Huy Động vốn trong dân- Lãi suất không phải là tất cả
Trang 1Huy ñộng vốn trong dân- Lãi suất không phải là tất cả
ThS Nguyễn Thu Hiền, Hoàng Nghĩa Ngọc
Hà Nội
Những tháng cuối năm thường là mùa cao ñiểm kinh doanh của các ngân hàng với các hoạt ñộng huy ñộng vốn và cho vay tăng cao Cuối năm nay, hàng loạt các yếu tố ñược xem
là không thuận lợi cho hoạt ñộng huy ñộng vốn của các ngân hàng như lạm phát, tình trạng ñô la hoá và vàng hoá nền kinh có xu hướng tăng,, Ngoài ra, huy ñộng vốn của ngân hàng còn phải cạnh tranh với các kênh ñầu tư khác như bảo hiểm, thị trường chứng khoán, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, trong khi còn phải ñáp ứng các nhu cầu tăng vốn và dự trữ theo qui ñịnh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
Cùng với sự tăng nhiệt nhu cầu huy ñộng vốn của các ngân hàng, dư luận càng trở nên
“nóng” hơn khi trong tháng 11, giá ñô la Mỹ (USD) và vàng tăng mạnh, cùng với thông tin lượng vàng trong dân có thể lên tới 1.000 tấn, lượng USD lên ñến chục tỷ USD Chưa biết
sự chính xác của thông tin trên ñến ñâu, nhưng với chức năng huy ñộng vốn nhàn rỗi trong xã hội ñể ñáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, liệu chỉ mình các ngân hàng có thể xoay xở ñể hút lượng vốn khổng lồ này vào phục vụ cho hoạt ñộng kinh doanh của ngân hàng nói riêng và cho ñầu tư phát triển kinh tế ñất nước nói chung?
Huy ñộng vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Một thực tế là các ngân hàng thương mại (NHTM) trong những năm gần ñây ñã ngày càng ña dạng hoá các hình thức huy ñộng vốn, từ tiết kiệm các kỳ hạn ñến kỳ phiếu, trái phiếu vô danh, ghi danh, chứng chỉ tiền gửi, ñến các hình thức rút gốc, rút lãi linh hoạt cộng với các chương trình tham gia dự thưởng, quà tặng, Chưa kể ñến có những NHTM “ñi ñêm” lãi suất với các khách hàng có số dư tiền gửi lớn hay hiện tượng chèo kéo khách hàng từ ngân hàng khác về ngân hàng mình bằng những lợi ích khác, không loại trừ cả lợi ích vật chất
Bảng 1 Huy ñộng vốn qua phát hành giấy tờ có giá của một số NHTM năm 2010
Ngân hàng Loại giấy tờ có giá
phát hành
Tổng giá trị phát hành Ghi chú
ACB GTCG trung và dài
hạn
9.000 tỷ VND (qui ñổi) Trong ñó bằng USD là 3.000 tỷ
VND qui ñổi Western Bank GTCG dài hạn 500 tỷ VND (quy ñổi) Trong ñó bằng USD là 100 tỷ
VND qui ñổi BIDV GTCG dài hạn 10.000 tỷ VND (quy
ñổi)
Trong ñó bằng USD là 3.000 tỷ VND qui ñổi
Vietinbank GTCG dài hạn 15.000 tỷ VND và 800
triệu USD
MB GTCG dài hạn 7.000 tỷ VND (quy ñổi) Trong ñó bằng USD là 3.000 tỷ
VND quy ñổi Ngân hàng
TMCP ðại Á
GTCG dài hạn 1.500 tỷ VND Techcombank GTCG dài hạn 9.000 tỷ VND
Vietcombank GTCG dài hạn 5.000 tỷ VND (qui ñổi) Trong ñó bằng USD là 4.600 tỷ
Trang 2VND quy ựổi Habubank GTCG dài hạn 2.000 tỷ VND
HDBank GTCG dài hạn 3.000 tỷ VND
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Nhìn từ góc ựộ huy ựộng vốn và cho vay nền kinh tế, ựặc biệt là trong những năm vừa qua, một phần nguyên nhân của hiện tượng trên là do một số NHTM quá chú trọng ựến lợi nhuận
từ hoạt ựộng tắn dụng, cho vay quá với khả năng huy ựộng của mình, không coi trọng quản trị rủi ro thanh khoản nên chỉ cần có dấu hiệu tiêu cực của kinh tế vĩ mô là lập tức tác ựộng ựến khả năng thanh khoản của ngân hàng để bù ựắp thiếu hụt này, họ phải dùng chiêu bài lãi suất
ựể huy ựộng vốn, bù ựắp thiếu hụt thanh khoản
Bảng 2 Tăng trưởng huy ựộng vốn và cho vay của các tổ chức tắn dụng tại Việt Nam
đơn vị: % (so với năm trước)
2007 2008 2009 đến cuối tháng
10/2010
Nguồn: NHNN
Số liệu Bảng 2 cho thấy thanh khoản là nguyên nhân tình trạng căng thẳng trong cạnh tranh huy ựộng vốn của các NHTM, nhất là thời gian gần ựây đối với từng NHTM, những số liệu
ựược báo chắ công bố có thể gây ỘsốcỢ: Nhiều NHTM có tỷ lệ dư nợ/vốn huy ựộng lên tới trên
100%, cá biệt còn có trường hợp lên ựến trên 200% đó là chưa kể ựến các NHTM còn sử dụng một tỷ lệ nhất ựịnh vốn ngắn hạn ựể cho vay trung, dài hạn (theo qui ựịnh tối ựa là 30%), phải thực hiện dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh khoản theo qui ựịnh
Với tình trạng thanh khoản của ngân hàng Ộăn ựongỢ từng ngày thì việc chạy ựua lãi suất ựể huy ựộng vốn, bù ựắp thiếu hụt thanh khoản, ựẩy cả hệ thống vào cuộc chạy ựua là ựiều không tránh khỏi Tuy nhiên, những số liệu trên cũng cho thấy, vốn huy ựộng vào ngân hàng không tăng tương ứng, dù lãi suất huy ựộng trong những tháng gần ựây liên tục ựược ựẩy lên, thậm chắ tăng lên từng ngày, ựặc biệt là khi ông Lê đức Thuý- Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chắnh quốc gia công bố với báo giới vào ngày 4/11, trong thời ựiểm giá vàng tại Việt Nam lên cơn
ỘsốtỢ, chênh so với giá thế giới tới hơn 2.000.000VND/lượng và giá USD trên thị trường tự
do vượt qua mốc 21.000VND/USD, rằng ỘGiải pháp nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ ựang lên cơn sốt ựược Thường trực Chắnh phủ thống nhất: Không tăng tỷ giá, không ép hạ lãi suất VND, mà ựiều hành theo cơ chế thị trườngỢ Việc tăng lãi suất ựể thu hút vốn mặc dù ựã ựược cảnh báo- và tất nhiên các NHTM cũng biết- là lợi bất cập hại, nhưng vẫn ựược một số ngân hàng sử dụng, khiến hiện tượng Ộvốn chạy vòng quanhỢ, gây bất ổn cho cả hệ thống
Những ngày cuối tháng 11, biểu lãi suất huy ựộng của nhiều NHTM biến ựộng tăng từng ngày Tại MeKong Bank, bảng lãi suất niêm yết trên Website của ngân hàng này dao ựộng 13,3- 13,5%/năm cho kỳ hạn 1- 3 tháng Western Bank cũng vừa phát hành kỳ phiếu ghi danh lãi suất 13,5%/năm KienLong Bank cũng tăng ựều ở hầu hết các kỳ hạn, với mức lãi suất lên
ựến 13%/năm Còn SeABank triển khai sản phẩm ỘTiết kiệm 36 tháng lãi suất thả nổiỢ với lãi
Trang 3suất chạm ñến ngưỡng 13%/năm ñối với VND Tại VietA Bank, lãi suất tiết kiệm tiền ñồng
ñược ngân hàng này trả cho khách hàng ở mức cao nhất lên ñến 14,5%/năm dành cho kỳ hạn
tiền gửi trên 6 tháng Nhưng ñáng lo ngại là tình trạng thỏa thuận ngầm về lãi suất tiết kiệm giữa khách hàng có khoản tiền gửi lớn và ngân hàng ñang tồn tại trên thị trường ðặc biệt, sự
“mặc cả” lãi suất của khách hàng gửi tiết kiệm khiến nguồn cung vốn tiết kiệm không ổn
ñịnh Cộng các chi phí khuyến mãi, quà tặng, lãi suất huy ñộng vốn thực của nhiều NHTM
thậm chí cao hơn 15%/năm
Có phải tiền trong dân ñã hết?
Thực tế, không phải người dân nào cũng người hiểu rõ những khái niệm, thuật ngữ như cung- cầu tiền, lạm phát, tỷ giá, cầu kéo, chi phí ñẩy, hay các chức năng của tiền tệ Người dân ñơn giản chỉ thấy rằng, với một số tiền của họ nếu hôm nay mua ñược một số lượng hàng nhất
ñịnh, nhưng khi họ ñể dành, gom góp gửi vào ngân hàng, thì ñến một ngày nào ñó rút ra mua,
cộng cả lãi suất do ngân hàng trả thì chỉ còn ñược một phần của số hàng ñó Trong khi ñó, nếu không gửi vào ngân hàng, họ tích cóp ñể mua vàng, mua ngoại tệ, ñến khi cần dùng họ dễ dàng bán ñi ñể trang trải ñủ nhu cầu mình cần, thậm chí còn dư ðiều này giải thích tại sao người dân tích trữ vàng và ngoại tệ thay vì gửi tiền vào ngân hàng
Những ngày gần ñây, việc giá vàng, giá ngoại tệ (chủ yếu là ñô la Mỹ- USD) tăng chóng mặt
ñã thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Những hình ảnh về người dân xếp hàng chen chúc
nhau mua bán vàng, ngoại tệ với cả bao tải tiền khiến người ta liên tưởng ñến một cuộc tháo chạy khỏi tiền ñồng Vấn ñề càng trở nên nóng khi 3 tháng liền (9, 10, 11) chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ñã tăng cao vượt mọi dự báo, ñẩy CPI 11 tháng của cả nước tăng 9,58% so với tháng 12/2009 Thực tế, những con số này cũng không thật sự có nhiều ý nghĩa ñối với người dân,
mà họ chỉ thấy rằng, cũng với ñồng tiền ấy, bữa cơm trong mỗi nhà vơi ñi, số tiền tích luỹ ñể thực hiện cho những dự ñịnh trong tương lai trở nên xa xôi hơn
Việc tìm ñến vàng, ngoại tệ, bất ñộng sản của người dân ñể bảo toàn giá trị những khoản tiền tích luỹ thay cho việc gửi vào ngân hàng là một hành ñộng bình thường, giống như việc các NHTM phải ña dạng hoá hoạt ñộng, phân tán rủi ro Bất cứ người dân hay doanh nghiệp,
ai cũng muốn bảo vệ giá trị tài sản mà mình ñã lao tâm khổ tứ tạo ra ðiều này giải thích tại sao các doanh nghiệp có ngoại tệ trên tài khoản không muốn bán cho ngân hàng, người dân nhận kiều hối cũng không muốn bán cho ngân hàng Vì vậy, không thể chỉ kêu gọi suông Chính vì thói quen qui giá trị những tài sản lớn ra ngoại tệ, thậm chí công khai niêm yết giá bán hàng hoá bằng ngoại tệ nên thuật ngữ “ñô la hoá” trở nên quen thuộc khi nói về nền kinh
tế Việt Nam
Khi vàng liên tục lên cơn sốt và có sự cách biệt lớn so với giá thế giới, lại thêm một thuật ngữ nữa xuất hiện ñể chỉ nền kinh tế Việt Nam, ñó là “vàng hoá” Thuật ngữ này xuất hiện trên báo chí ngay sau khi ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho biết, theo số liệu thống kê của Hội ñồng Vàng thế giới (WGC), lượng vàng dự trữ của Việt Nam ñã tăng liên tục trong nhiều năm qua và ñạt mức cao nhất 1.000 tấn vào cuối năm
Trang 42009 với tổng trị giá lên tới 45 tỷ USD, bằng 50% GDP của Việt Nam cùng thời ựiểm Dù chưa có con số chắnh thức nhưng các chuyên gia và các công ty vàng bạc ựều ựưa ra con số
ước lượng thì ựến nay số vàng nằm trong dân, chủ yếu dưới dạng tài sản cất giữ, lên ựến
khoảng 700- 800 tấn Theo thống kê của NHNN từ báo cáo của các NHTM, lượng vàng trong dân gửi tại hệ thống NHTM ựến cuối tháng 10/2010 là 92,6 tấn tấn Tuy nhiên, Thống ựốc NHNN Việt Nam Nguyễn Văn Giàu, dẫn số liệu của Tổng cục Hải quan và NHNN về diễn biến xuất nhập khẩu vàng từ năm 1998 ựến tháng 9/2010, số vàng Việt Nam nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu là 71 tấn (nhập khẩu là 339,86 tấn, xuất khẩu là 268,86 tấn)
Cũng tương tự như vàng, không có nguồn ựể ựưa ra những thông tin chắnh xác về lượng USD
do người dân nắm giữ ngoài hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, theo ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống ựốc NHNN, USD trôi nổi trên thị trường tự do có thể ở mức tương ựương dự trữ ngoại hối của Nhà nước Theo thông tin ựược trắch dựa trên Báo cáo kiều hối và di trú toàn cầu, do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 8/11, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam năm nay
ựạt hơn 7,2 tỷ USD, so với 6,6 tỷ USD năm 2009 Nhưng chắc chắn chỉ có một tỷ lệ không ựáng kểlượng kiều hối khổng lồ này ựược hút vào hệ thống ngân hàng
Lý giải một số nguyên nhân
Nền kinh tế Việt Nam tồn tại nhiều loại Ộtiền tệỢ trong thanh toán
Thực tế là, khi mua những tài sản có giá trị lớn, ựòi hỏi phải có thời gian tắch luỹ tiết kiệm mới mua ựược như nhà, xe ô tô, giá trị những tài sản này thường ựược tắnh bằng ngoại tệ, bằng vàng tại thời ựiểm mua rồi qui ra VND điều này dẫn ựến ựồng tiền Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam ựã không thực hiện ựầy ựủ chức năng vốn có của tiền tệ
Khi nói ựến thanh toán trong nền kinh tế Việt Nam, một thuật ngữ thường ựược nhắc ựến nhất
là Ộnền kinh tế tiền mặtỢ Tiền mặt ựược dùng ở ựây không chỉ là tiền Việt, mà cả các loại ngoại tệ mạnh và vàng đã có nhiều biện pháp ựược các cơ quan quản lý ựưa ra ựể nhằm Ộtrên lãnh thổ Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt NamỢ, nhưng hiệu lực của những qui ựịnh này vẫn còn hạn chế do thiếu tắnh khả thi, không ựảm bảo lợi ắch của những của ựối tượng chịu sự quản lý
và chế tài xử lý vi phạm cũng chưa ựủ sức răn ựe Chắnh vì vậy, việc niêm yết giá bán bằng ngoại tệ (chủ yếu là bằng USD) vẫn xảy ra Thị trường ngoại tệ Ộchợ ựenỢ, mặc dù theo công
bố, chỉ chiếm 10% qui mô thị trường nhưng ựã có tác ựộng ựến tâm lý người dân gấp nhiều lần qui mô của nó
Sức mua của VND bị giảm sút quá nhanh
Chỉ cần dựa trên số liệu về mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong mấy năm trở lại ựây sẽ thấy sức mua của VND ựã giảm sút quá nhanh
Bảng 3 Tốc ựộ tăng CPI và GDP của Việt Nam
đơn vị: %
Năm Tốc ựộ tăng CPI Tăng giá giá USD Tốc ựộ tăng GDP
Trang 52009 6,88 9,17 5,32
Nguồn: Tổng cục Thống kê, tính theo giá so sánh năm 1994
* là số dự kiến của tác giả dựa trên số liệu về CPI của Tổng cục Thống kê cơng bố đến hết tháng 11, CPI tăng 9,58% so với tháng 12/2009, GDP là mức đã được Quốc hội phê duyệt cho năm 2010
Như vậy, chỉ từ năm 2006 đến nay, CPI của Việt Nam đã tăng tới 55,25%, dẫn tới xĩi mịn lịng tin của người dân vào giá trị đồng tiền Với mức lạm phát này, thu nhập thực tế của người dân bị giảm, họ phải thắt chặt chi tiêu, chuyển đổi tiết kiệm của mình ra vàng, ngoại tệ
để bảo tồn các giá trị tích luỹ như một phản xạ tất yếu Thực tế này đã được nhiều chuyên
gia trong và ngồi nước cảnh báo và dự đốn ngay từ năm 2008 và 2009, khi Việt Nam thực hiện gĩi kích cầu và trước những yếu kém, mất cân đối trong nội tại nền kinh tế như hiệu quả
đầu tư thấp, thâm hụt cán cân thanh tốn lớn và kéo dài, bội chi ngân sách liên tục và
khuyến nghị nên ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mơ cùng những giải pháp cụ thể trong điều hành
Sự mất niềm tin vào VND cịn thể hiện ở việc tiền gửi ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) cũng tăng nhanh hơn tiền gửi bằng VND trong hệ thống NHTM Theo Báo cáo hoạt động ngân hàng trên địa bàn năm 2010 của NHNN TP Hồ Chí Minh, dự tính đến 31/12/2010, huy động vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 766.250 tỉ đồng, tăng 27% so với cuối năm 2009; tổng dư nợ tín dụng tăng 25%, trong đĩ dư nợ bằng VND tính đến cuối năm ước đạt 501.650 tỉ đồng, tăng 18,5%, bằng ngoại tệ ước đạt 198.160 tỉ đồng, ước tăng 45,2% Trong 3 tháng gần đây, tiền gửi ngoại tệ cĩ xu hướng tăng qua từng tháng, và tăng cao hơn các tháng
đầu năm, trong tiền gửi ngoại tệ cĩ đến 40%-45% là của các tổ chức kinh tế Những con số về
huy động vốn, cho vay trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã cho thấy xu hướng dịch chuyển tài sản từ VND sang ngoại tệ của cả người dân và doanh nghiệp, và họ đều khơng muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng Trong khi đĩ, nhu cầu mua USD để thanh tốn cho các hợp đồng nhập khẩu đến hạn của doanh nghiệp lại tăng thêm vào thời điểm cuối năm đã gây áp lực lớn lên cung cầu ngoại tệ
Sự khơng thống nhất trong điều hành và cơng bố thơng tin định hướng thị trường
Sức mua của VND giảm làm xĩi mịn một phần lịng tin của người dân, nhưng sự khơng nhất quán trong điều hành và phát ngơn của các nhà quản lý cịn khiến người dân mất lịng tin hơn nữa Thời điểm trước tháng 11, Chính phủ vẫn liên tục hối thúc NHNN chỉ đạo và thực hiện các biện pháp để giảm lãi suất, trong khi thị trường đã hiển hiện nguy cơ lạm phát và tăng trưởng kinh tế dự kiến khơng gặp khĩ khăn trong việc đạt kế hoạch Vì vậy, mặc dù các NHTM đã “đồng thuận” trần lãi suất, vẫn âm thầm “đua” lãi suất để huy động vốn, cịn NHNN thì vừa ban hành Quyết số 2561/Qð-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng VND ngày 27/10 giữ nguyên lãi suất cơ bản của VND là 8%/năm, áp dụng từ ngày 1/11/2010, chỉ sau cĩ hơn 1 tuần lại cĩ Quyết định số 2619/Qð-NHNN ngày 5/11, theo đĩ mức lãi suất cơ bản bằng VND là 9%, cĩ hiệu lực ngay trong ngày ban hành
Trang 6Sự không thống nhất trong ñiều hành vĩ mô còn thể hiện ở trái phiếu Chính phủ luôn ñược chào bán với lãi suất cao hơn lãi suất cơ bản của NHNN: Lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn
5 năm trong ñợt ñấu thầu ngày 29/7/2010 là 10,4%/năm, cao hơn lãi suất huy ñộng bình quân của NHTM cùng thời ñiểm trong khi theo thông lệ, lãi suất trái phiếu chính phủ là dấu hiệu quan trọng chỉ báo kỳ vọng lạm phát của một nước Uy tín của NHTM không bằng uy tín của ngân sách quốc gia (vì ñây cũng chính là uy tín của Chính phủ), ñộ an toàn tiền gửi cũng không bằng, nên NHTM huy ñộng vốn trong xã hội sẽ phải trả giá cao hơn ngân sách quốc gia vay (thông qua việc bán TPCP) thì mới huy ñộng vốn ñược
Thông thường, và cũng là ñúng chức năng, những thông tin liên quan ñến chính sách tiền tệ như lãi suất, tỷ giá, thường do ñại diện NHNN công bố Thế nhưng ñầu tháng 11 (4/11), trong thời ñiểm nóng bỏng giá vàng, giá USD, những thông tin này lại không phải do NHNN công bố Thực tế, cũng không mấy người dân quan tâm ñến cơ quan nào công bố mà chỉ hiểu chung chung là “Chính phủ”, “Nhà nước” Nhưng ñiều ñáng nói ở ñây là những thông tin này, ngay sau ñó lại ñược Thống ñốc NHNN “ñính chính”, khiến dư luận có quyền ñặt câu hỏi, nghi ngờ vào sự thống nhất trong ñiều hành và phối hợp các cơ quan của Chính phủ
Sự không thống nhất trong ñiều hành còn thể hiện ở việc chính sách tiền tệ thì ñược chỉ ñạo thắt chặt, thậm chí tính ñến cả phương án rút nhanh tiền khỏi lưu thông, nhưng chính sách tài khoá lại dường như ñứng ngoài cuộc, chi tiêu công và ñầu tư công vẫn tăng ñều, bội chi ngân sách và nợ công ñều tăng mạnh Hai khoản chi lớn nhất là chi thường xuyên, và chi ñầu tư phát triển tăng tương ứng ở mức gần 7% và 43% so với dự toán năm 2010 Năm 2009, tổng mức ñầu tư toàn xã hội là 42,2% GDP (kế hoạch là 39,5% GDP), trong khi tốc ñộ tăng trưởng sụt giảm chỉ còn khoảng 5,3%, chỉ số ICOR (hệ số sinh lời từ ñồng vốn ñầu tư) tăng lên trên 8
so với mức 6,66% của năm 2008 (ñã ñược ñánh giá là ở mức cao) Năm 2010, dự kiến ICOR của Việt Nam vào khoảng 7, chứng tỏ hiệu quả ñầu tư vẫn kém, nhất là so sánh với những nước trong khu vực ðây chính là một trong những nguyên nhân gây lạm phát quan trọng Theo kế hoạch năm 2010, thiếu hụt ngân sách ñược quyết ñịnh là 6,2% GDP, nhưng theo IMF, có thể lên tới 9% nếu tính cả chi tiêu ngoài ngân sách Nợ công tăng nhanh, năm 2009 tăng 9% và năm 2010 tăng 12% năm, do ñó tỷ lệ nợ công trên GDP ñã nhanh chóng vượt quá 50% GDP Nhập siêu năm 2009 là 12,2 tỉ USD, năm 2010 theo kế hoạch là 12 tỉ USD, khiến
nợ nước ngoài hiện nay là khoảng 28 tỉ ñô la, bằng 40% GDP ðây là những áp lực rất mạnh lên tỷ giá và lạm phát
Chống lạm phát, giữ ổn ñịnh kinh tế vĩ mô cần sự phối hợp của nhiều cơ quan, mà quan trọng nhất là sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ Nhưng chỉ với một vài thực trạng ñiểm ra ở trên, rõ ràng là quá bất công khi lạm phát tăng, VND mất giá thì mọi con mắt lại ñổ dồn vào NHNN
ðể huy ñộng vốn trong dân: Lãi suất không phải là tất cả
Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của lãi suất trong cạnh tranh huy ñộng vốn của NHTM nói riêng, cuộc chiến chống lạm phát của Việt Nam nói chung Tuy nhiên, chỉ lãi suất không
Trang 7chưa ñủ mà cần phải có những biện pháp ngắn hạn và dài hạn ñể vực lại lòng tin của người dân ñối với VND
Ổn ñịnh kinh tế vĩ mô
Mức ñộ ổn ñịnh kinh tế vĩ mô là trụ cột thứ 3 trong 12 trụ cột ñược xem xét ñể ñánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của Diễn ñàn kinh tế thế giới Theo Tổ chức này, sự ổn ñịnh của môi trường kinh tế vĩ mô là một ñiều quan trọng ñối với công việc kinh doanh Chính phủ không thể cung cấp các dịch vụ công một cách hiệu quả nếu phải trả những khoản lãi cao phát sinh
từ những khoản nợ trong quá khứ; các doanh nghiệp không thể hoạt ñộng hiệu quả nếu tỷ lệ lạm phát vượt ngoài tầm kiểm soát
Xem xét những chỉ số quan trọng phản ánh tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam những năm qua như lạm phát, thâm hụt ngân sách, cán cân thương mại, vay nợ nước ngoài, hiệu quả ñầu
tư, sự phối hợp và minh bạch trong ñiều hành chính sách có thể dễ nhận thấy sự suy giảm niềm tin vào VND của người dân ñã ñược tích tụ từ nhiều năm qua Rõ ràng, giữa ổn ñịnh kinh tế vĩ mô và lòng tin của người dân ñối với VND có mối quan hệ biện chứng với nhau Khi kinh tế vĩ mô bất ổn, người dân sẽ quay lưng lại lại VND, khiến cho tình trạng bất ổn càng khó kiểm soát Tình trạng này ñang hoàn toàn ñúng ñối với Việt Nam
Trong Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của năm 2009- 2010 của Diễn ñàn kinh tế thế giới, trụ cột “mức ñộ ổn ñịnh kinh tế vĩ mô” Việt Nam có thứ hạng 112/133 nền kinh tế ñược xếp hạng Còn trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010- báo cáo ñầu tiên cấp quốc gia của Việt Nam về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế- ñược xây dựng bởi Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á phối hợp thực hiện, yếu
tố chính sách kinh tế vĩ mô ñang ở màu ñỏ, nghĩa là “bất lợi lớn” Giáo sư Michael Porter,
“cha ñẻ” của chiến lược cạnh tranh chính là người chỉ ñạo trực tiếp việc thực hiện báo cáo này
Vì vậy, ổn ñịnh kinh tế vĩ mô, lấy lại lòng tin của người dân ñối với VND là một ñiều kiện tiên quyết ñể tiền của người dân chảy vào hệ thống ngân hàng, vào nền kinh tế thay vì ñầu tư vào ngoại tệ, vàng, bất ñộng sản, Ổn ñịnh kinh tế vĩ mô cần những giải pháp dài hơi và những thay ñổi về mặt cơ cấu, thể hiện ở chính sách và quan ñiểm ñiều hành nhất quán của Chính phủ Dưới giác ñộ tạo lòng tin cho người dân vào VND, ñó là việc kiềm chế lạm phát,
là việc ñảm bảo giá trị thực tế của VND và những biện pháp, chính sách minh bạch, bảo vệ quyền tài sản chính ñáng của người dân và doanh nghiệp chứ không phải bằng các can thiệp hành chính
Trong ñiều kiện trước mắt, trước áp lực lạm phát tăng cao, cần có sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ trong ñiều hành chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ ñể kiềm chế lạm phát Như
vậy, ngoài việc chấp nhận lãi suất tăng ñể hạn chế tiêu dùng và ñầu tư của toàn xã hội, cần hạn chế chi tiêu và ñầu tư công ñể giảm bội chi, qua ñó giảm áp lực lên lạm phát Việc áp dụng các biện pháp hành chính tạm thời như quản lý giá một số mặt hàng thiết yếu, sử dụng
Trang 8ngân sách ñịa phương ñể bình ổn, bù lỗ một số mặt hàng thiết yếu, chắc chắn không thể kéo dài, và do vậy, không có tác dụng ổn ñịnh kinh tế vĩ mô
ðể việc phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, giảm căng thẳng
về tỷ giá cần có sự chỉ ñạo thống nhất của Chính phủ- ñó là việc thắt chặt ñầu tư, chi tiêu công, chính sách xuất nhập khẩu nhằm giảm thâm hụt thương mại cùng với ñiều hành chính sách tiền tệ thắt chặt Việc ñiều hành cần tuân thủ nguyên tắc thị trường và phù hợp với các cam kết hội nhập của Việt Nam
ðối với ñiều hành tỷ giá: ðây là một vấn ñề hết sức nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp tới lòng
tin của người dân cũng như chỉ số lạm phát của Việt Nam Với tỷ lệ nhập siêu tương ñối lớn, việc ñiều chỉnh tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới mặt bằng giá cả nói chung và chi phí, lợi nhuận của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói riêng Tuy nhiên, nhìn vào tỷ lệ lạm phát của Việt Nam giai ñoạn 2006- 2010 và tỷ lệ mất giá của VND so với USD (Bảng 2), cùng với con số nhập siêu của Việt Nam những năm này, có thể thấy rõ áp lực ñè nặng lên Chính phủ trong việc giữ ổn ñịnh tỷ giá Trong khi ñó, dự trữ ngoại hối Nhà nước hiện không ñủ mức an toàn ñể can thiệp thị trường, bình ổn tỷ giá Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam ở mức ñỉnh là trên
25 tỉ USD, mới ñây theo IMF chỉ còn 15 tỉ USD Việc công bố can thiệp ngoại tệ, giữ ổn ñịnh
tỷ giá ñến hết năm chỉ là biện pháp mang tình tình thế và bình ổn tạm thời NHNN cần cam kết, công bố công khai những doanh nghiệp/mặt hàng nào ñược ưu tiên cân ñối ngoại tệ và thực hiện ñúng cam kết, tránh việc tuyên bố chung chung là ñáp ứng ngoại tệ cho nhập khẩu những mặt hàng/nhu cầu thiết yếu, vừa không tạo ñược niềm tin cho thị trường, vừa tạo kẽ hở
ñể doanh nghiệp lách “luật”
Chưa bao giờ “bộ ba bất khả thi” lại tác ñộng mạnh ñến kinh tế Việt Nam như hiện nay Nền kinh tế Việt Nam có mức ñộ mở tương ñối lớn, với tỷ lệ xuất nhập khẩu/GDP lên tới trên 130% Tuy nhiên, việc ñiều hành vĩ mô của Chính phủ nói chung và chính sách tỷ giá nói riêng chưa nhận thức ñầy ñủ tác ñộng của “bộ ba bất khả thi” này: Chúng ta thực hiện cam kết
mở cửa cho dòng vốn ra- vào tự do, nhưng khống chế lạm phát và tỷ giá Lý thuyết bộ ba bất khả thi ñã chứng minh rằng ñiều này không thể tồn tại, nếu chúng ta cố giữ, cố ñi ngược qui luật thì sẽ phải trả giá
Lý thuyết bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity hay Inconsistent Trinity hay Triangle of Impossibility) là một chính sách kinh tế quốc tế Lý thuyết phát biểu rằng: Một quốc gia không thể ñồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách vĩ mô (1) Ổn ñịnh tỷ giá; (2) tự do hóa dòng vốn và (3) chính sách tiền tệ ñộc lập Lý thuyết bộ ba bất khả thi khẳng
ñịnh rằng: trong ñiều kiện ngày nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa việc giảm thiểu sự thay ñổi tỷ giá hoặc ñiều hành một chính sách tiền tệ ñộc lập ổn ñịnh Nó không thể có ñồng thời
cả hai
Tỷ giá là một biến số vĩ mô hết sức quan trọng Thực tiễn cho thấy, không một quốc gia nào thả nổi hoàn toàn tỷ giá ðối với một nền kinh tế ñô la hoá cao như Việt Nam, chính sách tỷ giá lại càng nhạy cảm ðiều hành tỷ giá trước hết phải ñứng trên lợi ích chung của nền kinh
Trang 9tế, tuy nhiên không thể bỏ qua tính qui luật cùng những nguyên lý xác ñịnh tỷ giá Không thể phủ nhận một phần nguyên nhân của ñô la hoá cao và căng thẳng ngoại tệ luôn thường trực trong nền kinh tế Việt Nam có lỗi của chính sách cố ñịnh tỷ giá quá lâu Việc ñể tồn tại chênh lệch tỷ giá quá cao giữa thị trường tự do và niêm yết mua- bán chính thức của NHTM là một rào cản khiến NHTM không mua ñược USD của người dân và doanh nghiệp vì không ai “bán rẻ” cho ngân hàng thứ hàng mà họ có thể bán với giá “ñắt” hơn trên thị trường Hơn nữa, việc ngân hàng không có nguồn cung USD ñáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp còn khiến cho doanh nghiệp mất nhiều chi phí hơn khi ñi mua USD trên thị trường, bán cho ngân hàng ñể rồi lại mua lại từ chính ngân hàng số USD mình vừa bán
Về lâu dài, cần có lộ trình ñiều chỉnh tỷ giá thích hợp nhằm ñạt ñược ổn ñịnh vĩ mô, cân bằng cán cân thanh toán Quan trọng hơn, lộ trình này cần công khai, ñồng thời có chính sách thích hợp ñể tránh việc găm giữ ngoại tệ của người dân và doanh nghiệp
ðối với vàng: Khi chúng ta chấp nhận hội nhập tức là giá cả hàng hoá của Việt Nam và thế
giới ñã liên thông với nhau, trong ñó có giá vàng Không thể phủ nhận việc khi khủng hoảng xảy ra, nhiều ngân hàng trung ương cũng như người dân ñã tăng dự trữ vàng, coi ñây như một tài sản trú ẩn an toàn Vì vậy, cũng như các hàng hoá khác, cầu tăng trong khi cung chưa tăng kịp, cộng với hoạt ñộng ñầu cơ, ñã ñẩy giá vàng thế giới tăng cao và diễn biến phức tạp Giá vàng ở Việt Nam tăng theo giá vàng thế giới là chuyện bình thường
ðiều bất bình thường là ở chỗ giá vàng Việt Nam lúc thì tăng bỏ xa giá thế giới, lúc thì ngược
lại, thấp hơn giá thế giới Cần thừa nhận rằng việc giá vàng chênh lệch (cao) bất thường so với giá thế giới có lỗi từ chính sách Vì vậy, NHNN không nên tuyên bố “bình ổn giá vàng”
mà nên bỏ quota, ñể các doanh nghiệp ñược phép kinh doanh vàng tự quyết ñịnh thời ñiểm, khối lượng nhập- xuất, ñể giá vàng giao dịch trên thị trường cùng nhịp với giá vàng thế giới Mới ñây, Website của Công ty Chứng khoán Ngân hàng ðầu tư và Phát triển Việt Nam ñưa thông tin 10 nước và tổ chức có dự trữ vàng lớn nhất thế giới, trong ñó những nước ñứng ñầu danh sách có lượng vàng dự trữ chiếm phần lớn trong dự trữ ngoại hối quốc gia (Mỹ, ðức, Pháp, Ý, Trung Quốc, ) Thiết nghĩ, Việt Nam cũng nên thay ñổi cơ cấu dự trữ ngoại hối (thông tin này chưa bao giờ ñược công bố) nhằm có thực lực ñể có thể bình ổn thị trường vàng theo hướng ñể giá vàng Việt Nam không quá cách biệt so với giá thế giới, tránh việc lúc giá thế giới cao ñỉnh ñiểm thì doanh nghiệp mới ñược cấp quota nhập khẩu
ðồng thời, ñể giảm dần thói quen cất trữ vàng của người dân, cần tạo cho người dân lòng tin
vào VND và cơ hội ñầu tư sinh lợi Chỉ khi họ thấy tin tưởng rằng tài sản của họ không bị mất
ñi khi ñầu tư vào nền kinh tế, vào sản xuất kinh doanh thì họ mới sẵn sàng “rút hầu bao”- và ñây cũng là hướng mà các nhà quản lý ñang hướng tới
ðối với ñiều hành lãi suất: Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của lãi suất trong ñiều
chỉnh hành vi tiết kiệm- tiêu dùng của người dân, nhất là trong những thời ñiểm lạm phát có
xu hướng tăng cao Việc cố kéo thấp lãi suất (cả huy ñộng và cho vay của NHTM) trong thời gian vừa qua, trong khi lạm phát ñã có xu hướng tăng cao, không những phản tác dụng mà
Trang 10còn ựẩy các NHTM vào thế buộc phải Ộlách luậtỢ, khiến hiện tượng tiền tiết kiệm chạy lòng vòng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, gây bất ổn hệ thống Vì vậy, quyết ựịnh tăng các mức lãi suất chủ chốt của NHNN ngày 5/11 vừa qua là một quyết ựịnh ựúng ựắn, tuy hơi muộn so với ựà tăng của lạm phát Thực tế việc này cũng không thể ựổ trách nhiệm cho NHNN bởi chỉ trước ựó 1 tuần, Chắnh phủ vẫn hối thúc NHNN có biện pháp và chỉ ựạo các NHTM hạ lãi suất, tạo ựiều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn
Nhưng việc lãi suất tăng liệu có làm cho người dân ựổ tiền vào ngân hàng? Trong khi những con số thống kê chắnh thức về huy ựộng vốn của hệ thống ngân hàng chưa có, thì ựã có nhiều thông tin về việc số dư tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng này giảm do lãi suất không cao bằng ngân hàng khác nên người gửi tiền rút mang sang ngân hàng có lãi suất cao hơn gửi
Cả lý thuyết và thực tiễn Việt Nam ựều cho thấy, lãi suất là công cụ hiệu quả ựể hút tiền về ngân hàng, nhất là trong ựiều kiện lạm phát Nhưng lãi suất cũng là con dao 2 lưỡi nếu ngân hàng quá lạm dụng nó, vì tiền về ngân hàng không phải nằm im mà nó tiếp tục vòng quay trở lại nền kinh tế, phục vụ phát triển kinh tế Nếu lãi suất ựầu vào quá cao tất yếu ựầu ra phải cao, liệu có mấy doanh nghiệp chịu ựựng ựược Lãi suất cao cũng phản ánh rủi ro cao của nền kinh tế Khi rủi ro quá cao, mọi người sẽ tìm ựến vàng, ngoại tệ ựể bảo vệ tài sản của mình Vì vậy, trong thời ựiểm trước mắt, vẫn rất cần vai trò kiểm soát, ựiều hành lãi suất của NHNN bằng những qui ựịnh cụ thể, tuy nhiên, cần ựảm bảo nguyên tắc lạm phát< lãi suất huy ựộng< lãi suất cho vay< lợi nhuận bình quân của nền kinh tế, tránh những can thiệp quá hành chắnh vào ựiều hành của NHNN
Về dài hạn, những kiểm soát hành chắnh cần ựược dỡ bỏ, tái cơ cấu nền kinh tế, ổn ựịnh kinh
tế vĩ mô, tạo lập lòng tin của người dân là biện pháp kiên quyết và nền tảng ựể NHNN ựiều hành lãi suất theo cơ chế thị trường, các NHTM huy ựộng và cho vay trên cơ sở minh bạch và cạnh tranh bình ựẳng
Lãi suất, tỷ giá, lạm phát ựều liên quan chặt chẽ với nhau trong tổng thể nền kinh tế và tác
ựộng mạnh ựến ổn ựịnh kinh tế vĩ mô và liên quan chặt chẽ với ựiều hành chắnh sách tiền tệ,
chắnh sách tài khoá Chống lạm phát, ựiều hành tỷ giá thiếu sự phối hợp ựồng bộ của chắnh sách tiền tệ và chắnh sách tài khoá như vừa qua khiến các giải pháp chỉ chạy theo tình thế, không những không tạo ựược lòng tin trong dân mà có thể còn phản tác dụng, tạo thêm ựộng lực ựầu cơ
Lạm phát là biểu hiện cụ thể của những bất cập, yếu kém nội tại của nền kinh tế Vì vậy, lãi suất không thể là chìa khoá ựể giải quyết vấn ựề này đã ựến lúc nền kinh tế cần ựược cơ cấu lại ựể tạo ựộng lực mới cho phát triển điều này không dễ, cũng như việc ựể người dân từ bỏ thói quen Ộựồng tiền liền khúc ruộtỢ là một quá trình, ựòi hỏi Nhà nước phải có các chắnh sách minh bạch, công khai, phải chuẩn bị ựủ lực ựể thực hiện thì mới tạo sự tin tưởng Có như vậy, người dân mới dần từ bỏ thói quen tình trạng găm giữ vàng, ngoại tệ, gây bất ổn kinh tế và khó cho ựiều hành chắnh sách