyến khích người lao động luôn học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn, cải tiến kỹ thuật, phát huy khả năng sáng tạo năng lực của mỗi thành viên trong doanh nghiệp.
Nâng cao và hoàn thiện công tác quản lý, chủ động trong lao động
Các hình thức trả lương theo sản phẩm dưới đây thường được các doanh nghiệp áp dụng đó là:
Trả lương theo sản phẩm trực tiếp
- Trả lương theo sản phẩm cá nhân
Hình thức này được áp dụng đối với những công nhân trực tiếp sản xuất, công việc của học có tính độc lập, có thể định mức, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể riêng biệt cho từng người.Công thức tính:
Đg: Đơn giá tiền lương trả cho một sản phẩm
L: Lương cấp bậc của công nhân trong kỳ
Q: Mức sản lượng của công nhân trong kỳ
T: Thời gian hoàn thành một đơn vị sản phẩm
L
Q
Trang 11- Trả lương theo sản phẩm tập thể
Trả lương theo sản phẩm tập thể là hình thức trả lương căn cứ vào số lượng sản phẩm hay công việc mà một tập thể công nhân đã hoàn thành và đơn giá tiền lương của một đơn vị sản phẩm hay một đơn vị công việc Công thức:
Lt=Đg×Qt
Trong đó:
Lt: Tiền lương thực tế cả tổ ( nhóm) nhận được
Đg: Đơn giá tiền lương cho cả tổ ( nhóm)
Đg: Đơn giá tiền lương cho cả tổ ( nhóm)
Lcbi: Lương cấp bậc của công nhân i trong tổ ( nhóm)
Qt: Mức sản lượng hoàn thành thực tế của cả tổ ( nhóm)
T: Mức thời gian cả tổ (nhóm)
N: Số công nhân trong tổ( nhóm)
Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Hình thức này thường được áp dụng để trả lương cho công nhân phụ, làm những công việc phục vụ cho công nhân chính như sửa chữa máy trong các phân xưởng điện, phân xưởng dệt, điều hành máy trong các
Lc
bi
Qt
Trang 12phân xưởng cơ khí Tiền lương của công nhân phụ thuộc được tính như sau:
Lt= Đg×Qt
Trong đó:
Lt: Tiền lương thực tế của công nhân phụ
Đg: Đơn giá tiền lương
Qt: Mức sản lượng hoàn thành thực tế của công nhân phụ
Đơn giá tiền lương của công nhân phụ được tính như sau:
Đg=
Trong đó:
L: Mức lương cấp bậc của công nhân phụ
M: Mức lương phục vụ của công nhân phụ
Qo: Mức sản lượng của công nhân chính
Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng
Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng là sự kết hợp giữa trả lương theo sản phẩm và chế độ thưởng hoàn thành mức công việc Tiền lương được trả theo chế độ này gồm 2 phần: Phần trả lương theo đơn giá cố định cho sản phẩm thực tế đã hoàn thành và phần tiền thưởng dựa và mức độ sản lượng đã hoàn thành vượt mức trong thực
tế và tỉ lệ % tiền thưởng quy định cho sự hoàn thành mức chỉ tiêu Công thức tính lương theo sản phẩm có thưởng được xác định như sau:
Lth=L+
Lth: Tiền lương theo sản phẩm có thưởng
LM
×Qo
L
×m
×h100
Trang 13L: Tiền lương sản phẩm với đơn giá cố định
h: Tỷ lệ % hoàn thành vượt mức sản phẩm được tính thưởng
m: tỷ lệ % tiền thưởng
Hình thức trả lương khoán
Trả lương khoán thưởng áp dụng đối với những công việc mang tính chất tổng hợp Toàn bộ khối lượng công việc sẽ được giao cho công nhân hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định Tiền lương sẽ được trả theo nhóm dựa vào kết quả của cả nhóm
Đặc điểm của lương khoán là ngoài quy định về số lượng, chất lượng công việc còn có quy định về thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc công việc đó Hình thức này kích thích tất cả nhân viên quan tâm đến kết quả cuối cùng của nhóm Trong thực tế, hình thức này thường được áp dụng trong các dây chuyền lắp ráp, trong ngành xây dựng Đối tượng áp dụng hình thức khoán có thể là cá nhân, tập thể, cóthể khoán theo từng công việc hoặc một số khối lượng công việc lớn Tiền lương sẽ được trả theo số lượng công việc mà công nhân hoàn thành ghi trong phiếu giao khoán
Việc xác định đơn giá tùy theo từng đối tượng của lương khoán,
cụ thể:
Nếu đối tượng nhận khoán là cá nhân thì xác định đơn giá như hình thức trả lương sản phẩm cá nhân, tiền lương được trả bằng đơn giá nhân khối lượng công việc
Nếu đối tượng nhận khoán là tập thể thì việc xác định đơn giá như hình thức trả lương sản phẩm tập thể và sau đó tiền lương sẽ phân phối cho người lao động phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng côngviệc của họ
Chế độ trả lương theo sản phẩm lũy triển
Chế độ trả lương này thường áp dụng ở những khâu yếu trong sản xuất Đó là khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình sản xuất
Trang 14Trong chế độ trả lương này dùng hai loại đơn giá đó là:
Đơn giá cố định: dùng để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn thành
Đơn giá lũy tiến: dùng để tính lương cho những sản phẩm vượt mức khởi điểm Đơn giá lũy tiến là đơn giá cố định nhân với tỷ lệ tăng đơn giá
1.3.3.Hình thức trả lương hỗn hợp:
Hình thức trả lương theo sản phẩm hỗn hợp là sự kết hợp giữa hình thức trả lương theo thơi gian và hình thức trả lương theo sảnphẩm, áp dụng hình thức trả lương này tiền lương của người lao động được chia làm hai bộ phận:
Phần lương cứng: Phần này tương đối ổn định nhằm đảm bảo mức thu
nhập tối thiểu cho người lao động, ổn định đời sống người lao động vàgia đình họ Bộ phận này sẽ được quy định theo bậc lương cơ bản và
số ngày công làm việc mỗi tháng
Phần biến động: Tùy theo năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
của từng cá nhân người lao động và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
II, Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May 10:
2.1.Giới thiệu chung về doanh nghiệp:
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty cổ phần May 10 là một doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) Là một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực may mặc, công ty cổ phần May 10 đã trải qua một quá trình hình thành lâu dài để có thể phát triển bền vững như ngày hôm nay, để những sản phẩm của công ty không chỉ được tiêu thụ rộng rãi trong nước mà còn hướng ra thị trường nước ngoài đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty Kể từ ngày thành lập cho đến nay
Trang 15Công ty cổ phần May 10 đã tròn 62 năm.Thời kì cả nước kháng chiến chống Pháp, các lực lượng phải tăng gia sản xuất để hỗ trợ cho tiền tuyến Các xưởng may lúc bấy giờ có nhiệm vụ là sản xuất quân trang cho quân đội Chính các xưởng may đó là tiền thân của công ty May
10 bây giờ
Năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, một
số xưởng, nhà máy ở Hà Nội đã dời lên núi rừng Việt Bắc, trong đó có
cả các xưởng may quân trang Các xưởng may quân trang này được lấy tên là xưởng may X1
Năm 1952, xưởng may X1 ở Việt Bắc đổi tên thành xưởng may X10 mang bí số X10 Có thể thấy cái tên may 10 đã trở thành tên chính thức của công ty cho đến tận bây giờ
Năm 1956, cuộc kháng chiến chống Pháp của ta giành thắng lợi vẻ vang, xưởng may X10 đã rời mảnh đất Việt Bắc chuyển về Hà Nội, sát nhập với xưởng may X40 lấy tên chung là xưởng may X10 Công xưởng sản xuất chính được xây dựng ở Gia Lâm, Hà Nội Đây cũng là nơi tiến hành sản xuất của công ty May 10 bây giờ
Tháng 12/1961, miền Bắc tiến hành xây dựng xã hội theo conđường xã hội chủ nghĩa và là hậu phương vững chắc của miền Nam Trước tình hình đó, xưởng may X10 nhanh chóng được chuyển sang
Bộ công nghiệp nhẹ tiếp quản và đổi tên là Xí nghiệp May 10
Năm 1971, xí nghiệp May 10 chính thức chuyển sang Bộ Nội thương quản lý,vẫn làm nhiệm vụ chính là may quân trang, quân phục cho bộ đội và sản xuất thêm một số mặt hàng phục vụ xuất khẩu
và dân dụng
Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất Cả nước cùng chung tay xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Xí nghiệp may 10 cũng chuyển sang một bước ngoặt mới, làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, chuyên sản xuất, gia công hàng xuất khẩu Thị trường chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô và Đông
Âu Như vậy May 10 đã có sự phát triển vượt bậc về thị trường hàng hoá, không chỉ giới hạn trong nước mà đã mở rộng ra thị trường nước ngoài Có thể nói may 10 là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu sớm nhất ở nước ta
Trang 16Năm 1990, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âutan rã, xí nghiệp May 10 đứng trước nguy cơ bị tan rã do mất thị trường Đây là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp Nhưng chính lúc đó Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối đổi mới, mở ra một con đường mới cho doanh nghiệp là sản xuất và xuất khẩu sang những nước khác như Hàn Quốc, Đức, Pháp,….Xí nghiệp thực hiện giảm biên chế,đầu tư máy móc thiết bị mới hiện đại hơn Như vậy May 10
đã có đầu ra và tránh khỏi nguy cơ phá sản
Ngày 14/12/1992 May 10 đã được đánh dấu bằng quyết định của Bộ công nghiệp nhẹ là chuyển đổi May 10 thành công ty May 10 Từ đây công ty May 10 hoàn toàn có quyền tự chủ trong kinh doanh, có quyềnkinh doanh các mặt hàng xuất khẩu nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất cho công ty Điều đặc biệt là May 10 đã trở thành thương hiệu nổi tiếng, các sản phẩm của công ty được biết đến là những mặt hàng có chất lượng cao, đem lại sự tin tưởng cho người tiêu dùng Đánh dấu sựđổi mới và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thực hiện theo chủ trương của Nhà nước, công ty May 10 đã chuyển đổi thành công ty cổ phần May 10 theo Quyết định số 105 (QĐ – BCN kí ngày 5 tháng 10 năm 2004)
Công ty cổ phần May 10 trực thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam với số vốn điều lệ 54 tỷ đồng
Năm 2010 doang nghiệp đã chuyển mô hình thành Tổng công ty May 10-CTCP
Thông tin hiện nay của doanh nghiệp:
Tên giao dịch quốc tế là: Garment 10 Joint Stock Company
Tên viết tắt là: Garco 10 JSC
Trụ sở chính: Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội
Điện thoại: 84.4827.6923 Fax: 84.4827.6925
Email: ctymay10@garco10.com.vn
Website: http://garco10.vn
2.1.2.Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty cổ phần May 10 hoạt động trong những lĩnh vực sau:-Sản xuất và kinh doanh các loại quần áo thời trang và nguyên phụ liệu ngành may mặc
Trang 17-Kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, công nghiệp thực phẩm
và công nghiệp tiêu dùng khác
-Kinh doanh văn phòng bất động sản và nhà ở cho công nhân
-Đào tạo nghề
-Xuất nhập khẩu trực tiếp
Trong đó lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp
May10 là sản xuất các sản phẩm may mặc tiêu thụ trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế Hàng hoá đưa ra thị trường nước ngoài chủ yếu theo con đường gia công toàn bộ sản phẩm hoặc bán thành phẩm hoặc xuất khẩu trực tiếp Cơ cấu mặt hàng khá đa dạng và phong phú Danh mục sản phẩm của công ty bao gồm hơn 100 chủng loại sản
phẩm may mặc các loại Sản phẩm của công ty mang một số nhãn mácnhư: Gate, Bigman, Jackhot, Freland, Pharaon, Chambray, Pretty
women,… Các mặt hàng chủ yếu của công ty bao gồm: sơ mi nam, nữcác loại; veston các loại; Jacket các loại; váy; quần âu dành cho nam
nữ các loại; quần áo trẻ em; quần áo thể thao,… Trong đó, sơ mi nam
là sản phẩm mũi nhọn của công ty, đem lại nguồn thu chủ yếu cho
công ty Bên cạnh đó thông qua gia công, xuất khẩu các sản phẩm do May 10 sản xuất cũng rất được ưa chuộng trên thị trường quốc tế
2.1.3.Đặc điểm lao động và cơ cấu bộ máy quản lý của doanh
Số lượng Tỉ lệ% Số lượng Tỉ lệ %
Số lượng